Hoàn thiện pháp luật hợp đồng đáp yêu cầu của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trang 1mục lục
Trang
Chơng 1: Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng trong nền kinh tế việt nam hiện nay
5
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của hợp đồng 51.2 Khái niệm, nguyên tắc, cấu trúc của pháp luật về hợp đồng 181.3 Tiêu chí hoàn thiện pháp luật về hợp đồng 27
Chơng 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam 332.1 Lịch sử phát triển của pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam 332.2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam hiện nay 39
Chơng 3: định hớng và giải pháp cơ bản trong việc
hoàn thiện pháp luật hợp đồng của nớc ta hiện nay
Trang 2mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ lâu, hợp đồng đã trở thành một công cụ pháp lý để xác lập quan hệcủa các chủ thể phát sinh từ các giao lu dân sự, kinh tế Chúng ta đều biết rằng,nhu cầu của các tổ chức và cá nhân trong đời sống xã hội vô cùng đa dạng vàphong phú Để đáp ứng nhu cầu đó, con ngời phải quan hệ với nhau thông quacác hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, vật phẩm Công việc của các bên đ-
ợc thực hiện thông qua những cam kết đó là hợp đồng Nh vậy, hợp đồng thểhiện trong hầu hết các quan hệ mua bán của các bên trong nhiều lĩnh vực nhdân sự, kinh tế, nghiên cứu khoa học Chính vì vậy, việc áp dụng những giaodịch, cũng nh các nhu cầu về vận dụng pháp luật của nhà nớc để đảm bảoquyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia ký kết hợp đồng, thực hiện hợp
đồng cũng nh giải quyết những tranh chấp liên quan đến hợp đồng là hết sứccần thiết Đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng, khi mà các quan hệ dân sự kinh
tế càng trở nên phức tạp và trong điều kiện nớc ta đã trở thành thành viên chínhthức của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO) thì yêu cầu này càng trở nên cấpthiết hơn bao giờ hết Điều này đã đợc minh chứng trong chính các quy địnhcủa nhiều văn bản pháp luật, nh Bộ luật Dân sự, Luật Thơng mại, Bộ luật Hànghải Việt Nam Riêng Bộ luật Dân sự bao gồm 215 điều quy định về hợp đồngdân sự trên tổng số 777 điều luật, chúng ta có thể thấy đợc tính phức tạp, đadạng cũng nh mức độ quan trọng của quan hệ hợp đồng Ngoài ra, Bộ luật Dân
sự còn chứa đựng rất nhiều quy định có liên quan đến hợp đồng
Tuy hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên nhng để sự tựnguyện đó không không ảnh hởng tới lợi ích của ngời khác và lợi ích của cộng
đồng thì cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật
Trang 3Trải qua các thời kỳ kinh tế - xã hội, pháp luật về hợp đồng của ViệtNam cũng có nhiều thay đổi Trong thời kỳ kinh tế tập trung (trớc năm 1986)vấn đề hợp đồng chủ yếu mang tính hành chính mà tập trung nhiều và biểuhiện rõ nét đó là các hợp đồng theo chỉ tiêu pháp lệnh mà không thể hiện đúngbản chất của hợp đồng Sự ra đời của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh
Hợp đồng dân sự, Bộ luật Dân sự năm 1995 và đặc biệt sự ra đời Bộ luật Dân
sự năm 2005, chế định hợp đồng đã đợc hoàn thiện ở một mức độ cơ bản.
Mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2005 có nhiều quy định mới tiến bộ về hợp
đồng nhng việc áp dụng trong thực tế đang bộc lộ những điểm bất cập, nhữngthiếu sót hạn chế Thực tế đó đã đặt ra nhu cầu phải nghiên cứu làm rõ các quy
định mới của Bộ luật dân sự 2005 liên quan đến hợp đồng; đánh giá sự tác độngcủa chúng đến thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng, phát hiện những quy địnhbất hợp lý và từ đó đề xuất khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh phápluật đối với quan hệ hợp đồng, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trờng…
Xuất phát từ lý do nh vậy mà học viên đã chọn đề tài: "Hoàn thiện pháp luật hợp đồng đáp yêu cầu của nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Khoa học pháp lý Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập
tới các vấn đề khác nhau của hợp đồng nh: đề tài luận án tiến sĩ "Chế độ hợp
đồng trong nền kinh tế thị trờng ở giai đoạn hiện nay" của tác giả Phạm Hữu
Nghị, Hà Nội, 1996; Đề tài luận án tiến sĩ "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật
kinh tế nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh ở nớc ta" của tác giả Bùi Ngọc
Cờng, 2001; Đề tài luận văn thạc sĩ "Hợp đồng kinh doanh vô hiệu và hậu quả
pháp lý của nó" của tác giả Lê Thị Bích Thọ, 2002; Công trình nghiên cứu
khoa học "Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về giao dịch dân sự vô hiệu tại
Tòa án nhân dân" của tác giả Nguyễn Văn Luật, 2003; "Hợp đồng kinh doanh
Trang 4vô hiệu: Lý luận và thực tiễn", Tài liệu Hội thảo về việc xử lý hợp đồng vô
hiệu, Diễn đàn doanh nghiệp và Câu lạc bộ Luật gia Việt - Đức, Hà Nội vànhiều công trình của nhiều tác giả khác Các công trình nghiên cứu trớc đây lànguồn tài liệu quan trọng, có giá trị tham khảo và cung cấp những luận cứkhoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
Tuy nhiên, kể từ sau ngày Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực, cha
có một công trình nào đề cập hệ thống và toàn diện về hợp đồng cũng nh điềuchỉnh pháp luật đối với quan hệ hợp đồng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Luận văn đặt mục đích nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về phápluật đối với quan hệ hợp đồng, đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồngtrong điều kiện thi hành Bộ luật Dân sự 2005, đồng thời chỉ ra những khókhăn, vớng mắc trong thực tế áp dụng pháp luật Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháptiếp tục hoàn thiện pháp luật hợp đồng để nâng cao hiệu quả áp dụng của phápluật về hợp đồng trong thực tiễn
Với mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Làm rõ vai trò của pháp luật trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng;
- Xác định cấu trúc pháp luật về hợp đồng trong điều kiện thực hiện
Bộ luật Dân sự 2005;
- Đánh giá thực trạng pháp luật đối với quan hệ hợp đồng ở Việt Nam;
- Đề xuất định hớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng đápứng yêu cầu của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Namhiện nay
4 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận chung về phápluật đối với hợp đồng, các quy định pháp luật liên quan đến ký kết, thực hiện hợp
Trang 5đồng, vấn đề hợp đồng vô hiệu và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu ở thực trạng của pháp luật đối với
ký kết hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, hiệu lực của hợp đồng, nghĩa vụ và tàisản của các bên trong hợp đồng nhằm bảo đảm hợp đồng là một công cụ hiệuquả trong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của đôi bên, công cụ để thúc đẩy nềnkinh tế phát triển
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin và t tởng Hồ Chí Minh về Nhà nớc và pháp luật Bên cạnh đó, để thựchiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, luận văn còn sử dụng nhiều phơng phápnghiên cứu khác nhau nh phơng pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, khảo sátthực tiễn
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn có một số đóng góp mới về lý luận và thực tiễn nh sau:
Thứ nhất, luận văn đi sâu phân tích những quy định của pháp luật về
hợp đồng để từ đó nêu lên đợc những thiếu sót và bất cập đối với pháp luật vềhợp đồng trong điều kiện kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, luận văn đề xuất một số định hớng và giải pháp trong việc
xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng trong nền kinh tế thị tr ờng địnhhớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu tổng hợp lý luận ở chơng một, phân tích thực trạng
ở chơng hai và những giải pháp của chơng ba của luận văn đã góp phần cungcấp những luận cứ khoa học để thấy rõ vai trò của hợp đồng cũng nh pháp luật
về hợp đồng trong đời sống giao lu kinh tế và đặc biệt là các hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp
Trang 68 KÕt cÊu cña luËn v¨n
Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn vµ danh môc tµi liÖu tham kh¶o, néi dungcña luËn v¨n gåm 3 ch¬ng, 7 tiÕt
Trang 7Chơng 1
Cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
trong nền kinh tế việt nam hiện nay
1 khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò của hợp đồng
1.1.1 Khái niệm và những đặc điểm của hợp đồng
1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng
Cơ sở cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của hợp đồng đã hình thành
và phát triển hàng nghìn năm nay Nó tồn tại và phát triển trong xã hội phơngTây, xã hội phơng Đông hay cả chính xã hội nh Bắc Mỹ, châu úc Nh vậy, đểtìm hiểu thể nào là hợp đồng, cơ sở cho sự hình thành hợp đồng cũng nh sự ra
đời của pháp luật về hợp đồng, trớc hết ta khái quát tóm lợc những quan điểm
về hợp đồng của các nớc cũng nh các khu vực trên thế giới
Khởi nguồn từ triết lý pháp luật tự nhiên, dựa trên các giá trị pháp luậthợp đồng của La Mã và các học thuyết về quyền cá nhân, hợp đồng và phápluật hợp đồng phơng Tây đã có hơn hai nghìn năm để phát triển các học thuyết
về tính bắt buộc thực hiện của hợp đồng, công bằng, thống nhất về ý chí vàtrách nhiệm đối với việc không tuân thủ nghĩa vụ và cam kết Vì cá nhân làtrung tâm của xã hội phơng Tây nên sự bày tỏ ý chí cá nhân, các cam kết vàhợp đồng trở thành công cụ chủ yếu để tổ chức các quan hệ xã hội Điều đócho thấy, trật tự xã hội từ nhỏ đến lớn đều dựa trên khế ớc - "khế ớc xã hội ",những ngời nghỉ hu và chính sách an sinh là "khế ớc giữa các thế hệ", còntrong hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh căn cứ theo "hợp đồng công ty"
Ví dụ, ngời Anh quan niệm về hợp đồng nh sau: Điểm cốt yếu của hợp đồng
là sự gặp gỡ các ý chí của các bên trong việc thoả thuận cuối cùng và đầy đủ
Trang 8Quan điểm của luật pháp Hoa Kỳ lại cho rằng: hợp đồng nh một trong nhữngphơng pháp khác thủ đắc quyền sở hữu động sản và chỉ phân biệt nó với tặngcho (Commenarien on Laws of England) Tự do giao kết và tuân thủ nội dungcủa hợp đồng là một yếu tố hình thành nên trật tự xã hội phơng Tây Ngợc lại,
đối với phơng Đông, nền tảng của xã hội không phải là chủ nghĩa cá nhân, mà
là gia đình, là tính cộng đồng Xã hội phơng Đông tìm sự ổn định thông quaviệc giữ gìn tôn ti trật tự, từ chuyện nhỏ trong gia đình, đến việc "trong họ,ngoài làng", cho tới "quốc gia đại sự" con ngời cần biết và tuân thủ bổn phậncủa mình theo "nhân, nghĩa, trí, lễ, tín" Hợp đồng khi đợc thu nạp vào các xãhội phơng Đông truyền thống cần ghi nhận sự tin tởng, quan hệ, thể hiện giữacác bên giao kết - một dấu hiệu của các ràng buộc mang tính xã hội
Nếu nh hợp đồng và đền bù là hai lĩnh vực pháp luật trái vụ cổ điểncủa phơng Tây, thì các quy định về khế ớc cũng nh hợp đồng trong hệ thốngtrong các bộ luật cổ Việt Nam, đợc thể hiện cụ thể nhất trong hệ thống phápluật của nhà Lê về các nội dung: hiệu lực và sự vô hiệu của hợp đồng, hìnhthức hợp đồng; nghĩa vụ thực hiện hợp đồng; phạt hợp đồng và đền bù thiệthại (theo cổ luật Việt Nam lợc khảo) đợc thể hiện ẩn dới các quy định hìnhluật Pháp luật thời Lê đề cao sự tự nguyện giao kết và thực hiện khế ớc, quy
định thể thức giao kết bằng văn bản, cách lập văn bản và làm cứng các khế ớc,cho đến việc định hình phạt và đền bù cho vi phạm khế ớc
Từ những quan điểm về hợp đồng nh đã nêu trên, ta thấy chủ thể củahợp đồng chính là những cá nhân hoặc các tổ chức Để tồn tại và phát triển,mỗi cá nhân cũng nh mỗi tổ chức phải tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hộikhác nhau Trong các quan hệ đó, tồn tại mối quan hệ khi các bên thiết lập vớinhau để chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinhhoạt, tiêu dùng và kinh doanh đóng một vai trò quan trọng nh là một tất yếu
đối với mọi đời sống xã hội Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất,
Trang 9tài sản đó không thể tự chúng tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ Cácquan hệ tài sản chỉ đợc hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể.Mác nói rằng: "Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trờng và trao đổi vớinhau đợc Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những ngời giữ chúngphải đối xử với nhau nh những ngời mà ý chí nằm trong các vật đó".
Mặt khác, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không đợcbên kia chấp nhận cũng không thể hình thành mối quan hệ để qua đó thựchiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau đợc Do
đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao
đổi lợi ích vật chất mới đợc hình thành Quan hệ đó đợc gọi là hợp đồng Nhvậy, cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để hình thành một hợp đồng là việcthỏa thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng Tuy nhiên,hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật khi ý chí của các bên phù hợp quy địnhcủa pháp luật Các bên đợc tự do thỏa thuận để thiết lập hợp đồng, nhng sự "tựdo" ấy phải đợc đặt trong giới hạn để không xâm hại đến lợi ích của ngờikhác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng
Khi hợp đồng đợc giao kết hợp pháp thì hợp đồng có hiệu lực phápluật đối với các bên giao kết Nghĩa là, từ lúc đó, các bên đã tự nhận về mìnhnhững nghĩa vụ pháp lý nhất định Sự "can thiệp" của Nhà nớc không những làviệc buộc các bên phải giao kết hợp đồng phù hợp với lợi ích chung và đạo
đức xã hội mà còn buộc các bên phải thực hiện hợp đồng đúng với những camkết mà họ đã thoả thuận Theo nội dung đã cam kết, dới sự hỗ trợ của phápluật, các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau
Về bản chất, hợp đồng là một giao dịch mà trong đó các bên thỏa thuậnvới nhau nhằm đi đến thống nhất để cùng nhau làm phát sinh các quyền vànghĩa vụ nhất định Trên phơng diện này, hợp đồng vừa đợc xem xét ở dạng
cụ thể vừa đợc xem xét ở dạng khái quát Qua các thời kỳ phát triển kinh tế-xã
Trang 10hội, pháp luật Việt Nam da ra những khái niệm khác nhau về hợp đồng Theo
Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991:
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay
đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán,thuê, vay, mợn, tặng, cho tài sản làm một việc hoặc không làm mộtviệc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc cácbên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng [73]
Bộ luật Dân sự 2005 đa ra định nghĩa về hợp đồng khái quát hơn:
"Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự" (Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005) Nh
vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận để một bên chuyển tài sản,thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thỏa thuận để thay
đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó Đối với các hợp đồng đợc ký kết nhằm mục
đích kinh doanh ngoài có những dấu hiệu chung của hợp đồng thì hợp đồngdoanh có sự khác biệt thêm Hợp đồng kinh doanh đợc hiểu là sự thỏa thuậnbằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện côngviệc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích tìm kiếm lợi nhuận với sựquy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
Điều một Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 định nghĩa:Hợp đồngkinh tế là những hợp đồng đợc ký kết giữa các bên nhằm sản xuất, mua bán, luthông hàng hóa, trao đổi dịch vụ, nghiên cứu, liên doanh liên kết giữa các bênnhằm sản xuất, mua bán, lu thông hàng hóa, trao đổi, dịch vụ, nghiên cứu, liêndoanh, liên kết sản xuất nhằm bất kỳ một mục đích kinh doanh khác để thựchiện tốt kế hoạch của bản thân các bên ký kết và thu lợi nhuận Hoạt động cóthể bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đó có thể làcông ty nhà nớc, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp
Trang 11danh, doanh nghiệp t nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp liên doanh, doanhnghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài Các doanh nghiệp ký kết hợp đồng để phục
vụ cho hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận Các hoạt động kinh doanhhết sức đa dạng: đầu t vốn, sản xuất, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trênthơng trờng Hợp đồng đợc ký kết trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau
nh mua bán hàng hóa, vận chuyển, xây dựng, bảo hiểm, tín dụng, đại lý, ủythác, liên kết kinh doanh… Hình thức của hợp đồng có thể bằng lời nói, vănbản hoặc bằng các hành vi cụ thể
Tóm lại, từ những nội dung cơ bản nhất của hợp đồng nói chung, hợp
đồng dân sự, hợp đồng trong hoạt động kinh doanh và cả quan điểm nớc ngoài
cũng nh quan điểm của các tổ chức thế giới cho thấy: Hợp đồng là thoả thuận
của các bên nhằm thống nhất các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
Với các hợp đồng dân sự thông thờng, chủ thể là các cá nhân, phápnhân, hay các tổ chức khác Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ thể củahợp đồng kinh doanh đợc quy định rất cụ thể đó thờng là thơng nhân đáp ứngnhững điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật
Tựa chung lại, chủ thể của hợp đồng bao gồm cá nhân có năng lựcpháp luật và năng lực hành vi dân sự, các tổ chức, doanh nghiệp, và các phápnhân khác… ợc pháp luật thừa nhận có t cách pháp lý độc lập với nhau, hoàn đ
Trang 12toàn bình đẳng với nhau khi tham gia quan hệ hợp đồng Tuỳ từng loại hợp
đồng mà pháp luật có thể quy định những điều kiện ràng buộc cho các chủ thểhợp đồng phải dáp ứng, ví dụ: cá nhân phải đủ độ tuổi, doanh nghiệp phải cóngành nghề kinh doanh phù hợp
Thứ hai, sự tự nguyện khi thỏa thuận và ký kết hợp đồng
Cơ sở hình thành hợp đồng là sự tự nguyện từ tự do ý chí của các bên.Các điều kiện của hợp đồng đợc giải thích trong các điều kiện tự do ý chí,xem xét về vấn đề tự do ý chí ta thấy: Một mặt, tự do ý chí đợc xuất phát từnền tảng là tự do cá nhân, có nghĩa là không ai có thể bị ép buộc làm haykhông làm một công việc gì đó ngoài ý muốn của họ, Mặt khác, tự do ý chí cónghĩa là không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm một công việc mà xuấtphát từ lợi ích của họ Do vậy, hợp đồng đợc xem là sản phẩm của ý chí đợchình thành từ lợi ích của các bên tham gia giao kết hợp đồng Tuy nhiên, trong
điều kiện đa dạng và phức tạp của các mối quan hệ ngày nay khi mà con ngờisống trong sự phụ thuộc lẫn nhau, khi mà lợi ích kinh tế của mọi ngời làkhông bằng nhau thì chính ích lợi của các bên khi tham gia giao kết hợp đồngvẫn bị giới hạn và bắt buộc những lợi ích đó phải phù hợp với lợi ích chungcủa xã hội
Tính độc lập và sự phụ thuộc của hai nhóm lợi ích đó (lợi ích của cácbên tham gia hợp đồng và lợi ích của xã hội) đã làm nảy sinh nghĩa vụ tronghợp đồng Nh vậy, tự do ý chí, tự do thoả thuận và tự do giao kết hợp đồngcũng bị giới hạn phần nào, sự giới hạn đó chính là sự can thiệp của pháp luậtthông qua việc nhà nớc ban hành những điều bắt buộc cho các bên tham giaquan hệ hợp đồng (ví dụ: điều kiện chủ thể,…)
Tóm lại, trên cơ sở tự do ý chí của các bên khi thỏa thuận và ký kếthợp đồng, sự can thiệp của pháp luật về vấn đề hợp đồng sẽ bảo đảm cho cácquan hệ hợp đồng đợc phát triển ổn định và đúng định hớng đã dự định
Trang 13Thứ ba, các bên bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Cơ quan nhà nớc đã đợc ấn định thì ngời cán bộ công chức phải cónghĩa vụ hoàn thành, việc hoàn thành nghĩa vụ đó nh một yêu cầu bắt buộc.Trong một cơ quan, tổ chức, nhiệm vụ của cán bộ cấp trên giao cho cán bộ cấpdới phải phục tùng chịu sự phân công và chỉ đạo của cán bộ cấp trên Trongmối quan hệ này cơ sở hình thành quyền và nghĩa vụ bắt nguồn từ quyết định
đơn phơng của thủ trởng cấp trên, của cơ quan nhà nớc và nó mang tính mệnhlệnh hành chính Khác với tính bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong cácquan hệ trên, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng luôn ngang bằng
và bình đẳng nhau Trong hợp đồng, quyền lợi của bên này có nghĩa đó lànghĩa vụ của bên còn lại và ngợc lại nghĩa vụ của bên này chính là quyền củabên còn lại Quyền và nghĩa vụ của các bên hình thành từ sự tự nguyện thoảthuận của các bên, các bên tự mình đàm phán, trao đổi và ghi nhận quyền vànghĩa vụ đó
Thứ t, về hình thức của hợp đồng
Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì hợp đồng đợc ký kết dới nhiềuhình thức khác nhau nh: văn bản, lời nói hay các hành vi cụ thể; trong một sốtrờng hợp khác pháp luật quy định hợp đồng phải ký dới một hình thức nhất
định (nh hợp đồng phải ký bằng văn bản có công chứng, chứng thực hợp lệ)thì phải tuân thủ hình thức đó Văn bản là hình thức có thể thể hiện một cáchhữu hình nội dung của hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận với nhau Đó cóthể là bản hợp đồng với đầy đủ chữ ký của các bên hoặc công văn, tài liệu giaodịch chứa đựng những nội dung chủ yếu của hợp đồng mà các bên đã thỏathuận đợc với nhau
1.1.2. Phân loại hợp đồng
Trang 14Tùy thuộc vào nội dung, tính chất hình thức của từng quan hệ hợp
đồng, ngời ta phân biệt thành nhiều loại hợp đồng khác nhau:
- Căn cứ vào nội dung và tính chất cụ thể của hợp đồng mà chia thànhtừng loại hợp đồng riêng nh: Hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng xây dựng,vận chuyển, tín dụng, thuê tài sản, hợp đồng dân sự, hợp đồng thơng mại, hợp
cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thực hiện quyền yêu cầu của mình
đối với bên kia Vì vậy, đối với những hợp đồng có giá trị lớn, tính chất phứctạp,các bên cha thực sự tin tởng nhau thì các bên thờng chọn hình thức này.Thông thờng, hợp đồng đợc lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản, coi nh
đã có trong tay một bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình
Trong những hợp đồng bằng văn bản có thể chia thành hợp đồng kýbằng văn bản thông thờng và hợp đồng ký bằng văn bản có công chứng, chứngthực hợp lệ
+ Hợp đồng có chứng nhận, chứng thực
Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và
đối tợng của nó là những tài sản mà Nhà nớc cần quản lý, kiểm soát khi chúng
đợc dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác, thì các bên phải lập thànhvăn bản có công chứng, chứng thực Hợp đồng đợc lập ra theo hình thức này có
Trang 15giá trị chứng cứ cao nhất Vì vậy, đối với những hợp đồng mà pháp luật khôngyêu cầu phải lập theo hình thức này nhng để quyền lợi của mình đợc đảm bảo,các bên vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng.
+ Hợp đồng bằng lời nói
Thông qua hình thức này, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thỏa thuậnmiệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiệnnhững hành vi nhất định đối với nhau Hình thức này thờng đợc áp dụng trongnhững trờng hợp các bên thân quen hoặc đã có độ tin tởng lẫn nhau hoặc đối vớinhững hợp đồng mà ngay sau khi giao kết sẽ đợc thực hiện và chấm dứt
- Căn cứ vào sự tơng xứng về quyền và nghĩa vụ các bên, có thể chiathành: Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ
+ Hợp đồng song vụ
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có quyền vànghĩa vụ Hay nói cách khác, mỗi một bên chủ thể của hợp đồng song vụ làngời vừa có quyền lại vừa có nghĩa vụ dân sự Trong nội dung của loại hợp
đồng này, quyền dân sự của bên này đối lập tơng ứng với nghĩa vụ của bên kia
và ngợc lại Vì thế, nếu hợp đồng song vụ đợc giao kết theo hình thức văn bản,thì phải lập thành nhiều văn bản để mỗi bên giữ một bản hợp đồng Tại khoản
1 Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005 đã định nghĩa: "Hợp đồng song vụ là hợp
đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau" [56].
+ Hợp đồng đơn vụ
Hợp đồng đơn vụ là những hợp đồng mà trong đó một bên chỉ có nghĩa
vụ mà không có quyền gì đối với bên kia và bên kia là ngời có quyền nhngkhông phải thực hiện một nghĩa vụ nào
Việc xác định quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau giữa các chủ thểtrong hợp đồng dân sự đợc bắt đầu từ thời điểm hợp đồng dân sự có hiệu lực
Trang 16- Căn cứ theo sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các hợp đồng, cóthể chia thành:
+ Hợp đồng chính
Tại khoản 3 Điều 406 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Hợp đồng chính
là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng khác" Nh vậy, các
hợp đồng chính khi đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp luật đã quy địnhthì đơng nhiên phát sinh hiệu lực và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên từthời điểm giao kết
đồng mà nó phụ thuộc) bị coi là không có hiệu lực
- Căn cứ theo tính chất có đi có lại về lợi ích của các chủ thể, có thểchia thành:
+ Hợp đồng có đền bù
Là loại hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể khi đã thực hiện chobên kia một lợi ích sẽ nhận đợc từ bên kia một lợi ích tơng ứng Chúng ta biếtrằng, đặc điểm cơ bản của quan hệ tài sản trong giao lu dân sự là sự trao đổi
có đền bù Tuy nhiên, không nhất thiết cứ bên này hởng lợi ích vật chất thìbên kia hởng lợi ích vật chất mới đợc coi là "đền bù tơng ứng" Do nhu cầu đadạng, các bên có thể thỏa thuận để giao kết những hợp đồng mà trong đó mộtbên hởng lợi ích vật chất nhng bên kia lại hởng một lợi ích thuộc về tinh thần.Cần xác định rằng các hợp đồng mang tính chất đền bù đa phần là hợp đồng
Trang 17song vụ cũng nh đa phần các hợp đồng song vụ đều mang tính đền bù Tuynhiên, trong thực tế có rất nhiều hợp đồng dù mang tính chất đền bù nhng lại
là hợp đồng đơn vụ nh hợp đồng cho vay có lãi mà hiệu lực của nó đợc xác
định tại thời điểm bên vay đã nhận tiền Mặt khác, có nhiều hợp đồng song vụnhng không mang tính chất đền bù nh hợp đồng gửi giữ không có thù lao
+ Hợp đồng không có đền bù
Hợp đồng không đền bù là những hợp đồng mà trong đó một bên nhận
đợc từ bên kia một lợi ích nhng không phải giao lại một lợi ích nào Bên cạnhviệc sử dựng hợp đồng làm phơng tiện trao đổi những lợi ích, các chủ thể còndùng nó làm phơng tiện để giúp đỡ nhau Vì vậy, hợp đồng không có đền bùthờng đợc giao kết trên cơ sở tình cảm và tinh thần tơng thân, tơng ái giữa cácchủ thể Có thể nói rằng, nếu tiền đề của hợp đồng có đền bù là những lợi ích(mà đa phần là lợi ích vật chất) thì tiền đề của hợp đồng không có đền bù làmối quan hệ tình cảm sẵn có giữa các chủ thể Đây là một loại hợp đồng dân
sự mà tính chất của nó đã vợt ra ngoài tính chất của quy luật giá trị bởi sự chiphối của yếu tố tình cảm trên sơ sở tình cảm, các bên thiết lập các hợp đồngkhông có đền bù để giúp đỡ nhau Do đó, trong quá trình giao kết loại hợp
đồng này dù đã hứa hẹn (đã có sự thống nhất ý chí) nhng việc chấp nhận đềnghị không mang tính chất ràng buộc đối với bên đợc đề nghị Vì vậy, đối vớihợp đồng tặng cho tài sản, pháp luật đã quy định có hiệu lực khi các bên đãthực tế trao cho nhau đối tợng tặng cho hoặc đã hoàn thành thủ tục chuyểnquyền sở hữu
- Căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực, có thể chia thành:
+ Hợp đồng ng thuận
Hợp đồng ng thuận là những hợp đồng mà theo quy định của phápluật, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh quay sau khi các bên đã thỏa
Trang 18thuận với nhau xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng Trong trờng hợp này,
dù rằng các bên cha trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết nhng đã phátsinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng.Hay nói cách khác, hợp đồng ng thuận là những hợp đồng mà thời điểm cóhiệu lực của nó đợc xác định tại thời điểm giao kết
+ Hợp đồng thực tế
Hợp đồng thực tế là những hợp đồng mà sau khi thỏa thuận, hiệu lựccủa nó chỉ phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối t-ợng của hợp đồng
- Căn cứ vào tính chất của nội dung của hợp đồng, ngời ta có thể hợp
Tóm lại, việc phân chia hợp đồng dân sự thành các loại nói trên vừa
dựa vào sự quy định của pháp luật, vừa dựa trên phơng diện lý luận, vừa dựatrên phơng diện thực tiễn Qua đó, nhằm xác định đợc những đặc điểm chung
và riêng của từng nhóm hợp đồng, góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình
điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
1.1.3 Vai trò của hợp đồng
Xuất phát từ bản chất của hợp đồng cũng nh các hình thức khác nhaucủa hợp đồng đã đợc pháp luật ghi nhận và đã có ý nghĩa đối với đời sống xãhội Ta thấy hợp đồng có một số vai trò nhất định nh sau:
Trang 19- Hợp đồng là cơ sở quan trọng để xây dựng và thực hiện kế hoạch củacác bên Có thể khẳng định rằng trong tất cả mọi vấn đề nếu không xây dựng
kế hoạch cụ thể và chi tiết thì mọi công việc tiến hành đều rơi vào tình trạngkhông có phơng hớng và để bảo đảm việc xây dựng kế hoạch đợc bảo đảm thìmột trong những cơ sở quan trọng bắt nguồn của vấn đề chính là hợp đồng.Hợp đồng là một phơng tiện để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của các bên
ký kết Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên, cơ sở để cho
sự phân minh cũng nh khẳng định tính đúng sai không thể có nội dung nàokhác quan trọng hơn đó chính là hợp đồng Bên cạnh những nội dung chínhcủa hợp đồng nh: tên của hợp đồng, tên chủ thể, tên mặt hàng, phơng thứcthanh toán nhng trong đó có nhiều hợp đồng quy định rất cụ thể tiến độ thựchiện các nội dung đợc thoả thuận trong hợp đồng (ví dụ nh các hợp đồng liênquan đến xây dựng công trình, các loại hợp đồng BOT, BT,…) và nh vậy nộidung hợp đồng sẽ trở thành tiêu chí để kiểm tra việc thực hiện các thoả thuậncủa các bên Hay nói cách khác, hợp đồng đợc xem nh công cụ để các bênkiểm tra việc thực hiện kế hoạch
- Hợp đồng làm cho lợi ích của các bên ký kết phù hợp với lợi íchchung của nền kinh tế quốc dân Cho dù nội dung của hợp đồng chủ yếu đợccác bên tự thoả thuận nhng sự thoả thuận đó phải trong khuôn khổ pháp luật
và việc các nhà xây dựng pháp luật trong quá trình soạn thảo để ban hành đãphải tính toán các lợi ích của nền kinh tế quốc dân
- Hợp đồng là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của cơ chế quản
lý mới Một trong những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trờng định ớng xã hội chủ nghĩa là sự điều tíêt của nền kinh tế đợc đặt dới điều tiết củanhà nớc và sự tự điều tiết của các quy luật thị trờng Nhà nớc chỉ tập trungquản lý ở tầm vĩ mô, còn quá trình tổ chức và quản lý sẽ thuộc về các doanhnghiệp Đối với các giao lu dân sự thông thờng, Nhà nớc luôn đề cao quyền tự
Trang 20h-do của cá nhân, chính vì vậy việc quản lý của nhà nớc cũng nh việc bảo đảmquyền và nghĩa vụ của các bên chủ yếu đợc đánh giá qua sự thoả thuận củacác bên Nếu nh trớc đây, Nhà nớc luôn là trung tâm quản lý trực tiếp đối vớidoanh nghiệp thì nay sự quản lý đó lại để cho các doanh nghiệp tự quản lý vànhà nớc chỉ tập trung quản lý theo phơng pháp mới nh quản lý về thuế, quản
lý tỷ giá hối đoái, quản lý về chính sách thơng mại, và quản lý xã hội bằngpháp luật Nh vậy, một trong những nội dung quan trọng để nhà nớc quản lý
và bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các cá nhân và tổ chức đó là hợp đồng Bêncạnh nhà nớc sử dụng hợp đồng nh một công cụ quản lý mới thì chính các tổchức với tổ chức, tổ chức với cá nhân thành viên có liên quan, cá nhân với cánhân, hợp đồng cũng là cơ sở tạo sự ràng buộc lẫn nhau và trở thành công cụquản lý hiệu quả
1.2 khái niệm, nguyên tắc, cấu trúc của pháp luật về hợp đồng
1.2.1 Khái niệm pháp luật về hợp đồng
Từ khái niệm về hợp đồng, các đặc điểm của hợp đồng cũng nh vai tròcủa hợp đồng đã trình bày ở phần một của chơng một cho ta thấy các quan hệ
về hợp đồng tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau: từ lĩnh vực kinh doanh,linh vực dân sự, lao động, tín dụng và khoa học công nghệ Điều này cho thấyquan hệ hợp đồng có phạm vi rất rộng Quan hệ hợp đồng có thể chỉ là cácquan hệ rất đơn giản nh việc mua bán hàng hoá đơn gian của đời sống dân sựhàng ngày(trong những trờng hợp này, các hợp đồng thờng chỉ là hợp đồngbằng lời nói) tới các hợp đồng có nội dung rất phức tạp bao gồm nhiều chủ thểtham gia, nội dung lớn với nhiều bộ phận khác nhau đẻ thực hiện các nội dungcông việc đã thoả thuận trong hợp đồng (trong trờng hợp này, các hợp đồngthờng là hợp đồng thơng mại, hợp đồng xây dựng BTO, BOT, BT, hay các hợp
đồng mua bán hàng hoá xuất nhập khẩu) Để bảo đảm các quan hệ hợp đợcphát triển đúng mục đích và yêu cầu của nhà nớc cũng nh quan hệ hợp đồng
Trang 21đợc ký kết và thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện của các bên,bảo đảm lợi ích cũng nh nghĩa vụ cho các bên tham gia ký kết thì quan hệ hợp
đồng cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật Do tính chất đa dạng củahợp đồng là tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội chínhdẫn tới các quy định pháp luật do nhà nớc ban hành để điều chỉnh các quan hệhợp đồng cũng tồn tại trong nhiều ngành luật khác nhau, trong nhiều văn bảnquy phạm pháp luật khác nhau Bộ luật Dân sự là văn bản pháp luật chứa dựngnhiều quy định nhất về hợp đồng, đây cũng là văn bản quy định luật chung vềhợp đồng Bên cạnh Bộ luật Dân sự, luật Thơng mại, Luật Điện lực, Bộ luậtLao động…cũng quy định về vấn đề hợp đồng và chúng đợc áp dụng cho cáchợp đồng chuyên ngành Nh vậy, đối với nhiều nhóm quan hệ có tính độc lập
sẽ hình thành một ngành luật riêng: ví dụ, quan hệ lao động sẽ đợc điều chỉnhbởi Bộ luật Lao động, các quan hệ dân sự sẽ đợc điều chỉnh bởi Bộ luật Dân
sự… Đối với các quan hệ hợp đồng xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau
và thể hiện ở nhiều dạng quan hệ khác nhau (quan hệ dân sự, quan hệ thơngmại…) dẫn tới pháp luật về hợp đồng cũng rất đa dạng và tồn tại trong nhiềuvăn bản pháp luật khác nhau(Bộ luật Dân sự, luật Thơng mại, Luật bảo hiểm,luật Điện lực…) Từ những nội dung đã phân tích nh trên, ta có bớc đầu hìnhdung pháp luật về hợp đồng là hệ thống các quy định do Nhà nớc ban hành để
điều chỉnh các quan hệ về hợp đồng ở Việt Nam, do tính chất riêng biệt củaquan hệ hợp đồng tồn tại trong nhiều nhành nghề khác nhau, nhièu lĩnh vựckhác nhau mà Quốc hội của nớc Việt Nam sẽ không ban hành văn bản phápluật quy định riêng biệt về hợp đồng Các quy định pháp luật về hợp đồng củanớc ta tồn tại trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Ngoài cácquy định chung về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự có thể tìm thấynhững quy
định về từng hợp đồng cụ thể trong các văn bản khác nhau nh: Luật Thơng mại,Luật Kinh doanh bảo hiểm Các hợp đồng trong những lĩnh vực khác nhau sẽ dopháp luật chung về hợp đồng kết hợp với pháp luật chuyên ngành điều chỉnh
Trang 22Chẳng hạn, hợp đồng thơng mại sẽ do Bộ luật Dân sự và Luật Thơng mại điềuchỉnh; hợp đồng lao động sẽ do Bộ luật Lao động điều chỉnh Khi nói tới phápluật về hợp đồng, nhiều ngời có quan điểm rằng phải tách riêng từng loại hợp
đồng riêng biệt Chẳng hạn, hợp đồng dân sự sẽ có những nội dung và đặc
điểm khác với hợp đồng trong kinh doanh, hợp đồng thơng mại khác với hợp
đồng lao động…
Tuy nhiên, để cho hợp đồng đợc ký kết giữa các chủ thể đợc thực hiện
có hiệu quả và bảo đảm đợc sự quản lý của nhà nớc thì nhà nớc ban hànhnhiều quy phạm pháp luật để áp dụng trong việc cụ thể hóa các vấn đề của hợp
đồng Nh vậy, pháp luật về hợp đồng bao gồm một hệ thống các văn bản phápluật khác nhau, trong mỗi văn bản pháp luật đó sẽ bao gồm nhiều điều luật quy
định cụ thể hóa các nội dung của hợp đồng, định hình các quy tắc xử sự củacác bên tham gia quan hệ hợp đồng Từ đó ta có thể kết luận pháp luật về hợp
đồng nh sau: Pháp luật về hợp đồng là một hệ thống các quy tắc xử sự, do các
cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng
1.2.2.1 Tôn trọng quyền thỏa thuận tự nguyện của các bên
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền tự do cam kết, thỏathuận phù hợp với pháp luật trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụdân sự Mọi cam kết và thỏa thuận hợp pháp đợc pháp luật bảo hộ
Khi cam kết, thỏa thuận các bên hoàn toàn tự nguyện, không đợc aidùng bất cứ thủ đoạn nào nhằm buộc một ngời cam kết, thỏa thuận trái với ýchí của ngời đó Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên
có thể coi là vô hiệu
Trang 23Khi tiến hành thỏa thuận các chủ thể đều bình đẳng, không đợc lấy bất
cứ một lí do nào về sự khác biệt để đối xử không bình đẳng Các chủ thể bình
đẳng về năng lực pháp luật, bình đẳng giữa các hình thức sở hữu khi giao kếthợp đồng Bình đẳng của các chủ thể đợc thể hiện ở các điểm sau:
- Bình đẳng trong việc tham gia vào các quan hệ hợp đồng không phụthuộc vào giới tính và các địa vị xã hội khác;
- Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ khi chúng đợc xác lập Các bên phảithực hiện nghĩa vụ đối với những ngời có quyền;
- Bình đẳng về trách nhiệm dân sự nếu bên có nghĩa vụ không thựchiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ đều phải chịu trách nhiệm dân sự đối vớibên có quyền
Trong quan hệ hợp đồng các bên phải hợp tác, giúp đỡ nhau để tạo lập
và thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận Ngoài ra, đòi hỏi các bênphải tìm mọi biện pháp cần thiết để khắc phục và hạn chế thiệt hại Tuy nhiên,trong quan hệ dân sự các bên đợc suy đoán là trung thực, thiện chí Nếu mộtbên cho rằng bên kia không trung thực, thiện chí phải có chứng cứ
1.2.2.2 Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng
Trách nhiệm trong hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lí nhng trớctiên là trách nhiệm của ngời vi phạm đối với ngời bị vi phạm Ngời có nghĩa
vụ phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của họ nếu các quyền và nghĩa vụ đóphát sinh từ các căn cứ hợp pháp Nếu không thực hiện phải tự chịu tráchnhiệm và có thể bị cỡng chế thi hành nghĩa vụ và phải bồi thờng thiệt hại (nếu
có) Mỗi chủ thể tham gia phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình (Điều
7 Bộ luật Dân sự)
Trang 24Quyền sở hữu và các quyền tài sản khác là những quyền quan trọngnhất của công dân cũng nh tổ chức trong giao lu dân sự, kinh tế; là cốt lõitrong các quyền dân sự của các chủ thể và chi phối các quyền năng khác Mọichủ thể có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu, quyền tài sản của các chủ thểkhác Khi có hành vi xâm phạm đến tài sản của ngời khác, ngoài việc áp dụngcác biện pháp cỡng chế (hình sự, hành chính…) cơ quan nhà nớc có thẩmquyền áp dụng các biện pháp dân sự với mục đích khôi phục lại tình trạng tàisản của ngời bị xâm phạm, bảo đảm quyền sở hữu tài sản của các chủ thể đợc
thực hiện bình đẳng (Điều 9 Bộ luật Dân sự).
1.2.2.3 Bảo vệ trật tự công và lợi ích của ngời thứ ba ngoài quan hệ hợp đồng
"Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không đợc xâm phạm
đến lợi ích của Nhà nớc, lợi ích công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của ngờikhác"
Việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp đồng nhằm thỏa mãnnhu cầu vật chất và tinh thần của các bên tham gia vào quan hệ đó Tuy nhiên,khi thực hiện các hành vi không đợc phép thực hiện tùy tiện mà phải thực hiệntrong khuôn khổ, giới hạn của hợp đồng Quyền của một chủ thể đợc giới hạnbởi quyền của các chủ thể khác, lợi ích của Nhà nớc, lợi ích công cộng, nhằmbảo đảm việc các chủ thể gây thiệt hại cho các chủ thể còn lại thì phải bồi th-ờng các thiệt hại nh đã thỏa thuận trong hợp đồng
1.2.2.4 Tôn trọng và tuân thủ pháp luật, đạo đức và truyền thống tốt đẹp
Quan hệ hợp đồng luôn luôn đề cao tính tự nguyện và sự tự do ý chícủa các bên trong việc thoả thuận ký kết hợp đồng, Nội dung này của hợp
đồng luôn đợc pháp luật ghi nhận và bảo đảm Tuy nhiên, việc phát huy quyền
Trang 25tự do hợp đồng của các bên luôn phải đợc đặt trong mố quan hệ với lợi ích củangời khác và những giá trị văn hoá truyền thống Chính vì vậy, quyền tự dohợp đồng luôn phải đợc đặt trong khuôn khổ pháp luật của nhà nớc, nghĩa làcác bên đợc quyền phát huy tối đa quyền tự do hợp đồng nhng việc phát huy
đó phải đặt trong sự kiểm soát của pháp luật (trong khuôn khổ pháp luật) Bêncạnh việc tuân thu đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật các ben thamgia hợp đồng cần phải tôn trọng những giá trị đạo đức và những truyền thốngtốt đẹp của dân tộc, tình đoàn két tơng thân tơng ái, mỗi ngời vì cộng đồng,cộng đồng vì mỗi ngời và vì truyền thống tốt đẹp của các dân tộc anh em tren
đất nớc Việt Nam
1.2.3 Cấu trúc của pháp luật hợp đồng trong pháp luật Việt Nam hiện hành
Xét về cấu trúc hình thức thì pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồngrất đa dạng, tồn tại trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Ngoàinhững quy định trực tiếp về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự, còn có thể tìmthấy nhiều quy định có liên quan đến hợp đồng trong nhiều văn bản pháp luậtkhác nhau thuộc các lĩnh vực kinh tế nh: kinh doanh điện lực, thơng mại, tíndụng, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, vận chuyển, đầu t, chuyển giao côngnghệ, đất đai
Để đơn giản trong việc xác định cấu trúc hình thức của pháp luậthợp đồng, có thể chia hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng thànhhai nhóm:
Nhóm văn bản quy phạm pháp luật quy định các vấn đề chung về hợp
đồng
Trang 26Nhóm văn bản pháp luật này quy định những vấn đề chung, mang tínhnguyên tắc về mọi loại hợp đồng, không phân biệt lĩnh vực phát sinh quan hệhợp đồng Các văn bản pháp luật chung về hợp đồng là Bộ luật Dân sự
Pháp luật chung về hợp đồng của nớc ta có nhiều thay đổi qua từngthời kỳ phát triển kinh tế - xã hội:
- Giai đoạn trớc ngày 01/01/2006 (là ngày Bộ luật Dân sự năm 2005
có hiệu lực)
Trong giai đoạn này thì pháp luật chung về hợp đồng chủ yếu đợc điềuchỉnh bởi Bộ luật Dân sự năm 1995(áp dụng cho các hợp đồng dân sự) và Pháplệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 (áp dụng cho các hợp đồng đợc coi làhợp đồng kinh doanh)
- Giai đoạn sau ngày 01/01/2006:
Kể từ ngày 01/01/2006 thì luật chung về hợp đồng chỉ là Bộ luật Dân
sự năm 2005 Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thay thế cho Bộ luậtDân sự năm 1995 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989
Nhóm văn bản quy phạm pháp luật quy định các nội dung về hợp
đồng chuyên ngành
Bên cạnh những quy định trong các văn bản pháp luật chung về hợp đồngthì trong từng lĩnh vực kinh tế cụ thể, Nhà nớc còn ban hành các quy định riêng
về từng loại hợp đồng Đây là nhóm văn bản pháp luật chuyên ngành về hợp
đồng Ví dụ: Luật Điện lực, Luật Thơng mại, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanhbảo hiểm, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam,Luật Giao thông đờng bộ, Luật Giao thông đờng thủy nội địa
- Pháp luật về hợp đồng chuyên ngành
Trong từng lĩnh vực kinh tế có thể có những quy định riêng về từngloại hợp đồng cụ thể Ví dụ:
Trang 27+ Luật Điện lực và các văn bản hớng dẫn thi hành nh Nghị định số105/2005/NĐ-CP ngày 17/8/2005 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết
và hớng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực;
+ Luật Thơng mại năm 2005
+ Luật Đấu thầu (có hiệu lực từ 01/4/2006)
+ Luật Kinh doanh bảo hiểm (09/12/2000)
+ Luật Đất đai năm 2003
Xét về cấu trúc nội dung thì pháp luật về hợp đồng điều chỉnh các vấn
đề chủ yếu sau:
-Các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ hợp đồng
-Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, các trờng hợp đồng vô hiệu và xủ
lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu
+ Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
+ Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
-Điều kiện để các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng
-Nội dung quyền và nghĩa vụ của các bên
+ Bản chất của hợp đồng và các nguyên tắc giao kết hợp đồng
+ Điều kiện và thủ tục giao kết hợp đồng
Trang 28+ Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và các trờng hợp hợp đồngdân sự vô hiệu.
+ Đại diện và ủy quyền ký kết hợp đồng
Trong cấu trúc nội dung của mỗi hợp đồng thờng là một tập hợp các
điều khoản đợc ấn định theo sự thỏa thuận của hai bên Tùy theo mục đích,
đối tợng và tính chất của hợp đồng mà trong từng hợp đồng sẽ bao gồm nhiềuhay ít các điều khoản Pháp luật hợp đồng điều chỉnh hợp đồng cụ thể cũngkhông đồng nhất với nhau Nghĩa là, tùy từng loại đối tợng của hợp đồng màcác quy định về hợp đồng của luật dân sự đợc áp dụng hay các luật chuyênngành đợc áp dụng
1.2.4 Nguyên tắc áp dụng phối hợp quy định trong các văn bản pháp luật
- Trong quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành
+ Nếu một vấn đề cùng đợc quy định cả trong luật chung và luậtchuyên ngành thì u tiên áp dụng luật chuyên ngành
+ Nếu có vấn đề luật chuyên ngành không quy định thì áp dụng quy
định của luật chung
- Trong quan hệ giữa các văn bản của một nhóm luật chung và của một nhóm luật chuyên ngành
Ưu tiên áp dụng các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn Theo Luật banhành văn bản quy phạm pháp luật thì giá trị pháp lý của các văn bản pháp luật
đợc xác định theo thứ tự sau: Cao nhất là Hiến pháp tới Bộ luật tới Luật, Nghịquyết của Quốc hội, tới Pháp lệnh, tới Nghị định, tới Quyết định của Thủ tớngChính phủ, tới Thông t của liên ngành và Thông t của các Bộ
Nếu các văn bản có cùng giá trị pháp lý thì u tiên áp dụng văn bản ra
đời sau
Trang 29- Trong quan hệ giữa hợp đồng với pháp luật, thói quen trong hoạt
động thơng mại và tập quán thơng mại
+ Quan hệ giữa thoả thuận của các bên tham gia hợp đồng với pháp luật về hợp đồng:
Nếu các bên thỏa thuận không trái pháp luật thì sẽ u tiên áp dụng theo
sự thỏa thuận của các bên
Nếu các bên thỏa thuận trái pháp luật thì thỏa thuận đó không có giátrị và áp dụng theo các quy định của pháp luật
Nếu các bên không thỏa thuận cụ thể về một vấn đề nào đó thì ápdụng theo quy định của pháp luật
+ Quan hệ giữa thỏa thuận với thói quen trong hoạt động thơng mại:
Luật Thơng mại năm 2005 là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam
đề cập tới thói quen trong hoạt động thơng mại và nguyên tắc áp dụng thóiquen trong hoạt động thơng mại
Trờng hợp các bên ký kết hợp đồng không thỏa thuận cụ thể thì có thể ápdụng theo thói quen trong hoạt động thơng mại đã hình thành giữa các bên
+ Quan hệ giữa pháp luật với tập quán thơng mại:
Tập quán thơng mại là thói quen đợc thừa nhận rộng rãi trong hoạt
động thơng mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thơng mại, có nộidung rõ ràng đợc các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của cácbên trong hoạt động thơng mại
Trờng hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thỏa thuận
và không có thói quen đã đợc thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán
Trang 30th-ơng mại nhng không đợc trái với những nguyên tắc quy định trong Luật này
+ Các bên trong hợp đồng có yếu tố nớc ngoài đợc thỏa thuận áp dụngpháp luật nớc ngoài, tập quán thơng mại quốc tế nếu pháp luật nớc ngoài, tậpquán thơng mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luậtViệt Nam Hợp đồng có yếu tố nớc ngoài thờng là những hợp đồng đợc ký giữamột bên Việt Nam với các cá nhân, tổ chức nớc ngoài
1.3 Tiêu chí hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
Kể từ khi đổi mới, cải cách và mở cửa, đất nớc ta đã đạt đợc nhữngthành tựu to lớn trên tất cả các mặt của đời sống chính trị, xã hội sự phát triểncủa đất nớc cũng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để một mặt
có đầy đủ khung pháp lý để điều chỉnh các hoạt động của đời sống xã hội, mặtkhác, để phù hợp với luật pháp quốc tế trong bối cảnh hội nhập
Hợp đồng là một vấn đề khó khăn và phức tạp hoàn thiện pháp luậthợp đồng cũng có nghĩa là giúp các bên tham gia ký kết đợc yên tâm, khắcphục rủi ro quyền lợi cho các Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nóichung, pháp luật hợp đồng nói riêng là một yêu cầu mang tính thờng xuyên vàliên tục của nhà nớc nhằm đảm bảo quyền lợi cho các cá nhân và các doanhnghiệp hay các tổ chức
Trang 31Có nhiều tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hoàn thiện của một hệ thốngpháp luật, trong đó có bốn tiêu chuẩn cơ bản là: tính toàn diện, tính đồng bộ,tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật.
1.3.1 Tính toàn diện
Tính toàn diện của hệ thống pháp luật thể hiện ở hai cấp độ:
- ở cấp độ chung, đòi hỏi pháp luật phải có đủ các nghành luật theo cơcấu nội dung lôgíc và thể hiện thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạmpháp luật tơng ứng
- ở cấp độ cụ thể, đồi hỏi mỗi ngành luật phải có đầy đủ các chế địnhpháp luật và các quy phạm pháp luật
Tham gia các hoạt động kinh tế nói chung và hợp đồng nói riêng làquyền, vừa là nghĩa vụ của các cá nhân và các tổ chức tính hoàn thiện củapháp luật hợp đồng phải bảo đảm đợc yêu cầu: pháp luật về hợp đồng phải có
đầy đủ các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinhtrong các vấn đề hợp đồng đó là những quy định về đối tợng áp dụng hợp
đồng: điều kiện ký kết hợp đồng; tổ chức thực hiện và quản lý giám sát củacác bên về việc thực hiện hợp đồng.bên cạnh sự hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng nói chung (Bộ luật Dân sự) cần thiết phải hoàn thiện các quy định củapháp luật về các hợp đồng chuyên ngành …có nh vậy mới tạo điều kiện thuậnlợi cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng
1.3.2 Tính đồng bộ và thống nhất
Tính đồng bộ, thống nhất là yêu cầu khách quan, là tiêu chí đánh giámức độ hoàn thiện và chất lợng của hệ thống pháp luật Điều này có nghĩa là,khi xem xét mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật thì cần phải xemxét giữa các bộ phận, quy phạm pháp luật của nó có trùng lặp, chồng chéo hay
Trang 32mâu thuẫn và xung đột với nhau không Tính đồng bộ, thống nhất của hệthống pháp luật đợc thực hiện trên những điểm sau:
Một là, tính đồng bộ thể hiện ở sự đồng bộ giữa hiến pháp với các đạo
luật và phải xây dựng đợc một hệ thống quy phạm pháp luật căn bản tronghiến pháp, hoàn thiện hiến pháp nhằm tạo cơ sở củng cố tính thống nhất củatoàn bộ hệ thống pháp luật
Hai là, tính đồng bộ, thống nhất thể hiện sự thống nhất, không mâu
thuẫn không xung đột, không trùng lặp, chồng chéo trong mỗi nghành luật,mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật trong cùng mộtnghành luật khác nhau
Ba là, tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật thể hiện ở sự
đồng bộ, thống nhất giữa văn bản luật dới các văn bản dới luật
Bốn là, trong điều kiện đảng cầm quyền, cần phải đảm bảo tính đồng bộ,
thống nhất giữa các quy đinh của pháp luật với đờng lối, chính sách của Đảng
Tính đồng bộ, thống nhất là tiêu chí vô cùng quan trọng trong việchoàn thiện pháp luật hợp đồng Pháp luật hợp đồng có đợc áp dụng hiệu quảtrong thực tế hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc có tuân thủ triệt để tính
đồng bộ thống nhất hay không Thực tế ở nớc ta, nhiều văn bản đã đợc banhành nhng rất khó đi vào cuộc sống vì sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các vănbản đó
1.3.3 Tính phù hợp
Tính phù hợp của pháp luật hợp đồng phải thể hiện mối quan hệ giữanhững quy phạm pháp luật quy định về hợp đồng với trình độ phát triển, hoàncảnh thực tiễn của đất nớc Pháp luật hợp đồng phản ánh đúng trình độ pháttriển kinh tế - xã hội của đất nớc Nếu trình độ phát triển kinh tế – xã hộicao, chủ thể ký kết hợp đồng sẽ rất đa dạng và nội dung ký kết hợp đồng cũng
Trang 33sẽ rất phức tạp nhng pháp luật hợp đồng lại không bắt kịp thì sẽ dẫn đến tìnhtrạng hổng, không có pháp luật điều chỉnh Ngợc lại khi điều kiện kinh tế –xã hội chậm phát triển, nền kinh tế vận hành theo cơ chế hành chính bao cấp,thì các nguyên tắc cơ bản của hợp đồng và yếu tố tự nguyện thoả thuận tronghợp đồng sẽ không đợc thể hiện và những quy định đó mãi mãi chỉ là quy định
mà sẽ không thực hiện đợc trong thực tế Trong điều kiện hiện nay của nớc,các quy định của pháp luật về hợp đồng đã đợc hoàn thiện ở mức độ đáng kể
Bộ luật Dân sự 2005 ra đời đã thống nhất đợc các quan điểm và cách phân loạikhác nhau về hợp đồng, xoá bỏ đợc việc phân tách giữa hợp đồng dân sự vàhợp đồng kinh tế nhng vẫn bảo đảm đợc tính u tiên của các hợp đồng thơngmại, tạo ra đợc sự rành mạch giữa pháp luật về hợp đồng nói chung và phápluật về hợp đồng chuyên ngành Trong điều kiện nớc ta đã là thành viên chínhthức của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO), việc hoàn thiện pháp luật vềhợp đồng nhằm phù hợp với các yêu cầu của các hoạt động kinh doanh quốc
tế và các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là hết sức cần thiết cho cácdoanh nghiệp
và định hớng sự phát triển của xã hội luôn luôn phải phản ánh đúng sự pháttriển của các quan hệ xã hội Trên cơ sở nhà nớc đã ban hành pháp luật về hợp
đồng phù hợp với các quan hệ hợp đồng đang tồn tại thì cần thiết phải công
bố, công khai nội dung của các văn bản pháp luật tới mọi chủ thể trong xã hộithông qua các phơng tiện thông tin đại chúng Để bảo đảm tính minh bạch,
Trang 34pháp luật về hợp đồng phải có nội dung thật cụ thể, rõ ràng và tránh tình trạng
đa nghĩa của từ ngữ Quan hệ hợp đồng rất phong phú và đa dạng, pháp luật vềhợp đồng đợc chứa đựng trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau(Bộ luật Dân sự, luật Thơng mại, luật bảo hiểm….) sẽ rất khó khăn cho việctìm hiểu đầy đủ và toàn diện của các chủ thể tham gia hợp đồng Chính vì vậy,việc bảo đảm tính minh bạch của pháp luật về hợp đồng là hét sức cần thiết vàquan trọng cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng
1.3.5 Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh phải đợc xây dựng ở trình độ lập pháp cao
Kỹ thuật lập pháp là một vấn đề rông lớn, phức tạp, trong đó có ba
điểm quan trọng, cần thiết phải chú ý khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật là:
Kỹ thuật lập pháp thể hiện ở những nguyên tắc tối u đợc vạch ra để ápdụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật
Trình độ kỹ thuật lập pháp thể hiện ở việc xác định các cơ cấu củapháp luật
Các biểu đạt bằng ngôn ngữ trong pháp luật phải đảm bảo tính cô
đọng, lôgíc, chính xác và một nghĩa
Hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở nớc ta là một tất yếu khách quan,xuất phát từ yêu cầu kinh tế –xã hội của đất nớc trong thời kì công nghiệphoá, hiện đại hoá Tuy nhiên hoàn thiện pháp luật hợp đồng cần đáp ứng đợcmục đích là hỗ trợ, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia kýkết hợp đồng Trên cơ sở những căn cứ khoa học, quán triệt, tuân thủ nhữngnguyên tắc của hợp đồng có thể xây dựng một mô hình pháp luật hợp đồngphù hợp với điều kiện của đất nớc ta hiện nay
Trang 35Những nguyên tắc cơ bản đó là: hợp đồng phải mang tính tự nguyện,bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên, việc ký kết hợp đồng phải đợcdân chủ, công khai, minh bạch
Trong quá trình hoàn thiện pháp luật hợp đồng, ngoài việc phải tuânthủ triệt để các nguyên tắc nêu trên thì ngôn ngữ trong các văn bản luật phảithật sự rõ ràng, chính xác không đa nghĩa Có nh vậy thì ngời tham gia hợp
đồng mới dễ hiểu, dễ thực hiện vì chủ thể của hợp đồng rất đa dạng: có thể làngời lao động phổ thông, trình độ còn hạn chế, cũng có thể là các đơn vị kinhdoanh, đơn vị hành chính sự nghiệp
1.3.6 Tính tơng thích với các văn bản pháp luật quốc tế và Việt Nam đã tham gia ký kết và phê chuẩn
Trong thời gian dài, trình độ xây dựng pháp luật và chất lợng pháp luậtcủa chúng ta cha theo kịp trình độ phát triển của đất nớc và của thời đại Điềunày, một mặt cho chúng ta chịu hậu quả cho chính sách bao vây và cấm vận,không có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài, hạn chế sự tiếp thu những tinh hoa
và phát triển trong hệ thống pháp luật quốc tế; mặt khác, về chủ quan, chúng
ta cũng cha quan tâm đúng mức đến công tác lập pháp, phát triển và hoànthiện hệ thống pháp luật nói chung và chuyển hoá pháp luật quốc tế vào nộidung pháp luật trong nớc nói riêng
Để hoàn thiện pháp luật hợp đồng thì chúng ta không thể không thamkhảo quá trình xây dựng và phát triển về hợp đồng của các nớc có nền lậppháp phát triển, các điều ớc liên quan mà Việt Nam đã tham gia ký kết
Ngày nay, các quan hệ hợp đồng có vai trò quan trọng cho khôngnhững các chủ thể mà nó còn có vai trò quan trọng cho nhà nớc vì nó gán liềnvới từng hoạt động của các chủ thể trong phạm vi nội bộ đơn vị và trong phạm
vi một đát nớc, phạm vi quốc tế Chúng ta trong quá trình triền khai thực hiệnpháp luật hợp đồng sẽ rất lợi nhuận vì chúng ta đi sau nên sẽ tham khảo, học
Trang 36hỏi kinh nghiệm của tổ chức quốc tế, cũng nh những nớc đã áp dụng pháp luậthợp đồng rất thành công Việc tham khảo, và nếu trong trờng hợp áp dụng,không chỉ là sự kế thừa các thành tựu và tiến bộ của hệ thống pháp lý vănminh nhân loại mà còn thực hiện sự giao hợp và tiếp cân co kế thừagiữa cácquy định pháp luật trong nớc với pháp luật quốc tế Nh vậy, pháp luật củachúng ta sẽ hoàn thiện hơn cả trong bối cảnh quốc gia và trong mối tơng quanvới pháp luật quốc tế về hợp đồng.
Chơng 2
Thực trạng pháp luật về hợp đồng
ở Việt Nam hiện nay
1 lịch sử phát triển của pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam
Trình bày tính lịch sử của một vấn đề là phải đề cập vấn đề đó trongmột khoảng thời gian dài, cụ thể là phải nhiều năm, nhiều thập kỷ, hay nhiềuthế kỷ Trong suốt chiều dài lịch sử đó cần thiết phải nói rõ trình bày sự pháttriển và nội dung cụ thể của từng thời kỳ Đối với lịch sử hình thành của chế
định hợp đồng ở Việt Nam, tác giả trình bày ở mức độ khái quát và phần chiathành một số giai đoạn nhất định Cơ sở cho sự phân chia thành các giai đoạn
là đánh giá sự phát triển của các quan hệ hợp đồng và sự hoàn thiện của phápluật về hợp đồng đợc phân chia thành các giai đoạn nh sau:
2.1.1 Giai đoạn trớc năm 1995
Trong những năm đầu dành đợc chính quyền, pháp luật của Việt Namdân chủ cộng hoà còn sử dụng nhiều hình thức pháp luật cũ, do vậy pháp luật
Trang 37hợp đồng cũng tồn tại trong nhiều văn bản pháp luật của giai đoạn Pháp thuộc
để lại
Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 90/SL chophép tạm sử dụng một số luật lệ hiện hành ở Bắc - Trung - Nam cho đến khiban hành những bộ luật duy nhất cho toàn quốc nếu "những luật lệ ấy khôngtrái với nguyên tắc độc lập của nớc Việt Nam và chỉnh thể dân chủ cộng hòa"
Đồng thời, các Bộ luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu 1883; Bộ dân luật Bắc Kỳ
1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật) 1936 đợc tiếptục thi hành Nh vậy, tại ba miền Bắc - Trung - Nam tồn tại ba bộ dân luật
1883, 1931, 1936
Tiếp đó, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 97/SL
"Sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật", việc này có ý nghĩa đặcbiệt trong sự phát triển của luật dân sự Sắc lệnh này một mặt không hủy bỏnhng quy định của các bộ dân luật cũ, mặt khác nó bổ sung, thay đổi làm chocác bộ luật của "đế quốc phong kiến" có nội dung mới, đáp ứng yêu cầu hiệntại của các vấn đề luật dân sự và đặc biệt là các vấn đề về hợp đồng, đem đếnnhững biến đổi thực sự trong cách thức sinh hoạt và t tởng của nhân dân ViệtNam; đặt cơ sở, những nguyên tắc cơ bản cho sự hình thành và phát triển củaluật dân sự - pháp luật dân sự của một nhà nớc độc lập, có chủ quyền "Khi lập
ớc mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột của một bên vì điều kiện kinh tế của haibên chênh lệch thì khế ớc có thể bị coi là vô hiệu" (Điều 13)…
Đây cũng là giai đoạn các đơn vị kinh tế cơ quan, xí nghiệp nhà nớc,kinh tế thị trờng tiến hành song song với hoạt động kinh tế t nhân Để thu hútmọi hoạt động kinh tế và xây dựng quan hệ sản xuất mới – qun hệ sản xuấtxã hội chủ nghĩa Thủ tớng đã ban hành Nghị định 735/TTg ngày 10/4/1957,kèm theo nghị định là bản điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh Nội dung
Trang 38chính của bản điều lệ quy định tính chất các quan hệ hợp đồng giữa các đơn vịkinh tế kinh doanh hợp tác xã, công ty hợp doanh, t doanh Việt Nam và ngoạikiều kinh doanh trên đất Việt Nam Nội dung chính của điều lệ kèm theo Nghị
định 735/TTg đã đề cập tới hợp đồng kinh doanh, hợp đồng kinh doanh đợcthiết lập trên phơng thức hai hay nhiều đơn vị kinh doanh tự nguyện ký kết vớinhau để thực hiện các mục đích nhất định, nhằm phát triển kinh doanh côngnghiệp và thơng nghiệp, góp phầm thực hiện những công việc của nhà nớcgiao cho Hợp đồng kinh doanh đợc xây dựng trên nguyên tắc các bên tựnguyện ký kết, cùng có lợi và đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân Nộidung của điều lệ còn quy định thêm một bên tham gia ký kết hợp đồng kinhdoanh là t doanh, tuy nhiên các hợp đồng kinh doanh có t doanh tham gia phải
đợc đăng ký tại cơ quan nhà nớc có thẩm quyền (thông thờng là cơ quan côngthơng tỉnh hay ủy ban hành chính cấp huyện) Điều lệ tạm thời về hợp dòngkinh doanh của Nghị định 735/TTg ngày 10/04/1975 đã đóng góp một phầnnhất định trong viẹc khai thác các thành phần kinh tế vào phát triển chung củanền kinh tế đất nớc, cải tạo quan hệ cũ và từng bớc xây dựng quan hệ mới
Hiến pháp năm 1959 ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển của quátrình lập pháp Việt Nam, Hiến pháp của Nhà nớc dân chủ cộng hòa, Hiếnpháp của thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thốngnhất đất nớc Xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đã đặt ra yêu cầu "xoá
bỏ lối quản lý hành chính cung cấp, thực hiện phơng pháp quản lý theo phơngthức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, … xây dựng cách tổ chức quản lý của nềncông nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình đa nền kinh tế quốc dân từ sản xuấtnhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa" Ngày 10/3/1975 Chính phủ đã banhành bản điều lệ về chế độ hợp đồng kinh doanh (ban hành kèm theo Nghị
định 54/CP ngày 10/3/1975 của hội đồng chính phủ) Nội dung chính củaNghị định 54/CP chủ yếu gồm các vấn đề: Vai trò của hợp đồng kinh tế,
Trang 39nguyên tắc ký kết, và thực hiện hợp đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp vàtrách nhiệm do vi phạm chế độ hợp đồng … Đặc điểm chính của hợp đồngtheo Nghị định 54/CP là khi ký kết hợp đồng phải bảo đảm hai yêu cầu: bảo
đảm yếu tố trao đổi tài sản và bảo đảm tính kế hoạch của nhà nớc Việc quy
định hợp đồng phải bảo đảm yếu tố kế hoạch của nhà nớc đã làm cho bản chấtcủa hợp đồng bị thay đổi và hợp đồng trở thành công cụ của nhà nớc để canthiệp vào các hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, nội dung quy định Nghị định54/CP về hợp đồng cũng đã đáp ứng yêu cầu của công việc của công cuộc cảicách kinh tế, đa quan hệ hợp đồng trở thành nề nếp
Từ đầu những năm 80, Nhà nớc đã ban hành nhiều văn bản pháp luật
để áp dụng các quan hệ hợp đồng Đặc trng của các quy định pháp luật ápdụng các quan hệ hợp đồng trong giai đoạn này là chịu ảnh hởng sâu sắc củacơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp cao độ, biện pháp hànhchính đợc sử dụng phổ biến làm sai lệch bản chất của các quan hệ hợp đồngvới những đặc trng của nó bình đẳng, tự định đoạt giữa các chủ thể Phơngpháp áp dụng của luật hành chính đã phổ cập trong các quan hệ dân sự
Từ giữa những năm 80, khi đất nớc bớc vào thời kỳ đổi mới, phát triểnnền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nớc định hớng xãhội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, Nhà nớc đã banhành nhiều văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa các chủ trơng, đờng lối của
Đảng về đổi mới kinh tế - xã hội Nhìn chung, các văn bản này đã góp phầnphát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần Bớc đầu thể hiện đợc những nguyên tắc cơ bản củapháp luật hợp đồng là tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tơng trợ giúp đỡ lẫn nhauphù hợp với thông lệ quốc tế trong giao lu dân sự
Các văn bản ban hành trong giai đoạn này có tính hiệu lực tơng đốicao thể hiện dới dạng Luật, Pháp lệnh và các Nghị định hớng dẫn thi hành, các
Trang 40Luật và Pháp lệnh đợc Quốc hội và Hội đồng Nhà nớc ban hành Các văn bảnpháp luật, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nớc ngoài vào Việt Nam (1988):nội dung chính của pháp lệnh là quy định các điều kiện của các dây chuyềncông nghệ khi chuyển vào Việt Nam, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989),Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (1991) Đối với pháp lệnh hợp đồng kinh tế ở ViệtNam, nó đã thể chế hoá đợc những quan điểm và t tởng về đổi mới trong quản
lý kinh tế của Đảng và Nhà nớc, bảo đảm tính chất bình đẳng và tự nguyện khi
ký kết hợp đồng kinh tế, tách các quan hệ hợp đồng kinh tế thành một loại hợp
đồng độc lập và nhằm phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, (vì đây
là giai đoạn nhà nớc ta đã thực hiện chủ chơng phát triển nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớctheo định hớng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, đây là giai đoạn thực hiện chính sáchthu hút vốn đầu t nớc ngoài và sự xuất hiện các doanh nghiệp có vốn đầu t nớcngoài tại Việt Nam) Việc ban hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã đánh dấu
sự ra đời của loại hợp đồng mới trong hệ thống các loại hợp đồng đó là hợp
đồng kinh tế " Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giaodịch giữa các bên ký kết về viẹc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hànghoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuậnkhác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụcủa bên đẻ thực hiện kế hoạch của mình" (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế25/09/1989) Pháp lệnh hợp đồng dân sự đợc ban hành đã cụ thể hoá các quan
hệ hợp đồng dân sự và tách biệt nó với các hợp đồng kinh tế