1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quản lý tài chính doanh nghiệp trung tâm thông tin và tư vấn doanh nghiệp lao động xã hội, 2008

348 361 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý tài chính doanh nghiệp trung tâm thông tin và tư vấn doanh nghiệp lao động xã hội, 2008
Trường học Học Viện Tài Chính - www.hvntc.edu.vn
Chuyên ngành Financial Management and Business Information and Consultation Center for Labor and Social Affairs
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 348
Dung lượng 10,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU @ lý tài chính là một bộ phận quan trọng của quản lý kinh doanh doanh nghiệp và cũng là kiểu quản lý mang tính tổng hợp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh sử dụng hình t

Trang 1

Tủ sách Nhà quảm lý

Nhóm biên soạn TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ TƯ VẤN DOANH NGHIỆP

Quản Lý Tài CHÍNH

DOGNH NGHIEP

lấn DHÔI Nữ ý IẤT BẢN LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

THY VIEN | Ha Noi — 2008

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

@ lý tài chính là một bộ phận quan trọng của quản

lý kinh doanh doanh nghiệp và cũng là kiểu quản lý mang tính tổng hợp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh sử dụng

hình thức giá trị Cùng với thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa của nước ta, sự đi sâu cải cách thể chế doanh

nghiệp và quản lý kinh doanh, quản lý tài chính ngày càng được nhân viên quản trị doanh nghiệp coi trọng, vị trí của nhân viên quả

trị doanh nghiệp ngày càng được nâng cao

Hiện nay nước ta đã tham gia tổ chức thương mại thế giới

WTO, đang ở trong giai đoạn hội nhập với nên kinh tế thế giới, các doanh nghiệp cần phải không ngừng điêu chỉnh kết cấu sản phẩm

và kết cấu ngành nghề Do phạm vi, quy mô lưu thông hàng hóa và hữu động tiên vốn ngày càng lớn, nên doanh nghiệp không những cần phải kinh doanh sản phẩm mà còn cân tiến hành kinh doanh tiên tệ Là nhà quản lý kinh doanh, không nắm được kiến thức về tài chính, không hiểu bản chất kinh doanh, không biết quản lý tài

l

Trang 4

chính thì rất khó có thể trở thành nhà quản lý có hiệu quả Do đó,

quản lý tài chính là chủ đề luôn luôn được nhân viên quản trị

doanh nghiệp coi trọng, tìm hiểu, học tập và áp dụng

Trong quá trình biên soạn cuốn sách này, tác giả đã cố gắng sắn kết giữa lý luận và thực tế, xuất phát từ nhu cầu của đối tượng bạn đọc; từ những thực tiễn quản lý và vấn đề hiện thực mà quản lý tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp phải, kết hợp giữa lý luận

mới, quan niệm mới, tt duy mới trong lĩnh vực quản lý tài chính trong và ngoài nước nhằm cung cấp những lý luận mang tinh tri

thức, thực dụng và khả thị cho nhà quản trị doanh nghiệp

Nội dung của cuốn sách này đề cập đến những vấn đê quản

lý như quản lý huy động vốn, quyết sách đầu tư, quản lý tài sản lưu động, quản lý tài sản cố định và quản lý chỉ phí giá thành trong

lĩnh vực quản lý tài chính doanh nghiệp Đông thời cũng giới thiệu những nội dung có liên quan đến đầu tu chứng khoán và phân phối lợi nhuận cổ phần, vận hành vốn và chính sách lợi nhuận cổ

phần Khi lựa chọn nội dung, tác giả đã cố gắng thích ứng với

nhụ cầu của nhân viên quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ Quản lý tài chính là môn khoa học ứng dụng kết hợp phân tích định tính và phân tích định lượng Khi biên soạn cuốn sách này, tác giả đã xem

xét đến nhu cầu của nhà quản lý doanh nghiệp Toàn bộ nội dung

đều lấy phân tích định tính làm chủ, phân tích định lượng là phụ,

trọng điểm là ở lý luận cơ bản, tư duy cơ bản và phương pháp về

Trang 5

quản lý tài chính doanh nghiệp mà nhà quản lý phải nắm bắt được

với mục tiêu là tăng cường khả năng giải quyết những vấn đề trong

hoạt động tài chính của doanh nghiệp, nâng cao trình độ quản lý tài chính doanh nghiệp

Viện Nghiên cứu và Đào tạo về Quản lý mong nhận được

nhiều thư góp ý cho cuốn sách để chỉnh lý, bổ sung cho các lần tái bản sau được tốt hơn

Chúc các bạn thành công

Thư góp ý xin gửi về:

Viện Nghiên cứu và Đào tạo về Quản lý

Add : Tầng 5, 38 Bà Triệu, Quận Hoàn Kiếm, Hà nội

Trang 7

Chương |

KHAI QUAT VE QUAN LY

TÀI CHÍNH

Doanh nghiệp là một thực thể kinh tế có mục đích lợi

nhuận Nhiệm vụ cơ bản của nó là cung cấp sản phẩm đáp

ứng các nhu cầu của xã hội, đông thời làm tăng vốn chủ sở hữu tới mức tối đa Hoạt động của doanh nghiệp được biểu

hiện là sự sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và cung cấp các dịch vụ Nhưng bản chất của nó là sự vận động và hoại động gia tăng tiên vốn doanh nghiệp

Các nguồn lực được đưa vào hoạt động sản xuất kinh

doanh phần lớn phải thanh toán chỉ phí hoặc thông qua Irao

đổi Làm thế nào để có thể có được nguôn lực chúng ta cần

với giá thấp nhất? Làm thế nào để những nguồn lực này được

sắp xếp một cách hợp lý đông thời phát huy được hiệu quả cao

nhất trong các doanh nghiệp? Làm thế nào để nguồn lực mà

5

Trang 8

chúng ta đâu tư vào doanh nghiệp đem lại lợi ích tối đa đông

thời lại có thể tránh được tổn thất do rủi ro gây nên? Tất cả

đều được quyết định bởi người quản lý, đặc biệt là trình độ quản lý tài chính của người quản lý cao nhất Do đó, trong quản lý doanh nghiệp hiện đại, vai trò của quản lý tài chính

ngày càng trở nên quan trọng.

Trang 9

Những nội dung chính của tài chính doanh nghiệp

Ý nghĩa của tài chính

Khi nhắc đến tài chính trong doanh nghiệp, người ta thường liên hệ nó với công việc kế toán, tức là ghỉ sổ sách,

tính toán sổ sách và lập các biểu bảng báo cáo tài chính Đó

là nhận thức sai lâm về khái niệm tài chính

Khái niệm tài chính, hiểu theo nghĩa thông thường thì đó

là những hoạt động huy động vốn, sử dụng, phát triển và quản

lý tiền vốn Có nghĩa là doanh nghiệp cần tích lũy vốn, sau đó đâu tư vào hoạt động sản xuất và kinh doanh làm số tiên đó tăng lên - tức là tiên sinh tiền Từ đó, doanh nghiệp có được lợi nhuận thông qua sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, nhà doanh nghiệp không được hưởng toàn bộ lợi nhuận này mà

phải phân phối một phân cho ngân sách Nhà nước, nhân viên

và cả nội bộ doanh nghiệp Những hoạt động nói trên đã hình

thành nên tài chính doanh nghiệp _

Trang 10

Dưới góc độ quản lý thì tài chính là hoạt động huy động,

sử dụng, sắp xếp phân phối vốn và là các mốt quan hệ kinh tế

mà nó thể hiện Vốn có nghĩa là giá trị tạm ứng và giá trị quay

vòng trong tái sản xuất xã hội Bản chất của vốn là yêu cầu

không ngừng tăng trưởng Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình đầu tư nguồn nhân lực, vật lực và quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm và dịch vụ Trong quá trình luân chuyển hàng hóa tuân hoàn lặp ải lặp lại của

doanh nghiệp thì vận động có vai trò thúc đẩy đó là vận động

của tiền vốn Tài chính túc là vận động vốn doanh nghiệp và

là toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp duoc phan ánh dưới hình thức giá trị

_Nội dung chính của hoạt động tài chính doanh nghiệp

Sau khi đi vào sản xuất và kinh doanh ổn định, cùng với sự

thay đổi của nhu cầu thị trường và những tiến bộ khoa học kỹ

thuật, các doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô kinh

doanh và khai thác sản phẩm mới, khai thác thị trường mới,

Trang 11

điêu chỉnh kết cấu kinh doanh và sản phẩm Tất cả những

điêu đó yêu cầu doanh nghiệp thường xuyên huy động vốn

Thiếu hụt vốn, đặc biệt là vốn lưu động sẽ trở thành vấn đề

lớn nhất ảnh hưởng đến sự tôn tại và phát triển của doanh

nghiệp Do đó, huy động vốn là hoạt động tài chính thường xuyén va vô cùng quan trọng

Công ty muốn huy động vốn thì phải xét đến nguồn gốc của nguồn vốn Có thể chia làm hai loại tuỳ theo sự khác

nhau về tính chất và quyền lợi của nó

a _ Nguồn vốn cơ bản do nhà đầu tư đầu tư vào doanh nghiệp (vốn chủ sở hữu)

Vốn điều lệ là số vốn do tất cả thành viên góp và được ghi vào Điều lệ công ty Đây là số vốn mà nhà đầu tự cam kết góp

vốn vào công ty Trong công ty cổ phần, vốn điều lệ được chia

thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần

Số vốn này phải đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh

và được ghi vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Khi có

sự tăng, giảm vốn điều lệ cần phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh

Vốn vay tức là vay nợ, đó là khoản nợ và nghĩa vụ mà doanh nghiệp sẽ phải thanh toán bằng tiền, tài sản hoặc dịch

vụ trong thời hạn nhất định Vốn được huy động từ vay nợ

không thể sử dụng mãi trong doanh nghiệp mà đến kỳ hạn

phải hoàn trả Vốn vay được chia làm hai loại là vay dai han

và ngắn hạn dựa trên kỳ hạn hoàn trả

Trang 12

Vay ngắn hạn thường gọi là vốn vay lưu động, chỉ những

khoản vay có thời hạn thanh toán trong khoảng một năm hoặc dưới một năm Nó bao gồm khoản vay ngắn hạn, chứng từ ứng phó, trái phiếu ngắn hạn, những khoản chi chưa thanh toán

Vay vốn dài hạn chỉ những khoản vay có thời hạn hoàn trả là trên một năm Nó bao gồm khoản vay dài hạn, những khoản cần thanh toán dài hạn, trái phiếu thanh toán dài hạn Con đường huy động vốn bằng vay nợ của doanh nghiệp

chủ yếu thông qua các tổ chức tài chính như Ngân hàng, công

ty bảo hiểm, công ty tài chính, các quỹ tín dụng, quỹ đầu tư, và

các nhà đầu tư , thông qua thị trường chứng khoán để phát hành trái phiếu, un dụng thương mại giữa các doanh nghiệp,

Vốn chủ sở hữu và vốn vay đều là xuất xứ của tiền vốn doanh nghiệp, nhưng bản chất tồn tại của hai phương thức là

khác nhau Vốn chủ sở hữu đại diện cho quyền sở hữu doanh

nghiệp của chủ đầu tư, mà vay vốn là phản ánh quyền hưởng `

tài sản doanh nghiệp của người cho vay, tức là quyền đòi no Chủ sở hữu doanh nghiệp được hưởng quyền thu lợi từ tài sản, quyết sách những việc quan trọng của doanh nghiệp, có quyền lựa chọn người quản lý kinh doanh doanh nghiệp Người cho

vay chỉ được hưởng lợi ích cho vay vốn, quyền đòi nợ đối với

tài sản doanh nghiệp, nhưng không có quyền quản lý và quyết sách những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Cùng với công cuộc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh

tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, huy động vốn doanh nghiệp sẽ chủ yếu được thực hiện ở thị trường tiền tệ là chính,

Trang 13

cả vốn vay và vốn chủ sở hữu Thị trường tiền tệ có thể cung cấp kênh huy động vốn doanh nghiệp với nhiều hình thức và

là con đường huy động vốn đa dạng Đồng thời cũng đem lại cho doanh nghiệp rủi ro và áp lực khác nhau Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp và nhân viên tài chính phải có hiểu biết đầy

đủ về công cụ và các con đường huy động vốn này mới có thể

từ đó tìm ra được những phương thức và cách làm có lợi cho

doanh nghiệp Tiền vốn là sản phẩm chính của thị trường tiền

tệ, nó luôn yêu cầu người mua (người có nhu cầu về vốn) phải trả giá cho dù là tiền vốn cơ bản hay vốn vay đều không tránh phải trả thù lao nhất định Do đó nảy sinh vấn đề chi phí của vốn huy động Nếu như doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh dựa hoàn toàn trên vốn chủ sở hữu thì chỉ gặp rủi

ro kinh doanh thôi Nếu sử dụng vốn vay thì còn đem lại cho doanh nghiệp những rủi ro về tài chính Do đó khi huy động vốn, không chỉ phải xem xét những phương thức hay kênh huy động vốn mà còn phải xem xét chi phí vốn cao hay thấp, mức

độ rủi ro, từ đó lựa chọn tỷ lệ kết cấu vốn hợp lý

2 Sử dụng vốn

Mục đích huy động vốn của doanh nghiệp là sử dụng

vốn Sử dụng vốn về tổng thể có thể chia làm 2 phương diện

lớn: một là sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp, túc đầu tư đối

nội; sử dụng bên ngoài doanh nghiệp gọi là đầu tư đối ngoại Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp đêu sử dụng trong đầu tư đối nội, do vậy ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu sử dụng vốn trong nội bộ, phần sử dụng đối ngoại sẽ được giới thiệu ở

11

Trang 14

Sử dụng vốn trong nội bộ doanh nghiệp có nhiều mặt,

trong đó có hai mặt chính:

a Dùng để mua những tư liệu lao động như thiết bị nhà xưởng, công cụ vận chuyển, hình thành nên tài sản cố định

Tài sản cố định có đặc điểm là vốn đầu tư lớn, thời gian

thu hồi vốn dài, khi đã đầu tư thì sẽ ảnh hưởng lớn và lâu dài

đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đầu tư tài sản cố định luôn có liên quan đến dự án kinh doanh mới

và cải tiến và đổi mới kỹ thuật công nghệ trong doanh nghiệp

Do có giá trị lớn nên nếu có sai lầm trong quyết định đầu tư

sẽ gây nên tổn thất rất lớn Do đó, việc đầu tư tài sản cố định

phải tiến hành hết sức thận trọng, thực tế và phải nghiên cứu tính khả thi một cách khoa học, đây mới là phương pháp cơ

bản nhất để tránh tổn thất đầu tư tài sản cố định Không ít

doanh nghiệp nước ta đã từng bị chịu tổn thất đầu tư tài sản

cố định mà nguyên nhân chính là thiếu sự điều tra thị trường,

điều tra kỹ thuật một cách cụ thể Tuy họ cũng lập một số

báo cáo nghiên cứu khả thi nhưng những báo cáo này có thể

nói chỉ mang tính đối phó, vì chúng đa số được viết dựa trên

ý kiến chỉ đạo của người lãnh đạo doanh nghiệp hoặc của cấp trên Do đó, các dự án này dễ dàng được phê đuyệt, nhưng khi thực hiện thì không mang lại hiệu quả, thậm chí còn phải

bù lỗ rất nhiều

b Dùng để mua sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp như

nguyên nhiên vật liệu, chỉ phí trả lương

`

Trang 15

Đặc điểm của tài sản lưu động là thay đổi nhanh, quay

vòng nhanh, một chu kỳ kinh doanh sản xuất có thể quay vòng một lần Tài sản lưu động giống như những huyết mạch của doanh nghiệp

Rất nhiều doanh nghiệp phải đối phó với tình trạng thiếu

hụt vốn, chủ yếu là vốn lưu động Vốn lưu động là hình thái giá trị tài sản lưu động, rất dễ bị thất thoát và tồn đọng

Tài sản lưu động tồn đọng có nghĩa là vốn bị đình trệ ở một giai đoạn nào đó và không thể tiếp tục tuần hoàn quay

vòng Nguyên liệu tồn kho ứ đọng; bán thành phẩm không đồng bộ; thành phẩm không đạt tiêu chuẩn, những khoản

khách hàng nợ tồn đọng lâu không thu hồi được Tất cả đều làm cho tiền vốn lưu động bị đình trệ, trở thành vốn chết,

không thể chỉ phối, sử dụng -

Vốn lưu động rất dễ bị thất thoát Có rất nhiều con

đường thất thoát vốn lưu động doanh nghiệp: Do quản lý

không tốt nên bị tham ô, tài sản bị đánh cắp; do không hiểu rõ

về khách hàng nên đã bị lừa gạt trong quá trình hoạt động

kinh doanh, những khoản khách hàng nợ lâu trở thành nợ khó

đòi; sai lâm đầu tư của doanh nghiệp tạo nên thất thoát vốn;

thất thoát vốn do chia nhỏ doanh nghiệp nhưng thiếu chế độ quản lý tài chính một cách khoa học và thiếu hệ thống kiểm soát tài chính chặt chẽ gây nên; đặc biệt là trong điều kiện lạm phát hàng hóa, doanh nghiệp áp dụng những phương pháp hạch toán nhập trước xuất trước thì sự thất thoát vốn sẽ gây ảnh hưởng rất lớn

13

Trang 16

Trong điều kiện lạm phát hàng hóa, hạch toán giá thành doanh nghiệp đã áp dụng những phương pháp tiên tiến tức là tính giá thành nguyên vật liệu của giá vốn theo giá khi mua vào Khi vật giá tăng, giá vật liệu tính vào giá vốn của sản phẩm luôn thấp hơn giá bán ra thị trường khi sản phẩm chế tạo hoàn thiện Khi doanh nghiệp thu hồi lại vốn dựa trên giá thành nguyên vật liệu và tiếp tục đi mua nguyên vật liệu sẽ luôn xuất hiện hiện tượng thiếu hụt Đây là hiện tượng thiếu vốn để mua lại nguyên vật liệu Ví dụ, đầu năm, một tấn thép

giá 10.000.000đ, đến tháng I1 tăng lên 13.000.000đ một tấn

Nếu doanh nghiệp sử dụng một tấn thép đầu năm mua để sản xuất trong tháng II, thì giá thành ghi vào giá vốn là

10.000.000đ Khi sản phẩm chế tạo xong và đưa ra thị trường

thì lúc này giá thành thép đã lên tới 13.000.000đ một tấn, tiền thu về không đủ mua một tấn thép và doanh nghiệp thiếu 3.000.000đ

Do vốn lưu động rất dễ bị thất thoát và tồn đọng nên

đã khiến việc quay vòng vốn ngày càng trở nên khó khăn Do

đó, phòng tránh tổn thất do thất thoát tài sản lưu động là trọng

điểm của quản lý tài chính

Sử dụng vốn là mắt xích quan trọng trong hoạt động tài chính doanh nghiệp Đó là vì: một mặt sử dụng vốn là quá trình tiêu hao, chiếm dụng và chuyển dời giá trị, tức là quá trình hình thành chi phí giá thành Chi phí giá thành trong doanh nghiệp được hình thành như thế nào? Nó được hình thành trong quá trình sử dụng vốn cũng như sản xuất kinh doanh Quá trình sản xuất kinh doanh cần phải tiêu hao nhân

Trang 17

lực và vật lực Tiêu hao vốn, chiếm dụng thiết bị, nhà xưởng trên thực tế là chiếm dụng vốn Sự tiêu hao và chiếm dụng này được chuyển thành chi phí giá thành Chi phí giá thành không những quyết định hiệu quả kinh tế cao hay thấp mà còn quyết định và ảnh hưởng đến sự tồn vong của doanh nghiệp

Quản lý chi phí giá thành là nội dung quan trọng của quản lý tài chính doanh nghiệp Mặt khác quá trình sử dụng vốn là quá trình tăng trưởng vốn tức quá trình hình thành lợi

nhuận Lợi nhuận doanh nghiệp có từ đâu? Đó là từ việc tăng

giá trị gia tăng dịch vụ và sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh Chi phí giá thành cao hay thấp là nhân tố quan trọng quyết định lợi nhuận nhiều hay ít, nhưng sự tăng lợi nhuận không thể đơn thuần chỉ dựa vào giảm chi phí giá thành

mà còn phụ thuộc vào việc tăng giá trị gia tăng của sản phẩm

và dịch vụ Thực tiễn cho thấy, khoa học kỹ thuật là động lực

chính thác đẩy phát triển kinh tế và cũng là nguyên nhân chính

làm tài sản xã hội ngày càng tăng Hàm lượng khoa học kỹ thuât của dịch vụ và sản phẩm càng cao, giá trị của nó càng lớn Khoa học kỹ thuật cao luôn yêu cầu đầu tư lớn, do đó trong quá trình xử lý tài chính doanh nghiệp phải coi nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật doanh nghiệp, mở rộng khai thác và đầu tư

thử nghiệm sản phẩm mới là trọng điểm của việc sử dụng vốn

Trang 18

kinh doanh có phát sinh doanh thu Sự sắp xếp này có liên quan đến lợi ích quốc gia, nhà đầu tư, doanh nghiệp và công nhân viên, và cũng quyết định sự tôn tại và phát triển của doanh nghiệp

a Sau khi doanh nghiệp có doanh thu, trước tiên phải nộp thuế giá trị gia tăng và sau đó là các loại thuế khác Thuế giá trị gia tăng, thuế doanh nghiệp và thuế tiêu

dùng thuộc về loại thuế lưu chuyển Thuế lưu chuyển là loại

thuế coi mức lưu chuyển làm đối tượng trưng thu Mức lưu chuyển có nghĩa là chỉ doanh thu sản phẩm và mức thu nhập của lao động Đặc điểm của thuế lưu chuyển là, cho dù doanh nghiệp có vốn cao hay thấp, cũng không cần biết doanh nghiệp có lợi nhuận hay không, chỉ cần có thu nhập là trưng

thu Thuế lưu chuyển có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm

tính ổn định và tính tin cậy của thu nhập tài chính quốc gia

Thuế lưu chuyển chiếm gần 70% toàn bộ tổng giá trị thuế thu

Thuế giá trị gia tăng là loại thuế thu đối với sự gia tăng mỗi mắt xích trong sản xuất và lưu thông sản phẩm Là một loại thuế chính trong thuế lưu chuyển Thuế giá trị gia tăng có nghĩa là chỉ khoản dư của thu nhập tiêu thụ doanh nghiệp trừ

đi giá trị lao động sản phẩm mua bên ngoài đã nộp thuế, tương đương với giá trị sáng tạo mới của doanh nghiệp Công thức tinh gid tri gia tang như sau:

Giá trị gia tăng = thu nhập tiêu thụ sản phẩm - giá trị

lao động sản phẩm mua ngoài đã nộp thuế

Trang 19

Mức tính giá trị gia tăng tương đối lớn Giá trị gia tăng bao gồm lương, lợi nhuận, lợi tức, khấu hao tài sản và các chi

Mức thuế tiêu thụ thời điểm đó = Mức tiêu thụ thời điểm

đó X Tỷ lệ thuế giá trị gia tăng

Mức thuế thu vào thời điểm đó: là lũy kế mức thuế của hóa đơn giá trị gia tăng những lao động và những sản phẩm

mua ngoài tại thời điểm đó

Thuế doanh nghiệp là loại thuế trưng thu thu nhập doanh - nghiệp đối với lao động chịu thuế, tiêu thụ bất động sản và chuyển nhượng tài sản vô hình Thu nhập doanh nghiệp lao

động chịu thuế là thu nhập doanh nghiệp của những ngành

như ngành giao thông vận tải, ngành kiến trúc lắp đặt, ngành khai thác bất động sản, ngành thông tin bưu điện, ngành bảo

hiểm tiền tệ, ngành văn hoá thể thao, ngành giải trí, ngành

dịch vụ Thuế doanh nghiệp là thuế được trưng thu theo toàn bộ thu nhập doanh nghiệp, không có hạng mục khấu trừ Thuế tiêu dùng là loại thuế thu đối với một số sản phẩm tiêu dùng đặc biệt Sản phẩm tiêu dùng đặc biệt bao gồm các

loại như thuốc lá, rượu và cồn, hoá mỹ phẩm, sản phẩm dưỡng

da dưỡng tóc, trang sức vàng, đá quý, xăng, dầu, xe ôtô con, xe

17

Trang 20

máy v.v Thuế tiêu dùng là thuế trong giá, chỉ thu khi nhập khẩu và sản xuất Những cá nhân và đơn vị giao nộp thuế tiêu dùng sau khi giao nộp còn phải nộp cả thuế giá trị gia tăng Thuế lưu chuyển và các khoản phụ phải nộp sau khi

doanh nghiệp có doanh thu xem ra chiếm tỷ lệ không nhiều

trong tổng doanh thu, nhưng chiếm tỷ lệ không nhỏ đối với thu nhập thuần của doanh nghiệp Thuế lưu chuyển có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm thu nhập tài chính của quốc gia Do

đó, doanh nghiệp phải tiến hành nộp thuế đúng hạn theo luật thuế đã quy định Đồng thời, cũng nên nghiên cứu làm thế nào

để nộp thuế hợp lý để giảm nhẹ đi gánh nặng thuế thu của

cơ bản nhất này lại không ít doanh nghiệp không làm nổi

Nguyên nhân của nó có liên quan rất lớn đến những doanh nghiệp thực hiện chế độ kinh doanh khoán Khoán kinh doanh

có sự móc nối giữa sự tăng lương và tăng lợi nhuận Doanh

nghiên không có lợi nhuận thì không thể tăng lương, lãnh đạo

Trang 21

doanh nghiệp cũng không được thưởng và thăng chức Kết quả

có tác dụng giúp cho các công ty này phát triển lợi nhuận, doanh nghiệp không có lợi nhuận cũng tính cho ra lợi nhuận Vậy tính như thế nào? Cách duy nhất đó là chúng ta sẽ không

nhắc tới chi phí khấu hao tài sản mà chúng đáng ra phải được nhắc tới, những tổn thất chi phí cần phân bổ thì không phân

bổ, chỉ phí giá thành nếu như phân bổ như vậy, sẽ tạo nên hiện

tượng lãi giả lỗ thật

c _ Doanh nghiệp kinh doanh có lãi phải nộp thuế thu nhập Sau khi doanh nghiệp khấu trừ đi chi phí giá thành mà có : lãi thì phải nộp thuế thu nhập Sau khi cải cách thể chế thuế tài

chính, nước ta đã tiến hành thống nhất đơn giản hoá thuế thu

nhập Trước mắt có 3 loại thuế thu nhập: Thuế thu nhập doanh

_nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và thuế

‘thu nhập cá nhân

d _ Phân phối lợi nhuận sau thuế

Lợi nhuận sau khi doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập là lợi nhuận thuần, là khoản lợi nhuận mà nhà đầu tư thực sự có được Lợi nhuận sau thuế còn qua một loạt quá trình phân phối tùy thuộc vào quy định đối với doanh nghiệp Nhà nước và điều

lệ công ty đối với các công ty ngoài quốc doanh

Ví dụ: Trích 10% lợi nhuận thuần làm quỹ, tích lũy để mở

rộng phát triển kinh doanh sản xuất

Trích khoảng 5-10% lợi nhuận thuần để lập quỹ dùng

vào việc xây dựng cơ sở phúc lợi cho nhân viên

19

Trang 22

Kế tiếp đó là trả lợi nhuận cho nhà đầu tư, phân phối lợi

nhuận cổ phần cho cổ đông hoặc nhà đầu tư, thanh toán lợi nhuận đầu tư Trước khi những công ty cổ phần tiến hành phân chia lợi nhuận cổ phần, còn có thể rút ra một khoản tiền làm quỹ

tiền lãi

Tóm lại, tài chính là toàn bộ hoạt động huy động vốn, vận dụng vốn, và chi phối vốn, là toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp được phản ánh qua hình thức giá trị

Trang 23

Căn cứ, mục tiêu và

phương pháp quản lý tài chính

Đinh nghĩa quản lý tài chính

Quản lý tài chính dựa trên quy luật vận động vốn, đồng thời cần tuân thủ theo quy định pháp luật Thực hiện dự đoán, quyết sách, lên kế hoạch, giám sát, hạch toán và phân tích sự hành thành vốn, sử dụng và phân phối vốn Náng cao hiệu quả vận dụng vốn, thực hiện công tác quản lý bảo đảm vốn được gia tăng

Thực chất của quản lý tài chính là quản lý mang tính tổng hợp những hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp bằng cách vận dụng hình thức giá trị

Trong một số doanh nghiệp, mọi người có nhận thức

không chính xác về quản lý tài chính, nên đã ảnh hưởng đến

sự phát triển thuận lợi của công tác quản lý tài chính

Trang 24

Quản lý tài chính không phải là quản lý công tác kế

toán tài vụ doanh nghiệp

Nhiều người cho rằng quản lý tài chính là quản lý công tác tài vụ kế toán Đây là sư nhầm lẫn giữa đối tượng và nội dung của quản lý tài chính

Kế toán tài vụ là công cụ cung cấp dịch vụ thông tin tài

vụ một cách khoa học Nó là hình thức vận hành tiền tệ thông

qua trình tự và phương pháp nhất định đồng thời ghi chép, phân loại và chỉnh lý những nghiệp vụ hàng ngày trong hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp thành những số liệu tổng hợp vừa hệ thống vừa có liên hệ với nhau Kế toán tài vụ nói một cách đơn giản là việc ghi sổ sách, tính số sách và làm

bảng biểu báo cáo

Quản lý tài chính là sử dụng những số liệu mà bộ phận

kế toán cung cấp để phân tích những vấn đề còn tồn tại trong quá trình sản xuất kinh doanh, giám sát và điều hành quá trình sản xuất kinh doanh, thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng và chiếm dụng vốn một cách hợp lý, tiến hành phân tích và dự toán tài

chính, lựa chọn phương hướng và dự án đầu tư đúng hướng, từ

đó bảo đảm năng lực thu lợi nhuận lâu dài của doanh nghiệp, làm cho vốn doanh nghiệp không ngừng tăng trưởng

Quản lý tài chính là một bộ phận rất quan trọng trong quản lý kinh doanh

Trang 25

Quản lý tài chính không phải là quản lý doanh nghiệp bằng phương pháp kế toán tài vụ

Có người cho rằng quản lý tài chính là quản lý doanh

- nghiệp theo phương thức tính toán ghi sổ sách của kế toán, do

*đó không ít người đã đồng nhất quản lý tài chính là tính toán

sổ sách Thực tế không hoàn toàn như vậy

Quản lý tài chính cũng giống như quản lý sản xuất và

quản lý kinh doanh nếu xét từ góc độ quản lý Xét về một mặt

ý nghĩa nào đó, quản lý tài chính là một môn khoa học tính

toán, nhưng lại rất khác với tính toán sổ sách kế toán Tính

toán sổ sách kế toán chủ yếu là chỉnh sửa những số liệu nghiệp vụ kinh doanh sản xuất đã xảy ra và từ đó phản ánh

khách quan, chân thực và liên tục về hiện trạng kinh doanh

sản xuất của doanh nghiệp Nhưng tính toán của quản lý tài _ chính chủ yếu là sử dụng những số liệu kinh tế để dự báo hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp lập phương án và kế hoạch cho những hoạt động tài chính trong tương lai Nó

không tập trung vào những chỉ tiết cụ thể mà là chỉ tính khái quát trên tổng thể toàn diện hoạt động kinh doanh sản xuất doanh nghiệp, thực hiện nguyên tắc đa số; nó không đơn

thuần phản ánh quá khứ mà còn kiểm soát hiện tại, dự đoán và

nắm vững tương lai

Xét về toàn bộ nội dung, quản lý tài chính có trọng tâm

không phải là tính toán mà là quản lý Tính toán chỉ là một

phương pháp cần thiết của một số mắt xích quản lý tài chính

mà không phải là toàn bộ Trọng tâm của quản lý tài chính là

23

Trang 26

ở khái niệm, phạm vi vận dụng tài chính, tiến hành giám sát, đánh giá và quy hoạch hệ thống hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Quản lý tài chính không chỉ là công việc của bộ phận kế toán

Quản lý tài chính không thể tách rời bộ phận kế toán vì công tác kế toán tài vụ là cơ sở của quản lý tài chính Không

có ghi chép sổ sách, lập bảng báo cáo thì quản lý tài chính thiếu đi những tài liệu và những biện pháp cần thiết Nhưng điều này không có nghĩa là quản lý tài chính là công việc của

bộ phận tài vụ và không liên quan đến bộ phận quản lý

Trong thực tế, những số liệu tài chính như vốn, giá thành, thu nhập và lợi nhuận là do nhân viên kế toán ghi chép, tổng hợp và hạch toán, nhưng lại không phải từ nhân viên kế toán Chúng được hình thành và nảy sinh từ những bộ phận doanh nghiệp, các don vi trong quá trình sản xuất kinh doanh Chi phí giá thành cao hay thấp, lợi nhuận nhiều hay ít là kết quả

tổng hợp của hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, các bộ

phận, các đơn vị của doanh nghiệp chỉ cần có chiếm dụng vốn,

có phát sinh chi phí giá thành là đều có trách nhiệm tài chính, đều có nhiệm vụ quản lý tài chính Hệ thống quản lý kinh doanh với các giám đốc đứng đầu là những người có vai trò chính trong quản lý tài chính doanh nghiệp

Đặc điểm rõ ràng nhất của quản lý tài chính chính là tính tổng hợp Ngoài quản lý tài chính ra, quản lý doanh nghiệp

còn bao gồm nhiều nội dung như quản lý sản xuất, quản lý

Trang 27

bán hàng, quản lý kỹ thuật-công nghệ Nhưng do đa phần là chỉ quản lý một mặt nào đó của hoạt động kinh doanh doanh nghiệp Chỉ có quản lý tài chính mới có tính tổng hợp cao nhất Đây là thành quả kinh doanh mà hiện trạng tài chính doanh nghiệp và chỉ tiêu tài chính phản ánh Vì vậy có người nói, muốn xây dựng chế độ quản lý doanh nghiệp hiện đại thì cần thiết phải xây dựng tốt chế độ quản lý với quản lý tài chính làm trọng tâm Quản lý tài chính là cơ sở của quản lý kinh

doanh Nắm được quản lý tài chính thì mới có thể nắm bắt

được trọng tâm của quản lý doanh nghiệp Các lãnh đạo doanh nghiệp ngày càng nhận thấy tầm quan trọng của quản lý tài chính, và bắt đầu nghiên cứu hoạt động tài chính, tăng cường

quản lý tài chính Cùng với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế, các doanh nghiệp đang dần dân nhận thức sâu sắc hơn về vai trò

và vị trí của quản lý tài chính

- €ơ sở của quản lý tài chính

Cơ sở của quản lý tài chính có hai phương diện chủ yếu Quy luật vận động vốn

Muốn làm tốt công tác quản lý tài chính doanh nghiệp trước tiên phải nắm rõ quy luật sử dụng vốn Tài chính doanh nghiệp thực tế là vận động của vốn doanh nghiệp Do đó,

không hiểu được quy luật vận động vốn thì không thể nắm bắt

và hiểu được xu hướng chuyển biến phát triển của tài chính, cũng không thể làm tốt được công tác quản lý tài chính

25

Trang 28

Tiền | Mua Gia côn ; Hoan thanh

mat > Neuyén liéu + Ban thành phẩm

Phân bổ Khấu hao

Sơ đã ! _ Hình thức cơ bản của tuần hoàn vốn

Vận động vốn được chia thành vận động vốn nội bộ và vận động vốn bên ngoài dựa trên phạm vi vận động của nó Vận động vốn trong nội bộ doanh nghiệp chủ yếu là sự

quay vòng và tuần hoàn vốn Sự tuần hoàn vốn là chỉ toàn bộ

sự vận động vốn bắt đầu từ trạng thái tiền tệ, sau đó trải qua

ba giai đoạn, vốn không ngừng thay đổi trạng thái của mình

và cuối cùng khi hình thành nên tính chu kỳ gọi là quay vòng vốn Quay vòng vốn là sự thúc đẩy mục đích kinh doanh sản

xuất của doanh nghiệp đồng thời cũng phục vụ cho kinh

doanh sản xuất Tốc độ quay vòng vốn phản ánh trình độ tận dụng vốn của doanh nghiệp

Trong quá trình tuần hoàn quay vòng vốn sẽ hình thành nên những hình thái khác nhau Trạng thái khác nhau của vốn

đều có đặc điểm riêng, giữa chúng tồn tại mối quan hệ chuyển

Trang 29

hoá và dựa vào nhau để tồn tại Nghiên cứu quy luật vận động vốn trong nội bộ doanh nghiệp cần phải biết được tiền vốn chuyển hoá như thế nào trong các khâu sản xuất kinh doanh, trong quá trình chuyển hoá gặp những vấn để và trở ngại gì, làm thế nào để có thể làm cho các trạng thái của tiền vốn giữ được tỷ lệ hợp lý trong quá trình quay vòng, từ đó làm cho tiền vốn chuyển hoá thuận lợi từ hình thái trước sang hình thái sau

và thực hiện sự quay vòng vốn bình thường

Vận động vốn doanh nghiệp đề cập đến những nhân tố như thu nhập, chi phi giá thành, tài sản, lợi nhuận của doanh nghiệp Nhận thức và nắm vững được nội hàm và đặc trưng của

những nhân tố này là nhận thức và nắm bát những nội dung

quan trọng của quy luật vận động vốn

Vận động vốn doanh nghiệp không độc lập, nó là một bộ phận hình thành nên vận động vốn xã hội Vận động vốn doanh

nghiệp chịu sự hạn chế và ảnh hưởng của vận động vốn xã hội Vận động vốn xã hội chủ yếu bao gồm tài chính và tiền tệ

Tài chính với chủ thể là nhà nước, tức là Nhà nước tiến

hành phân phối và tái phân phối một cách tập trung những sản

phẩm xã hội để thực hiện chức năng của mình Tài chính là

một bộ phận cấu thành quan trọng của vận động vốn xã hội Hoạt động tài chính doanh nghiệp là cơ sở phân phối tài chính nhà nước Nguồn thu ngân sách nhà nước được tiến hành trên

cơ sở kế toán và phân phối tài chính doanh nghiệp Đồng thời hoạt động tài chính doanh nghiệp lại chịu quy định của tài chính nhà nước Các khoản thuế trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận và thu nhập của doanh nghiệp Luật và chính sách tài

27

Trang 30

chính đã gián tiếp hạn chế chi phí giá thành, khoản chi tiền mặt và phân phối lợi nhuận doanh nghiệp Tài chính giữ vị trí chủ đạo trong sự phân phối sản phẩm thặng dư xã hội Do đó, chỉ có đi sâu nghiên cứu chính sách thuế, tài chính - kế toán của nhà nước, nghiên cứu ảnh hưởng của nó đối với tài chính

doanh nghiệp mới có thể quản lý tài chính tốt

Môi trường tiền tệ của doanh nghiệp chủ yếu là chỉ thị

trường tiền tệ Hoạt động tài chính doanh nghiệp ngày càng chịu ảnh hưởng của sự thay đổi của thị trường tiền tệ Không

những huy động vốn trực tiếp liên quan đến thị trường tiền tệ

mà đầu tư của doanh nghiệp cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp đều không thể tách rời khỏi thị trường tiền tệ Lạm phát và thiếu hụt nguồn vốn gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh doanh nghiệp dưới nhiều góc độ khác nhau Tỷ lệ lãi suất ngân hàng và sự dao động của thị trường chứng khoán đều trực tiếp ảnh hưởng đến tình trạng tài chính

và kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, chỉ có hiểu biết toàn

diện, nắm bắt được quy luật phát triển và vận động của thị

trường tiền tệ mới có thể làm tốt công tác huy động vốn và đầu tư doanh nghiệp, đồng thời làm cho vốn doanh nghiệp vận động bình thường, đạt hiệu quả tốt

- Mặt khác, cùng với sự phát triển nhất thể hoá của nền kinh tế thế giới, thị trường tiền tệ thế giới sẽ có ảnh hưởng ngày càng lớn đối với hoạt động của nhiều doanh nghiệp nước

ta Nghiên cứu tiền tệ quốc tế, nắm vững quy luật thay đổi của thị trường tiền tệ thế giới, dần dần đang trở thành bài toán

quan trọng của quản lý tài chính doanh nghiệp

Trang 31

Quy định pháp luật về chế độ quản lý tài chính-kế

toán trong doanh nghiệp

Quản lý tài chính có tính pháp chế và tính chính sách mạnh nhất trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh

nghiệp Để bảo đảm thu nhập tài chính của mình đồng thời

cũng để bảo vệ quyền của nhà đầu tư, Nhà nước đã ban hành

hệ thống các quy định pháp luật về hoạt động tài chính của doanh nghiệp Các hệ thống luật như Luật thuế, Luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, các

'chuẩn mực kế toán, có tính quy phạm điều chỉnh hoạt động

tài chính doanh nghiệp trên nhiều phương diện khác nhau Đồng thời, trên cơ sở đó, doanh nghiệp cũng thiết lập nên

hàng loạt chế độ quản lý tài chính trên để bảo đảm quản lý và

sử dụng tài sản của doanh nghiệp hiệu quả

Công tác quản lý tài chính doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định pháp luật Do đó, nhân viên kế toán doanh

nghiệp và nhà quản lý kinh doanh đều phải nắm được những

quy định pháp luật về tài chính doanh nghiệp Chỉ có như vậy mới có thể xử lý mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước, giữa doanh nghiệp với nhân viên, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và giữa các nhà đầu tư với nhau Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần phải vận dụng quy định của nhà nước

để bảo vệ quyền hợp pháp của mình Để huy động được vốn

có lợi hơn, doanh nghiệp không những phải hiểu quyền và lợi

ích của nhà đầu tư và người được quyền đòi nợ, mà còn cả

quyền lợi của người vay nợ và doanh nghiệp Trong quá trình hạch toán chỉ phí giá thành cần phải dựa vào những quy định

29

Trang 32

trong nguyên tắc kế toán, hạch toán và phân bổ chính xác

những chi phí và tổn thất, đặc biệt là cần phải vận dụng và tìm

hiểu rõ nguyên tắc, bảo đảm cho khả năng doanh nghiệp phát triển vững chắc và ổn định, phòng chống rủi ro

Tóm lại, công tác quản lý tài chính doanh nghiệp phải giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả tối đa trong phạm vi quy định pháp luật

Mục tiêu của quản lý tài chính

Mục đích quản lý tài chính cũng đông thời là mục đích quản lý doanh nghiệp Mục đích quản lý tài chính như thế nào thì cách nghĩ và phương pháp quản lý doanh nghiệp như vậy

và cũng chính vì vậy đã hình thành nên nhiều phương pháp quản lý tài chính khác nhau

Xét từ hiện trạng doanh nghiệp nhà nước, mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp là không thống nhất, về cơ bản có 3 loại:

Mục tiêu là tối đa hóa giá trị sản lượng

Chính là lấy tối đa hóa giá trị sản lượng là mục tiêu quản

lý tài chính Tình trạng này là phổ biến nhất trong thời kỳ kinh

tế kế hoạch hoá tập trung

Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, doanh

nghiệp chỉ đơn thuần là một xưởng sản xuất có nhiệm vụ hoàn

thành nhiệm vụ mà nhà nước giao Sự thăng tiến của nhà lãnh đạo doanh nghiệp và lợi ích của nhân viên cao hay thấp đều hoàn toàn được quyết định bởi việc hoàn thành giá trị sản lượng

Trang 33

đã đề ra có tốt hay không Điều này tất yếu dẫn đến doanh nghiệp coi mục tiêu phấn đấu là tổng giá trị sản lượng và đó cũng chính là mục tiêu quản lý tài chính của doanh nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những bất cập trong việc tối đa hóa giá trị sản lượng ngày càng lộ rõ:

a — Giá trị sẳn lượng bao gồm giá trị chuyển dịch nguyên

liệu sản xuất

Giá trị chuyển dịch của nguyên liệu sản xuất càng lớn thì giá trị sản lượng doanh nghiệp càng cao Điều đó làm cho doanh nghiệp không chú ý đến hiệu quả, dẫn đến đầu tư mù quáng Đầu tư cao, sản xuất thấp, không tính đến lợi nhuận và cuối cùng đã tạo nên sự lãng phí lớn

b — Giá trị sẩn lượng không có nghĩa là doanh thu

Sau khi sản phẩm hoàn thành thì có thể tính tổng giá trị sản lượng Việc theo đuổi tối đa hóa tổng giá trị sản lượng

đã khiến cho doanh nghiệp chỉ chú trọng vào sản xuất mà không chú ý đến tiêu thụ, tạo nên tình trạng ứ đọng sản phẩm

và không thực hiện được giá trị sản phẩm

c Tối đa hóa giá trị sén lượng còn thúc đẩy một số doanh

nghiệp báo cáo sai về giá trị sản lượng, chỉ chạy theo

thành tích

Tóm lại, lấy mục tiêu quản lý tài chính là tối đa hóa giá

trị sản lượng sẽ không thích hợp với bản chất của hoạt động tài chính dưới thể chế kinh tế thị trường

31

Trang 34

Lay mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận

Trước đây, chúng ta quan niệm rằng tối đa hóa lợi nhuận

chỉ là mục tiêu tài chính của các doanh nghiệp ở các nước tư

bản Sau khi nước ta tiến hành đổi mới cơ chế kinh tế, những

mặt trái của tối đa hóa giá trị sản lượng đã được nhận thức rõ ràng, việc coi giá trị sản lượng làm chỉ tiêu chính để đánh giá doanh nghiệp đã dần từng bước được xoá bỏ, thay vào đó là

coi lợi nhuận là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của

doanh nghiệp Đặc biệt là thực hiện chế độ trách nhiệm khoán kinh doanh rộng rãi, tối đa hóa lợi nhuận dần dần trở thành mục tiêu quản lý tài chính được thống nhất giữa doanh nghiệp

và nhà nước

Coi tối đa hóa lợi nhuận làm mục tiêu quản lý tài chính

là hợp lý và tất yếu vì, doanh nghiệp là thực thể kinh tế có

mục đích lợi nhuận nên nhất định phải hoạt động có lãi Theo đuổi tối đa hóa lợi nhuận yêu cầu doanh nghiệp phải tăng cường quản lý doanh nghiệp, cải tiến kỹ thuật, giảm chi phí giá thành Điều này có vai trò thúc đẩy lớn đến sự tồn tại và

phát triển của doanh nghiệp

Nhưng, coi tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu cũng tồn tại mặt trái của nó do đó nhiều doanh nghiệp và công ty các nước phương Tây đã sớm phải xem xét lại mục tiêu này Những bất cập của tối đa hóa lợi nhuận là:

a Do lợi nhuận được tính dựa trên nguyên tắc chế độ nảy sinh quyền lợi và trách nhiệm, vì vậy sẽ phát sinh hiện tượng

doanh nghiệp tuy hạch toán có lợi nhuận nhưng không có vốn

Trang 35

hoặc thiếu vốn Theo nguyên tắc nảy sinh quyền lợi và trách

nhiệm khoản nợ tiền hàng cũng được tính là doanh thu Nếu

như phần lớn những sản phẩm của doanh nghiệp đều tiêu thụ

dưới hình thức bán chịu mà chỉ có thể thu về rất ít tiền mặt,

phần lớn là nợ tiền hàng, trong tình huống doanh thu lớn hơn chi phí giá thành, doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận tương đối khả

quan Nhưng do phần lớn tiền hàng vẫn chưa được thu về nên

trên thực tế doanh nghiệp không có vốn Trong khi đó, vốn có vai trò rất quan trọng, là huyết mạch của doanh nghiệp Nếu không có hoặc thiếu vốn, doanh nghiệp sẽ không thể vận hành bình thường, thậm chí có nguy cơ bị phá sản

b Những nhà kinh doanh để có nhiều lợi nhuận

đã không hoặc ít để cập đến khấu hao, không hoặc ít phân

bổ tổn thất chi phí và từ đó hình thành nên hiện tượng lãi

giả lỗ thật Chế độ trách nhiệm khoán kinh doanh của những doanh nghiệp và tập đoàn doanh nghiệp, đặc biệt là

chế độ khoán “Tăng lương gắn với tăng lợi nhuận” đã làm

cho khá nhiều doanh nghiệp trở thành miếng bánh to nhưng

bên trong trống rỗng

c Theo đuổi tối đa hóa lợi nhuận“còn làm cho những nhà

kinh doanh vì lợi nhuận trước mắt mà quên đi chiến lược phát

triển lâu dài Đầu tư phát triển chiến lược càng lớn, thời gian

thu lợi nhuận càng dài Nếu trong thời gian ngắn lợi nhuận sẽ giảm Vì thế, theo đuổi lợi nhuận một cách phiến diện sẽ làm cho nhà kinh doanh không tiến hành hoặc từ bỏ đầu tư có tính

phát triển chiến lược, doanh nghiệp sẽ thiếu đi thực lực cạnh tranh lâu đài

33

Trang 36

Do đó, coi tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của quản lý tài chính cần phải được xem xét lại Quản lý tài chính hiện đại cho thấy, tối đa hóa lợi nhuận không phải là mục tiêu tối ưu của quản lý tài chính

Coi tối đa hóa tài sản doanh nghiệp làm mục tiêu

Tối đa hóa tài sản doanh nghiệp cũng còn gọi là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp là chỉ doanh nghiệp áp dụng chính sách tài chính tối ưu để không ngừng tăng nhanh tài sản doanh nghiệp và làm cho tổng giá trị doanh nghiệp đạt mức tối đa thông qua việc tăng trưởng nguồn vốn có tính đến những giá

trị thời gian và sự đền bù của rủi ro

Theo đuổi tối đa hóa tài sản doanh nghiệp có quan hệ trực

tiếp đến các công ty cổ phần Trong doanh nghiệp này, tài sản

cổ đông được quyết định bởi số lượng cổ phiếu và giá cả thị

trường của cổ phiếu Khi giá cổ phiếu liên tục tăng, tài sản của

cổ đông cũng tăng tương ứng Giá cổ phiếu không chỉ được quyết định bởi lợi nhuận của doanh nghiệp, mức cổ tức, tình

hình tài chính của doanh nghiệp mà còn được quyết định bởi

tiềm năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp Hai doanh nghiệp có lợi nhuận như nhau, giá cổ phiếu của doanh nghiệp có tiém nang phát triển luôn cao hơn những doanh nghiệp khác Tiền đồ phát triển, tiểm năng kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu chịu ảnh hưởng của những chính sách tài

chính như chia cổ tức và đầu tư của doanh nghiệp Tương lai

phát triển của doanh nghiệp, tiềm năng cạnh tranh tỷ lệ thuận với những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng vốn bình thường

Trang 37

Muốn cho vốn doanh nghiệp phát triển nhanh, ngoài việc đạt được tỉ suất lợi nhuận cao hơn còn có thể thông qua không ngừng tăng trưởng vốn và tốc độ quay vòng vốn của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp có thể tăng tốc độ khấu hao tài sản, tăng nhanh đầu tư làm cho vốn tăng trưởng nhiều đủ để

doanh nghiệp sử dụng, mà trên sổ sách ít thể hiện hoặc không

thể hiện lợi nhuận Về phân phối lợi nhuận, không chia hoặc it

phân chia lợi nhuận để tăng nhanh vốn doanh nghiệp

Coi tối đa hóa tài sản doanh nghiệp làm mục tiêu quản lý tài chính doanh nghiệp có những ưu điểm sau:

`1 Mục tiêu tối đa hóa tài sản doanh nghiệp có thể khắc phục những hành vi ngắn hạn trong quá trình theo" đuổi lợi nhuận

Sở dĩ như vậy là vì nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp không chỉ là lợi nhuận hiện tại hay quá khứ mà dự đoán lợi nhuận tương lai ngày càng có ảnh hưởng lớn đến giá trị doanh nghiệp Với mục tiêu tối đa hóa tài sản doanh nghiệp,

các nhà kinh doanh buộc phải xem xét đến sự phát triển lâu

dài của doanh nghiệp, không ngừng tạo nên sự tăng trưởng lợi nhuận mới trong tương lai

2 Mục tiêu tối đa hóa tài sản không những xem xét lợi

nhuận cao hay thấp mà còn càng chú ý đến lưu lượng

vốn nhiều hay Ít

Điều mà tối đa hóa tài sản doanh nghiệp mưu cầu đó là lượng tiền mặt đầu vào không ngừng gia făng và tốc độ quay

35

Trang 38

vòng vốn ngày càng nhanh Xét về sự tồn tại và phát triển lâu dai cua doanh nghiệp, vốn nhiều hay ít quan trong hon là lợi nhuận ít hay nhiều Doanh nghiệp chỉ có tăng nhanh lưu lượng

tiền mặt đầu vào thì mới có thể liên tục phát triển Hơn nữa

lưu lượng tiền mặt đầu vào lại xem xét nhân tố thời gian của tiền vốn hay không, đồng thời tiến hành tính toán một cách

khoa học trên nguyên tắc giá trị thời gian của tiền vốn, hiệu

quả doanh nghiệp đã được xác nhận càng chân thực hơn - 3 Mục tiêu tối đa hóa tài sản có lợi cho việc bảo vệ quyên

lợi cơ bẩn cho nhà đầu tư và cổ đông, có lợi cho sự

phát triển lâu dài của doanh nghiệp

Tối đa hóa tài sản không loại trừ những doanh nghiệp có lợi nhuận cao Muốn làm cho vốn doanh nghiệp tăng nhanh, doanh nghiệp cần phải giữ được mức doanh lợi tương đối cao

nhưng phải là lãi thật Khi lợi nhuận ngắn hạn và lợi nhuận lâu

đài có xung đột, nhà kinh doanh phải tính toán và đánh giá tầm quan trọng của hai loại lợi nhuận này, từ đó lựa chọn

phương án có lợi hơn cho việc gia tăng giá trị doanh nghiệp

Đặc biệt là đối với sự phân chia lợi nhuận Mục tiêu tối đa hóa tài sản doanh nghiệp sẽ làm cho nhà đầu tư, cổ đông và nhà kinh doanh thận trọng khi lựa chọn những chính sách phân

chia có thể giúp công ty duy trì được thực lực phát triển lâu

đài, đồng thời tránh được những chính sách hành vi ngắn hạn

Trang 39

nghiệp Phân tích chi tiết, cụ thể quan hệ giữa các mức độ rủi

ro và thù lao làm cho kết cấu doanh nghiệp được tổ hợp tốt nhất, giá trị doanh nghiệp đạt mức độ cao nhất

Phương pháp quản lý tài chính

Để quản lý có hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp, hoàn thành mục tiêu nhiệm vụ quản lý tài chính cần có hàng loạt biện pháp khoa học Phương pháp quản lý là con đường và biện pháp cụ thể để đạt được mục tiêu quản lý Có rất nhiều phương pháp quản lý tài chính, ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu một SỐ

-_ phương pháp quản lý tài chính trên góc độ chức năng quản lý

Quyết sách và dự đoán tài chính

Quyết sách và dự đoán tài chính thuộc về công việc quản

lý trước quản lý tài chính

a Dự đoán tài chính là tiến hành phân tích nghiên cứu loại hình kinh tế, điều kiện kỹ thuật trong nội bộ doanh nghiệp Đồng thời dựa trên những thông tin kinh tế, áp dụng những phương pháp khoa học tiến hành dự đoán vốn, giá thành, thu nhập và mức độ lãi cho hoạt động tài chính tương lai của doanh nghiệp Tiến hành dự đoán tình hình và xu hướng phát

triển tài chính doanh nghiệp trong tương lai

Nội dung dự đoán tài chính thường bao gồm: Dự đoán lượng nhu cầu vốn doanh nghiệp, dự đoán tiêu thụ, dự đoán chỉ phí giá thành, dự đoán lợi nhuận và dự đoán sự thay đổi chính sách tiền tệ tài chính của nhà nước

37

Trang 40

Dự đoán tài chính là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp tiến hành quyết sách tài chính chuẩn xác và khoa học Phân

tích môi trường, điều kiện của hoạt động tài chính và những vấn đề, cơ hội có thể gặp phải Suy đoán được những chỉ tiêu tài chính như thu nhập, chi phí giá thành, lợi nhuận và lưu

lượng vốn trong điều kiện có thể dự đoán được, cung cấp đầy

đủ căn cứ để lựa chọn phương án tài chính hợp lý và thoả mãn

Chỉ dự đoán được tương lai chúng ta mới có thể làm chủ được

chúng Chỉ khi hiểu biết tương đối chính xác về những xu hướng phát triển tương lai của quản lý tài chính mới có thể đưa

ra chính sách tài chính, tránh và giảm bới được tổn thất do rủi

ro tài chính gây nên, đạt được mục tiêu tài chính theo dự tính

Phương pháp dự đoán tài chính vẻ tổng thể có thể phân

làm hai loại: Dự đoán định lượng và dự đoán định tính

Phương pháp dự đoán định tính là phương pháp dự đoán

xu hướng phát triển tương lai của sự vật thông qua tổng hợp, phân tích dựa trên kinh nghiệm, kiến thức cá nhân và khả năng phán đoán chủ quan bằng cách tận dụng những số liệu quá khứ và những tư liệu thông tin trực quan hiện thực

Dự đoán định lượng và dự đoán định tính đều có ưu và |

nhược điểm nhất định Phương pháp dự đoán định lượng có sự

tính toán số lượng tương đối chuẩn xác, giúp dễ dàng xác định chỉ tiêu số liệu, thuận tiện cho việc phán đoán và nắm bắt tình hình Dự đoán định tính lại là chú trọng dự đoán xu hướng

phát triển tương lai, có thể xác định về tổng thể xu hướng và tình trạng phát triển trong tương lai Phương pháp dự đoán định lượng có vẻ tương đối chuẩn xác và khoa học, nhưng

Ngày đăng: 08/05/2014, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w