1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

101 762 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn Thạc sĩ Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
Người hướng dẫn Người hướng dẫn: PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 291,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lý luận thực tiễn đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

Trang 1

1.1 Sự hình thành cơ quan Viện kiểm sát nhân dân và vị trí, vai trò

của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách t pháp

2.3 Tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân theo qui định của Hiến

pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân

dân năm 2002 và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay

3.2 Phơng hớng đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng

yêu cầu cải cách t pháp

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trớc nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nớc, trớc yêu cầu xây dựng Nhànớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nớc và để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chốngtội phạm ở nớc ta trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải đổi mới tổ chức vàhoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong đó việc đổi mới tổ chức vàhoạt động của Viện kiểm sát nhân dân là một nội dung quan trọng đợc thểhiện trong nhiều nghị quyết của Đảng về cải cách t pháp Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm côngtác t pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ: Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốtchức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tronghoạt động t pháp Hoạt động công tố phải đợc thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ

án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và

ng-ời phạm tội, không làm oan ngng-ời vô tội Nâng cao chất lợng công tố của kiểmsát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với luật s, ngời bào chữa và nhữngngời tham gia tố tụng khác

Thực hiện các nghị quyết của Đảng, các cơ quan t pháp, trong đó cóViện kiểm sát nhân dân đã nhanh chóng tổng kết lý luận và thực tiễn hoạt

động, triển khai các biện pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của mình Bêncạnh những kết quả đã đạt đợc, cải cách t pháp còn chậm và kết quả cha đầy

đủ so với yêu cầu và thực tiễn đặt ra Mặt khác, trong các nghị quyết trên của

Đảng tuy đã đề ra khá nhiều giải pháp cải cách t pháp nhng vẫn cha đề cập

đầy đủ, cha toàn diện những vấn đề cơ bản về cải cách t pháp, so với yêu cầu

và trớc tình hình mới, nhiều vấn đề đang đặt ra trong cải cách t pháp, trong đó

có nội dung đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

Trang 3

Ngày 24 tháng 5 năm 2005, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ơng

Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lợcxây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hớng

đến năm 2020, trong đó có nội dung: "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổchức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hớng bảo đảm thực hiện tốt chứcnăng công tố, kiểm sát hoạt động t pháp Nghiên cứu hớng tới chuyển thànhViện công tố" [13]

Tiếp đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trịBan Chấp hành Trung ơng Đảng về chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020,trong đó xác định nhiều nội dung về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơquan t pháp, về Viện kiểm sát nhân dân, Nghị quyết nêu rõ:

Trớc mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng nhhiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động t pháp.Viện kiểm sát nhân dân đợc tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chứccủa Tòa án Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công

tố, tăng cờng trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra [14] Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộngsản Việt Nam cũng đã nêu rõ:

Xây dựng hệ thống cơ quan t pháp trong sạch, vững mạnh,dân chủ nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con ngời Đẩy mạnhviệc thực hiện Chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020 Cải cách tpháp khẩn trơng, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọngtâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra Xây dựngcơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lậppháp, hành pháp và t pháp [15]

Nh vậy, cả hai nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị và Văn kiện Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định

Trang 4

Viện kiểm sát nhân dân phải tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động để đápứng yêu cầu cải cách t pháp Do đó, Viện kiểm sát nhân dân phải chủ độngchuẩn bị tất cả các điều kiện để thực hiện thành công việc đổi mới tổ chức vàhoạt động phù hợp với tiến trình cải cách t pháp Đến đây, hàng loạt vấn đề về

lý luận và thực tiễn đợc đặt ra khi đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểmsát nhân dân đòi hỏi cần phải đợc quan tâm nghiên cứu

Với lý do nêu trên, học viên đã chọn đề tài: "Cơ sở lý luận và thực tiễn

đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp ở Việt Nam" để viết luận văn thạc sĩ luật chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà n-

ớc và pháp luật là vấn đề có tính thời sự, cần thiết và cấp bách

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu khoahọc, các bài viết trên các tạp chí liên quan đến nội dung tổ chức và hoạt độngcủa Viện kiểm sát nhân dân Có thể phân loại thành hai nhóm sau:

- Nhóm thứ nhất: Những công trình là các đề tài khoa học cấp Nhà

n-ớc, cấp bộ, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, sách chuyên khảo nghiên cứu

về hệ thống t pháp Việt Nam có liên quan đến Viện kiểm sát nhân dân nh: Đề

tài khoa học cấp Nhà nớc: "Cải cách hệ thống t pháp Việt Nam"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan t pháp"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam hiện nay"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Nâng cao chất lợng kiểm sát hoạt động t pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong các công tác kiểm sát hình sự"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Những giải pháp xây dựng đội ngũ kiểm sát viên cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp hiện nay"; Đề tài khoa học cấp bộ: "Nâng cao chất lợng tranh tụng tại phiên tòa hình sự";

Đề tài khoa học cấp bộ: "Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách t pháp"; Luận án tiến sĩ luật học: "Quyền công tố ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ

Trang 5

luật học: "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân ở giai

đoạn hiện nay"; Sách tham khảo: "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp trong giai đoạn điều tra"….

Liên quan đến nhóm này còn có kỷ yếu các cuộc hội thảo về lịch sửngành Kiểm sát nhân dân, hội thảo về Viện công tố một số nớc trên thế giới

do Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức

- Nhóm thứ hai: Là các bài viết có liên quan đến nội dung đổi mới tổ

chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đợc đăng trên các tạp chí

chuyên ngành: "Những chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta về cải cách t pháp

và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ đổi mới" của tác giả Khuất Văn Nga; "Bàn về tổ chức quyền t pháp - nội dung cơ bản của chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020" của tác giả Lê Cảm; "Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp" của tác giả Phạm Hồng Hải,

"Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách t pháp ở nớc ta hiện nay"

của tác giả Đỗ Văn Đơng…

Tuy vậy, các công trình, bài viết trên chủ yếu đi sâu vào lĩnh vực nghiêncứu chung nhất về tổ chức quyền lực nhà nớc, nghiên cứu theo từng lĩnh vựcnghiệp vụ chuyên ngành hoặc đợc nghiên cứu dới góc độ của luật nhà nớc,luật hình sự và tố tụng hình sự hoặc có công trình nghiên cứu tuy có trực tiếp

đề cập đến vấn đề này nhng do thời điểm nghiên cứu đã lâu nên không cậpnhật đợc những vấn đề đang đặt ra trong lí luận và thực tiễn hiện nay, do đónội dung không còn mang tính thời sự nữa Vấn đề đổi mới về cơ bản tổ chứcViện kiểm sát nhân dân theo hớng chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tốmới chính thức đợc đặt vấn đề khi Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số49-NQ/TW của Bộ Chính trị đợc ban hành vào giữa năm 2005 và mới đợc ghinhận trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sảnViệt Nam vào đầu năm 2006 Vì vậy, đến nay, cha có công trình khoa học nào

Trang 6

nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về vấn đề này đợc chính thứccông bố.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích nghiên cứu của luận văn là dới góc độ lý luận và lịch sửnhà nớc và pháp luật làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Việnkiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp

- Nhiệm vụ của luận văn:

+ Qua phân tích những cơ sở lý luận cơ bản nhất về tổ chức quyền lực

nhà nớc, quyền t pháp để làm rõ sự hình thành, vị trí, vai trò của Viện kiểm sátnhân dân trong bộ máy nhà nớc; các quan điểm về đổi mới tổ chức Viện kiểmsát nhân dân; yêu cầu của cải cách t pháp đối với đổi mới tổ chức Viện kiểmsát nhân dân

+ Làm rõ thực trạng đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở ViệtNam để làm cơ sở thực tiễn cho việc đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

+ Đề xuất những phơng hớng cơ bản cho việc đổi mới và hoàn thiện tổchức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nớc và phápluật, luận văn tập trung phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổchức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp, nên đối tợngnghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chứcViện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam, đặc biệt là có tham khảo các qui định vềViện kiểm sát và Viện công tố của một số nớc trên thế giới

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề có liên quan đếncác t tởng, quan điểm, những qui định của pháp luật liên quan đến quá trìnhhình thành, phát triển và đổi mới Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam từ

Trang 7

năm 1945 đến nay; luận văn này chỉ nghiên cứu về tổ chức của Viện kiểmsát nhân dân, không nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sátquân sự.

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở lý luận và phơng pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, đờng lối quan điểm của Đảng và Nhànớc ta về lý luận và lịch sử nhà nớc và pháp luật, về đổi mới tổ chức Việnkiểm sát nhân dân trong điều kiện cải cách t pháp; những thành tựu của khoahọc pháp lý trên thế giới

Dựa trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử; các phơng pháp đợc sử dụng là các phơng phápnghiên cứu truyền thống của khoa học xã hội, phơng pháp kết hợp giữa lý luận

và thực tiễn, phơng pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể; đồng thời cũng

sử dụng kết hợp các phơng pháp luật học so sánh, phơng pháp lý thuyết hệthống, phơng pháp thống kê

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn có những điểm mới là:

Phân tích và làm rõ đợc cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức Việnkiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp ở Việt Nam hiện nay; làmsáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của Việnkiểm sát và Viện công tố của một số nớc trên thế giới

Đề xuất phơng hớng cơ bản về đổi mới và hoàn thiện tổ chức Việnkiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp, đặc biệt là luận văn đãmạnh dạn đa ra mô hình tổ chức của Viện công tố Việt Nam trong tơng lai

7 ý nghĩa của luận văn

Trang 8

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ về lý luận cũng

nh thực tiễn trong quá trình đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứngyêu cầu cải cách t pháp

Luận văn có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà khoahọc, những ngời làm thực tiễn; đồng thời có thể đợc sử dụng cho việc nghiêncứu, giảng dạy cho các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chơng 9 tiết

Trang 9

Chơng 1

Cơ sở lý luận tiếp tục đổi mới

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

1.1 Sự hình thành cơ quan Viện kiểm sát nhân dân và vị

trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải

đầu thành lập nớc, hệ thống cơ quan t pháp đợc tổ chức rất đa dạng, linh hoạtphục vụ nhiệm vụ cách mạng Chức năng công tố nhà nớc đợc giao cho nhiềucơ quan đảm nhiệm nh cơ quan Tòa án, Chính phủ, ủy ban kháng chiến, Banthanh tra của Chính phủ

Tổ chức và hoạt động của cơ quan t pháp lần đầu tiên đợc quy định tạiSắc lệnh số 33c ngày 13 tháng 9 năm 1945, đây cũng là cơ sở pháp lý đầu tiên

đánh dấu sự ra đời của hệ thống Tòa án trong bộ máy nhà nớc ta, là vũ khí tpháp sắc bén bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân Theo qui định của Sắc lệnhnày, Tòa án quân sự ra đời có chức năng: Xét xử tất cả những ngời nào phạmvào một việc gì có phơng hại đến nền độc lập của nớc Việt Nam dân chủ cộng

Trang 10

hòa, trừ những ngời phạm tội là những binh sĩ thì thuộc thẩm quyền xét xử củanhà binh theo quân luật Về chức năng công tố đợc quy định rõ tại Điều 5 Sắclệnh 33c nh sau: Đứng buộc là một ủy viên quân sự hay một ủy viên của Bantrinh sát Nh vậy, lần đầu tiên, chức năng công tố nhà nớc đợc quy định trongmột văn bản pháp lý Lúc này, Tòa án quân sự đợc thành lập ở cả ba miền Bắc,Trung, Nam là Tòa án đầu tiên có sự hiện diện của tổ chức Công tố và hoạt

động thực hành quyền công tố Nội dung của quyền thực hành quyền công tốtheo quy định của Sắc lệnh này là đa một ngời phạm tội ra xét xử tại Tòa án vàthực hiện sự buộc tội trớc Tòa án

Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hànhSắc lệnh số 64 thành lập Tòa án đặc biệt tại Hà Nội để xét xử những ngời lànhân viên của ủy ban nhân dân, các cơ quan của Chính phủ phạm tội Theoquy định của Sắc lệnh này, chức năng công tố nhà nớc đợc giao cho Ban thanhtra đặc biệt do Chính phủ thành lập đảm nhiệm Cụ thể là Ban thanh tra đặcbiệt có nhiệm vụ giám sát công việc và nhân viên của ủy ban nhân dân và cáccơ quan của Chính phủ, có quyền điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ, đình chỉchức vụ, bắt giam bất cứ nhân viên nào của ủy ban nhân dân hoặc nhân viêncủa Chính phủ phạm tội, lập hồ sơ truy tố ra Tòa án đặc biệt và thực hànhquyền công tố tại phiên tòa Thành phần Hội đồng xét xử của Tòa án đặc biệt

có Chủ tịch Chính phủ lâm thời làm Chánh án, Bộ trởng Bộ Nội vụ và Bộ ởng Bộ T pháp làm Hội thẩm, một ủy viên trong Ban thanh tra đặc biệt thựchiện chức năng thực hành quyền công tố, buộc tội tại phiên tòa

tr-Ngày 14 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắclệnh số 21 thay thế các sắc lệnh đã ban hành trớc đây về Tòa án quân sự, trong

đó quy định Bộ trởng Bộ T pháp và Chủ tịch ủy ban hành chính có quyền chỉ

định Công cáo ủy viên thực hành quyền công tố, buộc tội tại phiên tòa Nhvậy, về tổ chức, ngoài Chánh án và hai Hội thẩm là ủy viên quân sự và ủy viênchính trị đảm nhiệm, chức năng công tố do một Công cáo ủy viên thực hiện ở

Trang 11

Bắc Kỳ, Bộ trởng Bộ Nội vụ chỉ định Công cáo ủy viên, ở Trung Kỳ và Nam

Kỳ thì do Chởng lý Tòa thợng thẩm hoặc Chủ tịch ủy ban hành chính chỉ định

ủy viên Chính phủ ngồi ghế Công cáo ủy viên ủy viên Chính phủ ngồi ghếCông cáo ủy viên có thể lấy trong quân đội, trong Ban trinh sát hay trong sốcác Thẩm phán chuyên nghiệp Các Công cáo ủy viên trực tiếp đặt dới quyềngiám sát của Bộ trởng Bộ T pháp hay Bộ trởng Bộ Nội vụ ở Trung Kỳ vàNam Kỳ thì do Chởng lý Tòa thợng thẩm và Chủ tịch ủy ban hành chính giámsát

Trong bối cảnh vừa giành đợc độc lập, việc thiết lập các cơ quan trong

bộ máy nhà nớc là yêu cầu rất cấp thiết của chính quyền cách mạng dân chủnhân dân, đặc biệt là các cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo đảm trật

tự xã hội Bên cạnh việc thiết lập hệ thống Tòa án quân sự và Tòa án binh đểxét xử những tội phạm phản cách mạng, những tội vi phạm trật tự quân đội, viphạm kỷ luật của nhà binh, cần thiết phải thiết lập hệ thống Tòa án thờng đểxét xử các tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ nhà nớc và bảo vệ nhân dân.Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 24 tháng 1 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ lâmthời ban hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩmphán (trong đó có Thẩm phán buộc tội) Theo quy định của Sắc lệnh này thìTòa án thờng đợc tổ chức ở ba cấp là Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp và Tòathợng thẩm Tổ chức và hoạt động của cơ quan Công tố chỉ đợc thành lập ởTòa đệ nhị cấp và Tòa thợng thẩm, không tổ chức thành phần Công tố trongTòa án sơ cấp vì thẩm quyền của cấp Tòa án này rất hạn chế Chủ thể thựchiện quyền công tố trong hệ thống Tòa án thờng đợc quy định là các Thẩmphán buộc tội thuộc Tòa án

Mặc dù, tổ chức của cơ quan Công tố đợc đặt trong hệ thống Tòa án,cả Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử và Thẩm phán thực hiện nhiệm vụcông tố đều gọi chung là Thẩm phán, đều chịu sự quản lý về mặt nhân sự của

Bộ T pháp, nhng trong hoạt động của mình, Thẩm phán buộc tội (công tố

Trang 12

viên) độc lập với Thẩm phán xét xử ở Tòa đệ nhị cấp, Thẩm phán buộc tội do

ông Chởng lý đứng đầu ở Tòa thợng thẩm, tất cả các Thẩm phán buộc tội họpthành một đoàn thể độc lập đối với các Thẩm phán xét xử và duy nhất đặt dớiquyền chỉ đạo của Chởng lý, Chởng lý hoàn toàn giữ quyền truy tố các vụ án.Mối quan hệ độc lập này càng đợc khẳng định rõ tại Sắc lệnh số 51 ngày 17tháng 4 năm 1946 Điều 17 Sắc lệnh này có quy định: Ông Chánh án có quyền

điều khiển và kiểm soát tất cả nhân viên khác trong Tòa án, trừ các Thẩmphán buộc tội

Ngày 20 tháng 7 năm 1946, Sắc lệnh số 131 đợc ban hành quy định về

tổ chức T pháp Công an, trong đó xác định rõ mối quan hệ giữa Công tố với Tpháp Công an nh sau: Công tố có trách nhiệm phụ trách T pháp Công an vàcác cơ quan đợc giao nhiệm vụ điều tra, T pháp Công an đặt dới quyền kiểmsoát trực tiếp của Chởng lý, Biện lý Biện lý có quyền ra chỉ thị và kiểm soátcông việc của tất cả ủy viên T pháp Công an Việc bổ nhiệm, thăng thởng và

xử phạt hành chính những ủy viên T pháp Công an phải trên cơ sở ý kiến

vụ án

Ngày 19 tháng 11 năm 1948, Chủ tịch Chính phủ ban hành Sắc lệnh số254/SL thành lập chính quyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến Theo đógiao cho ủy ban kháng chiến hành chính liên khu đợc sử dụng quyền công tốtại Tòa án đặt dới quyền công tố tại các Tòa án thờng và Tòa án quân sự, sau

Trang 13

khi hỏi ý kiến ông Giám đốc T pháp liên khu Quyền công tố này thấp hơnquyền công tố của Bộ trởng Bộ Nội vụ, Bộ trởng Bộ T pháp và Chởng lý.

Nh vậy, trong thời kỳ này, tổ chức của cơ quan Công tố chủ yếu gắnvới tổ chức của cơ quan Tòa án, nằm trong tổ chức của cơ quan Tòa án, song

vị trí và hoạt động của cơ quan Công tố độc lập so với tổ chức và hoạt độngcủa Tòa án

Vào những năm 1950, kết quả của cuộc cải cải t pháp lúc bấy giờ có

ảnh hởng quan trọng tới hoạt động cơ quan Công tố Về vị trí của cơ quanCông tố và những chủ thể đợc giao thực hiện quyền công tố nhà nớc so với cácquy định đợc ban hành trớc cuộc cải cách t pháp năm 1950 về cơ bản khôngthay đổi, quyền công tố nhà nớc vẫn đợc giao cho nhiều cơ quan trong bộ máynhà nớc thực hiện Tuy nhiên, kết quả cuộc cải cách t pháp năm 1950 đã ảnhhởng tới việc quy định thẩm quyền của cơ quan Công tố trong các văn bảnpháp luật của nhà nớc

Sau cuộc cải cách t pháp năm 1950, tổ chức và hoạt động của các cơquan t pháp đợc đổi mới và chấn chỉnh một bớc, những kết quả cải cách đãgóp phần tăng cờng hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này Song tổchức các cơ quan t pháp trên thực tế còn cha phù hợp, chất lợng hoạt động củacác cơ quan t pháp cha đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đề ra, sự chỉ đạo của ủyban hành chính đối với các cơ quan t pháp còn lỏng lẻo Nhận thức rõ tìnhhình đó, Chính phủ tiếp tục ban hành các văn bản pháp luật để kiện toàn cáccơ quan t pháp, tăng cờng chỉ đạo công tác t pháp nh các Thông t số 772/TTgngày 15 tháng 5 năm 1956, Thông t số 314/TTg ngày 19 tháng 7 năm 1957của Thủ tớng Chính phủ Đặc biệt, ngày 5 tháng 12 năm 1957, Bộ T pháp raThông t số 141/HCTP quy định về phân công nội bộ trong các Tòa án Theoquy định của Thông t thì Tòa án có Chánh án và Công tố ủy viên, ở những nơinhiều việc có thể có Phó Chánh án, Phó Công tố ủy viên và Thẩm phán.Chánh án và Công tố ủy viên có nhiệm vụ độc lập và đều là Thủ trởng cơ

Trang 14

quan Thông t này có giá trị rất quan trọng, đặt nền móng cho việc thành lậpViện công tố độc lập, tách ra khỏi Tòa án.

Trong điều kiện đất nớc có chiến tranh, việc tổ chức bộ máy nhà nớcnói chung và bộ máy các cơ quan t pháp nói riêng linh hoạt nh trong thời kỳ

đầu về cơ bản là phù hợp với điều kiện của nớc ta Tuy nhiên, sau năm 1954,khi hòa bình đợc lập lại ở miền Bắc, nớc ta thực hiện đồng thời hai cuộc cáchmạng, cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng xã hội chủnghĩa ở Bắc, việc tiếp tục tổ chức bộ máy cơ quan t pháp nh giai đoạn trớc đây

tỏ ra không còn phù hợp Các cấp Tòa án vẫn đợc đặt dới sự lãnh đạo của Bộ

T pháp, cơ quan Công tố vẫn đặt trong Tòa án, trong mỗi Tòa án vẫn còn tìnhtrạng cả Chánh án và ủy viên công tố cùng là lãnh đạo cơ quan, có quyền hạn

độc lập nhau, chức năng công tố vẫn đợc giao cho nhiều cơ quan đảm nhận,thủ tục t pháp còn quá sơ sài Trong khi đó vào những năm 1957-1958, ngành

t pháp đã có sự trởng thành nhất định cả về số lợng và chất lợng, việc tiếp tục

tổ chức các cơ quan t pháp nh hiện thời không bảo đảm để xây dựng và duy trìmột nền t pháp dân chủ, vững mạnh

Trớc sự chuyển biến của tình hình cách mạng, trớc yêu cầu tăng cờngpháp chế, trớc sự trởng thành của các cơ quan t pháp đòi hỏi phải có sự đổimới căn bản, sâu sắc về tổ chức và hoạt động của các cơ quan t pháp trong đó

có cơ quan Công tố để bảo đảm việc trừng trị bọn phản cách mạng và bọnphạm tội khác đợc kịp thời, đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật cần phảithành lập một tổ chức cơ quan Công tố từ trung ơng đến địa phơng

Tại phiên họp ngày 29 tháng 4 năm 1958, Quốc hội nớc Việt Nam dânchủ cộng hòa đã thông qua Đề án tăng cờng thêm một bớc Chính phủ và bộmáy nhà nớc ở cấp trung ơng, trong đó có nội dung thành lập Tòa án tối cao

và hệ thống Tòa án; thành lập Viện công tố trung ơng và hệ thống Viện công

tố, cả hai cơ quan này tách khỏi Bộ T pháp Theo đó, Viện công tố trung ơng

có quyền hạn và trách nhiệm ngang một bộ và trực thuộc Hội đồng Chính phủ

Trang 15

Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử phát triển của nền t pháp cách mạngViệt Nam, là cơ sở cho việc tiến hành cải cách t pháp một cách sâu rộng chonhững năm tiếp theo.

Ngày 1 tháng 7 năm 1959, Thủ tớng Chính phủ ban hành Nghị định số256-TTg quy định về tổ chức và nhiệm vụ của Viện công tố Đây là căn cứpháp lý quan trọng cho việc thiết lập hệ thống Viện công tố độc lập Chấm dứt

sự phân công cho nhiều cơ quan trong bộ máy nhà nớc cùng thực hiện quyềncông tố nhà nớc, tập trung việc thực hiện quyền công tố nhà nớc vào một cơquan duy nhất đó là Viện công tố trung ơng và hệ thống Viện công tố Sự ra

đời của hệ thống Viện công tố độc lập, trực thuộc Hội đồng Chính phủ trongthời kỳ này đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử cải cách nền t phápcủa nớc nhà Đây là cơ sở quan trọng, đặt nền móng cho sự ra đời hệ thốngViện kiểm sát nhân dân sau này

Mặc dù đã tồn tại với t cách là một hệ thống cơ quan độc lập, tổ chức

và hoạt động của các Viện công tố địa phơng do Viện công tố trung ơng quản

lý và chỉ đạo nhng trên thực tế, các Viện công tố địa phơng vẫn phải chịu sựlãnh đạo và có trách nhiệm báo cáo tình hình công tác với ủy ban hành chínhcùng cấp Cơ chế lãnh đạo "song trùng trực thuộc"này là cần thiết trong hoàncảnh kháng chiến trớc đây, nhng trong tình hình mới đã tỏ ra không còn phùhợp nữa Thực tiễn lúc đó cho thấy ủy ban hành chính thờng có ảnh hởng rấtlớn và nhiều khi có ý kiến quyết định đối với việc truy tố, xét xử của các cơquan t pháp cùng cấp Kinh nghiệm từ các vụ án xét xử oan, sai trong thờigian này cho thấy nguyên nhân phổ biến bắt nguồn từ ý kiến lệch lạc mộtchiều giữa ủy ban hành chính đối với các cơ quan Công an, Công tố và Tòa

án Trong cơ chế đó, rất khó cho Viện công tố duy trì sự độc lập khách quan,chế ớc và phát hiện sai lầm trong công tác điều tra, xét xử để điều chỉnh kịpthời Mặt khác, tổ chức cơ quan Công tố đợc thành lập năm 1958 cũng mới chỉ

là tổ chức của thời kỳ quá độ Tổ chức đó mới chỉ làm đợc một phần nhiệm vụ

Trang 16

của cơ quan kiểm sát là thực hành quyền công tố, còn phần quan trọng lànhiệm vụ giám sát việc tuân thủ pháp luật thì vẫn cha thực hiện đợc.

Theo quan điểm của V.I Lênin trình bày trong tác phẩm "Nguyên tắcsong trùng lãnh đạo và vấn đề pháp trị" thì tiến hành cách mạng xã hội chủnghĩa đòi hỏi phải có đợc pháp chế thống nhất Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất

đối với việc xây dựng chế độ pháp trị chính là sự can thiệp của địa phơng xuấtphát từ động cơ t lợi hoặc cục bộ địa phơng chủ nghĩa Vì vậy, việc áp dụngnguyên tắc "song trùng" lãnh đạo trong lĩnh vực pháp trị, theo đó cơ quanchuyên môn ở địa phơng phải đặt đồng thời dới sự lãnh đạo của cơ quan chủquản và ủy ban hành chính, là một sự sai lầm về mặt nguyên tắc Do đó, theoLênin, để đấu tranh có hiệu quả với chủ nghĩa cục bộ địa phơng thì phải thànhlập Viện kiểm sát Cũng theo Lê-nin, Viện kiểm sát có quyền và phận sự làmmột việc thôi: bảo đảm cho pháp trị đợc hiểu biết thống nhất và thông suốttrong toàn nớc cộng hòa, bất kể những đặc điểm của địa phơng và sự can thiệpcủa nhà chức trách địa phơng Để không ngừng thiết lập chế độ pháp trị, Lê-

nin cho rằng phải bác bỏ nguyên tắc "song trùng" lãnh đạo trong tổ chức của

Viện kiểm sát và qui định nguyên tắc Viện kiểm sát địa phơng chỉ đặt dới sựlãnh đạo của trung ơng Về thẩm quyền, Viện kiểm sát phải đợc quyền khángnghị bất cứ quyết định nào của cơ quan chức trách ở địa phơng khi có vi phạmpháp luật Tuy nhiên, Viện kiểm sát không có quyền đình chỉ việc thi hànhcác quyết định đó mà chỉ có quyền đa việc vi phạm pháp luật ra trớc Tòa ánxét xử Viện kiểm sát không trực tiếp hành xử một quyền hành chính nào cả

Đáp ứng những đòi hỏi khách quan của cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa và dựa trên cơ sở lý luận của Lênin và vận dụng kinh nghiệm quốc tế,

hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân đã đợc chính thức ra đời Ngày 31tháng 12 năm 1959, Quốc hội nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông quaHiến pháp năm 1959, với 10 chơng, 112 điều, trong đó Chơng VIII, từ Điều

105 đến Điều 109 qui định các nguyên tắc cơ bản cho việc thành lập hệ thống

Trang 17

Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam Theo Hiến pháp năm 1959, Viện kiểm sátnhân dân có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quanthuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nớc ở địa phơng, các nhân viên cơquan nhà nớc và công dân (Điều 105) Viện kiểm sát nhân dân các cấp chỉchịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và sự lãnh đạo thốngnhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 107) Viện kiểm sát nhân dântối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trớc Quốc hội, trong thời gianQuốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trớc ủy ban Th-ờng vụ Quốc hội (Điều 108)

Trên cơ sở các qui định của Hiến pháp năm 1959, ngày 26 tháng 7năm 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 đợc ban hành Luật

có 6 chơng, 25 điều, đã cụ thể hóa các qui định của Hiến pháp về chức năng,nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, hệthống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân đợc thành lập và triển khai tổ chức hoạt

có cơ quan Viện công tố và cơ quan này cũng không phải là một hệ thống độclập mà nó có thể nằm trong Tòa án hoặc chịu sự quản lý của Bộ T pháp haycủa Chính phủ Chức năng cơ bản của Viện công tố của các nớc này là đa kẻ

Trang 18

phạm tội ra trớc Tòa án và thực hiện sự buộc tội đối với hành vi phạm tội củangời đó.

Đối với các nớc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nớc theo họcthuyết tập quyền (Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc nhóm này) thìtất cả quyền lực nhà nớc thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhànớc thông qua cơ quan đại diện của mình là Quốc hội và Hội đồng nhân dâncác cấp Trong bộ máy nhà nớc của các quốc gia này tồn tại một hệ thống cơquan Viện kiểm sát nhân dân có vị trí độc lập, trực thuộc Quốc hội Viện kiểmsát nhân dân đợc giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việctuân theo pháp luật

Xem xét vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trên phơng diện trong mốiquan hệ với các cơ quan nhà nớc khác trong bộ máy nhà nớc Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam theo qui định của pháp luật hiện hành có thể thấy vị trícủa Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan nhà nớc khác nh sau:

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Quốc hội: Quốc hội làcơ quan quyền lực cao nhất Quốc hội thành lập ra Viện kiểm sát nhân dân vàgiao cho Viện kiểm sát nhân dân chức năng thực hành quyền công tố và kiểmsát các hoạt động t pháp Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Viện trởngViện kiểm sát nhân dân tối cao Quốc hội thực hiện việc giám sát tối cao đốivới toàn bộ hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Viện trởng Viện kiểm sátnhân dân tối cao chịu trách nhiệm báo cáo công tác trớc Quốc hội, trong thờigian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trớc ủyban Thờng vụ Quốc hội và Chủ tịch nớc, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầucủa đại biểu Quốc hội

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Chính phủ: Chính phủ làcơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao nhất của nớcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nh vậy, Chính phủ và Viện kiểm sátnhân dân đều là những cơ quan do Quốc hội thành lập, nhng đây là hai hệ

Trang 19

thống cơ quan độc lập về tổ chức bộ máy, biên chế và chức năng, nhiệm vụ.Tuy nhiên, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Chính phủ và Việnkiểm sát nhân dân phải có cơ chế phối hợp tốt để thực hiện các mục tiêuchung của đất nớc.

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Tòa án nhân dân: Việnkiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân là các cơ quan t pháp do Quốc hộithành lập và đợc Quốc hội giao cho các chức năng khác nhau Viện kiểm sátnhân dân độc lập với Tòa án nhân dân về tổ chức bộ máy và biên chế Việnkiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật quá trình xét xử, thi hành

án hình sự của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việcgiải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thơng mại, lao

động, các vụ án hành chính và các việc khác theo qui định của pháp luật

Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân địa phơng với các cơ quanchính quyền địa phơng và Hội đồng nhân dân cùng cấp: Viện kiểm sát nhândân là hệ thống cơ quan do Quốc hội thành lập, thừa hành quyền lực từ Quốchội, không thừa hành quyền lực từ chính quyền địa phơng Viện kiểm sát nhândân địa phơng độc lập với cơ quan chính quyền địa phơng về tổ chức bộ máy,biên chế, tài chính và độc lập về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ Viện tr -ởng Viện kiểm sát nhân dân địa phơng do Viện trởng Viện kiểm sát nhân dântối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện kiểm sát nhân dân địa phơngthực hiện chức năng, nhiệm vụ theo chơng trình, kế hoạch công tác của Việnkiểm sát cấp trên Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân địa phơng chịu sự giámsát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trớcHội đồng nhân dân cùng cấp, trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểuHội đồng nhân dân cùng cấp về các công việc có liên quan

Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy nhà nớc,Viện kiểm sát nhân dân cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung về tổchức và hoạt động của bộ máy nhà nớc Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất và

Trang 20

nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan bảo vệ pháp chế, Viện kiểmsát nhân dân còn đợc tổ chức và hoạt động theo một nguyên tắc đặc thù, đó lànguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất trong ngành Nguyên tắc lãnh đạotập trung thống nhất đã chi phối nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Việnkiểm sát nhân dân Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân do Viện trởng lãnh đạo;Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dới chịu sự lãnh đạo của Viện trởngViện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân các địaphơng chịu sự lãnh đạo của Viện trởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Do đó,

hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân đợc tổ chức và hoạt động theonguyên tắc tập trung thống nhất

Nguyên tắc tập trung thống nhất đảm bảo cho các Viện kiểm sát nhândân địa phơng đợc tổ chức và hoạt động một cách tập trung, thống nhất và độclập theo ngành dọc, không lệ thuộc hay chịu sự can thiệp nào từ phía các cơquan Nhà nớc ở địa phơng Đây là một nguyên tắc hết sức quan trọng, xuấtphát từ tính chất và nhiệm vụ của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dântrong bộ máy nhà nớc xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, khi xác định vị trí củaViện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nớc cần có nhận thức đúng vềnhững vấn đề sau:

Tuy Viện kiểm sát nhân dân địa phơng không chịu sự chỉ đạo củachính quyền sở tại, nhng các Viện kiểm sát nhân dân địa phơng không phải

là một bộ phận tách rời mọi hoạt động của địa phơng Viện kiểm sát nhândân địa phơng còn phải chịu sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng địa phơng và sựgiám sát của nhân dân địa phơng Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dâncũng phải phục vụ nhiệm vụ chính trị địa phơng Do đó, tổ chức và hoạt độngcủa Viện kiểm sát nhân dân địa phơng phải kết hợp chặt chẽ và đảm bảonguyên tắc Đảng lãnh đạo và nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất trongngành

Trang 21

Đồng thời, cần làm rõ và thống nhất về nhận thức đối với vị trí, vai tròcủa mỗi cấp kiểm sát trong mối quan hệ thống nhất trong cùng một hệ thốngcơ quan Viện kiểm sát nhân dân để đảm bảo phát huy hiệu quả công tác Đốivới Viện kiểm sát nhân dân tối cao với vai trò là trung tâm lãnh đạo, chỉ đạotoàn ngành, ngoài việc thực hiện các hoạt động kiểm sát cùng cấp và giảiquyết các vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình, Viện kiểm sát nhân dântối cao phải tập trung vào các công việc lớn, quan trọng nh xác định phơng h-ớng hoạt động, mục tiêu công tác trong từng giai đoạn và chỉ đạo, hớng dẫn,kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch, chỉ thị công tác trong toàn ngành; sơ kết,tổng kết, hớng dẫn, xây dựng lý luận nghiệp vụ, xây dựng các quy chế, chế độcông tác; đề xuất và tham gia xây dựng pháp luật; giải quyết những vấn đề lớntrong quan hệ phối hợp với các ngành hữu quan.

Đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là cấp vừa trực tiếp thực hiệncông tác kiểm sát theo thẩm quyền cấp mình, mặt khác vừa có nhiệm vụ chỉ

đạo trực tiếp đối với Viện kiểm sát cấp huyện nên tổ chức bộ máy cần phải cócơ cấu phù hợp để thực hiện cả hai hoạt động đó Đối với Viện kiểm sát nhândân cấp huyện là cấp cơ sở, cấp trực tiếp thực hiện phần lớn các nội dung củacông tác kiểm sát theo thẩm quyền Viện kiểm sát cấp huyện cần tập trungthực hiện tốt các mục tiêu công tác cụ thể mà Viện kiểm sát cấp trên đề ra Do

đó, cấp huyện cần đợc tăng cờng và tạo điều kiện về mọi mặt để có thể hoànthành tốt nhiệm vụ của mình

Để đảm bảo Viện kiểm sát các cấp hoàn thành chức năng, nhiệm vụtrong tiến trình cải cách t pháp thì hệ thống cơ quan Viện kiểm sát cần phải đ-

ợc tổ chức theo nguyên tắc lãnh đạo tập trung thống nhất, không phụ thuộc vàchịu sự can thiệp nào của chính quyền địa phơng Nguyên tắc tập trung thốngnhất đòi hỏi phải xác định đúng đắn vai trò và trách nhiệm của từng cấp kiểmsát Các Viện kiểm sát cấp trên cần tăng cờng sự lãnh đạo, công tác kiểm tra

đối với cấp dới Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần thực hiện tốt vai trò là

Trang 22

trung tâm chỉ đạo mọi hoạt động của hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhândân.

Thể chế hóa đờng lối, chính sách của Đảng về cải cách bộ máy nhà

n-ớc, Hiến pháp năm 1992 xác định rõ nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộmáy nhà nớc, của từng hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nớc Đối với cáccơ quan t pháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, vấn đề chứcnăng, nhiệm vụ của các cơ quan này không chỉ bảo đảm lĩnh vực hoạt độngriêng mà bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động thực hiện chứcnăng chung của nhà nớc Trên cơ sở, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nớcthuộc về nhân dân, Hiến pháp năm 1992 khẳng định nhà nớc ta là nhà nớccủa dân, do dân và vì dân, là tổ chức để nhân dân lao động thực hiện quyềnlàm chủ của mình Đó là bản chất, là nguồn gốc sức mạnh và hiệu lực quản

lý của nhà nớc kiểu mới Vì vậy, việc phát huy và bảo đảm quyền lực nhà n

-ớc xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính quy luật, ảnh hởng trực tiếp tới sự tồntại và phát triển của nhà nớc xã hội chủ nghĩa Thực hiện nguyên tắc tất cảquyền lực của nhà nớc thuộc về nhân dân trong tổ chức hoạt động của bộmáy nhà nớc thực chất là bảo đảm quyền lực của nhân dân trong quản lý nhànớc, quản lý xã hội Các nguyên tắc cơ bản khác nh nguyên tắc tập trung dânchủ, nguyên tắc thống nhất quyền lực, nhng có sự phân công, phối hợp giữacác cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t pháp đã

định hớng trực tiếp đến tổ chức, hoạt động đối với hoạt động của cơ quan tpháp nói chung, Viện kiểm sát nhân dân nói riêng Mục tiêu chung của cảicách bộ máy nhà nớc chỉ thực sự đạt đợc trên cơ sở hoàn thiện tổ chức hoạt

động của từng cơ quan, bộ phận trong bộ máy nhà nớc cùng với hoàn thiệncơ chế phối hợp của tổ chức cơ quan thực hiện chức năng chung của nhà nớc

Trong hệ thống cơ quan nhà nớc, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụbảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyềnlàm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nớc, của tập thể; bảo vệ tính

Trang 23

mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Thực hiện nhiệm vụnày, Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan thể hiện trực tiếp bảnchất của nhà nớc ta, là bộ phận không thể thiếu trong bộ máy nhà nớc.

Bộ máy nhà nớc Việt Nam đợc tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhànớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nớctrong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t pháp Các cơ quan Tòa

án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân đợc phân công trực tiếp thực hiện quyền

t pháp Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan bảo vệ pháp luật

Do đó, có thể xem Tòa án và Viện kiểm sát nh là những bộ phận truyền tảiquyền lực nhà nớc chứa đựng trong pháp luật vào đời sống xã hội thông quahoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của những cơ quan này Điều nàycũng có nghĩa hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nớc một phần chi phối bởihoạt động của hệ thống cơ quan t pháp, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân

Thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm đầucủa thời kỳ đổi mới cho thấy cần tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Việnkiểm sát nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cảcác lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Hiến pháp năm 1992 khẳng định đ-ờng lối của Đảng và Nhà nớc là xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng

định hớng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển.Cùng với sự hình thành cơ chế kinh tế mới đòi hỏi sự thay đổi, ra đời của hàngloạt chế định pháp luật phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Nhà nớc thừanhận quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, sự bình đẳng giữa các thành phầnkinh tế Đổi mới nền kinh tế đã bắt đầu bằng sự phát triển của hàng loạt cácdoanh nghiệp với mọi hình thức tổ chức, hoạt động Mặt khác, yêu cầu cảicách hành chính và cải cách t pháp cần phân định rõ phạm vi, chức năng,nhiệm vụ của cơ quan tổ chức trong bộ máy nhà nớc, của cơ quan t pháp trong

đó có Viện kiểm sát nhân dân

Trang 24

Những ý kiến, quan điểm về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Việnkiểm sát nhân dân đợc đề cập khi tiến hành cải cách t pháp trong thời kỳ đổimới đất nớc, đặc biệt là khi tiến hành đổi mới trên lĩnh vực kinh tế Những bớc

đi ban đầu của nền kinh tế chuyển đổi với không ít những lựa chọn, nhữngthay đổi, từ cơ chế chính sách đến vấn đề pháp lý để có thể định hình từng bớcphát triển của nền kinh tế thị trờng Đó là quá trình trăn trở, tháo gỡ dầnnhững vớng mắc trên mọi phơng diện để có thể xây dựng đợc một thể chếhoàn chỉnh của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa Những vấn

đề đó đã ảnh hởng không nhỏ khi xác định vai trò, chức năng, nhiệm vụ củacác cơ quan trong bộ máy nhà nớc nói chung và Viện kiểm sát nhân dân nóiriêng

Trong giai đoạn trớc đây, vai trò giám sát bảo đảm sự tuân thủ phápluật, tuân thủ cơ chế, chính sách, loại trừ yếu tố tự phát, sai lệch, vi phạmtrong quá trình phát triển là vô cùng quan trọng và đợc đặt lên hàng đầu Vớichức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh

tế, xã hội (chức năng kiểm sát chung), Viện kiểm sát nhân dân các cấp có vaitrò, trách nhiệm trong hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theopháp luật trong suốt thời kỳ đổi mới cho đến khi ban hành Hiến pháp 1992(sửa đổi) Thực tiễn đã chứng minh hiệu quả đóng góp to lớn của Viện kiểmsát nhân dân trong việc bảo đảm pháp chế thống nhất và sự tuân thủ pháp luậttrong hoạt động của tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế Công táckiểm sát việc tuân theo pháp luật trong suốt thời kỳ này đã tuân thủ định hớng

đợc chỉ đạo thống nhất toàn ngành trong nhiệm vụ công tác năm tập trunghoạt động vào một lĩnh vực cụ thể có ảnh hởng tới nền kinh tế Mục đích củacác cuộc kiểm sát không chỉ xác định vi phạm, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt,khắc phục hậu quả về kinh tế - xã hội, mà vấn đề mang ý nghĩa lớn đó là pháthiện ra những yếu kém trong quản lý nhà nớc về kinh tế - xã hội của các bộ,ngành, địa phơng Từ đó đa ra những kiến nghị với Chính phủ nhằm nâng caohiệu quả về hoạt động quản lý nhà nớc và đa ra những giải pháp nhằm khắc

Trang 25

phục những tồn tại, bất cập về cơ chế, chính sách, pháp luật Có thể đánh giámột cách công bằng trong thời kỳ này thành tựu của ngành kiểm sát trong việcthực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý nghĩa trong việcbảo đảm sự tuân thủ pháp luật đối với hoạt động của các cơ quan nhà nớc, tổchức kinh tế, tổ chức xã hội Điều này đợc minh chứng bởi hàng loạt các ch-

ơng trình công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính,kinh tế, xã hội trong suốt giai đoạn này nh chơng trình kiểm sát trong lĩnh vực

bu chính viễn thông, chơng trình mía đờng, chơng trình kiểm sát công tácquản lý nhà nớc về đất đai, chơng trình dự án giao thông đờng bộ, chơng trìnhgiáo dục, chơng trình xuất khẩu lơng thực…

Năm 2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đợc tiếnhành trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện đờng lối đổi mới đất nớc Nhữngthành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã khẳng định đờng lối

đúng đắn của Đảng và Nhà nớc ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định tiếp tục thực hiện công cuộccải cách hành chính, cải cách t pháp một cách triệt để, toàn diện hơn để đápứng đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do dân và vì dân Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã thể chế hoá nghĩamụctiêu Nghị quyết của Đảng về xây dựng nhà nớc pháp quyền, xác định đúng

đắn vị trí, vai trò, hệ thống các cơ quan t pháp trong bộ máy nhà nớc, định ớng xây dựng một nền t pháp dân chủ, vững mạnh Một trong những nội dung

h-về cải cách t pháp đợc thể chế trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) là sự điềuchỉnh một bớc về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân Việc điềuchỉnh chức năng của Viện kiểm sát trong Hiến pháp không phải là vấn đề mớinảy sinh trong quá trình xây dựng, soạn thảo Hiến pháp sửa đổi, mà ngay sau

Đại hội Đảng lần thứ VII, những ý kiến liên quan đến chức năng kiểm sát việctuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đã đợc đề cập, thảo luận trên nhiều diễn

đàn về lý luận cũng nh thực tiễn Không chỉ đề cập đến sự chồng chéo chức

Trang 26

năng thanh tra của cơ quan Thanh tra với chức năng kiểm sát việc tuân theopháp luật của Viện kiểm sát mà vấn đề có tính trực diện hơn đối với sự tồn tạicủa chức năng này trong điều kiện đổi mới Trong mối tơng quan chung giữacác cơ quan trong bộ máy nhà nớc với những chức năng mà Viện kiểm sát

đang thực hiện dờng nh Viện kiểm sát đang nắm giữ quá nhiều quyền lực chiphối trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội từ t pháp đến thể chế quản lýkinh tế, quản lý hành chính nhà nớc Hệ quả của sự đánh giá này đã dẫn tớiviệc có ngời đặt ra câu hỏi phải chăng Viện kiểm sát nhân dân là một cơquan siêu quyền lực và nh thế là trái với tổ chức và hoạt động của một nhà n-

ớc đợc xây dựng trên nguyên tắc dân chủ

Quá trình sửa đổi Hiến pháp, vấn đề chức năng của Viện kiểm sátnhân dân đợc xem xét trên nhiều phơng diện, không chỉ ở giác độ quyền lựcrộng lớn của Viện kiểm sát trong đời sống xã hội hay sự chồng chéo chứcnăng với cơ quan Thanh tra mà cả những ảnh hởng từ hoạt động của Việnkiểm sát tới nền kinh tế thị trờng ở vào thời điểm nền kinh tế đã trải qua 15năm đổi mới với những thành tựu và sự ổn định bớc đầu về cơ cấu kinh tế, ph-

ơng thức tổ chức hoạt động, một thể chế kinh tế đợc xác lập bởi hàng loạt vănbản pháp luật về kinh tế đã đa nền kinh tế bớc sang giai đoạn phát triển có

định hớng trên cơ sở khuôn khổ của pháp luật Trong quá trình đó, sự hìnhthành hệ thống pháp luật kinh tế là quá trình không ngừng sửa đổi, bổ sung đểphù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Trong điều kiện vận hành nền kinh

tế thị trờng vẫn đang tiếp tục có sự tìm tòi, thử nghiệm và không ngừng đổimới để có sự phát triển phù hợp, vững chắc; bên cạnh những u điểm của việcbảo đảm sự tuân thủ pháp luật qua hoạt động kiểm sát chung của Viện kiểmsát nhân dân thì mặt khác dờng nh đã tạo ra lực cản vô hình đối với sự pháttriển của nền kinh tế Sự phản ứng ở những mức độ khác nhau của các nhàquản lý, các nhà kinh doanh đối với hoạt động thực hiện chức năng kiểm sátchung của Viện kiểm sát đã đặt vấn đề về thực tiễn của việc có cần thiết tồn

Trang 27

tại chức năng này của Viện kiểm sát hay không Xét một cách biện chứng, khipháp luật phù hợp với kinh tế sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ngợc lại sẽkìm hãm sự phát triển Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo

đảm pháp luật đợc tuân thủ, nhng trong điều kiện hệ thống pháp luật cha hoànthiện thì chính nó trở thành nguyên nhân làm hạn chế tác dụng, ý nghĩa củaviệc thực hiện chức năng này Sự cần thiết duy trì hay xóa bỏ chức năng kiểmsát chung của Viện kiểm sát cần đợc xem xét từ nhiều phơng diện khác nhaucả về lý luận và thực tiễn

Nhìn vấn đề ở phơng diện hẹp hơn để đánh giá thực trạng của ngànhkiểm sát về lực lợng đội ngũ cán bộ kiểm sát (về năng lực, trình độ, về số l-ợng…), quy mô tổ chức bộ máy ngành kiểm sát, cơ sở vật chất, phơng tiện kỹthuật còn nhiều hạn chế, bất cập Trong khi, Viện kiểm sát đang phải thựchiện nhiều trọng trách trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội thì với điều kiệnhiện có, việc thực hiện tốt tất cả những chức năng, nhiệm vụ đợc giao thực sự

là khó khăn đối với Viện kiểm sát

Mặt khác, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển nhanhchóng, sôi động của kinh tế mang lại sự thay đổi, nâng cao điều kiện sống chonhân dân, nhng cũng đặt ra những vấn đề xã hội cần giải quyết Đó là sự phânhóa giàu nghèo diễn ra ngày càng sâu sắc, đó là sự gia tăng tệ nạn xã hội vàtình hình tội phạm ngày càng phức tạp, nghiêm trọng, đặc biệt các tội phạm vềkinh tế, tham nhũng, ma túy, mại dâm… Tình hình tội phạm trong những nămqua cho thấy số lợng, tính chất, mức độ, hậu quả của tội phạm không chỉ phản

ánh sự xuống cấp, băng hoại đạo đức xã hội mà điều quan tâm là sự gia tăngtình hình tội phạm đã trở thành nỗi quan ngại, thách thức các cơ quan t pháp.Tính chất nguy hiểm của tội phạm không chỉ gây ra tổn thất to lớn về kinh tếcho xã hội mà còn là nguy cơ hủy hoại đạo đức xã hội, hủy hoại nguồn lựcthiết yếu của xã hội (thế hệ thanh niên) nếu không kịp thời có quyết sách, tổchức, lực lợng cần thiết, mạnh mẽ để đấu tranh có hiệu quả với các loại tội

Trang 28

phạm Do đó, nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm là trọng trách đối vớitoàn bộ hệ thống cơ quan t pháp Với vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trongcông cuộc đấu tranh chống tội phạm thì vấn đề tăng cờng thực hiện tốt chứcnăng công tố, nâng cao vai trò trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hoạt động

điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm hình sự là điều cần thiết Để Viện kiểmsát có thể tập trung làm tốt chức năng công tố, thì việc điều chuyển một phầnchức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát sang cơ quan, tổ chức khác trong

bộ máy nhà nớc đợc xem là giải pháp tối u Thực chất của việc điều chuyển là

sự tăng cờng trách nhiệm của các cơ quan nhà nớc khác nh tăng cờng thẩmquyền của cơ quan Thanh tra trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, của Bộ T pháptrong hoạt động thẩm định các văn bản pháp luật của chính quyền cơ sở trongviệc xây dựng, ban hành văn bản pháp quy, của Quốc hội và Hội đồng nhândân các cấp trong lĩnh vực giám sát

Trên thế giới, các quốc gia có thể khác biệt nhau về chế độ chính trịnhng hệ thống cơ quan Công tố trong bộ máy nhà nớc cơ bản tập trung thựchiện chức năng công tố trong lĩnh vực hình sự Trong điều kiện hội nhập quốc

tế, việc tiếp thu những thành tựu, giá trị tiến bộ trên mọi lĩnh vực đang là xuthế tất yếu, mang tính phổ biến của các quốc gia Quá trình cải cách ở nớc taviệc lựa chọn để có đợc một mô hình tổ chức khoa học, tiên tiến, phù hợp chotừng hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nớc là một quá trình trải nghiệmkhông chỉ nhận thức đầy đủ nguyên tắc mang tính lý luận mà cả diễn biếnthực tiễn cần đợc đánh giá tổng kết

Xuất phát từ những lý do nêu trên, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã

có sự điều chỉnh quan trọng về chức năng ngành kiểm sát, đó là sự xóa bỏchức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh

tế, xã hội, nhấn mạnh việc tăng cờng chức năng thực hành quyền công tố vàghi nhận chức năng kiểm sát các hoạt động t pháp Luật tổ chức Viện kiểm sátnhân dân năm 2002 đã thể chế hóa quy định của Hiến pháp, ghi nhận cụ thể,

Trang 29

rõ ràng về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động thực hànhquyền công tố, kiểm sát các hoạt động t pháp, đồng thời phân định rõ phạm vihoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp Sự phân

định này không chỉ tác động tích cực trong thực tiễn công tác của Viện kiểmsát nhân dân mà còn là cơ sở lý giải vớng mắc trong nhận thức các khiếu nạiliên quan đến quyền công tố, đến kiểm sát các hoạt động t pháp

Bên cạnh việc ghi nhận và đề cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dântrong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, sự tăng cờng vai tròcủa Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động t phápxuất phát từ việc đánh giá thực trạng trên các phơng diện kinh tế xã hội, hoạt

động t pháp trong những năm qua, có thể thấy đây là các điều kiện chi phốitrực tiếp đến hoạt động t pháp và yêu cầu, đòi hỏi Viện kiểm sát nhân dân phảitiến hành công tác kiểm sát hoạt động t pháp trên các phơng diện khác nhau

Cụ thể là:

- Trình độ hiểu biết, ý thức pháp luật của bộ phận lớn nhân dân cònhạn chế

- Hệ thống thiết chế bổ trợ t pháp nh luật s, hỗ trợ pháp lý, công chứng,giám định… còn thiếu, cha hoàn thiện, đồng bộ

- Vấn đề quản lý hành chính nhà nớc còn nhiều tồn tại, thiếu sót, tổchức hoạt động của hệ thống đăng ký tài sản cha đồng bộ, cha đầy đủ, thủ tụcrờm rà, bất cập Các cơ quan quản lý nhà nớc cha xác định đợc trách nhiệm tr-

ớc những vấn đề có liên quan đến hoạt động tố tụng t pháp

- Hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực dân sự, hành chính, kinh

tế, lao động, thi hành án cha hoàn thiện

- Đội ngũ cán bộ t pháp còn hạn chế về trình độ kiến thức pháp lý, vềchuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là sự hạn chế về kỹ năng nhận thức áp dụngpháp luật

Trang 30

Với các đặc điểm nêu trên, có thể thấy rằng, sự tăng cờng vai trò củaViện kiểm sát trong kiểm sát các hoạt động t pháp xuất phát từ yếu tố truyềnthống pháp luật, từ nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nớc, trớc yêucầu bảo đảm quyền dân chủ của công dân, điều kiện thực trạng kinh tế, xã hội

ở nớc ta Tuy nhiên, đồng thời với quan điểm tăng cờng chức năng kiểm sátcác hoạt động t pháp của Viện kiểm sát trong các hoạt động thi hành án, giamgiữ, cải tạo, trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự, vụ án dân sự, kinh tế,hành chính, lao động cũng tồn tại quan điểm cho rằng Viện kiểm sát nhân dânchỉ nên tập trung làm tốt chức năng công tố, còn đối với chức năng kiểm sátcác hoạt động t pháp mà phần quan trọng là kiểm sát việc giải quyết các vụ ándân sự, kinh tế, hành chính, lao động, thì Viện kiểm sát chỉ nên tham gia ởphạm vi hạn chế

Trên cơ sở nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nớc, quan niệm

về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nớc, từ thời kỳ

đầu thành lập ngành Kiểm sát nhân dân chi phối ảnh hởng lâu dài đến sự nhậnthức về vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hoạt động t pháp, trong lĩnh vực

tố tụng dân sự Về thực tiễn, trong một thời gian dài, sự thiếu hoàn chỉnh hệthống pháp luật, hệ thống bổ trợ t pháp, sự hạn chế về năng lực trình độ của

đội ngũ cán bộ t pháp cũng nh trình độ nhận thức pháp luật của ngời dân… lànguyên nhân có ảnh hởng trực tiếp đến nhận thức cho rằng không thể thiếu đ-

ợc vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động t pháp nói chung, tronghoạt động tố tụng, giải quyết các vụ án dân sự nói riêng, đó là sự bảo đảm choviệc tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án ở một chừng mựcnào đó, sự nhận thức này có phần thiên kiến, chủ quan khi cho rằng sự tuyệt

đối hóa vai trò, vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động t pháp, đặcbiệt trong hoạt động xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động là

sự áp đặt công quyền, chi phối mọi hoạt động tố tụng và điều này là khôngphù hợp với nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, xem nhẹ vai trò của đơng

sự với quyền tự định đoạt và trách nhiệm tự chứng minh của họ Thực tiễn cho

Trang 31

thấy sự cần thiết của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, phạm vitham gia nhiều hay ít ở mức độ nào đó đều mang tính lịch sử cụ thể Vì vậy,

đến thời điểm ban hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005, đã hội đủ điều kiện

để có đợc hệ thống pháp luật tố tụng dân sự hoàn chỉnh với nguyên tắc nềntảng của nó và vai trò, vị trí của các chủ thể trong tố tụng dân sự (bao gồm cảViện kiểm sát nhân dân) cần đợc xác định phù hợp với nguyên tắc cơ bản củaluật tố tụng dân sự Những lập luận này là cơ sở cho sự thay đổi quy định vềnhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2004 Đây là một bớc chuẩn bị cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho việc tiếptục điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hớng tậptrung vào việc thực hiện chức năng công tố

Hiện nay, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng xây dựng một xã hội dân chủxã hội chủ nghĩa Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lựccủa công cuộc đổi mới, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nớc vànhân dân Nhà nớc đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là ngời tổchức thực hiện đờng lối chính trị của Đảng Mọi đờng lối, chính sách của

Đảng và pháp luật của Nhà nớc đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ýkiến của nhân dân Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nớc pháp quyền xãhội chủ nghĩa Xây dựng cơ chế vận hành của nhà nớc pháp quyền xã hội chủnghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nớc đều thuộc về nhân dân;quyền lực nhà nớc là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quantrong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và t pháp Hoàn thiện hệ thốngpháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các qui định trong văn bản pháp luật.Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trongcác hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền Xây dựng hệ thốngcơ quan t pháp trong sạch vững mạnh, dân chủ, bảo vệ công lý, quyền con ng-

ời Về đờng lối đối ngoại, thực hiện nhất quán đờng lối đối ngoại độc lập tựchủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phơng

Trang 32

hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tếquốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam

là bạn, đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cựcvào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực Trong tiến trình chung đó, Việnkiểm sát nhân dân với chức năng, nhiệm vụ của mình có vị trí quan trọng vàvai trò to lớn trong việc bảo đảm thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, xâydựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo trên phơng diện pháp lýcho xu thế hội nhập, giao lu quốc tế của nớc ta Và ngợc lại, đó cũng là cơ sở

lý luận vững chắc cho việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Việnkiểm sát nhân dân ở nớc ta hiện nay

1.2 Các quan điểm về đổi mới tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

Thời gian qua, khi nghiên cứu vấn đề hoàn thiện tổ chức bộ máy vànâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đã có nhiều quan

điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lí, các chuyên giatrong lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nớc, các cán bộ làm công tác thực tiễntrong các cơ quan bảo vệ pháp luật và nhân dân về vấn đề này Có thể nêu ra

ba quan điểm điển hình sau đây:

1.2.1 Quan điểm thứ nhất

Theo quan điểm này, thực tiễn tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sátnhân dân ở nớc ta hơn 45 năm qua đã khẳng định sự cần thiết khách quan tồntại hệ thống Viện kiểm sát nhân dân với hai chức năng không thể tách rời làchức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnhvực hành chính, kinh tế, xã hội (kiểm sát chung) Việc đổi mới tổ chức vànâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân hiện nay cần xuấtphát từ những thành tựu đã đạt đợc và theo hớng phân định rõ hoạt động kiểmsát chung của Viện kiểm sát nhân dân với hoạt động thanh tra của cơ quanThanh tra, từng bớc nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động công tố, bảo

đảm cho thắng lợi của nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm Những ngời

Trang 33

theo quan điểm này cho rằng, so với thời gian trớc đây hơn 45 năm, ở nớc tahiện nay đã có nhiều thay đổi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hộitheo xu hớng giữ vững ổn định và phát triển, đóng góp vào thành tựu chung đó

có vai trò quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân Hiện nay, với mục tiêu xâydựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân thì việc bảo đảm cho các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành đ-

ợc nghiêm chỉnh tuân thủ, để đảm bảo cho tính thống nhất của pháp luật trongcả nớc, để nhanh chóng phát hiện các vi phạm pháp luật trong việc thực hiện,

áp dụng pháp luật và ban hành các văn bản quản lí của các cơ quan hành phápthì Quốc hội phải có một cơ quan thay mặt Quốc hội thực hiện chức nănggiám sát việc thi hành pháp luật đối với các cơ quan hành pháp từ trên xuốngdới Cơ quan đó phải trực thuộc Quốc hội, do Quốc hội thành lập chứ khôngthể trực thuộc Chính phủ - cơ quan hành pháp Hoạt động kiểm sát kiểm sátviệc tuân theo pháp luật từ phía cơ quan nhân danh cơ quan lập pháp hoàntoàn khác với hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhân danh cơ quanhành pháp Đồng nhất hai loại hoạt động nêu trên và thậm chí còn chuyểnhoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật do Viện kiểm sát nhân dân thựchiện sang cho cơ quan Thanh tra là hoàn toàn sai lầm bởi việc đó đã tớc đihoặc hạ thấp vai trò kiểm tra, giám sát của Quốc hội đối với quá trình thựchiện Hiến pháp, các văn bản luật hoặc văn bản dới luật do chính Quốc hộihoặc ủy ban thờng vụ Quốc hội ban hành Trong quá trình thực hiện kiểm sátviệc tuân theo pháp luật, khi phát hiện thấy có vi phạm và tội phạm thì Việnkiểm sát nhân dân có quyền xử lí vi phạm và tội phạm theo qui định của phápluật Và vì lẽ đó chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không thể táchrời chức năng công tố Mặt khác, đúng là hoạt động công tố là một trongnhững nội dung của hoạt động áp dụng pháp luật (hành pháp) nhng nếu thànhlập Viện công tố chỉ với chức năng công tố và đặt cơ quan này trực thuộcChính phủ có nghĩa là đã tách rời hai chức năng nói trên và vô hình chung đãlàm cho quá trình giải quyết các vi phạm và tội phạm thêm phức tạp và làm bộ

Trang 34

máy nhà nớc thêm cồng kềnh (cho dù có thành lập Viện công tố trực thuộcChính phủ thì vẫn phải có một cơ quan trực thuộc Quốc hội để để thực hiệnchức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan hành pháp, tổ chứckinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân) Qua nghiên cứu so sánh

vị trí, vai trò và địa vị pháp lí giữa Viện kiểm sát của nớc ta với các Viện công

tố hoặc Viện kiểm sát ở một số nớc khác, cho thấy chúng ta còn cha có nhữngcơ chế, điều kiện cần thiết để Viện kiểm sát có thể thực thi nhiệm vụ đúng với

vị trí của cơ quan này Với vai trò là cơ quan thực hiện quyền lực của Quốchội để tiến hành hoạt động giám sát hoạt động áp dụng pháp luật của các cơquan nhà nớc, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân đáng lẽ các quyết

định của Viện kiểm sát phải có uy quyền hơn, thế nhng trong thực tế lại khôngphải nh vậy Nhiều quyết định, kiến nghị, thậm chí kháng nghị của Viện kiểmsát trong công tác kiểm sát chung đã không đợc thực hiện hoặc không đợcthực hiện nghiêm chỉnh Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều nhng trong

đó phải kể đến sự thiếu hiểu biết pháp luật cũng nh quan niệm không đúngcủa một số ngời khi họ cho rằng chức vụ trong Đảng luôn quan trọng hơnchức vụ trong bộ máy nhà nớc, ngời không có chức vụ hoặc có chức vụ nhỏtrong Đảng không thể yêu cầu hoặc kiến nghị, kháng nghị gì với ngời có chức

vụ trong Đảng cao hơn kể cả trong trờng hợp pháp luật có qui định nh vậy Đểkhắc phục tình trạng trên, giải pháp đầu tiên là Hiến pháp và pháp luật phảithể chế hóa vị trí, vai trò của Viện kiểm sát đúng với vị trí cần phải có của nó.Cần phải mở rộng hơn nữa thẩm quyền của Viện kiểm sát so với qui định củaHiến pháp và pháp luật hiện hành Do đó, theo quan điểm này cho rằng cần trảlại cho Viện kiểm sát chức năng, nhiệm vụ nh đã từng tồn tại trong thực tế ởnớc ta từ năm 1960 đến năm 2002 Và vấn đề đặt ra là cần phải có những biệnpháp đổi mới để nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát khi thực hiệnhai chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hànhchính, kinh tế, xã hội chứ không chỉ đơn thuần là kiểm sát các hoạt động tpháp nh hiện nay

Trang 35

1.2.2 Quan điểm thứ hai

Theo quan điểm này, việc chuyển hệ thống Viện công tố trực thuộcChính phủ sang hệ thống Viện kiểm sát nhân dân trực thuộc Quốc hội theoHiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 là hợp

lí nhng do từ đó đến nay vì giao thêm cho Viện kiểm sát chức năng kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội của các cơquan nhà nớc, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân nên trong thời gianqua, Viện kiểm sát nhân dân đã không thể thực hiện tốt hai chức năng này Đểkhắc phục tình trạng trên đây cần đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểmsát nhân dân theo hớng giữ nguyên mô hình tổ chức và hoạt động của Việnkiểm sát nhân dân theo hớng về cơ bản giữ nguyên tên gọi, mô hình tổ chức

bộ máy nhng cắt giảm bớt chức năng, nhiệm vụ Cụ thể là Viện kiểm sát nhândân thực hiện chức năng công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động t pháp

Và nh vậy, Viện kiểm sát nhân dân mới có thể tập trung làm tốt chức năngcông tố mà bấy lâu nay Viện kiểm sát còn cha hoàn toàn đáp ứng đợc yêu cầu

đặt ra đối với công tác này Quan điểm này đã đợc chính thức chấp nhận và

đ-ợc thể hiện trong các qui định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và trongLuật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Và theo đó đến nay, Việnkiểm sát nhân dân các cấp chỉ thực hiện chức năng công tố và kiểm sát cáchoạt động t pháp mà không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo phápluật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội của các cơ quan nhà nớc, tổchức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân nữa

1.2.3 Quan điểm thứ ba

Quan điểm này cho rằng, tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sátcần quay lại mô hình tồn tại trớc năm 1960 Theo quan điểm này, Viện kiểmsát nhân dân sẽ đợc tổ chức lại thành Viện công tố trực thuộc cơ quan hànhpháp là Chính phủ với chức năng, nhiệm vụ nh trớc đây là chỉ thực hiện chứcnăng công tố chứ không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật

Trang 36

trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội của các cơ quan nhà nớc, tổ chức xãhội, đơn vị vũ trang và công dân nh nó đã từng làm trong thời gian hơn 40năm qua Còn hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật do Quốc hội trựctiếp thực hiện và công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vựchành chính, kinh tế, xã hội của các cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội, đơn vị vũtrang và công dân trớc đây do Viện kiểm sát thực hiện nay giao cho cơ quanThanh tra các cấp tiến hành Theo quan điểm này, nội dung của chức năngcông tố thực chất là hoạt động hành pháp, vì vậy bản thân nó phải do một hệthống các cơ quan hành pháp thực hiện và hợp lí hơn cả là thành lập Việncông tố trực thuộc Chính phủ để thực hiện chức năng này Còn nội dung củachức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh

tế, xã hội của các cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và côngdân không khác hoạt động thanh tra của cơ quan Thanh tra và vì thế song songvới việc thành lập hệ thống Viện công tố thì đồng thời cũng chuyển chức năngkiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế xã hội chocơ quan Thanh tra các cấp thực hiện Cũng theo quan điểm này, việc đổi mới

tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân theo hớng thành lập Việncông tố nh mô hình đã tồn tại ở nớc ta trớc năm 1960 nhng đồng thời cũngphải kế thừa những u điểm đã đợc khẳng định về nguyên tắc tổ chức và hoạt

động của Viện kiểm sát nhân dân trong những năm qua và có sự tham khảo,chọn lọc kinh nghiệm của các nớc trên thế giới phù hợp với yêu cầu cải cách tpháp ở nớc ta hiện nay

1.3 Tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân và Viện công tố

của một số nớc trên thế giới

1.3.1 Viện kiểm sát Cộng hòa Liên bang Nga

Trớc đây, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát ở Liên Xô có vị trí độc lập,với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các cơ quan hànhpháp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội và hệ thống Tòa án Mục đích

Trang 37

của việc thực hiện chức năng kiểm sát là để đảm bảo pháp luật đợc tuân thủ,thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất Từ đó, cấu trúc của Viện kiểm sát Nga

về cơ bản đợc giữ nguyên cho đến ngày hôm nay và đợc khẳng định trong cácHiến pháp năm 1936, 1977, 1993 và Luật Liên bang về Viện kiểm sát Liênbang Nga năm 1995

Hệ thống Viện kiểm sát Liên bang Nga gồm có: Viện kiểm sát trung

ơng Liên bang Nga; Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp t

-ơng đ-ơng; Viện kiểm sát các thành phố, quận, huyện và các Viện kiểm sátngang cấp với chúng; các Viện kiểm sát chuyên trách nh Viện kiểm sát tronglĩnh vực giao thông, Viện kiểm sát bảo vệ môi trờng…

Viện kiểm sát trung ơng Liên bang Nga do Tổng kiểm sát trởng Liênbang Nga lãnh đạo Tổng kiểm sát trởng Liên bang Nga do Hội đồng Liênbang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga Giúpviệc cho Tổng kiểm sát trởng Liên bang Nga có một Phó Tổng kiểm sát trởngthứ nhất và một số Phó Tổng kiểm sát trởng Trong Viện kiểm sát trung ơngLiên bang Nga thành lập ủy ban kiểm sát ủy ban kiểm sát Viện kiểm sáttrung ơng Liên bang Nga là cơ quan t vấn Trong cơ cấu Viện kiểm sát trung -

ơng Liên bang Nga gồm có: các tổng cục, các cục, các vụ, viện và các phòng,ban chức năng

Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bang Nga và cấp tơng đơng dokiểm sát viên các nớc cộng hòa, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc liênbang, các vùng tự trị, các khu vực tự trị và cấp tơng đơng lãnh đạo Giúp việccho kiểm sát viên các nớc cộng hòa, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộcliên bang, các vùng tự trị, các khu vực tự trị và cấp tơng đơng có một cấp phóthứ nhất và một số cấp phó khác Tơng tự nh cơ cấu Viện kiểm sát trung ơngLiên bang Nga, trong cơ cấu của Viện kiểm sát các chủ thể thuộc Liên bangNga và cấp tơng đơng có ủy ban kiểm sát, với vai trò là cơ quan t vấn

Trang 38

Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện và cấp tơng đơng do kiểm sátviên thành phố, quận, huyện và cấp tơng đơng lãnh đạo Giúp việc cho kiểmsát viên thành phố, quận, huyện và cấp tơng đơng có một cấp phó thứ nhất vàcác cấp phó khác Ngoài ra, theo quyết định của Tổng kiểm sát trởng Liênbang Nga, trong cơ cấu của Viện kiểm sát thành phố, quận, huyện và cấp tơng

đơng có thể có các phòng, ban

1.3.2 Viện kiểm sát nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Từ khi lãnh đạo cách mạng thành công và thành lập nớc Cộng hòanhân dân Trung Hoa (năm 1949), Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duynhất lãnh đạo cách mạng Trung Quốc Từ đó đến nay, mặc dù có những thăngtrầm nhng Trung Quốc vẫn trung thành với những nguyên lý cơ bản theo môhình các nớc xã hội chủ nghĩa trong việc tổ chức bộ máy nhà nớc

Bộ máy nhà nớc của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đợc tổ chức theonguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa Toàn bộ quyền lực nhà nớc thuộc vềnhân dân mà đại diện là Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) và ở

địa phơng là Đại hội đại biểu nhân dân địa phơng (Hội đồng nhân dân cáccấp) Chính phủ đợc xác định là cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính caonhất Tòa án là cơ quan xét xử và Viện kiểm sát là cơ quan giám sát pháp luật.Thủ tớng Chính phủ, Chánh án Tòa án tối cao và Viện trởng Viện kiểm sát tốicao đều do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra, theo nhiệm kỳ của Đạihội đại biểu nhân dân toàn quốc và chịu trách nhiệm trớc cơ quan này

ở Trung Quốc, Viện kiểm sát là một hệ thống cơ quan độc lập Việnkiểm sát đợc coi là cơ quan t pháp chứ không phải là cơ quan hành pháp, và dovậy, Chính phủ và Bộ T pháp không có chức năng giám sát hoạt động củaViện kiểm sát nhân dân tối cao Tơng tự nh vậy, Viện kiểm sát địa phơngkhông chịu sự giám sát của cơ quan hành chính ở địa phơng nhng lại chịu sựgiám sát của Đại hội đại biểu nhân dân địa phơng, cơ quan quyền lực nhà nớc

ở địa phơng

Trang 39

Điều 129 Hiến pháp nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định:Viện kiểm sát nhân dân Trung hoa là cơ quan giám sát pháp luật của Nhà nớc.

Điều 130 Hiến pháp nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: Nớc Cộnghòa nhân dân Trung Hoa thành lập Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Việnkiểm sát nhân dân địa phơng các cấp, Viện kiểm sát quân sự và Viện kiểm sátnhân dân chuyên ngành khác Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổchức Viện kiểm sát nhân dân Trung Hoa quy định hệ thống, cơ cấu tổ chứcViện kiểm sát nh sau:

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ

quan kiểm sát cao nhất, có chức năng giám sát pháp luật và lãnh đạo Việnkiểm sát địa phơng các cấp và Viện kiểm sát chuyên ngành trong việc thựchiện chức năng giám sát pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện pháp luật đợc

đúng đắn và thống nhất

Các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm Văn phòng;Ban Chính trị; Tổng cục chống tham ô hối lộ; Vụ kiểm sát hình sự; Vụ kiểmsát giam giữ; Vụ kiểm sát hành chính, dân sự; Vụ kiểm sát khiếu nại, tố cáo;

Vụ kiểm sát thi hành án; Trung tâm thông tin; Vụ kiểm sát vận tải đờng sắt;Cục kỹ thuật kiểm sát; Viện nghiên cứu chính sách, pháp luật; Cục thanh tra;Cục giáo dục rèn luyện cán bộ; Cục đối ngoại; Cục kế hoạch tài vụ và trangthiết bị; Cục quản lý hành chính sự vụ; Cục cán bộ lão thành Ngoài ra, còn cócác đơn vị trực thuộc nh: Nhà xuất bản kiểm sát, Báo kiểm sát, Viện nghiêncứu lý luận kiểm sát, Viện nghiên cứu khoa học kĩ thuật kiểm sát, Học việnbồi dỡng cán bộ kiểm sát cao cấp Trung Quốc…

Viện kiểm sát nhân dân tối cao thành lập ủy ban kiểm sát ủy bankiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện chế độ làm việc tập thể,thảo luận các vụ án quan trọng và các vấn đề quan trọng khác, dới sự chủ trìcủa Viện trởng ủy ban kiểm sát quyết định theo đa số Nếu ý kiến của Việntrởng khác với ý kiến của đa số về các vấn đề quan trọng có thể báo cáo ủyban Thờng vụ Đại hội đại biểu nhân dân quyết định

Trang 40

Nhân sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao bao gồm: Viện trởng, cácPhó Viện trởng, ủy viên ủy ban kiểm sát, kiểm sát viên, trợ lý kiểm sát viên,

th ký, cảnh sát t pháp và các nhân viên hành chính, nhân viên hậu cần, kỹthuật

- Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phơng: Viện kiểm sát nhân

dân các cấp ở địa phơng gồm: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, khu tự trị, thànhphố trực thuộc trung ơng (cấp thứ 2); Viện kiểm sát nhân dân thành phố thuộctỉnh, châu tự trị… (cấp thứ 3); Viện kiểm sát nhân dân huyện, khu trực thuộcthành phố (cấp cơ sở)

Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phơng thành lập ủy ban kiểmsát ủy ban kiểm sát thực hiện chế độ làm việc tập tập thể, quyết định theonguyên tắc thiểu số phục tùng đa số Nếu ý kiến của Viện trởng khác với ýkiến của đa số về các vấn đề quan trọng có thể báo cáo ủy ban Thờng vụ Đạihội đại biểu nhân dân cùng cấp quyết định

1.3.3 Viện công tố Nhật Bản

Nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực của Nhật Bản cũng giống nhcác Nhà nớc t sản khác trên thế giới, đó là chế độ tam quyền phân lập Theoquy định của Hiến pháp Nhật Bản, quyền công tố là một phần của quyền hànhpháp, thẩm quyền truy tố đợc trao cho cơ quan hành pháp, quyền hành pháp đ-

ợc trao cho Nội các, Nội các chịu trách nhiệm trớc Quốc hội Bộ trởng Bộ Tpháp với vị trí là ngời đứng đầu, chỉ đạo công tác thuộc thẩm quyền thi hànhpháp luật của Bộ T pháp, bao gồm cả công tác liên quan đến việc truy tố Nhvậy, Viện công tố là một tổ chức nằm trong Bộ T pháp nh là một "cơ quan đặcbiệt" Công tố viên nằm dới sự chỉ huy chung, giám sát của Bộ trởng Bộ Tpháp Về nguyên tắc, Bộ trởng Bộ T pháp có thể kiểm tra và giám sát các công

tố viên nói chung trong việc thực hiện các chức năng của họ, tuy nhiên, trongtrờng hợp liên quan tới việc điều tra và quyết định các vụ án cụ thể Bộ trởng

Bộ T pháp chỉ có thể kiểm tra, chỉ đạo đối với Tổng công tố trởng Hiến pháp

Ngày đăng: 08/05/2014, 21:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo cải cách t pháp (2004), Báo cáo sơ kết hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị về "một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác t pháp trong thời gian tới", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác t pháp trong thời giantới
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách t pháp
Năm: 2004
2. Ban Chỉ đạo cải cách t pháp - Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (2006), Kế hoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020 (giai đoạn2006 - 2010) , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kếhoạch số 05-KH/CCTP về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW củaBộ Chính trị về Chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020 (giai đoạn "2006 - 2010)
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách t pháp - Ban Chấp hành Trung ơng Đảng
Năm: 2006
3. Ban Nội chính Trung ơng Đảng (2002), Đổi mới và tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh chống tội phạm, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăng cờng sự lãnh đạocủa Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranhchống tội phạm
Tác giả: Ban Nội chính Trung ơng Đảng
Năm: 2002
4. Bộ luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
5. Lê Cảm (2005), "Bàn về tổ chức quyền t pháp - nội dung cơ bản của chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020", Kiểm sát, (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tổ chức quyền t pháp - nội dung cơ bản của chiếnlợc cải cách t pháp đến năm 2020
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2005
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 08-11 của Ban Bí th Trung ơng về tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 08-11 củaBan Bí th Trung ơng về tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với cáccơ quan bảo vệ pháp luật
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ơng khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám BanChấp hành Trung ơng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21-3 của Bộ Chính trị về một số công việc cấp bách của các cơ quan t pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21-3 của BộChính trị về một số công việc cấp bách của các cơ quan t pháp cầnthực hiện trong năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t pháp trongthời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hớng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5của Bộ Chính trị về Chiến lợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống phápluật Việt Nam đến năm 2010 định hớng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về Chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 củaBộ Chính trị về Chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đỗ Văn Đơng (2006), "Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách t pháp ở nớc ta hiện nay", Nghiên cứu lập pháp, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tpháp ở nớc ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Văn Đơng
Năm: 2006
17. Phạm Hồng Hải (2006), "Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tốđáp ứng yêu cầu cải cách t pháp", Nhà nớc và pháp luật, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tốđáp ứng yêu cầu cải cách t pháp
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2006
18. Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1946 đến năm 2001 (2002), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1946 đến năm 2001
Tác giả: Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1946 đến năm 2001
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
19. Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền công tố ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa
Năm: 2002
20. Hội luật gia Việt Nam (1985), Hồ Chí Minh và pháp chế, Thành phố Hồ chÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh và pháp chế
Tác giả: Hội luật gia Việt Nam
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w