Hoàn thiện chương trình giáo dục pháp luật trong các trường cao đẳng kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay
Trang 1Chơng 1 Mục lục Trang
Ch
ơng 1: CƠ Sở Lý LUậN HOàN THIệN CHƯƠNG TRìNH GIáO DụC PHáP
LUậT TRONG CáC TRƯờNG CAO ĐẳNG Kỹ THUậT ở VIệT NAM 5 1.1 Giáo dục pháp luật trong các tr ờng cao đẳng kỹ thuật ở n ớc ta 5 1.2 Ch ơng trình giáo dục pháp luật trong các tr ờng cao đẳng kỹ thuật
39 Ch
ơng 2: THựC TRẠNG CHƯƠNG TRìNH GI Á O D ỤC PH Á P LU ẬT TRONG
C
Á C TR ƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 44 2.1 Quá trình hình thành và phát triển nội dung ch ơng trình giáo dục pháp luật 44 2.2 Đối với các tr ờng đại học, cao đẳng không chuyên luật 48 2.3 về ch ơng trình giáo dục pháp luật trong các tr ờng cao đẳng kỹ thuật ở Việt
2.4 Thực trạng và nhu cầu hiểu biết pháp luật của học sinh, sinh viên
55 Ch
ơng 3: QUAN ĐIểM GIảI PHáP Hoàn THIệN CHƯƠNG TRìNH GIáO DụC
PHáP LUậT TRONG CáC TRƯờNG CAO ĐẳNG Kỹ THUậT HIệN NAY 66 3.1 Yêu cầu khách quan hoàn thiện ch ơng trình giáo dục pháp luật trong các tr ờng
3.2 Yêu cầu về hoàn thiện ch ơng trình giáo dục pháp luật trong các tr ờng cao đẳng
3.3 Giải pháp hoàn thiện và thực hiện ch ơng trình và thực hiện ch ơng trình giáo
dục pháp luật theo h ớng chuẩn trong các tr ờng Cao đẳng kỹ thuật hiện nay
77
Trang 2Mở Đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục giáo pháp luật trong các nhà trờng, đặc biệt trong các trờng cao
đẳng kỹ thuật có ý nghĩa chiến lợc, góp phần đào tạo nhân lực, hình thành mộtcách vững chắc những thế hệ công dân - ngời lao động đáp ứng những yêu cầucủa xã hội hiện tại và tơng lai Do đó, hơn 10 năm qua, Đảng và Chính phủ đã
ra những nghị quyết, chỉ thị trong đó khẳng định rằng để xây dựng và nâng
cao ý thức pháp luật cho nhân dân cần “Đa việc giáo dục pháp luật vào các ờng học, các cấp học, từ phổ thông đến đại học, trung học chuyên nghiệp và các trờng của các đoàn thể nhân dân…” Đòi hỏi này chỉ có thể đợc thực hiện
tr-tốt, đầy đủ khi đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng
kỹ thuật theo tinh thần Chỉ thị số 32 - CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thtrung ơng Đảng và Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/1/2003 của Thủ
tớng Chính phủ - “Chú trọng việc chuẩn hóa nội dung chơng trình, tài liệu, sách giáo khoa giảng dạy pháp luật chính khóa cũng nh việc tổ chức các hoạt
động giáo dục pháp luật ngoại khóa bằng nhiều hình thức phong phú”.
Với tinh thần ấy, các cơ quan chức năng đã phối hợp, từng bớc tổ chứctriển khai việc đa giáo dục pháp luật vào các nhà trờng thuộc hệ thống giáodục quốc dân, song song với đổi mới các chơng trình, mục tiêu ở hệ đại học,cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Tuy nhiên, cho đến nay chỉcác trờng phổ thông có chơng trình nội dung giáo dục pháp luật thống nhất
trong toàn quốc, một môn học chính khóa - môn Giáo dục công dân “ ” Còntrong các trờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề chaxây dựng đợc chơng trình chuẩn quốc gia về giáo dục pháp luật, lúng túngtrong việc lựa chọn nội dung, chơng trình, sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu,phơng pháp cho phù hợp từng loại đối tợng Việc đào tạo, sử dụng đội ngũgiáo viên giáo dục pháp luật trong các nhà trờng còn bất cập Công tác giáodục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật cha đợc chú trọng đúng mức,cha ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-
ớc Điều này đã dẫn đến chất lợng giáo dục pháp luật trong các trờng này chacao, tình trạng vi phạm pháp luật trong sinh viên vẫn xẩy ra, trình độ hiểu biếtpháp luật của sinh viên thấp Trong khi đó, sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong
điều kiện đổi mới và hội nhập đòi hỏi công tác giáo dục pháp luật trong các ờng cao đẳng kỹ thuật phải đợc tăng cờng thờng xuyên và chất lợng cao Vì
Trang 3tr-vậy việc hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng
kỹ thuật là một yêu cầu bức thiết hiện nay
Xuất phát từ nhận thức đó, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở Việt Nam hiện nay”.
pháp luật
Trong những phạm vi và mức độ khác, đã có một số công trình đề tàinghiên cứu khoa học đề cập vấn đề giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục
pháp luật trong nhà trờng nói riêng nh: “Các luận án phó tiến sỹ khoa học luật” ở nớc ta hiện nay của Đinh Xuân Thảo; “ý thức pháp luật và giáo dục
pháp luật ở Việt Nam ” của Nguyễn Đình Lộc; Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới (Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1994 của Bộ T pháp); “Bàn về giáo dục pháp luật ” của Trần Ngọc Đờng
và Dơng Thanh Mai (Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995); “Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trờng phổ thông ở nớc ta hiện nay” của
Lê Quý Đình
Nhìn chung, các công trình, bài viết nêu trên đã đề cập từng mặt, từngkhía cạnh cả về lý luận và thực tiễn của giáo dục pháp luật nói chung và giáodục pháp luật trong nhà trờng nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay, việc tiếp tụcnghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về cơ sở lý luận, bản chất, đặc tr ng,nội dung, hình thức giáo dục pháp luật, nhất là sự đổi mới và xây dựng chơngtrình chuẩn giáo dục pháp luật trong cao đẳng kỹ thuật cho phù hợp với giai
đoạn phát triển hiện nay của đất nớc vẫn cha đợc thực hiện
3 Mục đích nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và nhu cầuthực tiễn hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật trong nhà trờng nói chung,góp phần hoàn thiện chơng trình chuẩn giáo dục pháp luật trong các trờng cao
đẳng kỹ thuật nói riêng ở Việt Nam hiện nay
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Trang 4- Phân tích làm rõ khái niệm và các tính chất đặc thù của chơng trình
giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở Việt Nam
- Đánh giá sơ bộ thực trạng về chơng trình, nội dung giáo dục pháp luật
hiện nay trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở nớc ta
- Thử định chuẩn chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng
kỹ thuật
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện và thực hiện chơng
trình chuẩn giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở nớc ta hiệnnay
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu về chơng trình giáo dục nói chung, chơng trình giáodục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật nói riêng, góp phần định hớnghoàn thiện chơng trình chuẩn giáo dục pháp luật trong các trờng đại học vàcao đẳng ở nớc ta
5 Phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan niệm cơ bản của
Đảng Cộng sản Việt Nam về việc đề cao vai trò của pháp luật trong xây dựngNhà nớc pháp quyền; đề cao nhân tố con ngời, đào tạo con ngời phát triển toàndiện phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc
Luận văn kết hợp các phơng pháp nghiên cứu biện chứng duy vật, lịch sử,phân tích so sánh, tổng hợp với phơng pháp điều tra xã hội học pháp luật, ph-
ơng pháp thí điểm và phơng pháp phân tích tổng hợp để chọn lọc, kế thừa vàphát huy những kinh nghiệm cũ và mới trong và ngoài nớc
6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu cơ sở lý luận hoàn thiện chơng trìnhchuẩn giáo dục pháp luật trong các trờng đại học, cao đẳng
Trên cơ sở khái quát phân tích thực trạng về chơng trình giáo dục phápluật trong một số trờng cao đẳng kỹ thuật, nhất là Trờng Cao đẳng Côngnghiệp Hà Nội, phát hiện và phân tích những điểm cha hợp lý hiện nay và đềxuất những biện pháp, phơng hớng có thể vận dụng để tiến tới hoàn thiện ch-
ơng trình tơng đối chuẩn về giáo dục pháp luật trong các trờng đại học, cao
đẳng ở nớc ta trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Trang 5Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn, danh môc tµi liÖu tham kh¶o vµ phô lôc,luËn v¨n cã 3 ch¬ng, 9 tiÕt.
Trang 6Chơng 1
CƠ Sở Lý LUậN HOàN THIệN CHƯƠNG TRìNH GIáO DụC PHáP LUậT TRONG CáC TRƯờNG CAO ĐẳNG Kỹ THUậT ở VIệT NAM
GIáO DụC PHáP LUậT TRONG CáC TRƯờNG CAO ĐẳNG KỹTHUậT ở NƯớC TA
Giáo dục pháp luật là một chơng trình giảng dạy và học tập chính khoá
trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở nớc ta hiện nay Giáo dục pháp luật trongcác trờng cao đẳng vừa là hoạt động thực tiễn vừa là một vấn đề khoa học Do
đó, khi bàn về hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao
đẳng kỹ thuật ở nớc ta, trớc hết phải đề cập cơ sở lý luận của giáo dục pháp
luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật Trên cơ sở đó, đối chiếu với thực tiễngiáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng để rút ra những nét đặc thù của giáodục pháp luật trong phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn
1.1.1 Giáo dục cao đẳng kỹ thuật trong hệ thống giáo dục quốc dân
Nếu không xác định đợc giáo dục cao đẳng kỹ thuật nằm ở đâu trong hệthống giáo dục quốc dân của nớc ta thì không thể xác định đợc chơng trìnhgiáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở nớc ta nên nh thế nào
Vì giáo dục pháp luật đợc thực hiện đối với toàn dân, ở nhiều cấp độ,với rất nhiều đối tợng hết sức khác nhau, có mục đích và yêu cầu khác nhau.Trong hệ thống giáo dục quốc dân, trên thực tế, giáo dục pháp luật đợc thựchiện cả ở cấp giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp vàgiáo dục đại học Vậy giáo dục pháp luật ở các trờng cao đẳng phải khác sovới giáo dục pháp luật, chẳng hạn ở các trờng phổ thông, giáo dục và phổ biếnpháp luật cho nông dân trong hợp tác xã, giáo dục ý thức pháp luật cho đồngbào dân tộc ít ngời…
Vị trí và đặc điểm của giáo dục cao đẳng kỹ thuật trong hệ thống
giáo dục quốc dân
Trang 7Ngày 2-5-2005, Quốc hội khóa XI, Kỳ họp thứ 7 đã thông qua LuậtGiáo dục (sửa đổi) Luật Giáo dục (sửa đổi) sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày1-1-2006 (dới dây xin gọi tắt là Luật Giáo dục)
Chơng II của Luật Giáo dục qui định cụ thể về hệ thống giáo dục quốcdân nớc ta Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổthông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thờng xuyên
- Giáo dục mầm non: thực hiện việc nuôi dỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi
- Giáo dục phổ thông: gồm giáo dục tiểu học đợc thực hiện trong năm
năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi học sinh vào lớp một là sáu tuổi; giáodục trung học cơ sở đợc thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín.Học sinh vào lớp sáu phải hoàn thành chơng trình tiểu học; giáo dục trung họcphổ thông đợc thực hiện trong ba năm học, từ lớp mời đến lớp mời hai Họcsinh vào học lớp mời phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mờilăm
- Giáo dục nghề nghiệp: gồm trung cấp chuyên nghiệp đợc thực hiện từ
ba đến bốn năm học đối với ngời có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một
đến hai năm học đối với ngời có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; dạynghề đợc thực hiện dới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp, từ một
đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng
- Giáo dục thờng xuyên: giúp mọi ngời vừa làm vừa học, học liên tục, học
suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ họcvấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lợng cuộc sống, tìm việc làm, tựtạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
- Giáo dục đại học: đào tạo bốn trình độ, bao gồm đào tạo trình độ cao
đẳng, đào tạo trình độ đại học, đào tạo trình độ thạc sĩ và đào tạo trình độ tiến sĩ.
Xét theo hệ thống giáo dục quốc dân, chúng ta thấy một số đặc điểmsau đây về vị trí của giáo dục cao đẳng:
Thứ nhất, giáo dục cao đẳng thuộc phạm trù giáo dục đại học Giáo dục
đại học từ trớc tới nay là một ớc mơ cháy bỏng của ngời Việt Nam Trở thànhsinh viên đại học luôn luôn có trong tiềm thức của ngời Việt Nam chúng ta,thậm chí có thể nói trở thành một nét văn hoá trong đời sống tinh thần của ng-
ời Việt
Trang 8Sự khác biệt cơ bản của giáo dục đại học ở nớc ta cũng nh ở hầu hết các
nớc khác trên thế giới so với các bậc khác là ở chỗ: giáo dục đại học có tỷ trọng cao của việc giảng dạy và học tập các nội dung cơ bản và cơ sở lý thuyết các môn khoa học (cả khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ ), đồng thời rèn luyện kỹ năng chuyên môn ở trình độ cao, kết hợp với tính định hớng việc làm của giáo dục dạy nghề (chẳng hạn đại học y khoa, các ngành khoa học chế tạo…) Giáo dục đại học là giáo dục khoa học, hay
giảng dạy khoa học
Thứ hai, Giáo dục đại học có sự phân tầng trình độ đào tạo rất rõ ràng.
Đào tạo trình độ cao đẳng đợc thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo ngànhnghề đào tạo đối với ngời có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằngtốt nghiệp trung cấp; từ một năm rỡi đến hai năm học đối với ngời có bằng tốtnghiệp trung cấp cùng chuyên ngành
Thứ ba, có thể nói rằng giáo dục cao đẳng là giáo dục đại học không hoàn chỉnh Tại sao lại nh vậy? Vì nh đã nói ở trên, Luật Giáo dục qui định
rằng cao đẳng là một trình độ đào tạo thuộc hệ thống đại học Hơn nữa, trongthực tiễn, giáo dục đại học ở nớc ta từ trớc tới nay chỉ có một loại hình trờng
đại học, đó là trờng đại học truyền thống, trong đó có nhiều trờng đại học đợc nâng cấp từ trờng cao đẳng
Điều này cũng có thể thấy đợc rất rõ trên thế giới ở nhiều nớc, giáo dục
đại học đều có thể cấp cho ngời học một hoặc hai học vị Nếu đại học nào cấpcho ngời học một học vị thì học vị đó là cử nhân (trớc học vị tiến sĩ) ở nhiềunớc, giáo dục đại học cấp cho ngời học hai học vị thì gồm có học vị cử nhân
và thạc sĩ (trớc học vị tiến sĩ) ở một số nớc khác có cấp bằng cao đẳng dànhcho giai đoạn một (hai năm ) của đại học ở Mỹ, trong hệ thống các trờng đạihọc có các trờng công lập (State University), trờng đại học t thục (PrivateUniversity) và trờng đại học cộng đồng (Community College) Các trờng đạihọc cộng đồng (còn gọi là trờng học hai năm) cung cấp các chơng trình đàotạo để cho ngời học nhận học vị cao đẳng và có thể chuyển thẳng vào năm họcthứ ba của các trờng đại học 4 năm Nớc Mỹ có tới 2.657 cơ sở đào tạo cấphọc vị cao đẳng và 2.819 cơ sở đào tạo cấp học vị cử nhân hoặc học vị caohơn Giáo dục đại học ở Mỹ đợc gọi là giáo dục bậc cao (Higher education).Các trờng đại học ở Mỹ đợc phân thành 7 loại (category):
- University nghiên cứu.
Trang 9- University cấp học vị tiến sĩ.
- University và college cấp học vị thạc sĩ.
- College cấp học vị cử nhân.
- Các School hoặc Institute chuyên nghiệp.
- Các Schoole kỹ thuật và dạy nghề sau trung học
Tóm lại, trong khuôn khổ giáo dục đại học của nhiều nớc trên thế giới, cấu thành của chơng trình giáo dục đại học mang tính nhiều giai đoạn - cao
đẳng -cử nhân - thạc sĩ Còn hiện nay, nhiều trờng chuyên ngành có các
ch-ơng trình đào tạo cấp học vị chuyển đổi thuộc một nhóm các lĩnh vực đào tạo
có quan hệ mật thiết với nhau
Đề cập nội dung trên đây có ý nghĩa quan trọng đối với việc bàn về
ch-ơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở nớc ta
Mục tiêu của giáo dục cao đẳng và đại học.
Nếu không xác định đợc mục tiêu của giáo dục đại học nói chung ở
nớc ta, mục tiêu riêng của giáo dục cao đẳng thì không thể định hớng đợc nộidung giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở nớc ta là gì, ch-
ơng trình giáo dục pháp luật phải nh thế nào, giáo dục pháp luật để làm gì Mục tiêu cơ bản của giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã
đợc định rõ trong nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ơng
Đảng khoá VIII và lần thứ sáu khoá IX là: “nhằm xây dựng những con ngời vàthế hệ thiết tha gắn bó với lý tởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo
đức trong sáng, có ý chí kiên cờng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nớc; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc,
có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy tiềm năng của dântộc và con ngời Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực cánhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có t duy sáng tạo, có
kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật; cósức khoẻ, là những ngời thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa
“chuyên” nh lời căn dặn của Bác Hồ”
Mục đích cao nhất của giáo dục là “đào tạo các em nên những ngời côngdân hữu ích cho nớc Việt Nam ” Muốn vậy, trớc hết phải giáo dục các emsinh viên trở thành những ngời có lòng yêu nớc nồng nàn, “thành những ngời
Trang 10xứng đáng với nớc độc lập, tự do” [39, Tr 32] tức là giáo dục các em thành nhữngngời có nhân cách, có t tởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Hiến pháp nớc ta ghi nhận: “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.Nhà nớc và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dỡng nhâncách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những ngời lao động cónghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí v ơnlên góp phần làm cho dân giàu nớc mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc” [19]
- “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con ngời Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý ởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dỡng nhân cách,phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổquốc [30, tr 8]
t-Mục tiêu nói trên của giáo dục bắt nguồn từ đờng lối nhất quán của Đảng
ta Trong cơng lĩnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam và trong chiến lợc ổn định
và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010, Đảng ta đã vạch rõ giáo dục và đàotạo là quốc sách hàng đầu Giờ đây, Đảng ta khẳng định một t duy mới là coi
giáo dục, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, quyết tâm đa sự
nghiệp giáo dục, khoa học và công nghệ phát triển lên tầm cao mới để xâydựng đất nớc Việt Nam phồn vinh và hạnh phúc
Trớc những thách thức mới của thời đại, đặc biệt là những thách thức dothời đại công nghệ đặt ra, trớc những đòi hỏi của việc chuyển đổi nền kinh tếsang cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, năng động và hiệu quả hơn,nền giáo dục quốc dân của nớc ta nói chung và giáo dục đại học nói riêng đòi
hỏi phải có những chuyển biến chiến lợc, cơ bản và toàn diện để thật sự cùng
với khoa học và công nghệ trở thành quốc sách hàng đầu
Giáo dục đại học nói chung, đào tạo trình độ cao đẳng nói riêng trong hệthống giáo dục đại học có vai trò cực kỳ quan trọng là đào tạo ra những conngời phát triển toàn diện, nhiều ngời lao động có tri thức, có trí tuệ, có khảnăng thích ứng nhanh với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ,
có đủ sức mạnh để cạnh tranh trong quá trình phân công lao động quốc gia vàquốc tế Phát triển giáo dục đại học là biện pháp tốt nhất để phát huy và làmtrờng tồn những giá trị văn hóa của nhân loại Một trong những mục tiêu quan
Trang 11trọng hàng đầu của giáo dục nói chung, giáo dục cao đẳng và đại học nóiriêng là giáo dục nhân cách, phát huy và phát triển hệ thống giá trị của dântộc; nâng cao dân trí làm cơ sở đào tạo nhân lực và là nguồn gốc để đào tạobồi dỡng nhân tài trên nền tảng nhân cách tốt đẹp.
Vì giáo dục cao đẳng hay đào tạo trình độ cao đẳng nằm trong phạm trùgiáo dục đại học, cho nên mục tiêu của giáo dục cao đẳng phải đáp ứng mụctiêu của giáo dục đại học nói chung Mục tiêu chung của giáo dục đại học đợc
qui định trong Luật Giáo dục năm 2005 là “đào tạo ngời học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tơng xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ”.
Nhiệm vụ của đào tạo đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyênmôn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sángtạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đợc đào tạo
Còn đối với hệ cao đẳng, mục đích đào tạo là giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ thuật thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông thờng thuộc chuyên ngành đợc đào tạo [20].
Yêu cầu đào tạo trình độ cao đẳng là phải bảo đảm cho sinh viên cónhững kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chútrọng rèn luyện kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn.Vậy giáo dục đại học nói chung, giáo dục cao đẳng nói riêng, có hai mặtcơ bản thể hiện thực chất của chơng trình giáo dục:
- Một là giáo dục cho sinh viên các trờng cao đẳng có đợc những kiến thức khoa học cơ bản tức là giáo dục khoa học (giáo dục tri thức khoa học cơ
có giới hạn nhất định trong khuôn khổ đào tạo cao đẳng và đại học
Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục cao đẳng và đại học
Hiện nay, nền giáo dục đại học ở nớc ta bắt đầu bớc vào giai đoạn đổi mới cơ bản và toàn diện Giai đoạn này dự kiến sẽ đợc thực hiện từ năm 2006
Trang 12đến năm 2020 Đây là một chủ chơng lớn, chắc chắn sẽ tạo ra một bớc ngoặttrong đổi mới chơng trình giáo dục cao đẳng và đại học ở nớc ta Chính bốicảnh này đặt ra trớc đề tài luận văn một thách thức to lớn là vậy trong bối cảnhmới, chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật ở nớc taphải đợc đặt ra nh thế nào? Vì vậy, quán triệt tinh thần đổi mới cơ bản và toàndiện giáo dục đại học trong giai đoạn tới là điều nhất thiết phải đợc lĩnh hội Một trong những chủ trơng lớn của Đảng và Nhà nớc về đổi mới cơ bản
và toàn diện giáo dục đại học ở nớc ta là gắn kết chặt chẽ đổi mới giáo dục với
nhu cầu tào đạo nhân lực trình độ cao phục vụ chiến lợc phát triển kinh tế-xã
hội, đáp ứng những đòi hỏi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù hợp với xuthế phát triển của khoa và công nghệ
Những mục tiêu chung chủ yếu của đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục
đại học (trong đó bao hàm đào tạo cao đẳng) là:
- Đến năm 2020, giáo dục đại học phải chuyển biến cơ bản về chất lợng
và qui mô
- Giáo dục đại học phải có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng và hoạt
động hiệu quả trong cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
- Đạt đợc trình độ giáo dục đại học tiên tiến trong khu vực.
- Đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, hiện đại hóa đất nớc và hội
nhập kinh tế quốc tế
Những mục tiêu cụ thể của đổi mới giáo dục đại học trong thời gian tớicần phải đạt đợc là:
- Hoàn chỉnh mạng lới cơ sở giáo dục đại học trên phạm vi toàn quốc.
- Có sự phân tầng rõ rệt về chức năng, bảo đảm sự hợp lý cơ cấu trình độ
đào tạo, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, đồng thời phù hợp với quihoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của cả nớc
- Phát triển các chơng trình đào tạo theo hai hớng: nghiên cứu phát triển
và nghề nghiệp ứng dụng
- Bảo đảm sự liên thông của các chơng trình đào tạo từ trình độ thấp lên
trình độ cao hơn
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lợng và kiểm định chất
lợng giáo dục đại học
- Đạt đợc sự công nhận văn bằng tơng đơng với văn bằng của các nớc
trong khu vực và trên thế giới
Trang 13- Xây dựng trờng đại học đẳng cấp quốc tế.
Theo hớng đó, giáo dục đại học sẽ đổi mới cơ cấu trình độ đào tạo liênquan tới đào tạo trình độ cao đẳng Các trờng cao đẳng kỹ thuật, bản thân nóthiên về hớng đào tạo nghề nghiệp ứng dụng chắc chắn sẽ đợc u tiên mở rộngqui mô, đổi mới cơ cấu đào tạo theo mô hình đào tạo đại học đa giai đoạn, cóqui định thêm các văn bằng, chứng chỉ trung gian
Đồng thời với việc đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, y tế, văn hoá, thể dụcthể thao, Chính phủ đã khẳng định rõ chủ trơng chuyển các cơ sở giáo dục đạihọc bán công và một số cơ sở giáo dục đại học công lập sang hoạt động theo
cơ chế t thục, phát triển các trờng cao đẳng cộng đồng và xây dựng qui chế chuyển tiếp đào tạo với các trờng đại học để có thể mở rộng qui mô của loại hình này Nhà nớc cũng sẽ khuyến khích mở cơ sở giáo dục đại học trong các
tập đoàn, các doanh nghiệp lớn
Mặt khác, sẽ xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo
theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi cho ngời học tích luỹ kiến thức,
dễ dàng chuyển đổi tín chỉ hoặc đào tạo liên thông với các cấp học tiếp theo.
Do vậy, nội dung đào tạo đại học và khung chơng trình đào tạo đại học,trong đó có đào tạo trình độ cao đẳng sẽ phải cơ cấu lại theo các cấp học cao
đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa giáo dục đại cơng và giáo dục chuyên nghiệp.
Giáo dục đại học còn sẽ đợc triển khai việc dạy và học bằng tiếng nớcngoài, trớc mắt là bằng tiếng Anh; nâng cao chất lợng các chơng trình đào tạo
và nghiên cứu có sức thu hút ngời nớc ngoài và tiếp thu có chọn lọc các chơng
trình đào tạo tiên tiến trên thế giới; đạt đợc thoả thuận về tơng đơng chơng trình đào tạo với các cơ sở giáo dục quốc tế.
Những mục tiêu nói trên tất nhiên phải đợc quán triệt trong chơng trình
đào tạo cao đẳng kỹ thuật, trong đó có chơng trình giáo dục pháp luật ở các
Trang 14lực thực hành nghề nghiệp tơng xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, cần phải nói thêm về giáo dục là gì? ở nớc ta, các hoạt độnggiáo dục đợc thực hiện trên cơ sở những nguyên lý cơ bản nh thế nào?
Có nhiều cách phân tích khác nhau trong nhân thức về giáo dục Trongluận văn này, trên cơ sở tập hợp và phân tích nhiều ý kiến khác nhau về giáodục, khái niệm giáo dục đợc hiểu nh sau:
- Giáo dục là hoạt động có mục đích, có chơng trình, tác động vào con ngời thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ tri thức khoa học chuyên môn và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và lối sống, chuẩn bị cho đối tợng của giáo dục tham gia lao động, đi vào đời sống xã hội và nâng cao chất lợng cuộc sống
Giáo dục là hoạt động tất yếu của phát triển xã hội loài ngời, là một bộphận cơ bản của quá trình tái sản xuất mở rộng lao động xã hội Theo kháiniệm rộng, giáo dục bao gồm cả đào tạo, cung cấp các nguồn nhân lực cầnthiết cho từng lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội ủy ban quốc tế và giáo dụcthế kỷ xã hội đã đa ra triết lý giáo dục về xây dựng xã hội học tập, trong đónền giáo dục của thời đại ngày nay phải dựa trên bốn yêu cầu về học tập là
học để biết, học để làm việc, học để xây dựng nhân cách và học để chung sống với đồng loại.
Do vậy, chủ trơng của Đảng và Nhà nớc là đa dạng hóa các loại hình đàotạo đáp ứng không chỉ cho nhu cầu nhà nớc mà cho toàn xã hội, ngời đi họcphải đóng học phí, bãi bỏ chế độ phân phối học sinh tốt nghiệp đại học, cao
đẳng và trung học chuyên nghiệp dạy nghề cho phép và mở rộng từng bớc cáctrờng ngoài công lập nh bán công, dân lập, t thục các trờng liên doanh với các
tổ chức quốc tế và các hãng 100% đầu t vốn từ nớc ngoài, đây đợc coi là mộtbớc chuyển quan trọng của quản lý phát triển giáo dục đào tạo ở Việt Nam Sự
ra đời và phát triển nhanh chóng của các loại hình trờng, cơ sở giáo dục và đàotạo ngoài công lập từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học đã mang mộtdiện mạo mới cho sự phát triển và giáo dục Việt nam không chỉ ở khía cạnh
đa dạng loại hình, huy động thêm nguồn lực xã hội cho sự phát triển giáo dục,
mà còn tạo tiền đề để thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh cho giáo dục, từng
b-ớc hình thành nền giáo dục và đào tạo có định hớng tiên tiên và hiện đại trongphát triển nguồn nhân lực Việc thực hiện chúng phải nhằm hoan thành các
Trang 15mục tiêu quốc gia cũng nh mục tiêu của từng địa phơng Điều này đến nay vẫn
đang trong quá trình phân cấp theo ngành dọc và phân cấp theo chiều ngangnhằm tiến tới một sự phân định ranh giới rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm,
ý thức chung về thực hiện tốt các mục tiêu quốc gia Để có thể thực hiện thànhcông các chơng trình giáo dục và đào tạo, Bộ giáo dục và Đào tạo có những bộphận cấu thành liên kết chặt chẽ: xây dựng chơng trình học, đào tạo giáo viên,quy chế thi tuyển, mạng lới thông tin theo ngành dọc, kế hoạch hóa và tiếpnhận các thông tin phản hồi
Về nguyên lý giáo dục, nền giáo dục nớc ta là nền giáo dục xã hội chủ
nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác Lênin và t tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t tởng Nền giáo dục nớc ta đợc thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trờng kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
-Đờng lối ấy đợc thể chế hóa thành luật nh Luật Giáo dục đã ghi “Nềngiáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc,khoa học, hiện đại Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh làmnền tảng”
1.1.2 Giáo dục pháp luật trong trờng cao đẳng kỹ thuật
Giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng rõ ràng là một môn học
thuộc phần giáo dục đại cơng
Thực chất của giáo dục pháp luật là giảng dạy chính khoá về pháp luật cho sinh viên cao đẳng.
Vậy nên quan niệm và giới giới hạn chơng trình giáo dục pháp luật trongtrờng cao đẳng kỹ thuật nh thế nào? nên có một chơng trình giảng dạy qui mô
nh thế nào với tính cách là giáo dục hay giảng dạy pháp luật? Yêu cầu này cóphải là yêu cầu đích thực hay không, hay chỉ là mầu mè? còn thực tiễn thìquan niệm giống nh giáo dục luân lý chung chung, trừu tợng? có cũng đợc,
mà không có cũng đợc?
Dĩ nhiên nếu không thực hiện chơng trình giáo dục pháp luật trong trờngcao đẳng, chúng ta vẫn đào tạo đợc những nhà chuyên môn, kỹ thuật giỏi Vậythì ý nghĩa của giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật là ở đâu?
Giáo dục pháp luật là giáo dục cái gì?
Trang 16Giáo dục pháp luật là giáo dục cái gì? câu hỏi tởng nh rất khôi hài Nhngrất ít khi chúng ta xác định đợc giáo dục pháp luật trong trờng cao đẳng làgiáo dục cái gì?
- Là giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật?
- Là giáo dục ý thức công dân?
- Là tuyên truyền và phổ biến rộng rãi pháp luật?
- Là giáo dục đạo đức hay là giáo dục chính trị?
Trong sách báo và trong thực tiễn hiện nay đang tồn tại một số quanniệm khác nhau về giáo dục pháp luật
Thứ nhất, có ngời cho rằng giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo
dục chính trị, t tởng và giáo dục đạo đức Điều đó có nghĩa là nếu tiến hànhgiáo dục chính trị, t tởng hay đạo đức tốt thì trên thực tế có thể đạt đợc sự tôntrọng pháp luật ở ngời lao động Hay nói cách khác, sự hình thành ý thức phápluật ở quần chúng lao động đợc xem nh là “sản phẩm phụ” của quá trình giáodục chính tri, giáo dục đạo đức
Quan niệm nh vậy là coi nhẹ giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng
kỹ thuật, không đợc đúng vai trò, vị trí của nó trong toàn bộ quá trình đào tạocao đẳng, nhất là trong bối cảnh đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học
Thứ hai, một quan niệm khác coi giáo dục pháp luật là việc tuyên truyền,
phổ biến pháp luật bằng các hình thức và phơng thức khác nhau để mọi ngờichấp hành, làm theo pháp luật
Thứ ba, lại có một quan niệm khác là chỉ nhấn mạnh và xem những yếu
tố khách quan nh điều kiện kinh tế - xã hội, thể chế chính trị và pháp luật nhànớc, môi trờng giáo dục là nhân tố quyết định vấn đề giáo dục ý thức chấphành pháp luật cho công dân, do đó thờng coi nhẹ giáo dục pháp luật trongcác trờng cao đẳng
Thứ t, một số ngời lại có quan niệm rằng điều kiện kinh tế thấp kém, kỷ
cơng pháp luật bị buông lỏng, đạo đức và lối sống trong xã hội xuống cấp nhhiện nay thì giáo dục pháp luật không thể đạt đợc mục đích mong muốn
Những quan niệm phiến diện trên đây có tác động không nhỏ đến việctriển khai và nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật
Khi nghiên cứu khái niệm giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ
thuật, về mặt phơng pháp luận, trớc hết phải xuất phát từ khái niệm chung về
Trang 17giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục cao đẳng kỹ
thuật cần đợc xét trên cả hai phơng diện:
- Giáo dục đại học theo nghĩa bậc học.
- Giáo dục cao đẳng theo nghĩa một trình độ đào tạo của bậc đại học
Mặt khác, giáo dục pháp luật cần dựa trên cơ sở lý luận về giáo dục hiểutheo nghĩa rộng - tức là quá trình tác động của tất cả những điều kiện kháchquan và chủ quan (chế độ kinh tế - xã hội, thể chế chính trị - pháp luật, trình
độ dân trí nói chung, môi trờng sống ) đến ý thức và đời sống tinh thần củacon ngời
Xuất phát từ khái niệm chung về giáo dục, chúng ta thấy giáo dục pháp
luật là hình thức giáo dục cụ thể, là “cái riêng, cái đặc thù” trong mối quan hệ
giữa giáo dục pháp luật với giáo dục nói chung Giáo dục pháp luật với t cáchmột bộ phận của giáo dục, vừa mang những nét chung của quá trình giáo dục,
sử dụng các hình thức và phơng pháp của quá trình giáo dục nói chung, vừa cónhững nét đặc thù
ở cấp đào tạo đại học, cao đẳng nh đã nói ở trên, giáo dục pháp luật
thuộc phần giáo dục đại cơng, vì thế trớc hết, nh một môn học chính khoá, nó
phải đợc giảng dạy nội dung cơ bản và cơ sở lý thuyết về pháp luật, nhằm hìnhthành tri thức ở trình độ cao đẳng về pháp luật, hình thành tình cảm, lòng tin
đối với pháp luật (mục đích cảm xúc) và xây dựng thói quen thực hiện hành vihợp pháp (mục đích hành vi)
Giáo dục pháp luật có nội dung riêng, đó là sự tác động có định hớng cơ
bản là chuyền tải tri thức lý luận và thực tiễn về hai hiện tợng nhà nớc và pháp
luật
Giáo dục pháp luật với ý nghĩa là một một dạng giáo dục đặc thù, mộtmôn học có vị trí độc lập tơng đối, đợc hiểu là hoạt động cung cấp tri thứcpháp luật, bồi dỡng tình cảm, thái độ đúng đắn đối với pháp luật một cách có
định hớng, có tổ chức, có chủ định nhằm mục tiêu chung là tác động tới việchình thành tri thức pháp luật, cảm xúc và lòng tin vào pháp luật, làm cơ sở chohành vi và lối sống theo pháp luật của mọi công dân
Mục đích của giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ
thuật
Giáo dục pháp luật trong trờng cao đẳng kỹ thuật đợc thực hiện thông
qua việc tổ chức hoạt động giảng dạy và học tập về luật học, trong đó giảng
Trang 18viên giảng giải cặn kẽ, có mục đích, có hệ thống nội dung cơ bản và cơ sở lý thuyết về luật pháp và thực tiễn của đời sống pháp luật, cung cấp cho sinh
viên những kiến thức khoa học cơ bản về pháp luật, nhằm làm cho sinh viên
có hiểu biết nhất định một số vấn đề lý luận cơ bản nhất về nhà nớc và phápluật hình thành tri thức pháp luật, ý thức trách nhiệm, văn hóa pháp luật, làmcơ sở cho hành vi xử sự phù hợp với quy định pháp luật, góp phần đào tạo lên
độ ngũ kỹ s kỹ thuật trong tơng lai
Xác định mục đích giáo dục pháp luật cho sinh viên là một vấn đề quantrọng hàng đầu đối với việc xây dựng chơng trình nội dung giáo dục pháp luật
và toàn bộ công tác tổ chức thực hiện Thực tiễn trong thời gian vừa qua chothấy việc xác định mục đích giáo dục pháp luật cho sinh viên cha đợc cụ thể
và thống nhất, tính định hớng cha rõ ràng và phần nhiều bị động Có thể thấy
rõ điều đó trong việc xây dựng chơng trình, xác định các hình thức giáo dụcpháp luật, trong việc tạo lập các điều kiện vật chất bảo đảm cho công tác giáodục pháp luật đạt kết quả
Vấn đề then chốt nhất trong việc xác định mục đích của giáo dục phápluật cho sinh viên là phải căn cứ vào mục đích và yêu cầu của đào tạo cao
đẳng, xuất phát từ hiện thực khách quan, phù hợp với đối tợng sinh viên tránhkhuynh hớng áp đặt chủ quan, những căn cứ đó có thể là:
- Phải xuất phát từ nhu cầu giáo dục và đào tạo toàn diện cho sinh viên.
- Phải xuất phát từ thực trạng tình hình hiểu biết pháp luật và ý thức tôn
trọng pháp luật của sinh viên hiện nay rất thấp, tri thức pháp luật của họ hầu
nh không đáng kể
- Phải xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi.
Việc xác định mục đích của giáo dục pháp luật sẽ quy định việc xác địnhhình thức, phơng tiện, phơng pháp và nội dung của giáo dục, đồng thời còngiúp cho việc xác định hiệu quả của quá trình giáo dục Không dựa vào mục
đích của giáo dục pháp luật, chẳng những không thể đánh giá mà còn khôngthể tiến hành tìm kiếm các chỉ số xác định hiệu quả của giáo dục pháp luật.Với ý nghĩa nh vậy, mục đích của giáo dục pháp luật đợc xác định nh trên làphù hợp, đáp ứng đợc các nhu cầu của xã hội ta, phù hợp với thực tiễn để cókhả năng trở thành hiện thực và giúp ích cho việc đánh giá, nâng cao hiệu quảgiáo dục pháp luật ở nớc ta trong từng thời kỳ
Trang 19Mục đích của việc giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng là hìnhthành ở sinh viên ý thức pháp luật, làm cơ sở cho sự hình thành hành vi và thóiquen hành vi phù hợp với các chuẩn mực pháp luật Hình thành ở sinh viêntình cảm và thái độ đúng đắn đối với pháp luật, lòng tin vào pháp luật.
Có tri thức về pháp luật cha có nghĩa là đã có tình cảm đúng đắn và lòngtin vào pháp luật Đó mới chỉ là cơ sở nhận thức tạo niềm tin bên trong ở mỗisinh viên Do vậy, việc biến nhận thức thành niềm tin, động cơ bên trong chosinh viên là yêu cầu quan trọng Thiếu tự tin, thiếu tình cảm sẽ không tạo ra đ-
ợc các hành vi hợp pháp và khả năng chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh
Trong hệ thống các mục đích của giáo dục pháp luật thì mục đích hìnhthành hành vi hợp pháp cho sinh viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi lẽ,suy cho đến cùng kết quả của giáo dục pháp luật đợc biểu hiện ở ứng xử theopháp luật của mọi sinh viên Đây chính là cái đích cần đạt đợc của giáo dụcpháp luật Giáo dục các hành vi hợp pháp là giáo dục để hình thành ở sinhviên thói quen tuân theo pháp luật Thói quen phần lớn là kết quả của niềm tinbên trong và sự tự ý thức sâu sắc đợc lặp đi lặp lại nhiều lần thông qua cáchành vi xử sự Do vậy, giáo dục để hình thành hành vi hợp pháp là một việckhó khăn, lâu dài
Mục đích của giáo dục pháp luật là phải bằng những hình thức, phơngthức tác động khác nhau tạo cho mọi sinh viên tình cảm đúng đắn và niềm tinvào pháp luật đợc biểu hiện ra thành những hành vi hợp pháp trong đời sốnghàng ngày
Song việc hình thành tình cảm, lòng tin bền vững vào pháp luật ở sinhviên, một vấn đề không đơn giản, gặp phải những trở ngại Tình trạng kỷ cơngpháp luật bị buông lỏng, những tập tục của ngời sản xuất nhỏ tác độngkhông ít vào lớp ngời trẻ tuổi Do vậy giáo dục pháp luật cần có định hớng rõràng, có nội dung, hình thức phù hợp mới đạt đợc mục đích đề ra Trớc hết,các chủ thể giáo dục mà trực tiếp là các nhà giáo dục phải có lòng tin và tìnhcảm đúng đắn với pháp luật mới có thể truyền cho sinh viên những tình cảm
và lòng tin ấy Đúng nh Các Mác đã nói “Ngời đi giáo dục cũng phải đợc giáodục ”
Nét đặc thù của mục đích giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng
tr-ớc hết do vị trí tơng lai của những ngời học ở những trờng đó quyết định.
Trong vốn học vấn chung, đặc biệt trong vốn học vấn nghề nghiệp của họ
Trang 20không thể thiếu đợc một bộ phận quan trọng là hiểu biết về pháp luật ý thức
pháp luật của sinh viên hôm nay sẽ là một bộ phận quan trọng của nhân cáchngời cán bộ khoa học, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý mai sau Từ đó, họkhông những biết sống và làm việc theo pháp luật với t cách là ngời công dân
mà còn biết sống và làm việc theo pháp luật, bảo vệ pháp luật với t cách lànhững ngời đã có những cơng vị xã hội quan trọng, những vị trí chủ chốt ở cáctầng bậc trong hệ thống nghề nghiệp ở mỗi ngời Nh vậy, có thể nói rằng giáo
dục pháp luật trong các trờng cao đẳng là một yêu cầu khách quan nhằm
chuẩn bị có hệ thống cho thế hệ trẻ vào đời biết sống và làm việc theo Hiếnpháp và pháp luật, góp phần xây dựng dần dần một xã hội có kỷ cơng, mộtnhà nớc pháp quyền và một nền dân chủ có pháp chế
Tất cả các mục đích trên tạo lên một thể thống nhất có mối quan hệ tác
động lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo thành ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩatrong sinh viên Khi tiến hành giáo dục phải hớng hoạt động nhằm vào cả bamục đích, chứ không phải là quá trình tác động rời rạc theo từng công đoạn,trớc hết là trang bị tri thức, sau đó là bồi dỡng tình cảm và cuối cùng mới làgiáo dục thói quen xử sự hợp pháp Thiếu hoặc coi nhẹ một nội dung nào mục
đích của giáo dục pháp luật sẽ không hoàn chỉnh bởi vì” không phải đơn thuần
về lý luận pháp luật, cũng không phải chỉ học những quy định cụ thể của phápluật một cách khô khan mà là quá trình bồi dỡng và nâng cao ý thức pháp luậtxã hội chủ nghĩa ” [44] Việc xác định đúng đắn mục đích của giáo dục phápluật cho sinh viên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong toàn bộ quá trình giáodục pháp luật Song để đạt đợc mục đích đã xác định, giáo dục pháp luật cầnphải thực hiện đúng những yêu cầu của giáo dục học nói chung và yêu cầu củagiáo dục pháp luật nói riêng
Nh vậy để nâng cao chất lợng và hiệu quả của giáo dục pháp luật trongnhà trờng trớc hết phải xác định đúng mục đích, quán triệt yêu cầu của giáodục pháp luật Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, là cơ sở cho việc xây dựngnội dung chơng trình cũng nh các hình thức, biện pháp giáo dục pháp luật.Khi đã xác định rõ đợc mục đích yêu cầu thì vấn đề cần phải giải quyếttiếp theo là nội dung chơng trình giáo dục pháp luật, tức là dạy và học nhữnggì? nội dung dạy và học pháp luật trong nhà trờng phải đảm bảo sự cân đốitrong toàn bộ chơng trình giáo dục nhất là trong tình hình tiếp tục điều chỉnhcải cách giáo dục hiện nay, nhiều môn học mới đã và sẽ đa vào chơng trình
Trang 21học tập nh tin học, dân số và kế hoạch hóa gia đình Tính cân đối của nộidung giáo dục pháp luật nằm trong toàn bộ hệ thống các môn học nói chung
và trong nội dung giáo dục về chính trị, t tởng và đạo đức nói riêng, phải đợc
đảm bảo Do vậy nội dung giáo dục pháp luật qúa sơ lợc hoặc ngợc lại quánặng nề, tách rời một cách cô lập với các môn học khác là không khoa học vàkhông thực tế Nội dung giáo dục pháp luật phải phù hợp với đặc điểm tâm,sinh lý và quy luật nhận thức của sinh viên Đây là một vấn đề khó, nhất làtrong việc biên soạn chơng trình, bởi lẽ bản thân các quy phạm pháp luật đôikhi bao hàm những khái niệm pháp lý trừu tợng, trình tự và kết cấu trong từngquy phạm cũng hết sức chặt chẽ, lôgíc Nghệ thuật diễn giảng của giáo viên làbiến những khái niệm pháp lý đó thành những hớng dẫn hành động thực tế,sao cho sinh viên dễ hiểu, hiểu đúng và vận dụng thiết thực trong cuộc sống.Thử đặt một số câu hỏi liệu chúng ta có thể đơn giản hoá chỉ giảng dạychuyên môn kỹ thuật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật thay vì học cả cácmôn học khác nh triết học, kinh tế chính trị học, luật học vì chúng ta cần cácnhà kỹ thuật có trình độ cao đẳng, chứ không cần những ngời biết hoặc nói lýthuyết về đạo đức và pháp luật? Nói cách khác liệu có nên phân nền giáo dục
đại học và cao đẳng thành hai nền giáo dục - một nền giáo dục "phổ thông"
về những môn văn hoá (đại cơng) và một nền giáo dục chỉ tập trung "chuyênsâu" vào các môn kỹ thuật hay không?
Để trả lời chung về những vấn đề nêu ra, dới đây xin trình bày rõ hơn vềvai trò và ý nghĩa của giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật.Trớc hết cần phải khẳng định rằng đào tạo trình độ cao đẳng và đại học trớc
hết là nhằm phát triển năng lực trí tuệ của con ngời, những năng lực trí tuệ
mà thiếu chúng thì con ngời không thể hoàn tất đợc một công việc trí tuệ nào, nhất là trí tuệ về khoa học kỹ thuật Do đó, đào tạo cao đẳng không thể bị trói
buộc chỉ vào những môn kỹ thuật chuyên ngành, nhng cũng không nên lạmdụng thái quá những môn khoa học xã hội, chẳng hạn nh giảng dạy về văn ch-
ơng hay các môn nghệ thuật
Đào tạo cao đẳng kỹ thuật ở nớc ta, theo truyền thống, trong chơng trình
có giáo dục pháp luật và một số môn khoa học xã hội thuộc phần giáo dục đạicơng Khẳng định rằng những môn học đó có ý nghĩa rất quan trọng cho việc
đào tạo và phát triển những nhà chuyên môn kỹ thuật hàng đầu Có thể nóirằng nếu không có các môn khoa học giáo dục đại cơng, bao gồm cả giáo dục
Trang 22pháp luật trong các trờng học (trong đó có trờng cao đẳng) thì chúng ta chỉ cóthể đào tạo đợc những nhà kỹ thuật, mà những ngời ấy sẽ không thể hiểunhững nguyên lý cơ bản đằng sau những hoạt động mà họ thực hiện
Vì vậy, giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật nhằm góp
phần để sản sinh ra những con ngời có trí tuệ, biết cách sử dụng trí tuệ và phát triển khả năng chuyên môn của mình, để họ sử dụng kiến thức và khả năng chuyên môn một cách có trách nhiệm với t cách là một công dân, biết sử dụng đúng đắn các quyền con ngời và quyền công dân chân chính của mình, chứ không phải chỉ là những nhà kỹ thuật đợc đào tạo nhng không có tri thức
Tuy nhiên cần phải khẳng định rằng giáo dục pháp luật phức tạp hơn rấtnhiều so với việc giảng dạy chuyên môn kỹ thuật Chúng ta có thể giảng dạysinh viên cao đẳng đại học lý thuyết về đạo đức và pháp luật, nhng nh thếkhông đủ để ngăn họ có thể hành động gian dối trong các kỳ thi cử, kể cả thimôn học về pháp luật Bởi vì ý thức và nhân cách con ngời là một phẩm chấtcủa toàn bộ con ngời với t cách cá nhân là tổng hoà của các mối quan hệ xãhội Không hẳn một sinh viên học thuộc lòng các nội dung đợc giảng dạy vềluật pháp đã là ngời chấp hành pháp luật một cách nghiêm túc Nhân cách củacon ngời là kết quả của một quá trình rèn luyện lâu dài, thậm chí cả đời ngờivới những kinh nghiệm vô cùng phong phú
Trong công cuộc đổi mới và phát triển toàn diện đất nớc, trong quá trìnhxây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thiết lập một xã hội “côngbằng, dân chủ, văn minh”, giáo dục pháp luật trở thành nhiện vụ trọng tâm.Trong lời bế mạc Kỳ họp thứ IV Quốc hội khóa XI, Chủ tịch Quốc hộiNguyễn Văn An đã nhấn mạnh việc ban hành đợc nhiều đạo luật là rất quantrọng, nhng quan trọng hơn là phải làm cho pháp luật phát huy tác dụng tích
Trang 23cực trong cuộc sống Để làm đợc điều này các cơ quan hữu quan cần khẩn
tr-ơng ban hành các văn bản hớng dẫn thi hành làm tốt việc triển khai thực hiện,tăng cờng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; kịp thời xử lýnghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật
Giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật có tác động quantrọng và trực tiếp trong việc trang bị kiến thức pháp luật, bồi dỡng tình cảm, ýthức trách nhiệm và khả năng điều chỉnh các hành vi đúng đắn cho đội ngũcán bộ chuyên môn kỹ thuật Giáo dục pháp luật còn góp phần tạo ra những
điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả học tập chuyênmôn đối với sinh viên, thúc đẩy việc nâng cao ý thức học tập của sinh viên
Điều quan trọng xin đợc nhấn mạnh ở đây là, đối với ngời dân, cũng nh
đối với sinh viên, mục tiêu hàng đầu của chơng trình giáo dục pháp để giúp
họ thực hiện các quyền con ngời và quyền tự do dân chủ của mình trong khuôn khổ của luật pháp Vấn đề ở chỗ phải làm cho sinh viên, cũng nh mỗi
ngời hiểu đợc rằng pháp luật không phải chỉ là cấm đoán, hạn chế tự do hay
áp đặt nghĩa vụ, mà giáo dục pháp luật để mọi ngời hiểu mình có quyền làmnhững việc không trái với đạo đức và luật pháp không cấm Giáo dục phápluật góp phần tạo cho sinh viên năng lực sử dụng pháp luật và kỹ năng chuyênmôn phục vụ cuộc sống
Vì thế khi đề cập đến vấn đề giáo dục pháp luật một mặt phải khẳng địnhrằng đó là một bộ phận không thể tách rời của qúa trình giáo dục chung, mặtkhác giáo dục pháp luật có những nét riêng, phản ánh tính đặc thù của nó đợcthể hiện ở chỗ có chơng trình riêng
Tính đặc thù của giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ
cao đẳng, thuộc hệ thống đào tạo đại học Nội dung giảng dạy về pháp luật
trong các trờng cao đẳng kỹ thuật bao gồm giảng dạy về những nội dung cơ bản và cơ sở lý thuyết về luật pháp và giảng dạy về thực tiễn của đời sống pháp luật, trong đó bao hàm giảng dạy một cách có chọn lọc nội dung luật thực định
Trang 24Sinh viên phải thi hoặc kiểm tra môn học này nh đối với những môn họckhác, cùng với những môn học khác, sinh viên phải thi hoặc kiểm tra đạt mớihoàn thành nhiệm vụ và đợc tốt nghiệp
Thứ hai, đối tợng giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật
là sinh viên Họ là những ngời thành niên, đã trải qua học tập và rèn luyện
trong suốt quá trình học phổ thông Khi tốt nghiệp cử nhân cao đẳng, sinhviên trở thành những ngời lao động có tri thức và trình độ chuyên môn nghiệp
vụ theo nghề ở trình độ đợc đào tạo cao đẳng Họ có thể tiếp tục học tập lêntrình độ cao hơn (đào tạo đại học và sau đại học) Sinh viên, ngời đợc giáo dụcpháp luật chịu sự tác động có tổ chức định hớng, vì thế sự hiểu biết về trình
độ, đặc điểm tâm, sinh lý, nghề nghiệp của ngời đợc giáo dục là yêu cầu hàng
đầu Đồng thời ngời giáo dục có trách nhiệm phải nắm vững tri thức pháp luật,biết cách giáo dục, phải là tấm gơng mẫu mực về sự tôn trọng và chấp hànhpháp luật u điểm của sinh viên là tầng lớp xã hội tiến bộ, đợc tiếp thu có hệthống tri thức tinh túy của nhân loại nói chung và của dân tộc, đất nớc nóiriêng Họ là những ngời có khả năng sáng tạo, tính tích cực nhạy bén, năng
động trong học tập, nghiên cứu, ứng dụng cũng nh trong các quan hệ xã hội.Sinh viên có khả năng và mong muốn trở thành lao động trí óc do đó luôn tò
mò, ham hiểu biết, chịu khó học hỏi, thích cái mới và thờng có quyết tâm cao
để thể hiện các ý định của mình Thực tế ngày nay cho thấy sinh viên củachúng ta ngày càng phát huy khả năng và nỗ lực phấn đấu “vì ngày mai lậpnghiệp” bằng các thành tích xuất sắc trong học tập cũng nh trong sinh hoạt xãhội, ngày càng thích ứng với thời cuộc, nắm bắt nhiều thông tin trên nhiều lĩnhvực trong nứơc lẫn quốc tế Trong cơ chế mới, vận hội mới của đất nứơc, sinhviên không chỉ đơn thuần có học mà còn rất năng động, sáng tạo trong việcvận dụng những tri thức đã học vào cuộc sống phục vụ bản thân và xã hội, gópphần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp “dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,dân chủ và văn minh” của toàn Đảng, toàn dân
Tuy nhiên, sinh viên cũng có những hạn chế nhất định nh nông nổi, bồngbột, dễ bị kích động, khó kiềm chế, đôi khi tự cao, tự mãn hoặc tự ti, tự phụ,thích tự do phóng khoáng hay đua đòi
ý thức pháp luật của sinh viên cha đầy đủ toàn diện, sâu sắc nh một sốnhóm xã hội khác Sinh viên là tầng lớp xã hội trẻ tuổi đang trong quá trìnhhọc tập và rèn luyện, họ cha có điều kiện và khả năng để có những t tởng,
Trang 25quan niệm, quan điểm về các hiện tợng pháp luật trong đời sống xã hội mộtcách đầy đủ, hệ thống, sâu sắc nh là đội ngũ cán bộ trong bộ máy nhà nớc, độingũ nghiên cứu khoa học pháp lý Sự hiểu biết pháp luật của sinh viên mới
đang từng bớc đợc hình thành, bồi đắp và làm sâu sắc thêm qua quá trình họctập và sinh hoạt dới sự tác động ảnh hởng của gia đình, nhà trờng và xã hội.Hiện nay, trong nhà trờng sinh viên cha đợc giáo dục đào tạo về pháp luật mộtcách chuyên sâu, có hệ thống, ngoài xã hội họ cha đợc tham gia vào nhiềuhoạt động pháp luật thực tiễn, cha có kinh nghiệm thực tiễn vì thế, nhữnghiểu biết pháp luật, những quan niệm về giá trị pháp luật, về cơ quan pháp luật
ở sinh viên còn hạn hẹp rất nhiều
Thực tế hiện nay cho thấy ý thức pháp luật của sinh viên còn thấp vớibiểu hiện nh sự hiểu biết pháp luật còn rất hạn hẹp, thiếu chính xác và hệthống, cha đủ để bớc vào cuộc sống, cha ý thức đợc đầy đủ trách nhiệm cũng
nh quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện pháp luật, cha thấy hết đợc vai tròcủa pháp luật đối với đời sống xã hội nói chung, từng công dân nói riêng, cha
có thói quen xử sự và đối chiếu những quy định của pháp luật
ý thức pháp luật của sinh viên dễ biến động, dễ chiu tác động ảnh hởngtrực tiếp của môi trờng và ý thức pháp luật của những ngời xung quanh Trớchết, có thể nói ý thức pháp luật của sinh viên phụ thuộc rất lớn vào trình độnhận thức và ý thức tự giác chấp hành pháp luật của bố mẹ, những ngời thântrong gia đình, cũng nh d luận xã hội Thông thờng, lớp ngời này còn phụthuộc hoàn toàn vào gia đình về kinh tế, do đó chịu ảnh hởng trực tiếp toàn bộcác mặt đời sống của bố mẹ và những ngời thân trong gia đình, bao bồm cảtrình độ nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật Mặt khác, do khả năng bảnthân và phát triển quan hệ xã hội của sinh viên ngày càng lớn phù hợp với việchọc tập, sinh hoạt của họ, cho nên cùng với ảnh hởng của gia đình, lớp ngờinày đồng thời chịu sự tác động của xã hội, nhà trờng, tổ chức đoàn, hội, nhómbạn bè trong những môi trờng này, nếu trình độ am hiểu pháp luật càng cao,
ý thức chấp hành tuân thủ pháp luật càng nghiêm thì sẽ giúp cho sinh viênhiểu biết pháp luật đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và càng hớng cho họ đi vào đúngquỹ đạo cuộc sống theo yêu cầu pháp luật, tránh đợc sự sa ngã, sai lầm mộtcách thiếu tự giác của sinh viên Vì thế, việc giáo dục pháp luật để nâng cao ýthức pháp luật của sinh viên, không chỉ quan tâm tập trung cho mỗi đối tợngnày mà phải đồng thời tác động đến những ngời thờng xuyên giao tiếp với
Trang 26sinh viên bằng các chơng trình với nội dung, hình thức, phơng pháp, phơngtiện thích hợp và đồng bộ
Thứ ba, giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật phải đợc tổ chức và tiến hành với chơng trình có định hớng và mục đích rõ ràng, với nội dụng, hình thức phù hợp với sinh viên cao đẳng kỹ thuật, trong từng thời kỳ và
từng giai đoạn cụ thể
Thứ t, từ những nét đặc thù trên đây, không thể đồng nhất giáo dục pháp luật với khái niệm tuyên truyền và phổ biến pháp luật theo nghĩa giáo dục chính trị t tởng thờng xuyên, nhằm trau dồi đạo đức và ý thức pháp luật Tuy
rằng việc giảng dạy về pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật góp phầnlàm hình thành ý thức pháp luật của cá nhân, nhng sự hình thành ý thức phápluật là kết quả tác động của khách quan và những nhân tố chủ quan lên ý thứccon ngời Sự phân biệt đó là hoàn toàn cần thiết và có ý nghĩa to lớn trong việcnghiên cứu về chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹthuật
Bản chất của giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ
đích của giáo dục Lênin đặc biệt coi trọng vai trò to lớn của ý thức phápluật vô sản, Ngời đã đấu tranh không mệt mỏi vì sự thể hiện đúng đắn ýthức pháp luật vào trong các đạo luật của nhà nớc Xô viết cũng nh tronghoạt động thực tiễn về tội phạm, quản lý nhà nớc, quản lý kinh tế
Giáo dục pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn luôn tự đặt mình trong mốiquan hệ tác động qua lại giữa những điều kiện khách quan và nhân tổ chủquan của đời sống xã hội Đồng thời giáo dục pháp luật cũng phải đợc xem xét,nhận thức đúng đắn trong các mối quan hệ với giáo dục chính trị và đạo đức Nhng mặt khác, nếu chỉ nhấn mạnh đến những điều kiện khách quan sẽlàm cho toàn bộ hoạt động giáo dục pháp luật mang tính bị động, không pháthuy đợc tính năng động, sáng tạo trong quá trình giáo dục pháp luật
Trang 27Trớc hết giáo dục pháp luật có quan hệ mật thiết với giáo dục chính trị
bởi lẽ ý chí chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm bảo vệnhững lợi ích căn bản đợc thể hiện trong pháp luật Do vậy pháp luật phản ánh
và củng cố một quy chế chính trị của công dân, ngợc lại trong nội dung củagiáo dục chính trị chứa đựng những tri thức pháp luật, củng cố những quan hệtích cực đối với những đòi hỏi của pháp luật Mối quan hệ ấy đợc kết hợp chặt chẽtrong thực tiễn sẽ nâng cao hiểu quả của cả hai phơng diện giáo dục
Giáo dục pháp luật có quan hệ chặt chẽ với giáo dục đạo đức bởi lẽ pháp
luật xã hội chủ nghĩa có cơ sở đạo đức sâu sắc, nhiều quy phạm đạo đức chứa
đựng trong nó những nội dung pháp luật Do đó, giáo dục đạo đức tạo ranhững tiền đề cần thiết để hình thành ở công dân sự tôn trọng và chấp hànhpháp luật Ngợc lại giáo dục pháp luật tạo ra khả năng thiết lập trên thực tếnhững nguyên tắc đạo đức mới
Giáo dục pháp luật và đào tạo chuyên môn có sự tác động qua lại lẫn nhau Bởi vì lao động không chỉ để hoàn thành nhiệm vụ này hay nhiệm vụ
khác mà còn là sự tham gia thực tế của ngời lao động vào các quan hệ phápluật trong quản lý sản xuất, trong phân phối sản phẩm, trong việc áp dụngpháp luật và bảo vệ trật tự pháp lý ở từng cơ sở sản xuất, kinh doanh, trong đóviệc giáo dục pháp luật góp phần củng cố trật tự, kỷ luật lao động thúc đẩyviệc tăng năng suất lao động
Nắm vững đặc trng trên đây của giáo dục pháp luật có ý nghĩa thực tiễntrong tổ chức thực hiện chơng trình giáo dục pháp luật Chất lợng và hiệu quảcủa giáo dục pháp luật một phần phụ thuộc vào những mối quan hệ kháchquan nói trên
Tính định hớng và hiệu quả là một đặc trng không thể thiếu của giáo dục
pháp luật, điều đó xuất phát từ đặc trng cơ bản của giáo dục pháp luật là hoạt
động có tính chủ quan, nhng trên cơ sở đã đợc nhận thức về sự tất yếu cầnthiết của giáo dục pháp luật Tính định hớng và hiệu quả của giáo dục phápluật đợc phản ánh trong toàn bộ các khâu của chơng trình giáo dục pháp luậtnh: xác định mục đích, yêu cầu, nội dung, hình thức,… cho từng đối t cho từng đối tợng cụthể
Suy cho đến cùng mục đích đề ra hiệu quả của giáo dục pháp luật đợcbiểu hiện một cách cụ thể bằng trình độ kiến thức pháp luật, thái độ tôn trọngpháp luật và hành vi hợp pháp của công dân Do vậy định hớng giáo dục phápluật chung chung hoặc không tính đến hiệu quả sẽ làm cho giáo dục pháp luật
Trang 28trở nên khô khan, nhàm chán và không có ý nghĩa trong thực tiễn so với vaitrò đích thực của vấn đề giáo dục pháp luật.
Yêu cầu của giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật xã hội chủ nghĩa cần đợc tiếp tục nghiên cứu kỹ vềmặt lý luận cũng nh thực tiễn Có thể xác định giáo dục pháp luật về lý luậncũng nh trong tổ chức thực tiễn cần bảo đảm yêu cầu
Vấn đề đặt ra là dạy pháp luật cho sinh viên nh thế nào là cần và đủ Vềvấn đề này nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, các luật gia, các thầy cô giáo đều
có một nhận định chung là cần trang bị cho sinh viên những nội dung kiếnthức pháp luật sau đây:
- Những nội dung cơ bản và cơ sở lý thuyết dới dạng phổ thông nhất về
nguồn gốc, bản chất, vai trò của Nhà nớc và pháp luật
- Hệ thống tri thức dới dạng cơ bản về quyền và nghĩa vụ của sinh viên
theo ý nghĩa là những công dân
- Một số kiến thức pháp luật có liên quan đến đời sống sinh viên trên một
số lĩnh vực: lao động, dân sự, hình sự, nghĩa vụ quân sự, hôn nhân và gia
đình… cho từng đối t ợc biên soạn một cách khái quát, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ đối với đsinh viên
- Trang bị cho sinh viên hệ thống tri thức pháp luật cần thiết và đủ sao
cho khi học xong sinh viên có nhận thức đúng đắn và chấp hành nghiêm chỉnhpháp luật, thực hiện đúng những quyền và nghĩa vụ của công dân
Trang bị những tri thức pháp luật cần thiết và đủ cho sinh viên là mục
đích đầu tiên của giáo dục pháp luật Nó đóng vai trò quan trọng trong việc
đảm bảo sự hình thành ý thức pháp luật và hành vi tích cực, hợp pháp của sinhviên Tình cảm đúng đắn, bền vững đối với pháp luật và những hành vi tíchcực sẽ không thể có hoặc có nhng không đây đủ nếu không đợc dựa trênnhững tri thức về pháp luật của sinh viên Tri thức pháp luật càng đầy đủ thìtình cảm pháp luật càng mạnh mẽ, bởi lẽ tình cảm đó dựa trên những kháiniệm, t tởng, quan điểm, những quy phạm pháp luật.Mặt khác những tri thứcpháp luật giúp cho sinh viên ứng xử theo đúng pháp luật Do vậy cũng khôngnên hiểu một cách giản đơn rằng tri thức pháp luật chỉ là sự am hiểu giản đơn
về những quy phạm pháp luật nào đó mà nó còn là sự nhận thức và hiểu biếtthấu đáo nội dung, ý nghĩa về quyền và nghĩa vụ của sinh viên trong các mốiquan hệ pháp luật
Trang 29 Nội dung giáo dục pháp luật
Là yếu tố quan trọng của quá trình giáo dục pháp luật Xác định đúng nộidung giáo dục pháp luật là đảm bảo cần thiết để giáo dục pháp luật có hiệuquả thiết thực Khi nói đến nội dung giáo dục pháp luật là nói đến một số vấn
đề: phạm vi của nội dung giáo dục pháp luật so với các nội dung giáo dụckhác, nội dung cơ bản của giáo dục pháp luật (chung và cho từng nhóm đối t-ợng) và các yêu cầu thực tế đối với việc thực hiện các nội dung giáo dục phápluật
Nội dung cơ bản của giáo dục pháp luật đợc xác định các mức độ thíchhợp cho từng loại đối tợng trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm của đối t-ợng
Trong các hình thức giáo dục mang tính phổ cập chung (qua các phơngtiện thông tin đại chúng) hay cho từng nhóm đối tợng ( qua việc dạy và họcpháp luật trong các nhà trờng ở từng cấp học, bậc học) cần xác định đợc cáccấp độ sau trong nội dung giáo dục pháp luật:
- Yêu cầu tối thiểu về nội dung giáo dục pháp luật cho mọi công dân.
- Yêu cầu riêng về giáo dục pháp luật theo nhu cầu ngành nghề.
- Yêu cầu về giáo dục pháp luật chuyên ngành cho những ngời hành nghề
pháp luật
Từ việc xác định phạm vi và mức độ yêu về nội dung giáo dục pháp luậtcho thấy khó có một hình thức hay một chủ thể giáo dục pháp luật riêng biệtnào có thể đáp ứng đựơc việc chuyền tải toàn bộ các yêu cầu phạm vi nội dung
để đạt tới mục tiêu giáo dục pháp luật đặt ra cho mỗi đối tợng Do đó, cần phảitìm kiếm phối hợp nhiều hình thức, phơng tiện, phơng pháp và phối hợp cácchơng trình, mục tiêu giáo dục pháp luật của các chủ thể khác nhau để bổsung, hỗ trợ những mặt mạnh, giảm bớt những hạn chế của từng hình thức, ph-
ơng tiện
Nội dung giáo dục pháp luật nói chung nh đã trình bày ở trên bao gồmphạm vi tơng đối rộng và mức độ yêu cầu cao, thấp khác nhau Việc xác địnhnội dung giáo dục pháp luật trớc hết căn cứ vào đối tợng giáo dục, hình thứcgiáo dục và mục tiêu giáo dục Giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng làmột hình thức giáo dục pháp luật đặc thù với đối tợng là sinh viên, có mục tiêu
Trang 30giáo dục gắn liền với mục tiêu giáo dục- đào tạo Vì vậy nội dung giáo dụctrong các trờng này có đặc điểm riêng
- Nội dung giáo dục pháp luật không tách rời nội dung đào tạo các đối
t-ợng
Nội dung giáo dục và đào tạo cụ thể của từng bậc học, cấp học, ngành học
đợc xác định, thiết kế trên cơ sở các mục tiêu của giáo dục và đào tạo Mụctiêu giáo dục đào tạo của nứơc ta đợc xác định rõ ràng trong Nghị quyết Hộinghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa VII là nhằm nâng caodân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài; đào tạo những con ngời có kiếnthức văn hóa, khoa hoc, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và
có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội sống lành mạnh
ở đây “cần phân biệt rõ 3 loại mục tiêu phát triển: mục tiêu phát triển tổngquát (vĩ mô) - nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài, tức
là tạo ra nền tảng dân trí, chuẩn bị một thế hệ lao động mới có trình độ caohơn, với mũi nhọn là đội ngũ ngời lao động có tri thức, có kỹ thuật, thực hiệncông bằng xã hội; mục tiêu phát triển nhân cách (vi mô)- con ngời phát triểncao về trí tuệ, cờng tráng về thể chất, phong phú về tính thần, trong sáng về
đạo đức, có khả năng lao động, có tính tích cực chính trị - xã hội; mục tiêuphát triển cụ thể các bậc học: xóa mù chữ và phổ cập tiểu học, xây dựng bậctrung học mới, mở rộng bậc đại học và sau đai học, xây dựng hệ thống trungtâm chất lợng cao” [22, tr 3] Để đạt đợc những mục tiêu nêu trên, nội dungcơ bản của quá trình giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủnghĩa cho sinh viên bao gồm nội dung thuộc các lĩnh vực: “trí dục, đức dục,giáo dục lao động, thê dục và mỹ dục” [40, tr 101]
Giáo dục pháp luật cũng nh giáo dục kinh tế, giáo dục sinh thái (giáo dụcmôi trờng), giáo dục giới tính (giáo dục hôn nhân và gia đình), giáo dục dân
số (giáo dục kế hoạch hóa gia đình)… cho từng đối t ợc ghép vào 5 lĩnh vực đã nêu trên đTrong đó, giáo dục pháp luật trớc đây đã đợc ghép vào lĩnh vực đức dục và
đến nay giáo dục pháp luật ở các trờng cao đẳng đợc đa vào chơng trình bằngmột môn học độc lập thuộc lĩnh vực khoa học xã hội Nh vậy, nội dung củagiáo dục pháp luật trong nhà trờng là một bộ phận của nội dung giáo dục nóichung, phải tuân thủ mục tiêu giáo dục nói chung
Quá trình giáo dục đào tạo ở nhà trờng bị rằng buộc bởi quỹ thời giannghiêm ngặt Do quỹ thời gian hạn chế, các trờng lại phải thực hiện một chơng
Trang 31trình đào tạo khá toàn diện, trong đó mỗi trờng buộc phải u tiên một cáchthích đáng cho việc đào tạo chuyên ngành, vì vậy mà lợng thời gian dành chogiáo dục pháp luật không nhiều Từ thực tế đó, việc xác định mục tiêu, nộidung và yêu cầu của công tác giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳngcũng chỉ ở một mức độ nhất định, không thể cao hơn điều kiện cho phép ởmỗi loại hình trờng, thậm chí mỗi khối trờng trong một loại hình trờng cónhững đặc điểm yêu cầu đào tạo riêng, trong đó nhu cầu về giáo dục pháp luậtcũng rất khác nhau, cho nên khi xác định mục tiêu, nội dung và yêu cầu giáodục pháp luật cũng phải căn cứ vào đó để tính đến việc cân đối cái chung vàcái riêng, xây dựng chơng trình phù hợp Tuy nhiên, dù một loại hình trờngnào, hay một nhóm trờng nào trong loại hình đó thì nhu cầu hiểu biết về phápluật của sinh viên để rèn luyện, hình thành nhân cách của sinh viên, để chủ
động trong ứng xử và tham gia tích cực vào các quan hệ của đời sống Nhà nớc
và đời sống xã hội với t cách ngời sinh viên - công dân là rất cần thiết và luônchứa đựng yếu tố chung
Vì thế, nội dung giáo dục pháp luật trong nhà trờng đợc xây dựng có hệthống, liên thông từ bậc phổ thông đến cao đẳng đại học Hệ thống nội dungnày thờng ổn định trong 15 năm cùng với chơng trình giáo dục nói chung.Tính hệ thống và ổn định của nội dung giáo dục pháp luật trong nhà trờng cómặt u điểm tích cực trong việc xây dựng chơng trình dạy học và biên soạnsách giáo khoa, trong việc đào tạo, bồi dỡng đội ngũ giáo viên cũng nh thựchiện định hớng mục đích giáo dục pháp luật Bên cạnh đó cũng có mặt nhợc
điểm đó là nội dung ít đợc bổ xung sửa đổi để phù hợp với trạng thái động củacác thông tin cơ bản trong nội dung giáo dục pháp luật Trạng thái động ấy đ-
ợc quy định bởi chính sự thiếu ổn định, luôn biến động của hệ thống phápluật Điều đó rất khác các môn khoa học tự nhiên nh toán, lý hóa… cho từng đối t Đặc điểmtrong điều kiện thực tế ở Việt Nam hiện nay, hệ thống pháp luật vừa thiếu, vừachồng chéo, vừa kém hiệu quả, kém hiệu lực, “thời gian sống” của một số vănbản không cao, kể cả các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất (hiến pháp, bộluật, luật … cho từng đối t) cũng ở trạng thái luôn phải sửa đổi, bổ sung Trong quá trình đổimới toàn diện của đất nớc, nhiều quan điểm, khái niệm đang đợc nhận thức lạimột cách cơ bản Đó là sự phát triển tất yếu phù hợp với yêu cầu khách quan,mang ý nghĩa tích cực, nhng về góc độ giáo dục, đó cũng là một nét đặc thù
Trang 32đòi hỏi ngời giáo dục phải lựa chọn các nội dung giáo dục pháp luật sao chovừa có phần “cứng” mang tính nguyên tắc, tơng đối ổn định: vừa có phần
“mềm” mang tính chất linh hoạt để đảm bảo cả hai yêu cầu của quá trình giáodục là tính hệ thống và tính cập nhật Đồng thời, với nội dung giáo dục phápluật luôn phát triển, biến động nh vậy đòi hỏi quá trình dạy và học phải liêntục thờng xuyên đối với mỗi ngời nếu không muốn trở thành lạc hậu hay “táimù” về pháp luật
Tóm lại, nội dung chơng trình dạy học pháp luật trong các nhà trờng cótính hệ thống nhng lại chậm bổ sung, do đó, cần đợc hỗ trợ bằng các chơngtrình giáo dục pháp luật mang tính cập nhật cao nh giáo dục thông qua các ph-
ơng tiện thông tin đại chúng; tăng cờng các hoạt động ngoại khóa nh nghe nóichuyện pháp luật, hội thảo pháp luật, câu lạc bộ pháp luật, thi tìm hiểu phápluật, tham dự phiên tòa đồng thời phối hợp chặt chẽ giáo dục giữa gia đình,nhà trờng và xã hội
- Giáo dục pháp luật ở các trờng cao đẳng có phạm vi và mức độ nội
dung phù hợp với nhu cầu của ngành nghề đào tạo
Xuất phát từ mục đích của giáo dục pháp luật là: trang bị tri thức phápluật; bồi dỡng tình cảm, tâm lý pháp luật; hớng dẫn hình thành thói quen xử sựtích cực theo pháp luật do đó nội dung giáo dục pháp luật bao gồm một phạm
vi tơng đối rộng đó là:
- Các thông tin về pháp luật, bao gồm cả kiến thức pháp luật cơ bản và
văn bản pháp luật thực định
- Các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp
luật và tội phạm, về việc điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật
- Các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học về thực hiện,
áp dụng pháp luật, về vị trí, tác động của từng văn bản pháp luật đối với đờisống kinh tế - xã hội, đối với từng đối tợng, đồng thời phảm ánh những nhucầu, yêu cầu, đề xuất của các tầng lớp dân c, các chuyên gia pháp luật và cácngành khác về việc thực hiện pháp luật
Nh vậy, phạm vi của nội dung giáo dục pháp luật trong nhà trờng đợc đavào chơng trình chính khóa ở phần cứng chủ yếu là những tri thức lý luận cơbản và những tri thức pháp luật thực định Do đó, ở phần mềm phải chú ý utiên đa vào các thông tin về thực tiễn pháp luật Đồng thời phải kết hợp giáo
Trang 33dục pháp luật trong nhà trờng với các hình thức, phơng tiện, phơng pháp giáodục pháp luật khác.
Nội dung giáo dục pháp luật với phơng diện là tri thức khoa học, chúng
ta có thể phân ra thành các cấp độ theo các yêu cầu sau:
Một là, yêu cầu tối thiểu về nội dung giáo dục pháp luật cho mọi công
dân (pháp luật phổ thông) Để mỗi công dân “sống và làm việc theo hiến pháp
và pháp luật”, Họ phải có những hiểu biết tối thiểu về pháp luật và những kỹnăng tối thiểu để sử dụng pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cũng
nh các nghĩa vụ của mình Những hiểu biết và kỹ năng đó chính là nội dungtối thiểu của giáo dục pháp luật phổ cập bao bồm:
- Một số thông tin cơ bản về bản chất, vai trò của nhà nớc và pháp luật
- Một số hiểu biết, thông tin cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nớc thực thi
pháp luật, đặc biệt là cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
- Các quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của công dân do hiến pháp và
một số đạo luật quy định
- Một số thủ tục, trình tự pháp lý để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp
và thực hiện các nghĩa vụ của công dân
Hai là, yêu cầu riêng về giáo dục pháp luật theo nhu cầu ngành nghề.
Mỗi công dân trong từng lĩnh vực hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội, lại cónhu cầu hiểu biết và kỹ năng sử dụng các phơng tiện pháp luật khác nhau ởmức độ cao hơn và mang tính định hớng nghề nghiệp rõ hơn Do đó, nội dunggiáo dục pháp luật ở cấp độ này cũng phải đợc mở rộng và chuyên sâu hơn sovới mức độ tối thiểu nội dung đó bao gồm:
- Một hệ thống những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý thờng gặp
trong thực tiễn (nh quy phạm pháp luật, hệ thống pháp luật, các nguồn và hìnhthức pháp luật, các quan hệ pháp luật … cho từng đối t)
- Một số văn bản pháp luật thực định liên quan đến lĩnh vực hoạt động và
vùng quan tâm của đối tợng
- Các quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân trong các lĩnh vực liên quan
đến hoạt động nghề nghiệp; quá trình tố tụng và vị trí của các chủ thể tố tụng
để thực hiện, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ đó
Ba là, yêu cầu về giáo dục pháp luật chuyên ngành cho những ngời hành
nghề pháp luật: Đây là cấp độ cao nhất của giáo dục pháp luật (đào tạo chuyên
Trang 34luật), bởi vì những hiểu biết và thái độ, tình cảm cũng nh kỹ năng sử dụngpháp luật của các luật gia, cán bộ pháp lý phải là chuẩn mực của ý thức vàhành vi tuân thủ pháp luật Tri thức pháp luật của đối tợng này gồm cả nhữngquan điểm, những học thuyết về nhà nớc và pháp luật trong lịch sử và hiện tại,hiểu biết tơng đối toàn diện về hệ thống pháp luật trong nớc và quốc tế tronglĩnh vực chuyên sâu của từng ngời (dân sự, hình sự, hành chính… cho từng đối t) Kỹ năngcủa họ không chỉ dừng ở việc tuân thủ mà chủ yếu là vận dụng chính xác, linhhoạt pháp luật vào các quan hệ pháp luật vào việc xử lý, giải quyết các tranhchấp, vi phạm pháp luật.
Trong ba mức độ trên về nội dung giáo dục pháp luật thì giáo dục phápluật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật đòi hỏi nội dung ở mức độ thứ nhất vàmức độ thứ hai Tuy nhiên, mức độ thứ nhất của nội dung giáo dục pháp luật ởcác trờng cao đẳng cũng cao hơn, sâu hơn ở các bậc học phổ thông Đặc điểmnày đợc tính đến trong việc thiết kế chơng trình giáo dục pháp luật trong hệthống giáo dục quốc dân để đảm bảo tính lu thông, kế thừa những tri thức cơbản, phổ thông và bảo đảm tính đặc thù những tri thức cơ sở của chuyênngành và tri thức chuyên ngành Những tri thức pháp luật cơ bản, phổ thông
có thể đa vào phần cứng của chơng trình ở tất cả các trờng cao đẳng và đa vàogiáo dục đại cơng cho tất cả các nhóm ngành đào tạo cao đẳng; còn những trithức pháp luật gắn với ngành nghề thì có thể đa vào phần mềm gắn với đào tạochuyên môn của các trờng cao đẳng
CHƠNG TRìNH GIáO DụC PHáP LUậT TRONG CáC TRƯờNGCAO ĐẳNG Kỹ Thuật
Giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật bắt đầu từ đâu?gồm những nội dung gì? câu hỏi này chính là câu hỏi về chơng trình giáo dụcpháp luật Trả lời câu hỏi đó là giải đáp chơng trình giáo dục pháp luật nh thếnào?
2.1.1 Chơng trình giáo dục cao đẳng
Chơng trình giáo dục
Có những quan niệm khác nhau về chơng trình giáo dục (đào tạo), dới
đây xin giới thiệu một số quan niệm
- Quan niệm về chơng trình đào tạo của các nớc xã hội chủ nghĩa trớc
đây thuộc khối Hội đồng Tơng trợ kinh tế (SEV):
Trang 35Các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây thuộc khối Hội đồng Tơng trợ kinh tế
quan niệm chơng trình giáo dục (đào tạo) là văn kiện tiêu chuẩn quốc gia quy
định nội dung cơ bản về đào tạo các chuyên gia cũng nh trình độ chuyên môn.
Văn kiện đó bao gồm bảng liệt kê các môn học cùng với khối lợng củachúng, trình tự và thời gian đào tạo, đồng thời chỉ ra các loại hình đào tạo vàmối quan hệ giữa các loại hình đó với nhau
- Quan niệm về chơng trình đào tạo của Tim Wentling (1993):
Tim Wentling quan niệm chơng trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm)
Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ
ra những gì ta có thể trông đợi ở ngời học sau khóa học, nó phác họa ra quytrình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho ta biết các phơngpháp đào tạo và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cảnhững cái đó đợc sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ
Tóm lại, chơng trình giáo dục trong nhà trờng là văn kiện do nhà nớc ban hành, trong đó quy định một cách cụ thể: mục đích, các nhiệm vụ của môn học; phạm vi và hệ thống nội dung môn học; số tiết dành cho môn học nói chung cũng nh cho từng phần, từng chơng, từng bài nói riêng
Theo Luật Giáo dục, chơng trình giáo dục phải thể hiện mục tiêu giáodục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dunggiáo dục đại học, phơng pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả
đào tạo đối với các môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đạihọc; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chơng trình giáo dục khác
Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trên cơ sở thẩm định của Hội đồngquốc gia thẩm định ngành về chơng trình giáo dục đại học, đã quy định chơngtrình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại họcgồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian
đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập Căn cứ vàochơng trình khung, trờng cao đẳng, trờng đại học xác định chơng trình giáodục của trờng mình
Chơng trình giáo dục phải đảm bảo tính hiện đại, tính ổn định, tính thốngnhất, kế thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và tạo điều kiện cho sựphân luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và
Trang 36hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Chơng trình giáo dục
đ-ợc tổ chức thực hiện theo năm học hoặc theo hình thức tích luỹ tín chỉ đối vớigiáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học
- Quan niệm về chơng trình khung.
Theo “The Facts on File Dictionary of Education”- J.M Shafritz, 1988,
chơng trình khung là những quy định chung về nội dung đào tạo cho tất cả các sinh viên thuộc một ngành học cụ thể.
- Quan niệm về khung chơng trình và chơng trình khung (Việt Nam theo tinh thần của Luật Giáo dục)
Khung chơng trình (Curriculum Framework) là văn bản nhà nớc quy
định khối lợng tối thiểu và cơ cấu kiến thức cho các chơng trình đào tạo.Khung chơng trình xác định sự khác biệt về chơng trình tơng ứng với các trình
độ đào tạo khác nhau
Chơng trình khung (Core Curriculum, Curriculum Standard) là văn bản
nhà nớc ban hành cho từng ngành đào tạo cụ thể, trong đó quy định cơ cấu nộidung môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các mônhọc cơ bản và chuyên môn; giữa lý thuyết với thực hành, thực tập Nó baogồm khung chơng trình cùng với nội dung cốt lõi, chuẩn mực, tơng đối ổn
định theo thời gian và bắt buộc phải có trong chơng trình đào tạo của tất cảcác trờng đại học hoặc cao đẳng
Căn cứ vào chơng trình khung, trờng cao đẳng, trờng đại học xác địnhchơng trình đào tạo của trờng mình Khác với chơng trình khung, một chơngtrình đào tạo có thể hàm chứa kiến thức từ một ngành hoặc từ một số ngành
đào tạo
Vậy chơng trình giáo dục pháp luật trong trờng cao đẳng là những yếu tốcơ bản trong chơng trình giảng dạy, là mục đích và mục tiêu đợc xác định,kinh nghiệm đào tạo đợc kế hoạch hóa và định hớng, kết quả đợc mong đợitrong đào tạo, phơng pháp, học liệu và đánh giá quá trình dạy và học phù hợpvới đối tợng giáo dục và thời gian để giáo dục có hệ thống thờng xuyên lênnhận thức của con ngời nhằm trang bị cho sinh viên một trình độ kiến thứcpháp lý để từ đó hình thành ở họ tình cảm, lòng tin và hành vi xử sự phù hợpvới pháp luật
Trang 37Tiểu kết luận chơng 1
Chơng 1 xác định những nội dung chính sau đây là cơ sở lý luận nhằmbàn về hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹthuật
- Mục đích, vị trí, đặc điểm và vai trò của giáo dục cao đẳng, bao gồm
cao đẳng kỹ thuật ở nớc ta
- Một số nội dung lý luận về giáo dục nói chung và giáo dục pháp luật
nói riêng
- Một số nội dung về giáo dục pháp luật và giáo dục pháp luật trong hệ
thống các trờng cao đẳng kỹ thuật nói riêng, trong đó xác định rõ: giáo dụcpháp luật cần đợc hiểu trong mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện kháchquan và nhân tố chủ quan Giáo dục pháp luật là một dạng giáo dục nhng cómục đích, đối tợng, chủ thể, nội dung, hình thức giáo dục riêng
- Khái niệm về chơng trình giáo dục làm tiền đề để bàn về hoàn thiện
ch-ơng trình giáo dục pháp luật trong các trờng cao đẳng kỹ thuật
Hoàn thiện chơng trình giáo dục pháp luật nhằm hình thành, làm sâu sắcthêm và từng bớc thực hiện chơng trình giáo dục theo hớng định chuẩn mộtcách thống nhất
Trang 38Chơng 3
THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRèNH GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Quá trình hình thành và phát triển nội dung chơngtrình giáo dục pháp luật
Việc đa môn học giáo dục công dân và môn học pháp luật vào giảng dạy
và học tập trong nhà trờng đã đợc xã hội và nhà trờng đón nhận một cách tíchcực Trong gần 20 năm qua, giáo dục pháp luật trong nhà trờng đã đạt đợcnhững kết quả đáng ghi nhận Môn học này đợc triển khai thông qua chơngtrình chính khóa Nội dung chơng trình đợc xây dựng một cách có hệ thống,
đảm bảo lợng tri thức nhất định về pháp luật mang tính phổ thông, cơ bản,thiết yếu, tơng đối phù hợp với thời gian và mục tiêu đào tạo của từng loại đốitợng học sinh, sinh viên, bảo đảm tính liên thông, kế thừa và phát triển về mọimặt tri thức giữa các cấp học, bậc học
Chơng 4 Về chơng trình giáo dục pháp luật trong trờng phổ thông
ở Cấp tiểu học: hiện nay trong chơng trình cha có bài riêng về pháp luật,
nhng một số kiến thức pháp luật đã đợc lồng ghép trong môn đạo đức ở cáclớp, nhằm cung cấp dần hiểu biết sơ đẳng, hình thành thái độ tình cảm, ý thứctôn trọng pháp luật, ý thức cộng đồng, trách nhiệm, bổn phận công dân vànhững vấn đề liên quan đến trẻ em
Trong năm học 1997-1998, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thí điểm đa chơngtrình giáo dục Công ớc quốc tế về quyền trẻ em, Luật Bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục trẻ em vào một số quận huyện thuộc 7 tỉnh làm thí điểm, phối hợpvới Ban Chỉ đạo an toàn giao thông viết tài liệu Giáo dục an toàn giao thôngcho cấp tiểu học, đồng thời phát động các phong trào thi đua có nội dung giáodục pháp luật cho học sinh
Trang 39ở Cấp trung học cơ sở: từ năm học 1987-1988, chơng trình giáo dục
pháp luật đợc đa vào trờng học bằng cách lồng ghép, tích hợp vào một số mônliền kề nh Đạo đức, Giáo dục công dân… cho từng đối t
Đến nay đã xây dựng chơng trình, biên soạn xong bộ tài liệu (sách giáokhoa), tài liệu tham khảo và tài liệu hớng dẫn giáo viên môn “Giáo dục côngdân” từ lớp 6 đến lớp 12
Từ năm 1992-1993, chơng trình và tài liệu môn Giáo dục công dân ở cáclớp trung học cơ sở đợc sửa đổi theo hớng:
và chức năng quản lý của các cơ quan Nhà nớc
Nội dung chơng trình so với mục tiêu, yêu cầu môn học đã đề ra là hợp
lý, tuy nhiên trong tình hình hiện nay có nhiều điểm cần nghiên cứu sửa đổi,
bổ sung cho cập nhật với văn bản pháp luật mới hiện hành và trách quá tải vềnội dung
ở Cấp phổ thông trung học: từ năm học 1992-1993, môn Giáo dục công
dân đợc giảng dạy theo chơng trình thống nhất ở các trờng phổ thông trunghọc, trong đó phần pháp luật đợc phân bổ ở học kỳ II lớp 12
Năm 1995, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thí điểm chơng trìnhTrung học chuyên ban, hai Bộ T pháp, Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp xâydựng chơng trình và biên soạn sách giáo khoa môn Giáo dục công dân (dànhcho các lớp trung học chuyên ban) trong đó có phần pháp luật đợc dạy ở cảnăm lớp 12 (chuyên ban) Hiện nay vẫn tồn tại song song hai chơng trình Giáodục công dân 12 (đại trà) và Giáo dục công dân 12 (chuyên ban)
Về cấu trúc nội dung chơng trình Giáo dục công dân lớp 12 đại trà:
Trang 40Có 12 bài, học trong 22 tiết, gồm những vấn đề: Nhà nớc quản lý xã hộibằng pháp luật, giới thiệu một số ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luậtViệt Nam, trong đó đi sâu vào các nội dung có liên quan đến học sinh phổthông nh Luật Dân sự và Hợp đồng dân sự, Luật Lao động và Hợp đồng lao
động, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Tố tụngdân sự, Tố tụng hình sự Chơng trình này biên soạn đã lâu và cha sửa đổi bổsung cho nên có một số nội dung không còn phù hợp, cha cập nhật với các vănbản pháp luật hiện hành
Về cấu trúc và nội dung chơng trình Giáo dục công dân lớp 12 chuyên ban:
Nội dung chơng trình giáo dục pháp luật đợc học trong cả năm, gồm 12bài, học trong 30 tiết chia thành hai phần: [5]
- Phần lý luận chung về pháp luật, giới thiệu về pháp luật và đời sống, hệ
thống pháp luật, quan hệ pháp luật
- Phần pháp luật cụ thể giới thiệu một số ngành luật trong hệ thống pháp
luật nớc ta dới dạng quyền và nghĩa vụ công dân đặc trng, điển hình của mỗingành luật, văn bản luật có liên quan nhiều đến học sinh nh: quyền và nghĩa
vụ lao động, quyền sở hữu, quyền thừa kế, hợp đồng dân sự, quyền kinh doanh
và nghĩa vụ đóng thuế, quyền và nghĩa vụ công dân về đất đai
Chơng 5 Đối với hệ Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
Từ đầu những năm 1990, giáo dục pháp luật đã đợc đa vào giảng dạytrong các trờng Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, song chơng trình mớichỉ đợc giới hạn ở một số bài đợc lồng ghép trong các chơng trình giáo dụcchính trị hoặc chơng trình học chuyên ngành
Từ 1994, do yêu cầu tăng cờng pháp luật trong nhà trờng đòi hỏi bảo
đảm giảng dạy theo đúng tinh thần vào nội dung Hiến pháp, pháp luật củaNhà nớc, Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật - Bộ T pháp phối hợp với Vụ Trunghọc chuyên nghiệp và dạy nghề - Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức xây dựngchơng trình môn học và biên soạn tập bài giảng pháp luật dành cho các trờngtrung học chuyên nghiệp và dạy nghề
Ngày 14/5/1996, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quyết định số
2080 về việc tổ chức giảng dạy và học tập môn học pháp luật trong các trờngtrung học chuyên nghiệp và dạy nghề, kèm theo chơng trình môn học phápluật (phần phổ cập) Chơng trình gồm 14 bài, thời lợng 35 tiết, đợc thực hiện
từ năm học 1996-1997 cấu trúc chơng trình có hai phần: