1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

125 1,4K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Trường học Học viện Cảnh sát Nhân dân
Chuyên ngành Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 395 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Trang 1

Mục lục

Trang

Chơng 1: nhận thức về tội phạm trộm cắp tài sản tại

nơi ở công dân và công tác điều tra khám phá của lực lợng cảnh sát điều tra tội phạm

về trật tự xã hội Công an tỉnh Bắc Giang 51.1 Nhận thức về tội trộm cắp tài sản và trộm cắp tài sản tại nơi ở

1.2 Nhận thức về điều tra tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân 20

Chơng 2: Thực trạng tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi

ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong những năm 2002 đến 2006 và các biện

2.4 Nhận xét, đánh giá về hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm

trộm cắp tài sản nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 83

Chơng 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

điều tra khám phá các vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 883.1 Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên

địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới 883.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa,

điều tra khám phá loại tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của

Trang 2

Mở đầu

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Cùng với sự phức tạp của tội phạm hình sự trên cả nớc, tình hình tộiphạm hình sự trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cũng có nhiều biến động và phứctạp, thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt Qua báo cáo tổng kếtnăm ở địa bàn tỉnh Bắc Giang thì phơng thức hoạt động của tội phạm rất đadạng, mức độ thiệt hại do chúng gây ra ngày càng lớn Trong đó có các loạitội phạm nh giết ngời, cớp tài sản, hiếp dâm, lừa đảo, trộm cắp, buôn bán matúy gia tăng Đặc biệt loại tội phạm trộm cắp tài sản trong nhà dân xảy ranhiều, thiệt hại do loại tội phạm này gây lên rất lớn, làm ảnh h ởng nghiêmtrọng tới tình hình TTATXH trên địa bàn Nếu tính từ năm 2002 đến 6 tháng

đầu năm 2006 đã xảy ra 3.061 vụ phạm tội hình sự, trong đó tội phạm trộmcắp xảy ra 1.846 vụ và tội phạm trộm cắp tại nơi ở công dân xảy ra 1.054 vụ

Nh vậy tội phạm trộm cắp tài sản nơi ở công dân chiếm 34,46% so với tổng

số các vụ phạm tội xảy ra và chiếm 57,09% so với các vụ trộm cắp tài sảnkhác Bên cạnh đó, công tác đấu tranh với loại tội phạm này còn gặp nhiềukhó khăn, phức tạp nh: tỷ lệ điều tra khám phá còn thấp (mới đạt 36,74%trong tổng số các vụ xảy ra), nhiều vụ án còn kéo dài, bế tắc Nguyên nhâncủa tình trạng trên là CQĐT (lực lợng trinh sát, điều tra viên) cha nhận thức

đợc đúng đắn hậu quả, tác hại của loại tội phạm này; cha làm tốt công tácphòng ngừa, điều tra xử lý đối với các vụ phạm tội Trong thực tế đấu tranhvới loại tội phạm này lực lợng điều tra cha nghiên cứu khai thác kỹ và sửdụng một cách đầy đủ những tri thức khoa học của điều tra hình sự Cha sửdụng có hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ, các chiến thuật và phơng pháp

điều tra Vì vậy, để góp phần nâng cao nhận thức về tội phạm trộm cắp tàisản tại nơi ở công dân và xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt

động điều tra loại tội phạm này của lực lợng Cảnh sát ĐTTP về TTXH, tôi đã

Trang 3

lựa chọn đề tài: "Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang" làm đề tài nghiên cứu của luận văn.

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng tiến hành công tác điều trakhám phá loại tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnhBắc Giang, trên cơ sở đó đề xuất một số giả pháp áp dụng kết quả nghiên cứu vềphòng ngừa, điều tra nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt đợc mục đích, đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận nhận thức về công tác phòng ngừa,

điều tra tội phạm nói chung và tội phạm trộm cắp nói riêng

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động phòng ngừa, điều tra khám phá loạitội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giangcủa lực lợng CSND

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa,

điều tra loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tợng nghiên cứu của đề tài:

- Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân và hoạt

động điều tra khám phá tội phạm này của lực lợng Cảnh sát ĐTTP về TTXHCông an tỉnh Bắc Giang

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong kết quả khảo sát thựctiễn tình trạng tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân, xảy ra từ năm

2002 đến 6 tháng đầu năm 2006 trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

- Nghiên cứu về công tác điều tra khám phá của lực lợng Cảnh sát

ĐTTP về TTXH Công an tỉnh Bắc Giang

Trang 4

5 Phơng pháp nghiên cứu

Phơng pháp nghiên cứu của luận văn đợc xây dựng trên cơ sở phơngpháp luận triết học Mác - Lênin, quan điểm của Đảng, Nhà nớc về công tác

đấu tranh phòng chống tội phạm và những kiến thức của các ngành khoa học

nh khoa học điều tra tội phạm, tội phạm học, tâm lý, luật học

Luận văn đợc nghiên cứu bởi các biện pháp cụ thể nh: thống kê, phântích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế, trao đổi, tọa đàm với cán bộ có kinhnghiệm trong công tác chỉ đạo và trực tiếp phòng ngừa, điều tra khám phá loạitội phạm này

6 Những yếu tố mới đạt đợc của luận văn

- Luận văn đa ra hệ thống lý luận về nội dung, cấu trúc đặc điểm, thủ

đoạn hoạt động của tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân và những

đặc trng của loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

- Tổng kết thực tiễn hoạt động điều tra khám phá tội phạm trộm cắp tàisản tại nơi ở của công dân, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, nêu đợc những đánhgiá đúng đắn về công tác này

- Đề xuất những giải pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

điều tra khám phá tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân của lực l ợng Cảnh sát ĐTTP về TTXH Công an tỉnh Bắc Giang

-7 ý nghĩa lý luận - thực tiễn của đề tài

Phát triển và bổ sung nhận thức lý luận về hoạt động điều tra tội phạmtrộm cắp trên cơ sở nghiên cứu từ những địa bàn cụ thể nh Bắc Giang

Kết quả nghiên cứu đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho nghiên cứugiảng dạy và học tập ở các trờng Công an nhân dân và cán bộ chỉ huy, cán bộhoạt động thực tiễn đấu tranh chống tội phạm

Trên cơ sở các tài liệu đợc thu thập, nghiên cứu, luận văn sẽ đa ra đợcnhững kết luận và đề xuất giải pháp, giúp Công an các địa phơng, đặc biệt làCông an tỉnh Bắc Giang tham khảo vận dụng trong công tác thực tiễn nhằm nâng

Trang 5

cao hiÖu qu¶ trong c«ng t¸c, ®iÒu tra kh¸m ph¸ lo¹i téi ph¹m trém c¾p tµi s¶n nãichung, téi ph¹m trém c¾p tµi s¶n t¹i n¬i ë cña c«ng d©n nãi riªng.

8 CÊu tróc cña luËn v¨n

Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn vµ danh môc tµi liÖu tham kh¶o, néi dungcña luËn v¨n gåm 3 ch¬ng, 8 tiÕt

Trang 6

Chơng 1

nhận thức về tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân và công tác điều tra khám phá của lực lợng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội

Công an tỉnh Bắc Giang

1.1 Nhận thức về tội trộm cắp tài sản và trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân

1.1.1 Quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm trộm cắp tài sản

Trong BLHS năm 1985 của nớc ta, tội trộm cắp tài sản đợc qui định tạihai điều 132, 155: tội phạm trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và tội phạmtrộm cắp tài sản công dân

Nghiên cứu những quy định trên cho thấy có sự phân biệt rạch ròi giữatài sản nhà nớc, tài sản tập thể và tài sản riêng của công dân là cơ sở xây dựngmột chế tài hình phạt khá cụ thể Điều đó phù hợp với quan điểm của Đảng vàNhà nớc ta trong thời điểm nớc ta bớc vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, cầnphải chủ động tập trung bảo vệ tài sản nhà nớc, tài sản chung của xã hội

Đồng thời, quy định nh vậy cũng là một kế thừa những quy định trớc đây vànhững pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản nhà nớc và tài sản côngdân Trên cơ sở đó ngành Công an đã phân công trách nhiệm đấu tranh chocác lực lợng Cảnh sát kinh tế và Cảnh sát hình sự để đợc đảm bảo chuyên sâu

đối với từng lĩnh vực

Tuy nhiên thực tiễn đấu tranh phòng ngừa, điều tra, xét xử đối với cácloại tội phạm trộm cắp tài sản XHCN, tài sản riêng của công dân qua nhiềunăm cho thấy cả hai loại tội phạm trên có nhiều điểm giống nhau:

- Trớc hết về hành vi khách quan: đều là những hành vi, thủ đoạn "lénlút, bí mật chiếm đoạt tài sản" đối tợng là những tài sản có giá trị, luôn thiệthại về kinh tế

Trang 7

Khách thể đó là xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, làm mất điquyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của ngời khác, gây nên sự lo lắng củacon ngời, gây mất trật tự xã hội

Chủ thể cũng là những con ngời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Chủ quan đều do lỗi cố ý trực tiếp

Khi nghiên cứu đến các trờng hợp phạm tội, các tình tiết tăng nặngcũng có dấu hiệu tơng tự giữa hai điều luật trong BLHS năm 1985

Hơn nữa xuất phát từ quan điểm tiếp cận của pháp luật nớc ta: "mọingời đều bình đẳng trớc pháp luật", tài sản hợp pháp của bất kỳ ai trong xã hội

đều đợc tôn trọng và đợc pháp luật bảo vệ Cho nên khi phân biệt cụ thể tàisản XHCN và tài sản riêng của công dân dễ dẫn đến t tởng phân biệt đối tợng

đấu tranh, coi thờng bảo vệ tài sản riêng của công dân Đặc biệt trong thời

điểm kinh tế thị trờng định hớng XHCN hiện nay và đặc điểm của sở hữu tàisản có lúc khó phân tài sản thuộc sở hữu nào

Vì vậy, BLHS năm 1999 đã có bớc cải tiến mới trong quy định về tộiphạm nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng, đã quy định tội phạmtrộm cắp tài sản trong một điều luật Điều 138, BLHS năm 1999 quy định tộitrộm cắp nh sau: "Ngời nào trộm cắp tài sản của ngời khác có giá trị từ nămtrăm nghìn đồng đến dới năm mơi triệu đồng hoặc dới năm trăm nghìn đồngnhng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm

đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, cha đợc xóa án tích mà còn viphạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng

đến 3 năm " Quy định nh vậy là một bớc tiến vợt bậc của quá trình lập pháp

Điều 138 quy định cụ thể về tội phạm trộm cắp tài sản nh sau:

"1 Ngời nào trộm cắp tài sản của ngời khác có giá trị từ năm trămnghìn đồng đến dới năm mơi triệu đồng hoặc dới năm trăm nghìn đồng nhnggây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạthoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, cha đợc xóa án tích mà còn viphạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng

đến ba năm

Trang 8

2 Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ hainăm đến bảy năm:

a Có tổ chức;

b Có tính chất chuyên nghiệp;

c Tái phạm nguy hiểm;

d Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

e Hành hung để tẩu thoát;

f.Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mơi triệu đồng đến dớihai trăm triệu đồng;

g Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từbảy năm đến mời lăm năm:

a Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dới nămtrăm triệu đồng;

b Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4 Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

m-ời hai năm đến hai mơi năm hoặc tù chung thân:

a Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5 Ngời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm

m-ơi triệu đồng"

Trong Bình luận khoa học BLHS, phần các tội phạm, trộm cắp đợchiểu là "lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản đang do ngời khác quản lý" TrongGiáo trình luật hình sự Việt Nam của Trờng Đại học Luật Hà Nội, trộm cắp tàisản cũng đợc hiểu là "lén lút chiếm đoạt tài sản đang có ngời quản lý" Theochúng tôi, "tài sản đang do ngời khác quản lý" và "tài sản đang có ngời quản lý"chỉ là hai cách nói khác nhau của cùng một nội dung Tuy nhiên, khái niệm

Trang 9

trộm cắp trong Bình luận khoa học BLHS rõ ràng hơn trong giáo trình luậthình sự Việt Nam của Trờng Đại học Luật Hà Nội vì mô tả đợc hành vi trộmcắp là hành vi "lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản " Trong khi đó, Giáo trìnhluật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm của Trờng Đại học CSND lại chorằng: "Trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản của ngời chủ tài sản hoặc ngời

đợc giao trực tiếp quản lý tài sản, có thể bằng thủ đoạn lén lút" Định nghĩa nhvậy quá dài vì "chiếm đoạt tài sản của ngời chủ tài sản hoặc ngời đợc giao trựctiếp quản lý tài sản", nói ngắn gọn, chính là chiếm đoạt tài sản của ngời khác.Còn nói "có thể bằng thủ đoạn lén lút" thì về cơ bản, có thể hiểu lén lút chỉ làmột trong các thủ đoạn đợc thực hiện Vậy, nếu hành vi chiếm đoạt đợc thực hiệncông khai, trắng trợn, thậm chí dùng cả vũ lực để đe dọa thì ngời thực hiệnhành vi đó có phạm tội trộm cắp hay không? Rõ ràng, khái niệm trộm cắp tronggiáo trình luật hình sự của Trờng Đại học CSND (nay là Học viện CSND) làmngời đọc có thể nhầm lẫn hành vi trộm cắp với các hành vi chiếm đoạt khác

nh cớp, cớp giật, công nhiên chiếm đoạt v.v

1.1.2 Đặc điểm pháp lý đặc trng của tội phạm trộm cắp tài sản

Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý để xác định tội danh (định tội) Địnhtội là cơ sở đầu tiên để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội

Nh vậy, cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý của việc định tội Với ý nghĩa nhvậy, cần phải tìm hiểu các đặc điểm pháp lý đặc trng của tội phạm này

Theo quy định của Điều 138 BLHS 1999, các yếu tố cấu thành tội trộmcắp tài sản của công dân thể hiện nh sau:

- Khách thể của tội trộm cắp tài sản

Điều 138 nằm trong Chơng XIV - "Các tội xâm phạm sở hữu" Điều

đó có nghĩa là tội trộm cắp là một trong các tội xâm phạm sở hữu Khách thểcủa tội phạm này xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản Xâm phạmquyền sở hữu đối với tài sản là làm mất đi quyền chiếm hữu, sử dụng và định

đoạt đối với tài sản

Tội trộm cắp tài sản là:

- Xâm phạm quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản)

Trang 10

- Là thiệt hại đến kinh tế nhà nớc, tài sản công dân.

- Gây ảnh hởng đến đời sống sinh hoạt, trật tự xã hội

Đối tợng tác động của tội trộm cắp tài sản trớc hết là tài sản, bất kể tàisản đó là của ai Tài sản đó có thể là của Nhà nớc, tổ chức chính trị, xã hộikinh tế, các đơn vị lực lợng vũ trang và tài sản của t nhân Tài sản đó có thể làhợp pháp hoặc bất hợp pháp

Tài sản đó, theo Hiến pháp năm 1992 bao gồm: "Thu nhập hợp pháp,của cải để dành, nhà ở, t liệu sinh hoạt, t liệu sản xuất, vốn và tài sản kháctrong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác" (Điều 58)

Tài sản thuộc các tổ chức t nhân (kể cả các tổ chức t nhân nớc ngoài)cũng thuộc phạm vi đối tợng của tội trộm cắp tài sản của công dân

Tài sản thuộc sở hữu công dân nhng đang tạm thời thuộc sự quản lýcủa các cơ quan nhà nớc, các xí nghiệp quốc doanh, hoặc hợp tác xã khôngthuộc đối tợng tác động của tội trộm cắp tài sản của công dân mà đợc bảo vệ

nh tài sản của Nhà nớc

Tài sản của công dân về nguyên tắc chỉ là đối tợng của những hành viphạm tội do ngời không phải là chủ sở hữu thực hiện Tuy nhiên, cũng có trờnghợp tài sản đó có thể là tài sản của riêng ngời có hành vi phạm tội hoặc là tài sảnchung với ngời khác Đó là những trờng hợp hành vi phạm tội, về hình thức, tuytác động đến tài sản của ngời thực hiện, nhng thực chất lại nhằm gây thiệt hại vềtài sản cho ngời khác hoặc cho ngời cùng sở hữu với mình

Ngoài ra khi những vụ trộm cắp tài sản xảy ra trên thực tế đã gây ratình trạng lo sợ không yên tâm công tác và sinh hoạt của con ngời trong xãhội, làm phức tạp thêm tình hình trật tự xã hội

- Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản

Mặt khách quan của tội phạm trộm cắp tài sản là những biểu hiện diễn

ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan và đợc qui định trong điều luật

Đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc thực hiện nh sau:

Trang 11

Trớc hết, nói về hành vi chiếm đoạt tài sản Hành vi đó phải là lén lút,

bí mật Đây là dấu hiệu có nội dung trái ngợc với dấu hiệu công khai ở các tộixâm phạm sở hữu của công dân có tính chất chiếm đoạt khác Dấu hiệu nàyvừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt, vừa chỉ ý thức chủ quancủa ngời thực hiện hành vi

Một hành vi chiếm đoạt đợc coi là lén lút, bí mật nếu đợc thực hiện bằngnhững hình thức mà những hình thức đó có khả năng làm cho chủ tài sản hoặcngời đang quản lý tài sản không biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra

Hành vi của ngời phạm tội là lén lút, nếu khi thực hiện hành vi chiếm

đoạt tài sản ngời phạm tội có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của mình.Trong đa số các trờng hợp trộm cắp tài sản của công dân xảy ra, ý thức chủquan của ngời phạm tội cũng là lén lút, che giấu đối với mọi ngời khác ý thứcche giấu này có thể là:

+ Che giấu toàn bộ hành vi phạm tội, nh che giấu đối với chủ tài sản.+ Chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành vi phạm tội

Ví dụ: Lợi dụng chủ nhà đi vắng, ngời phạm tội dùng chìa khóa mở cửamột cách công khai và chuyển tài sản lên ô tô đàng hoàng nh là có việc chuyênchở hàng hóa bình thờng Trong trờng hợp này, những ngời không phải là chủ tàisản vẫn biết sự việc xảy ra, nhng có thể không biết đó là hành vi trộm cắp Trongthực tiễn, trờng hợp nêu trên vẫn thờng xảy ra, vì vậy cần phải nhận thức đúnghành vi đó là trộm cắp để định hớng điều tra ban đầu cho chính xác, không nhầmlẫn với trờng hợp công nhiên chiếm đoạt tài sản

Thứ hai, nói về giá trị của tài sản bị chiếm đoạt và hậu quả tác hại Căn

cứ vào khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, chỉ đợc coi là phạm tội trộm cắptài sản trong những trờng hợp sau:

- Giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ năm trăm nghìn đồng trở lên (đến dớinăm mơi triệu đồng)

- Giá trị tài sản bị chiếm đoạt tuy cha đến năm trăm nghìn đồng, nhnggây hậu quả nghiêm trọng; hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm

Trang 12

đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt (bất kỳ tội nào xâm phạm sở hữu cótính chất chiếm đoạt), cha đợc xóa án tích mà còn vi phạm.

Cụ thể hóa giá trị tài sản bị chiếm đoạt Thông t liên tịch số02/2001/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa ánnhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ T pháp h-ớng dẫn một số quy định tại Chơng XIV "Các tội xâm phạm sở hữu của Bộluật hình sự năm 1999" (trong luận văn gọi tắt là Thông t số 02/2001)

Theo mục II Thông t trên giá trị tài sản bị chiếm đoạt đợc xác địnhtheo giá thị trờng của tài sản đó tại địa phơng vào thời điểm tài sản bị chiếm

đoạt Trong trờng hợp tài sản thực tế bị chiếm đoạt dới năm trăm nghìn đồngnhng có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng ngời có hành vi trộm cắp có ý địnhchiếm đoạt đến tài sản có giá trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ là từ nămtrăm nghìn đồng trở lên thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự

Để xác định đúng giá trị tài sản trong trờng hợp không tìm thấy tài sản

bị trộm cắp CQĐT cần lấy lời khai những ngời biết về tài sản này để xác địnhtài sản đó là gì; nhãn mác nh thế nào; giá trị của tài sản theo thời giá thực tếtại địa phơng vào thời điểm tài sản bị mất trộm là bao nhiêu, còn khoảng baonhiêu phần trăm… Trên cơ sở đó có kết luận cuối cùng về giá trị tài sản bịxâm phạm

Trong trờng hợp một ngời thực hiện trộm cắp nhiều lần nhng mỗi lần

có tài sản giá trị dới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và khôngthuộc một trong các trờng hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồngthời trong các lần trộm cắp đó cha có lần nào bị xử phạt hành chính và cha hếtthời hiệu truy cứu trách nhiệm hành chính, nếu tổng giá trị tài sản các lần trộmcắp từ năm trăm nghìn đồng trở lên thì vẫn xác định là đủ yếu tố cấu thành tộiphạm nếu:

+ Các vụ trộm cắp thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặtthời gian

+ Việc trộm cắp tài sản có tính chất chuyên nghiệp, lấy tài sản trộmcắp làm nguồn sống chính

Trang 13

+ Với mục đích trộm cắp, nhng do điều kiện hoàn cảnh khách quannên việc trộm cắp phải đợc thực hiện nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị xâmphạm mỗi lần dới năm trăm nghìn đồng.

Còn thế nào là "gây hậu quả nghiêm trọng"; thì Thông t số 02/2001 đã ớng dẫn cụ thể Theo đó, "gây hậu quả nghiêm trọng" đợc hiểu là hậu quả phải

h-do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội vàhậu quả) Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc hậuquả phi vật chất (gây ảnh hởng xấu đến việc thực hiện đờng lối của Đảng, chínhsách của Nhà nớc; gây ảnh hởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội)

Dấu hiệu bị coi là "đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt",

đ-ợc hiểu là: "Nếu trớc đó đã bị xử lý bằng một trong các hình thức sau đây vềhành vi chiếm đoạt, nhng cha hết thời hạn để đợc coi là cha bị xử lý mà lạithực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tàisản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

a Đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định của Pháp lệnh

xử lý vi phạm hành chính;

b Đã bị xử lý kỷ luật theo đúng điều lệnh, điều lệ của lực lợng vũ trang;

c Đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền "

Đối với trờng hợp bị kết án nhng cha đợc xóa án về một trong các tộiphạm có tính chất chiếm đoạt tài sản (nh tội chiếm đoạt vật liệu nổ Điều 232BLHS; tội chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ Điều 233 BLHS) có bịcoi là tình tiết định tội hay không sẽ đợc hớng dẫn sau

Với quy định nh vậy, tội trộm cắp tài sản của công dân chỉ coi là hoànthành khi ngời thực hiện hành vi trộm cắp đã chiếm đoạt đợc tài sản Còn khi

họ cha chiếm đoạt đợc tài sản, hành vi của họ cha cấu thành tội phạm Để

đánh giá ngời phạm tội đã chiếm đoạt đợc hay cha, đã làm chủ đợc tài sản haycha phải dựa vào đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt Cụ thể về những tr ờnghợp chiếm đoạt đợc ở hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản của côngdân nh sau:

Trang 14

- Nếu tài sản bị chiếm đoạt là loại gọn, nhỏ, thì coi là chiếm đoạt đợckhi ngời phạm tội đã giấu đợc tài sản trong ngời

Ví dụ: Một ngời lợi dụng ngời khác đang kiểm tiền và không ai để ý

đã lấy cắp một cọc tiền 10 triệu đồng giấu trong áo

- Nếu vật bị chiếm đoạt cồng kềnh, không thuộc loại nói trên thì thời

điểm tội phạm đợc coi là hoàn thành khi ngời phạm tội đã mang đợc tài sản rakhỏi khu vực bảo quản (thoát ra khỏi sự quản lý của ngời có tài sản)

Nh vậy, để đợc coi là phạm tội trộm cắp tài sản của công dân, khi ngờinào đó có hành vi chiếm đoạt tài sản, tức là ngời đó có hành vi chuyển dịchmột cách trái pháp luật tài sản từ sự quản lý của một chủ thể thành tài sản củamình hoặc cho ngời khác mà mình quan tâm Chuyển dịch ở đây có nghĩa là

di chuyển tài sản đang có sự quản lý của ngời khác ra khỏi vị trí ban đầu củanó

Thứ ba, nói về công cụ, phơng tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn

cảnh phạm tội Công cụ, phơng tiện mà các đối tợng sử dụng để thực hiệnhành vi trộm cắp là kìm cộng lực, vam phá khóa hay chìa khóa vạn năng, daolam Thủ đoạn đợc áp dụng ở đây là lợi dụng chủ quản lý tài sản vắng nhà,lơi lỏng quản lý phá cửa đột nhập lấy tài sản hay xin ngủ nhờ đến đêm khuyadậy lấy tài sản và tẩu thoát Lợi dụng sơ hở của chủ nhà, nấp sẵn trong nhàchờ cơ hội thuận lợi chiếm đoạt tài sản hay lợi dụng chỗ đông ngời để rạch túi,móc ví v.v Về thời gian, địa điểm, hành vi trộm cắp xảy ra vào ban ngày hayban đêm, ở nơi đông ngời nh chợ, cửa hàng, bến tàu, bến xe, bệnh viện khudân c hay ở những nơi vắng vẻ ít ngời qua lại Tất cả những điều đó đều làmặt khách quan của tội trộm cắp tài sản

- Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản của công dân

Khoa học luật hình sự chỉ ra rằng, tội phạm là một thể thống nhất củahai mặt khách quan và chủ quan Nếu nh mặt khách quan là những biểu hiệnbên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong củangời phạm tội Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, mục đích và động cơphạm tội Lỗi là thái độ tâm lý của một ngời đối với hành vi nguy hiểm cho xã

Trang 15

hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, đợc biểu hiện dới hìnhthức cố ý hoặc vô ý.

Lý trí và ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi Lý trí thể hiện nănglực nhận thức thực tại khách quan còn ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành

vi trên cơ sở nhận thức Đây là những yếu tố tâm lý cần thiết của mọi hoạt

động có ý thức của con ngời

Một hành vi bị coi là có lỗi chỉ khi ngời thực hiện hành vi đó nhậnthức đợc và điều khiển đợc hành vi của mình, đồng thời có khả năng xử sự phùhợp với lợi ích của xã hội, nhng ngời thực hiện hành vi đã lựa chọn, quyết

định và thực hiện xử sự gây thiệt hại cho xã hội, cho công dân

Về lý trí, ngời phạm tội trộm cắp tài sản của công dân nhận thức rõtính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình trên cơ sở nhận biết đốitợng y sẽ chiếm đoạt là tài sản của ngời khác, nhận biết mức độ thực hiệnhành vi, công cụ, phơng tiện phạm tội cũng nh các phơng pháp, thủ đoạn, thờigian, địa điểm thực hiện tội phạm sẽ gây thiệt hại đến tài sản của ngời khác

Do đó, lỗi của ngời thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của công dân là cố ýtrực tiếp, không thể có trờng hợp cố ý gián tiếp hay vô ý

Trong tội trộm cắp tài sản của công dân, động cơ và mục đích vụ lợiluôn là dấu hiệu đặc trng Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy ngời phạmtội thực hiện hành vi phạm tội Do khái niệm chiếm đoạt về mặt pháp lý đãbao hàm mục đích vụ lợi nh trên cho nên các điều luật quy định về các tộichiếm đoạt khác cũng không nêu dấu hiệu này Động cơ không phải là dấuhiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, tuy nhiên, trên thực tế, điều tra làm rõ

động cơ mục đích của hành vi trộm cắp tài sản trong những trờng hợp cụ thể

có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong đó có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmhình sự của bị can, bị cáo, chẳng hạn nh: Ngời phạm tội thực hiện hành vitrộm cắp để lấy tiền điều trị cho con bị mắc bệnh hiểm nghèo v.v

Tóm lại, về mặt chủ quan của tội phạm trộm cắp tài sản phải đợc thựchiện do lỗi cố ý trực tiếp, với động cơ, mục đích vụ lợi thể hiện qua hành vichiếm đoạt

Trang 16

- Chủ thể của tội trộm cắp tài sản của công dân

Chủ thể của tội phạm là con ngời cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội một cách cố ý hay vô ý, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt

độ tuổi theo luật hình sự qui định

Nh vậy, không phải bất kỳ ngời nào cũng có thể trở thành chủ thể củatội phạm khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trongBLHS, mà chỉ những ngời có đủ các điều kiện để có lỗi mới trở thành chủ thểcủa tội phạm; các điều kiện đó là:

+ Có năng lực trách nhiệm hình sự, nghĩa là có khả năng nhận thức đợc ýnghĩa xã hội của hành vi do mình thực hiện và năng lực điều khiển đợc hành vitheo những yêu cầu tất yếu của xã hội Ngời không có khả năng đó là ngờikhông có năng lực trách nhiệm hình sự Khoản 1 Điều 13 BLHS năm 1999quy định: "Ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắcbệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khảnăng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự"

+ Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Đây là những dấu hiệu pháp lý bắt buộc về chủ thể của tội phạm Ngoàinhững dấu hiệu cơ bản ấy, một số tội phạm đòi hỏi phải có thêm các dấu hiệu

đặc biệt khác và chỉ khi có những dấu hiệu đặc biệt đó, chủ thể mới có thểthực hiện đợc hành vi khách quan của những tội này Lý luận khoa học luậthình sự gọi đó là chủ thể đặc biệt

Chủ thể của tội trộm cắp tài sản của công dân là chủ thể bình thờng,nghĩa là bất kỳ ai đủ hai điều kiện của chủ thể nêu trên khi có hành vi trộmcắp tài sản đều trở thành chủ thể của tội này

Trang 17

Tóm lại, theo tinh thần của Điều 138 BLHS năm 1999, tội phạm trộm

cắp tài sản đợc qui định rõ ràng hơn về giá trị tài sản (định lợng) so với BLHSnăm 1985 Tuy vậy, để điều tra làm rõ tội phạm trộm cắp tài sản và truy tố ng-

ời phạm tội đòi hỏi phải thận trọng hơn, bởi vì qui định của BLHS năm 1999chi tiết, bảo đảm yêu cầu cao hơn về cá thể hóa hành vi và cá thể hóa hìnhphạt

1.1.3 Đặc điểm của hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân

Chúng ta biết rằng, tội phạm trộm cắp có nhiều loại hành vi khác nhauvì vậy cần phân loại để hiểu rõ hành vi cụ thể Việc phân loại tội phạm trộmcắp ở đây chúng tôi không phân loại theo khách thể bị xâm hại, mà phân theo:

Đối tợng bị chiếm đoạt; thời gian và địa điểm gây án phơng thức, thủ đoạn

Thứ nhất, căn cứ vào đối tợng bị chiếm đoạt Do tội phạm trộm cắp

đ-ợc thực hiện bằng hành vi lén lút, bí mật với động cơ, mục đích là chiếm đoạtnên những tài sản mà bọn tội phạm chú ý là những tài sản quý hiếm có giá trị,

dễ tiêu thụ nh: xe máy, tivi, đầu video, máy tính, tiền vàng đá quí, ngoại tệ, cácloại quần áo đắt tiền, đồ cổ Vì vậy, có thể phân thành các loại nh trộm cắp

xe máy, ôtô, trộm cắp tiền, vàng, đá quý, trộm cắp đồ dùng khác

Thứ hai, theo địa điểm gây án, có thể chia ra các loại nh: trộm cắp nơi

công cộng (bến tàu, bến xe, chợ ); trộm cắp trên phơng tiện giao thông; trộmcắp nơi ở của công dân

Trang 18

Thứ ba, theo thời gian có trộm cắp ban đêm, ban ngày.

Thứ t, theo phơng thức thủ đoạn có các loại: móc túi, đột nhập, cậy

khóa, đào tờng, khoét ngạch

Theo cách phân loại nh trên hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại nơi ởcông dân là một loại trong hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nói chung, tuynhiên loại hành vi này có những nét đặc trng riêng của nó

Nhà nớc giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài

Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý,

sử dụng tiết kiệm đất, đợc chuyển quyền sử dụng đất đợc nhà nớc giao theo qui

định của pháp luật." Điều 62 qui định: "Công dân có quyền xây dựng nhà ở theoqui hoạch và pháp luật Quyền lợi của ngời thuê nhà và ngời có nhà cho thuê

đợc bảo hộ theo pháp luật" Đó là những quyền về đất đai và nhà ở của côngdân đã đợc Hiến pháp qui định

Còn đối với Luật Đất đai tại Điều 52, qui định:

"Đất khu dân c nông thôn là đất đợc xác định chủ yếu để xây dựng nhà

ở và các công trình phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn

Đất ở của mỗi hộ gia đình nông thôn bao gồm đất để làm nhà ở và cáccông trình phục vụ cho đời sống của gia đình"

Tại Điều 55 Luật Đất đai qui định: "Đất đô thị là đất nội thành, nội thịxã, thị trấn đợc sử dụng để xây dựng nhà ở, trụ sở các cơ quan, tổ chức, các cơ sởsản xuất, kinh doanh, cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, anninh và vào các mục đích khác" Hay tại Điều 57 Luật Đất đai qui định:

Trang 19

"Nhà nớc có qui hoạch sử dụng đất để xây dựng nhà ở tại đô thị; cóchính sách tạo điều kiện để những ngời sống ở đô thị có chỗ ở.

Những nơi có qui hoạch giao đất làm nhà ở, thì ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ơng quyết định việc giao đất theo qui định củaChính phủ"

Theo qui định của Hiến pháp và Luật Đất đai của nớc Cộng hòa XHCNViệt Nam thì nơi ở của công dân đợc qui định ở nông thôn khác với thànhphố ở nông thôn đất ở thờng rộng hơn ở thành phố, thị xã, thị trấn, ở nôngthôn đất ở thờng có vờn tợc để làm các công trình phụ và tăng gia sản xuất,chứa đựng các sản phẩm nông nghiệp Còn thành phố, thị xã, thị trấn, diệntích đất ở thờng hẹp hơn và chủ yếu để xây nhà ở, phục vụ sinh hoạt nghỉngơi

Có thể đa ra khái niệm nơi ở của công dân: Là diện tích đất đợc qui hoạch xây dựng nhà, làm vờn của cá nhân, hộ gia đình do nhà nớc cấp hoặc mua để xây dựng nhà ở và diện tích vờn đi cùng với nó.

Nh vậy nơi ở bao gồm: đất để làm nhà, đất vờn đi theo nhà, nằm trêndiện tích đất ở, trờng hợp vờn đi cùng đất ở thờng chỉ có ở nông thôn, còn đôthị thờng chỉ có đất cấp để xây biệt thự thì có vờn đi cùng

Vờn đi cùng với đất ở phải nằm trên khuôn viên của đất ở chứ khôngphải là đất dùng để làm vờn riêng biệt cách xa nhà ở

Tóm lại, nơi ở của công dân bao gồm, nhà (nhà trên, nhà dới hay nhà

ngang), sân, vờn (đi cùng nhà ở) nh vậy phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ởnhững tài sản bị mất trong phạm vi nhà ở công dân Còn tài sản bị mất ở ngoàinhững nơi kể trên thì luận văn không đề cập chẳng hạn nh: nơi ở đó nằm trongdoanh trại Quân đội, Công an, hay trong các cơ quan xí nghiệp

- Đặc điểm về hành vi phạm tội trộm cắp nơi ở của công dân

Trớc hết phải thấy rằng đây cũng là hành vi phạm tội trộm cắp tài sảnnói chung, tức là ngời phạm tội cũng phải thực hiện hành vi một cách lén lút,

Trang 20

bí mật với chủ nhà và những ngời xung quanh, lấy đi những tài sản có giá trịtheo quy định của BLHS.

Tuy nhiên, nghiên cứu về loại hình phạm tội này cho thấy một số đặc

điểm riêng nh sau:

+ Những tài sản mà đối tợng phạm tội muốn chiếm đoạt là những tàisản thuộc sở hữu của chủ nhà, nh tiền bạc do chủ nhà tích cóp đợc, cất giữtrong nhà, những vật dụng là công cụ sản xuất hoặc vật nuôi nh trâu, bò, lợn,

gà, máy móc phục vụ sản xuất, phơng tiện xe máy, xe đạp để đi lại Nhữngtài sản này tuy có giá trị bằng tiền không lớn lắm nhng có ý nghĩa thiết thực

đối với đời sống lao động và sinh hoạt của gia đình Tuy nhiên, cũng có nhữngtrờng hợp khi chủ nhân là chủ cửa hàng vàng bạc, đá quý hoặc chủ nhà hàng,khách sạn lớn thì khối lợng tài sản cũng có giá trị lớn

+ Đối tợng phạm tội thấy lợi dụng vào những thời điểm thuận lợi nhvào ban đêm hoặc khi ngời nhà và ngời xung quanh không có nhà hoặc đangngủ say để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (đặc trng của loại tội phạm này)

+ Về thủ đoạn của loại tội phạm này cũng có những nét riêng so vớicác hành vi trộm cắp khác, đó là dùng thủ đoạn đột nhập, mà thờng gọi là "độtvòm" Thủ đoạn này cho thấy bọn phạm tội muốn chiếm đoạt tài sản tại nhàdân nào chúng thờng phải chuẩn bị công phu

1.2 Nhận thức về điều tra tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân

1.2.1 Công tác phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân

- Phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản nơi ở công dân là yêu cầu cấpthiết khách quan Trong lý luận tội phạm học cũng nh quan điểm của Đảng,Nhà nớc ta thể hiện rõ; phòng ngừa tội phạm là phơng hớng chính của cuộc

đấu tranh phòng chống tội phạm Vận dụng quan điểm đó, trong đấu tranhphòng chống tội phạm trộm cắp tài sản nơi ở công dân cũng phải luôn chú ýtới công tác phòng ngừa ngăn chặn vì những lý do sau:

Trang 21

+ Tài sản bị chiếm đoạt tại nơi ở công dân là kết quả lao động của ngờidân, là nguồn sống, phơng tiện lao động, sinh hoạt do họ lao động mà có đợckhi bị trộm cắp tài sản đó thì ngời dân bị mất đi nguồn tài sản hợp pháp quýbáu nhất là khi bị trộm cắp thì rất khó tìm lại đợc

+ Thực tế loại tội phạm này xảy ra nhiều, 1.054 vụ chiếm tỷ lệ 58,65%.+ Thực tế cũng chứng minh khả năng có thể phòng ngừa ngăn chặn các

vụ phạm tội này xảy ra, khi nhà nớc, công dân có ý thức phòng ngừa ngăn chặn

Vì vậy, chúng ta luôn phải có ý thức và kế hoạch phòng ngừa tội phạmtrộm cắp tài sản tại nơi ở công dân

- Nội dung công tác phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ởcông dân

Cũng nh trộm cắp tài sản nói chung, công tác phòng ngừa tội phạmtrộm cắp tại nơi ở của công dân cũng cần đợc cơ quan Công an có các biệnpháp phòng ngừa hữu hiệu Qua nghiên cứu các vụ án trộm cắp tài sản xảy ratrên địa bàn tỉnh Bắc Giang thì số vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dânchiếm đa số(1.054/1.797=58,65%) Thiệt hại do chúng gây ra cũng lớn hơn.Thủ đoạn hết sức tinh vi, phần lớn các vụ đối tợng có sự câu kết với nhauthành băng ổ nhóm để hoạt động, có sự phân công vai trò của từng tên và có

sự chuẩn bị công cụ phơng tiện để gây án nh: xe, kìm điện, kìm cộng lực đènkhò, bả chó, dây

Đối với loại tội phạm này cần phải:

+ Nghiên cứu nắm vững nguyên nhân, điều kiện tội phạm trộm cắp tàisản tại nơi ở của công dân Tìm ra những qui luật hoạt động của tội phạm,những băng ổ nhóm chuyên hoạt động gây án trên lĩnh vực này

+ Tiến hành loại trừ, xóa bỏ nguyên nhân, điều kiện, bịt kín sơ hởkhông để cho tội phạm lợi dụng gây án

+ Bảo vệ nơi ở, tài sản của công dân Giáo dục, phổ biến cho mọi ngờidân về thủ đoạn, tính manh động của loại tội phạm này để từng ngời dân nêucao tinh thần cảnh giác, có ý thức tự bảo vệ tài sản

- Biện pháp phòng ngừa

Trang 22

+ Biện pháp phòng ngừa chung của các cơ quan nhà nớc, chính quyền

địa phơng, cần có các biện pháp xóa đói giảm nghèo, tuyên truyền pháp luật,tạo công ăn việc làm cho mọi ngời dân đến tuổi lao động Đề ra các qui ớc, h-

ơng ớc của làng xã cũng nh khối phố để góp phần quản lý đối tợng

+ Biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ của cơ quan Công an trớc tiên phảilàm tốt công tác điều tra khám phá, truy tố kẻ phạm tội trớc pháp luật, tạolòng tin trong nhân dân Làm tốt công tác điều tra cơ bản tuyến, địa bàn trọng

điểm và công tác su tra rà soát quản lý đối tợng hình sự nhất là những đối tợng

có biểu hiện hoạt động trộm cắp Quản lý những ngời làm nghề kinh doanh đồ

điện, xe máy cũ, cầm đồ

+ Biện pháp phòng ngừa của công dân tại nơi ở nh: xây nhà kiên cố,xây tờng rào bao quanh nhà, có khóa cổng Đi ra khỏi nhà phải khóa cửa bằngkhóa chống cắt, cất gửi tài sản

1.2.2 Điều tra vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân

- ý nghĩa quan trọng của điều tra làm rõ các vụ án đã xảy ra là đòi hỏicần thiết và chính đáng vì:

+ Lấy lại tài sản cho công dân

+ Xử lý ngời phạm tội theo pháp luật

+ Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sựcủa bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

+ Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

Trang 23

- Tuy nhiên, hoạt động điều tra các vụ phạm tội trộm cắp tại nơi ở củacông dân cũng có những khó khăn phức tạp nh:

Thứ nhất, đối tợng gây án: đối với các vụ án trộm cắp tài sản trong

thực tế hiện nay đợc xác định là một loại án khó điều tra không riêng tỉnh BắcGiang mà là tình trạng chung của cả nớc, số vụ hàng năm xảy ra nhiều, đối t-ợng hoạt động tinh vi, hành vi lén lút bí mật, tang vật dễ tẩu tán tiêu thụ Thủ

đoạn hoạt động tinh vi, thờng cấu kết thành những băng ổ nhóm để hoạt động,khi tiếp cận địa điểm gây án thờng chúng tăm tia trớc xác định đợc mục tiêumới lên kế hoạch gây án và phân công nhiệm vụ cho từng tên (trong các vụ có

sự cấu kết thành ổ nhóm) Do có sự chuẩn bị trớc nên trong quá trình đấutranh khai thác điều tra viên cũng gặp rất nhiều khó khăn

Thứ hai, thời gian gây án: vì tội phạm đột nhập vào nơi ở của công dân

nên thời gian gây án thờng là ban đêm, ít có nhân chứng, hiện trờng thờng hay

bị xáo trộn, khó xác định chính xác thời gian mất, hớng đi đến và hớng rút của

đối tợng cũng khó xác định Chính vì vậy, quá trình điều tra loại án này hiệnnay CQĐT gặp rất nhiều khó khăn

Thứ ba, địa bàn gây án: tội phạm thờng tập trung vào những nhà giàu,

những gia đình có nhiều sơ hở trong khâu bảo vệ tài sản, song không nhất thiết ởmột địa bàn nào đó nh cũng trộm cắp tài sản công dân địa bàn hoạt động cóthể xác định đợc ngay nh: trộm cắp ở địa bàn bến xe, chợ, nhà ga còn trộm cắptài sản tại nơi ở của công dân rất khó xác định đâu là địa bàn trọng điểm tộiphạm có thể sẽ hoạt động nhiều Chính vì vậy, việc xác định địa bàn để phòngngừa, phục kích là rất khó, quá trình điều tra cũng gặp rất nhiều khó khăn

Nh trên đã phân tích, điều tra loại án này khó khăn là chủ yếu, songbên cạnh đó cũng có những thuận lợi nhất định nh: Sự xuất hiện của đối tợng

ở hiện trờng sẽ lâu hơn, thời gian gây án cũng lâu hơn (phải cạy, phá cửa,hòm, tủ ) nên dễ bộc lộ những sơ hở, mặt khác trong quá trình điều tra chínhnạn nhân và gia đình nạn nhân cũng có thể là một lực lợng giúp CQĐT trongquá trình truy tìm phát hiện tài sản và đối tợng gây án

Trang 24

1.2.3 Thẩm quyền trách nhiệm hoạt động phòng ngừa, điều tra tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân

Từ qui định của pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạmhình sự nói chung và tội phạm trộm cắp nói riêng, có thể nhận thấy thẩmquyền trách nhiệm nh sau:

- Về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm là sự nghiệp chung củacác cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội và công dân đối với tội phạm trộm cắp tàisản tại nơi ở của công dân cũng thể hiện quan điểm trên

Vì, quan điểm của Đảng ta cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nên trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự không chỉ riêng cơ quan Công an

-mà cần phải huy động sức mạnh của các lực lợng, tạo thành thế trận liên hoànmới đảm bảo đợc thành công

- Trong công tác này cơ quan Công an là lực lợng nòng cốt xung kích,bởi vì đây là lực lợng chính đợc đào tạo nghiệp vụ phòng ngừa, điều tra khámphá loại tội phạm này

- Về mặt chuyên môn, Bộ Công an giao cho lực lợng Cảnh sát điều tratội phạm về trật tự xã hội thực hiện chuyên trách công tác này nh:

+ Tổ chức phối hợp phòng ngừa và tiến hành các hoạt động phòng ngừaxã hội, phòng ngừa nghiệp vụ

+ Tổ chức tiến hành điều tra các vụ án đã xảy ra, chứng minh tội phạm

đề xuất phơng hớng xử lý kẻ phạm tội trớc pháp luật

Trang 25

của luận văn đã luận giải những vấn đề lý luận liên quan đến những nội dungcủa luận văn.

Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã làm rõ đợc kháiniệm tội trộm cắp tài sản; đã phân tích các yếu tố cụ thể cấu thành tội trộmcắp tài sản của công dân đợc quy định trong Điều 138 BLHS năm 1999 vàkhái niệm nơi ở của công dân

Luận văn cũng đã tìm hiểu các quan điểm khác nhau về việc phân chiacác giai đoạn điều tra Từ đó đã phân tích các luận cứ xác định các giai đoạn

điều tra và đi sâu nghiên cứu giai đoạn điều tra nhằm xác định tội phạm và

ng-ời thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của công dân, xác định rõnhiệm vụ của giai đoạn điều tra này Trên cơ sở đó, luận văn đã đi sâu phântích các tình huống điều tra tiêu biểu và chỉ dẫn cách lập kế hoạch điều tra vớihàng loạt các giả thuyết điều tra cho phù hợp với các tình huống đã nêu

Đó là những vấn đề có ý nghĩa lý luận góp phần nâng cao hiểu biết vànâng cao chất lợng công tác điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của công dântrong tình hình hiện nay

Trang 26

Chơng 2 Thực trạng tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh bắc giang trong những năm 2002 đến 2006 và các biện pháp điều tra khám phá

2.1 Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản tại nhà ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

2.1.1 Tình hình có liên quan đến tội phạm trộm cắp tài sản tại nhà

ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

2.1.1.1 Tình hình kinh tế chính trị, kinh tế, xã hội, vị trí địa lý, dân c

Bắc Giang là tỉnh miền núi (theo Quyết định 68/QĐ-UB ngày 09/8/1997của ủy ban Dân tộc Miền núi), với tổng diện tích 3.822 km2, dân số 1.564.000ngời, mật độ dân số trung bình 409 ngời/ 1km2 Nằm ở vị trí Đông Bắc Thủ đô

Hà Nội Phía bắc và Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Đông và Đông Nam giáptỉnh Quảng Ninh và Hải Dơng; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, HàNội và Thái Nguyên Tỉnh đợc chia làm 9 huyện, 1 thành phố gồm: Thành phốBắc Giang và 9 huyện đó là: Việt Yên; Hiệp Hòa; Yên Dũng; Lạng Giang;Tân Yên; Yên Thế; Lục Nam; Lục Ngạn; Sơn Động với 227 xã, phờng BắcGiang nằm liền kề vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, nơi có vị trí thuận lợi đểphát triển kinh tế

Trên địa bàn có 8 dân tộc anh em sinh sống: Kinh, Nùng, Tày, Hoa,Sán Chay, Sán Dìu trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm đa số (tỷ lệ 91%)

Trẻ em độ tuổi từ 0 đến 16 tuổi là 628.721 em chiếm tỷ lệ 40,2% Lựclợng lao động: 89 vạn ngời Trong đó khoảng 28,5% lực lợng lao động đã qua

đào tạo phục vụ tốt công tác công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong tỉnh

- Hệ thống giao thông của Bắc Giang bao gồm:

+ Đờng bộ, có 4 quốc lộ chạy qua đó là: Quốc lộ 1A mới và cũ; quốc

lộ 31; quốc lộ 37; quốc lộ 279 Có 15 tỉnh lộ với tổng chiều dài: 315,7 km,liên thông với các huyện, thị xã, các vùng nông thôn với thành thị Đờng thủy:

Trang 27

có ba con sông lớn chảy qua, rất thuận lợi cho việc vận chuyển bằng đờngthủy đó là: Sông Thơng; sông Cầu; sông Lục Nam Đờng sắt: Có tuyến đờngsắt quốc tế Hà Nội - Lạng Sơn chạy qua đảm bảo việc thông thơng cả trong n-

đất lâm nghiệp cho phép trồng rừng, chăn nuôi gia súc

Bắc Giang là tỉnh miền núi, do vậy dân c phân bố không đều, tập trungchủ yếu ở thành phố, thị trấn, vùng đồng bằng, điều kiện sinh hoạt, mức sống

có sự chênh lệch khác nhau nhất là đồng bào dân tộc ít ngời ở vùng sâu, vùng

xa Đây chính là yếu tố ảnh hởng không nhỏ đến việc tuyên truyền, phổ biếnpháp luật, vận động quần chúng tích cực tham gia phong trào bảo vệ an ninh,trật tự trên địa bàn tỉnh

Từ khi Đảng và Nhà nớc ta có chủ trơng xây dựng nền kinh tế thị trờngtheo định hớng xã hội chủ nghĩa, quan hệ quốc tế đa dạng hóa, đa phơng hóa,giữa nớc ta và Trung Quốc có sự giao lu buôn bán hàng hóa phát triển BắcGiang cách Trung Quốc 100 km lại có tuyến quốc lộ 1A chạy từ Lạng Sơnqua Bắc Giang về Hà Nội, chính vì vậy tình hình buôn bán giao lu kinh tế vớiLạng Sơn và Trung Quốc diễn ra hết sức sôi động Đời sống kinh tế xã hội củacác dân tộc tỉnh Bắc Giang đã đợc nâng lên so với trớc Số ngời thoát ly sảnxuất nông nghiệp ngày càng nhiều, có nhiều ngời giàu lên nhanh chóng, tạo nêntài sản xã hội ngày càng nhiều, các hộ gia đình đã mua sắm nhiều đồ dùng, ph-

ơng tiện đắt tiền để sử dụng Bên cạnh đó các tệ nạn xã hội vẫn còn hoành hànhcha đợc đẩy lùi nh: mại dâm, cờ bạc và đặc biệt là tệ nạn nghiện hút ma túy(thống kê con nghiện theo từng năm, 2002 có: 1589; 2003 có: 1485; 2004 có:1321; 2005 có: 1501; 6/2006 có: 1351) Tình trạng trên đã góp phần bổ sungthêm đối tợng hình sự và tình hình phức tạp ở địa phơng

Trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sangcơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, công tác quản lý kinh tế - xã hội

Trang 28

của tỉnh Bắc Giang cũng nh tình trạng chung của cả nớc còn bộc lộ nhiều sơ

hở, thiếu sót, nhất là công tác tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật trongquần chúng nhân dân, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa; công tác giáo dụcquản lý thanh thiếu niên mà đặc biệt là những thanh thiếu niên h, chậm tiến ởnhà trờng, gia đình, xã hội cha đợc quan tâm đúng mức nên cha đạt kết quả

nh mong muốn; công tác quản lý các tài sản của các cơ quan nhà nớc, tổ chứcchính trị - xã hội và của công dân còn thiếu sót, cha chặt chẽ Những tồntại đó là những nguyên nhân, điều kiện làm tăng số vụ tội phạm hình sự; làmcho tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm trộm cắp tài sản nơi ởcông dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang còn diễn biến phức tạp

2.1.1.2 Tình hình tội phạm hình sự và công tác phòng ngừa điều tra của Công an tỉnh Bắc Giang

- Đối với tình hình tội phạm hình sự nói chung và kết quả điều tra củaCông an tỉnh Bắc Giang đợc nêu trong báo cáo tổng kết hàng năm, thì trongbốn năm (2002, 2003, 2004, 2005 và 6 tháng đầu năm 2006) cho ta thấy:

Bảng 2.1 : Số vụ tội phạm hình sự và thiệt hại

Năm Tổng số vụ Thiệt hại vật chất Thiệt hại về ngời

(Nguồn: Công an tỉnh Bắc Giang).

Tội phạm hình sự trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 2002 đến 2005;trung bình mỗi năm xảy ra 678,25 vụ làm chết 21,25 ngời, bị thơng 108 ngời,gây thiệt hại tài sản trị giá 1.092,25 triệu đồng Số lợng các vụ phạm tội tăng,giảm theo từng năm nhng độ chênh lệch không lớn Tuy nhiên, tính chất phạmtội có nhiều điểm cần chú ý nh: Số lợng các vụ phạm tội rất nghiêm trọng, đặcbiệt nghiêm trọng tăng, hậu quả thiệt hại lớn Xu hớng phạm tội theo băng ổ

Trang 29

nhóm tăng, hoạt động lu động, gây án nhanh tẩu tán tang vật ngay Loại đối ợng lu manh chuyên nghiệp, vị thành niên gia tăng Tình trạng mại dâm, cờbạc, chích hút cha đợc triệt phá gây d luận xấu trong quần chúng nhân dân,với những địa bàn trọng điểm là: Thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang,huyện Việt Yên, huyện Lục Ngạn, huyện Hiệp Hòa.

t-Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản nói chung và tội phạm trộm cắptài sản tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Bảng 2.2: Thống kê so sánh tỷ lệ số vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở

của công dân với tổng số vụ tội phạm hình sự

Loại tội phạm

Năm Tội phạm hình sự

Trộm cắp tài sản

Tỷ trọng Tổng số vụ Tại nơi ở CD

Sáu tháng đầu năm 2006 (6/2006) xảy ra 219 vụ (219/352) =62,21%

Từ thống kê trên cho thấy tình hình trộm cắp tài sản ở tỉnh Bắc Giangvẫn xảy ra nhiều, chiếm đa số trong tổng số các vụ án hình sự hàng năm Loạitrộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân chiếm đa số trong số vụ trộm cắp xảy

Trang 30

ra trong toàn tỉnh (1.054/1.797 = 58,65%) Kết quả khảo sát cho thấy tìnhhình trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân có một số vấn đề nổi cộm sau:

Có chiều hớng tăng về số lợng

Giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày càng lớn

Xu hớng các đối tợng câu kết với nhau thành băng ổ nhóm để thựchiện hành vi phạm tội có hiệu quả hơn ngày càng nhiều

Các băng ổ nhóm có xu hớng gây án liên tục, liên huyện, liên tỉnh, trênnhiều địa bàn khác nhau với những thủ đoạn ngày càng tinh vi và đa dạng

Tuy nhiên việc điều tra khám phá đối với loại tội phạm này tỷ lệ đạt đợccòn cha cao do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên còn ảnh hởng nhiều đến côngtác giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở địa phơng

Về kết quả điều tra làm rõ Qua phân tích số vụ phạm tội và kết quả

điều tra khám phá trong 4 năm 2002- 2005 (xem bảng thống kê số 2.3), chothấy:

+ Đối với tội phạm hình sự nói chung

Năm 2002 tội phạm hình sự xảy ra 700 vụ, điều tra làm rõ 432 vụ, tỷ

Bảng 2.3: Thống kê số vụ phạm tội hình sự phát hiện đợc

và kết quả điều tra làm rõ từng loại

hiện điều tra khám Tỷ lệ Phát điều tra khám Tỷ lệ Phát điều tra khám Tỷ lệ

Trang 31

làm rõ phá hiện làm rõ phá hiện làm rõ phá

+ Đối với loại tội phạm trộm cắp tài sản

Năm 2002 xảy ra 412 vụ, điều tra làm rõ 199 vụ, tỷ lệ khám phá đạt 48,30%.Năm 2003 xảy ra 322 vụ, điều tra làm rõ 138 vụ, tỷ lệ khám phá đạt 42,86%.Năm 2004 xảy ra 428 vụ, điều tra làm rõ 248 vụ, tỷ lệ khám phá đạt 42,86%.Năm 2005 xảy ra 478 vụ, điều tra làm rõ 260 vụ, tỷ lệ khám phá đạt 54,39%.+ Đối với tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân

Năm 2002 xảy ra 270 vụ, điều tra làm rõ 71 vụ, tỷ lệ khám phá đạt 26,29%.Năm 2003 xảy ra 188 vụ, điều tra làm rõ 80 tỷ lệ khám phá đạt 42,55%.Năm 2004 xảy ra 203 vụ, điều tra làm rõ 93 vụ, tỷ lệ khám phá đạt 45,81%.Năm 2005 xảy ra 267 vụ, điều tra làm rõ 97 tỷ lệ khám phá đạt 36,33%

Từ sự phân tích trên ta thấy: Tỷ lệ khám phá vụ án trộm cắp tài sản tàinơi ở của công dân (36,74%) thấp hơn (34,32%) so với tỷ lệ khám phá các vụ

án hình sự (71,06%) và thấp hơn (17,15%) so với tỷ lệ khám phá tội phạmtrộm cắp tài sản nói chung (53,89%) Song tỷ lệ khám phá này có sự tănggiảm không ổn định Tuy nhiên, theo đánh giá toàn cục thì tỷ lệ khám phá loạitội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân còn ở mức thấp Do nhữngnguyên nhân sau:

Do lực lợng điều tra, trinh sát còn mỏng, năng lực còn hạn chế, lãnh đạoCQĐT các cấp cha có giải pháp hữu hiệu phòng ngừa, điều tra khám phá loại ánnày Tình hình tệ nạn xã hội cha đợc chặn đứng có chiều hớng gia tăng, nhất là tệnạn cờ bạc, đặc biệt là tệ nạn nghiện ma túy ngày càng gia tăng, công tác đấutranh với loại tệ nạn này còn nhiều bất cập, hiệu quả cha cao

Trang 32

Do sự phối kết hợp giữa CQĐT và các lực lợng nghiệp vụ khác cha đợcchặt chẽ, thờng xuyên; đặc biệt là sự phối hợp giữa CQĐT với các cơ quan nhànớc, tổ chức xã hội và quần chúng nhân dân cha có hiệu quả cao.

2.1.2 Đặc điểm về tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Từ thực tế điều tra các vụ án cho thấy đặc điểm của loại tội phạm này

ở địa bàn tỉnh Bắc Giang nh sau:

2.1.2.1 Đặc điểm về dấu vết để lại ở hiện trờng

- Dấu vết để lại để lại của loại tội phạm này, nó sẽ cho phép chúng tabiết đợc những vấn đề cơ bản nh:

+ Xác định đợc tính chất vụ phạm tội, hậu quả tác hại, phán đoán đợcquá trình diễn biến của vụ việc, nhận định đợc loại công cụ, phơng tiện gây

án, xác lập đợc đối tợng hiềm nghi

+ Là một trong những căn cứ cơ bản đề ra giả thuyết điều tra, vạch ớng điều tra một cách nhanh chóng, chính xác

h-+ Đây cũng là một trong những căn cứ để dựng lại hiện trờng, kiểm traviệc diễn lại vụ án và tiến hành thực nghiệm điều tra

+ Cho phép chúng ta truy nguyên đối tợng gây ra dấu vết hoặc truynguyên trực tiếp đối tợng gây án

Qua khảo sát các vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên địabàn tỉnh Bắc Giang từ năm 2002 đến 6 tháng đầu năm 2006 thấy:

Đối với những vụ trộm cắp tài sản xảy ra ở trong nhà, hầu hết thu đợc

dấu vết của tội phạm 411 vụ (chiếm tỷ lệ 66,3%) Tuy nhiên có vụ chúng ta thu

đợc nhiều, có vụ thu đợc ít Những dấu vết đặc trng thờng thu đợc là:

+ Dấu vết phản ánh sự rình mò, ẩn nấp thờng là: Dấu vết giày dép, cóthể có dãy bớc chân hoặc dấu vết chân chồng chéo lên nhau, dấu vết cỏ cây bịdẫm nát, cành cây bị bẻ, dấu vết bông vải sợi, đầu mẩu thuốc lá, đồ ăn thứcuống rơi vãi

Trang 33

+ Dấu vết phản ánh quá trình đột nhập nh: Rào bị cắt, bẻ, những dấuvết chân (giầy, dép) trèo leo đợc để lại trên tờng ở dạng quệt, trợt, vết bong, lởtróc vôi vữa trên tờng Khi thu thập dấu vết này, đôi khi còn thu thập đợc dấuvết máu Nếu đột nhập qua cửa chính các điều tra viên còn thu đợc những dấuvết nh: dấu dép, giày tiến tới tiếp cận cửa chính, hệ thống dấu vết tay trên cáccánh cửa do kẻ phạm tội đã tỳ, nắm, cầm, sờ mó lên cánh cửa Những dấu vếtcông cụ cạy phá trên cánh cửa do việc thủ phạm đã đã sử dụng các công cụ

để: cạy, bẩy, phá, ca, cắt khóa Nếu đột nhập qua cửa sổ ta thờng thu đợc thêmcác dấu vết nh: Những mảnh kính vỡ, sự phân bố các mảnh vỡ, kích thớc lỗchui vào sau khi cắt, phá song cửa ngoài ra còn một số hớng đột nhập nữanh: qua mái nhà, tum, lỗ thông gió, trần nhà, qua tờng, vách Tại đây cũng cóthể thu đợc những dấu vết tơng tự nh trên

+ Dấu vết phản ánh quá trình lục soát, tìm tài sản Những dấu vết phổbiến cần tiến hành thu thập đó là: dấu giày, dép nhằm xác định quá trình dichuyển của thủ phạm, đồng thời xác định số lợng thủ phạm đột nhập, các dấuvân tay, dấu vết cạy phá nhằm xác định công cụ, phơng tiện cũng nh cách thứccạy phá, xác định số lợng tài sản đã bị mất trên thực tế, so sánh với sổ sách,lời khai Ngoài ra cần lu ý tới những vật bọn tội phạm sử dụng còn để lại trênhiện trờng nh: bật lửa, đèn pin, đầu mẩu thuốc lá, những vật dụng cá nhânkhác

+ Dấu vết phản ánh quá trình vận chuyển tài sản lấy đợc nh dấu vếtcác phơng tiện vận chuyển, dấu vết kéo lê, dấu vết chân, hoặc một phần nào

đó các tài sản bị chiếm đoạt rơi vãi trên đờng vận chuyển Ngoài ra, khikhám nghiệm hiện trờng còn thu đợc dấu vết lông, tóc, bông vải sợi và cácchất bài tiết

2.1.2.2 Đặc điểm về tài sản bị trộm cắp

Một hành vi phạm tội xảy ra, bao giờ cũng gây ra hậu quả tác hại Hậuquả tác hại đó chính là sự gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội đợc luật hình sựbảo vệ Tuy nhiên, để xác định sự thiệt hại gây ra do các quan hệ xã hội là mộtviệc khó, nên trong luật hình sự đã xác định việc gây ra thiệt hại cho các quan

hệ xã hội thông qua việc gây ra thiệt hại cho các đối tợng tác động Vì vậy,

Trang 34

hậu quả của tội phạm chính là việc gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội đợcluật hình sự bảo vệ thông qua việc làm biến đổi trạng thái ban đầu của đối t-ợng tác động (đối tợng bị xâm hại).

Đối với tội trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân, đối tợng tác động

đó là tài sản Khái niệm về tài sản đợc qui định tại Điều 172 Bộ luật Dân sự.Tài sản bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá đợc bằng tiền (cổ phiếu, tráiphiếu, séc, tín phiếu, giấy ủy nhiệm chi, kỳ phiếu, sổ tiết kiệm ); các quyềntài sản (quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp )

Tuy nhiên, có một số dạng tài sản đặc biệt nh: bất động sản, các quyền

về tài sản đã đợc điều chỉnh bởi các điều luật khác nên nó không thuộc đối ợng bị xâm phạm của loại tội phạm này

t-Việc nghiên cứu về đặc điểm của đối tợng bị xâm phạm có ý nghĩa tolớn trong hoạt động phòng ngừa, điều tra khám phá tội phạm Đây chính làquá trình tổng hợp, phân tích, nghiên cứu, xem xét trên cơ sở những số liệu đã

đợc thống kê về các loại tài sản mà ngời phạm tội đã chiếm đoạt, từ đó có thểrút ra các đặc điểm loại tài sản nào mà bọn tội phạm thờng chú ý để chiếm

đoạt Việc nghiên cứu này giúp chúng ta xác định những địa điểm có khả năngchúng đến tiêu thụ trong quá trình truy tìm vật chứng của vụ án, từ đó điều traviên có thể phân tích, nhận định đợc diện, loại đối tợng gây án

Tại địa bàn Bắc Giang những dạng đối tợng bị xâm phạm đợc tổng kết

từ năm 2002 đến 6 tháng đầu năm 2006 là những loại tài sản sau:

Bảng 2.4: Thống kê các dạng tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân

Năm Tổng số Các dạng tài sản bị chiếm đoạt

Đồ điện Xe máy Tiền, vàng TS khác

Trang 35

Qua bảng thống kê cho thấy, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang tài sản màbọn tội phạm trộm cắp nhiều là xe máy, đồ điện chiếm 47% trong các loại tàisản bị chiếm đoạt Đây là loại tài sản dễ tiêu thụ, thậm chí có những tài sảnsau khi trộm cắp đợc chúng còn tiếp tục sử dụng.

Loại tài sản nữa mà bọn tội phạm nhằm tới khi đã đột nhập đợc vàonhà ngời dân là tiền, vàng Đây là loại tài sản dễ cất giấu vận chuyển lạikhông phải tiêu thụ (tiền) mà chỉ việc sử dụng còn vàng cũng dễ dàng làmbiến dạng hoặc dễ tiêu thụ, có thể nói đây là loại tài sản lý tởng mà trong hầuhết các vụ trộm cắp bọn tội phạm thờng nhằm vào để lục soát, tìm kiếm

Bên cạnh đó, thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh Bắc Giang loại tộiphạm trộm cắp trâu, bò xảy ra nhiều ở các vùng nông thôn nh: Lạng Giang,Yên Dũng, Lục Ngạn, Sơn Động, Tân Yên, Yên Thế gây bức xúc trong nhândân, song kết quả điều tra khám phá gặp nhiều khó khăn, vì chủ yếu các vụtrộm cắp trâu, bò thờng xảy ra vào ban đêm, lại ở những vùng miền núi thadân c sinh sống Tang vật dễ chuyển hóa, có giá trị và dễ tiêu thụ phi tang nênkết quả điều tra khám phá cha cao Trong thời gian tới, Công an tỉnh cần tậptrung giải quyết để kịp thời ngăn chặn loại tội phạm này

Ví dụ: Đêm 21/6/2005 gia đình anh Hoàng Văn Luyến ở xã Vĩnh Khơng,huyện Sơn Động, bị kẻ gian trộm cắp 1 con trâu trị giá 6.000.000đ Qua điềutra đã làm rõ đối tợng Ngụy Văn Hiền sinh năm 1979, ngời cùng xã trộm cắp

và đem sang tỉnh Hải Dơng tiêu thụ

2.1.2.3 Đặc điểm về địa điểm và thời gian gây án

a Đặc điểm về địa điểm gây án

Một vụ án xảy ra bao giờ cũng phải đợc thực hiện tại một địa điểmnhất định đó là nơi xảy ra sự việc phạm tội, nơi kẻ phạm tội thực hiện hành vicủa mình Việc nghiên cứu về địa điểm gây án có ý nghĩa đặc biệt quan trọngtrong quá trình điều tra khám phá loại tội phạm này, bởi vì địa điểm gây án th-ờng tập trung nhiều dấu vết của tội phạm nh: dấu vết vân tay, dấu vết cạy phá,dấu vết cắt, dấu vết sinh học Đây cũng là nơi ta có thể xác định đợc nhữngngời là chứng góp phần giải quyết vụ án nhanh chóng Địa điểm gây án còn có

Trang 36

mối quan hệ mật thiết với thủ đoạn gây án và diễn biến của hành vi phạm tội,thói quen của ngời phạm tội, qua đó một phần nhân cách của họ đợc phản ánh.Việc nghiên cứu sâu đặc điểm về địa điểm gây án còn góp phần giúp phát hiện

sự hoạt động của băng ổ nhóm phạm tội thông qua những đặc điểm đặc trng

và phổ biến, ngoài ra nó còn góp phần vào xác định tính chất và mức độ nguyhiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

ở tỉnh Bắc Giang qua khảo sát thực tế cho thấy địa điểm gây án củangời phạm tội trong những vụ án trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân thờng

có đặc điểm nổi bật nh sau: tập trung chủ yếu ở thành phố Bắc Giang và cácthị trấn Đây là những nơi đông dân c, tập trung nhiều tài sản có giá trị, dễ tẩuthoát, vận chuyển cũng nh dễ tiêu thụ, cụ thể: Thành phố Bắc Giang: 226 vụ,Thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa 77 vụ; thị trấn Nếnh + thị trấn Bích Động,huyện Việt Yên 68 vụ; thị trấn Neo, Yên Dũng 53 vụ; thị trấn Trũ, Lục Ngạn

67 vụ; thị trấn Cao Xá, Tân Yên; thị trấn Bố Hạ, Yên Thế 40 vụ; thị trấn Vôi +Kép, Lạng Giang 61 vụ; thị trấn An Châu, Sơn Động 23 vụ; thị trấn Vờn Hoa+ Đồi Ngô, Lục Nam 59 vụ

Qua thống kê số vụ phạm tội, nhiều nhất là thành phố Bắc Giang,huyện Lạng Giang, huyện Việt Yên, Lục Ngạn và Hiệp Hòa Tại những địabàn này, bọn tội phạm thờng lựa chọn những địa điểm mà chúng cho là thuậnlợi nhất, phù hợp với khả năng để gây án và thờng xảy ra ở những nơi nh: khudân c vắng vẻ, không có hệ thống chiếu sáng, những khu phố ban ngày mọingời đi làm vắng nhà không có ngời trông coi

Qua nghiên cứu các vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân trên địabàn tỉnh Bắc Giang ta thấy rằng, địa điểm gây án trong nhà rất phổ biến(chiếm tỷ lệ 92%) Bọn tội phạm thờng nhằm vào những gia đình có nhiều tàisản, nằm gần đờng, hệ thống bảo vệ kém nh: Không có cửa, tờng rào bảo vệ,nhà cửa dễ đột nhập, xa cách các gia đình khác và nếu bị phát hiện dễ tẩuthoát Chúng thờng sử dụng một số thủ đoạn nh: kích cửa, cắt khóa, đột nhập

từ tum hay đột nhập vào nhà từ trớc nấp vào chỗ kín đợi đến khi thuận lợi mởcửa để chiếm đoạt tài sản Thiệt hại do loại trộm này gây ra thờng là rất lớn,

Trang 37

tài sản chúng thờng nhằm vào là: tiền, vàng, xe máy và những vật dụng sinhhoạt có giá trị khác.

Đối với loại tội phạm này hiện trờng vụ án thờng để lại rất nhiều dấuvết có ý nghĩa quan trọng trong quá trình điều tra, khám phá Những dấu vếtnày có thể phản ánh về công cụ, phơng tiện phạm tội, về thói quen, thủ đoạn,thậm chí có thể phản ánh về nhân thân ngời phạm tội, số lợng ngời phạm tội.Tuy vậy hiện nay đối với các vụ trộm cắp việc khám nghiệm hiện trờng cha đ-

ợc chú trọng, nên việc thu thập những dấu vết tại hiện trờng vẫn còn hạn chế,nhiều vụ cán bộ đến khám nghiệm hiện trờng qua loa đại khái bỏ qua nhiềudấu vết có giá trị chứng minh tội phạm

Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang còn có những vụ trộm cắp tài sản ở sân, ờn Tuy số vụ không nhiều song có những thời kỳ rộ lên Do đặc thù sinhhoạt của ngời dân vùng núi thờng có thói quen để tài sản ở ngoài hiên nhàhoặc ngoài sân nh: xe máy, thóc, ngô, đỗ Nên bọn tội phạm đã lợi dụng khigia đình ngủ say đột nhập vào lấy cắp

v-Tình trạng trên xảy ra nhiều từ khi cơ chế thị trờng bung ra, cây lâm lộc

có giá trị thơng mại cao, đời sống nhân dân có phần đợc cải thiện nâng lên mộtbớc Địa bàn xảy ra nhiều là: Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế

Địa điểm gây án trong tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của côngdân tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, nhng trongnhiều trờng hợp nó lại có ý nghĩa trong việc xác định tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nh: phạm tội tại những nơi đang

có thiên tai, địch họa nên trong quá trình điều tra, khám phá chúng ta cũngcần làm rõ

b Đặc điểm về thời gian gây án

Trong các vụ án xảy ra bao giờ CQĐT cũng phải xác định đợc thờigian gây án hoặc khoảng thời gian gây án gần nhất Thời gian gây án đó chính

là khoảng thời gian ngời phạm tội thực hiện những hành vi khách quan đợcqui định trong cấu thành tội phạm Đối với tội phạm trộm cắp tài sản đó chính

là khoảng thời gian mà ngời phạm tội thực hiện hành vi lén lút bí mật đối với

Trang 38

chủ tài sản để chiếm đoạt tài sản Trong từng vụ việc cụ thể diễn biến củahành vi phạm tội có thể ngắn dài khác nhau, từ vài phút đến vài chục phút Từviệc nghiên cứu về thời gian gây án còn cho phép chúng ta tìm ra những quiluật hoạt động của bọn tội phạm, bởi vì, với những địa điểm, hoàn cảnh, đối t-ợng tác động và thủ đoạn khác nhau thì thời gian gây án cũng khác nhau, đểgiúp cho điều tra viên có kế hoạch điều tra sát hợp hơn.

Mặt khác, việc xác định chính xác về thời gian gây án còn cho phépchúng ta xác định khoảng thời gian bất minh của những đối tợng nghi vấngiúp cho công tác sàng lọc đối tợng đợc nhanh chóng chính xác Tuy nhiêntrong thực tế việc xác định thời gian bất minh của những đối tợng nghi vấncòn gặp nhiều hạn chế, nhất là trong việc xác định những đối tợng lu manhchuyên nghiệp, lang thang không nghề nghiệp Đối với những vụ trộm cắp tàisản, việc xác định khoảng thời gian gây án chính xác còn là căn cứ để đề ranhững biện pháp cấp bách nh: truy tìm theo dấu vết nóng, phục kích, đónlõng góp phần khám phá nhanh vụ án

Qua nghiên cứu những vụ án trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dântrên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 2002 đến 6 năm 2006 cho thấy thời giangây án có một số đặc điểm sau: Trong tổng số 1054 vụ có:

- Số vụ xảy ra ban ngày: 588 vụ, chiếm tỷ lệ 55,8%

- Số vụ xảy ra ban đêm: 466 vụ, chiếm tỷ lệ 44,2%

Trang 39

tội phạm này thực hiện hành vi phạm tội Đây cũng là thời điểm khó phát hiệnthủ phạm, tiếp cận hiện trờng dễ, dễ đột nhập và khi lấy đợc tài sản cũng dễmang vác, vận chuyển Trong thời gian này, thủ đoạn của chúng chủ yếu làdùng kìm cộng lực để cắt khóa, kích cửa, đột tum tài sản chiếm đoạt thờng

là tiền, vàng và những vật dụng sinh hoạt có giá trị nh: dàn máy vi tính, xemáy, đầu video Nh vậy so với những vụ trộm cắp tài sản thì thời gian gây áncủa loại tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân có khác Đối vớinhững vụ trộm cắp tài sản thì thời gian xảy ra vụ án thờng từ 24h đến 6hchiếm trên 60%

2.1.2.4 Đặc điểm về thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm

Thủ đoạn gây án là một nội dung cần chứng minh đợc qui định tại

Điều 47 - Bộ luật Tố tụng hình sự Qua nghiên cứu về thủ đoạn gây án chúng

ta thấy rằng nó bị tác động, chi phối, chế ớc bởi nhiều yếu tố khác nhau baogồm: hệ thống những yếu tố mang tính khách quan nh đặc điểm của đối tợng

bị xâm hại, điều kiện, hoàn cảnh khách quan xảy ra vụ phạm tội và hệ thốngnhững yếu tố mang tính chủ quan bao gồm: động cơ mục đích gây án, kiếnthức, kỹ năng, thói quen, sở trờng, sở đoản của bọn tội phạm Chính nhữngyếu tố đó đã tạo nên màu sắc, sắc thái đặc thù và làm cá biệt hóa thủ đoạn gây

án, tập hợp những đặc thù này giúp ta phân loại đợc đối tợng hoặc nhóm đối ợng gây án để đấu tranh và mở rộng án

t-Để nghiên cứu về đặc điểm của thủ đoạn gây án trớc hết chúng tanghiên cứu về giai đoạn đầu tiên của nó

Giai đoạn chuẩn bị gây án.

Là giai đoạn đầu tiên trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, baogồm: Thăm dò, tìm kiếm, chuẩn bị công cụ phơng tiện hoặc tạo ra những điềukiện khác để thực hiện tội phạm, thời điểm sớm nhất của giai đoạn này là kể

từ khi ngời phạm tội bắt tay vào tìm kiếm, chuẩn bị công cụ phơng tiện hoặctạo ra các điều kiện khác để thực hiện hành vi phạm tội, thời điểm muộn nhấtcủa giai đoạn này là trớc khi ngời đó bắt đầu bắt tay vào thực hiện hành vikhách quan đợc qui định trong cấu thành tội phạm

Trang 40

Việc nghiên cứu về giai đoạn chuẩn bị gây án có ý nghĩa rất quan trọng.Trong giai đoạn này, ngời phạm tội cha trực tiếp gây hại cho các quan hệ xã hội

đợc luật hình sự bảo vệ, nhng nó đã đặt các quan hệ xã hội này vào tình trạngnguy hiểm, bị đe dọa gây thiệt hại nếu không đợc ngăn chặn kịp thời

Thực tiễn đã chứng minh rằng không phải tất cả sự chuẩn bị của những

đối tợng phạm tội trộm cắp tài sản, cũng nh trộm cắp tài sản tại nơi ở của côngdân đều giống nhau, nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố nh: địa điểm gây án, đối t-ợng bị xâm hại, thủ đoạn gây án, thói quen của ngời phạm tội Sự chuẩn bịcủa đối tợng càng kỹ bao nhiêu thì quá trình gây án càng thuận lợi bấy nhiêu

Tại địa bàn tỉnh Bắc Giang, giai đoạn chuẩn bị phạm tội thờng là:

- "Tăm" địa điểm, mục tiêu gây án, chúng thờng nhằm vào những gia

đình khá giả, đối với loại trộm chuyên trộm cắp vô tuyến thì chúng nhằm vàonhững nhà có ăng ten chủ vắng nhà Quan sát địa hình, địa vật, lối vào, lối ra,qui luật hoạt động của gia đình và những ngời xung quanh, tình hình tuần trakiểm soát của các lực lợng chức năng ở khu vực đó

- Sau khi nắm chắc tình hình, bọn tội phạm thờng tiến hành chuẩn bịcông cụ, phơng tiện phạm tội, đây chính là những vật hỗ trợ cho ngời phạm tộikhi thực hiện tội phạm

+ Đối với tài sản để ở trong sân, vờn thì công cụ, phơng tiện phạm tộithờng đơn giản hơn nh vam phá khóa, kìm điện, tô vít

Ví dụ: Đêm 10 tháng 02 năm 2004 tại nhà bà Lê Thị Dung ở xã Thanh

Hải huyện Lục Ngạn, lợi dụng cả gia đình đi vắng, kẻ gian đã cắt phá khuycửa cổng và dùng thanh sắt mỏng cậy chốt cửa vào nhà lấy đi 1 tivi JVC 21inch, 1 xe máy DreamII và 1 máy bơm nớc (để ở hiên nhà) cùng một số tài sản

có giá trị khác Quá trình điều tra đã dựng đợc đối tợng nghi vấn là Lý Văn Támsinh 1983 ở cùng xã có nhiều biểu hiện nghi vấn, là đối tợng có tiền án về tộitrộm cắp, lại có biểu hiện thăm dò, tìm hiểu việc điều tra của cơ quan Công an.Dùng đặc tình đánh vào tìm hiểu, đặc tình đã phát hiện ra chiếc kìm điện vàthanh sắt là của nhà Tám Từ những tài liệu trên, triệu tập Tám đấu tranh, ykhai nhận cùng các tên: Phạm Văn Thạch sinh năm 1977, Trần Văn Thu sinh

Ngày đăng: 08/05/2014, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo tập huấn chuyên sâu Bộ luật hình sự (2000), Tài liệu hội nghị tập huấn chuyên sâu Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghịtập huấn chuyên sâu Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Ban chỉ đạo tập huấn chuyên sâu Bộ luật hình sự
Năm: 2000
2. Bộ luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003 (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm2003
Tác giả: Bộ luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
3. Bộ Nội vụ (1984), Quyết định số 06/QĐ ngày 25/4 của Bộ trởng Bộ Nội vụ về tổ chức công tác điều tra tại hiện trờng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 06/QĐ ngày 25/4 của Bộ trởng Bộ Nộivụ về tổ chức công tác điều tra tại hiện trờng
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 1984
4. Bộ Nội vụ (1986), Sổ tay Điều tra hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Điều tra hình sự
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1986
5. Bộ Nội vụ (1986), Sổ tay bớc điều tra ban đầu, Nxb Công nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay bớc điều tra ban đầu
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Công nhân dân
Năm: 1986
6. Bộ Nội vụ (1989), Chỉ thị số 11/CT(BNV) ngày 19-5 của Bộ trởng Bộ Nội vụ về việc tổ chức công tác điều tra tội phạm của lực lợng Công an nhân dân trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 11/CT(BNV) ngày 19-5 của Bộ trởng Bộ Nộivụ về việc tổ chức công tác điều tra tội phạm của lực lợng Công annhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 1989
7. Bộ Nội vụ (1997), Kỹ thuật khám nghiệm hiện trờng và điều tra tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật khám nghiệm hiện trờng và điều tra tội phạm
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1997
8. Bộ T pháp (1998), "Luật hình sự của một số nớc trên thế giới", Dân chủ và pháp luật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự của một số nớc trên thế giới
Tác giả: Bộ T pháp
Năm: 1998
9. Chính phủ (1997), Nghị định số 51/CP ngày 10/8 về việc đăng ký và quản lý hộ khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 51/CP ngày 10/8 về việc đăng ký và quảnlý hộ khẩu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1997
10. Công an tỉnh Bắc Giang, Báo cáo tổng kết các năm 2002, 2003, 2004, 2005,6/2006 của PV11. PC14, PC16, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết các năm 2002, 2003, 2004,2005,6/2006 của PV11. PC14, PC16
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị Trung ơng lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ơng lần thứ baBan Chấp hành Trung ơng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Thông báo số 130/TB-TW ngày 15/1 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơquan t pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 130/TB-TW ngày 15/1của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ"quan t pháp
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1999
13. Khổng Văn Hà (2001), Điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của công dân ở nớc ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Trờng Đại học Cảnh sát nh©n d©n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của công dânở nớc ta hiện nay
Tác giả: Khổng Văn Hà
Năm: 2001
27. Học viện Cảnh sát nhân dân, giáo trình (2002), Tội phạm học, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học
Tác giả: Học viện Cảnh sát nhân dân, giáo trình
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2002
28. Học viện Cảnh sát nhân dân (2004), Giáo trình Hoạt động nghiệp vụ trinh sát của lực lợng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hoạt động nghiệp vụ trinh sát của lực lợng Cảnh sát nhân dân
Tác giả: Học viện Cảnh sát nhân dân
Năm: 2004
29. Học viện Cảnh sát nhân dân (2005), Giáo trình luật hình sự Việt Nam - phần các tội phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam -phần các tội phạm
Tác giả: Học viện Cảnh sát nhân dân
Năm: 2005
14. Khoa Luật - Trờng Đại học Tổng hợp Hà Nội (1994), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Phần chung, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hìnhsự Việt Nam, Phần chung
Tác giả: Khoa Luật - Trờng Đại học Tổng hợp Hà Nội
Năm: 1994
15. Nguyễn Duy Lãm (1996), Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng
Tác giả: Nguyễn Duy Lãm
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1996
16. Trần Đình Nhã (1995), "Về đổi mới tổ chức Cơ quan điểm tra", Kỷ yếu khoa học: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đổi mới tổ chức Cơ quan điểm tra
Tác giả: Trần Đình Nhã
Năm: 1995
17. Quốc hội (1992), Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namnăm 1992
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số vụ tội phạm hình sự và thiệt hại - luận văn thạc sĩ Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.1 Số vụ tội phạm hình sự và thiệt hại (Trang 28)
Bảng 2.2: Thống kê so sánh tỷ lệ số vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở  của công dân với tổng số vụ tội phạm hình sự - luận văn thạc sĩ Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.2 Thống kê so sánh tỷ lệ số vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân với tổng số vụ tội phạm hình sự (Trang 29)
Bảng 2.3: Thống kê số vụ phạm tội hình sự phát hiện đợc  và kết quả điều tra làm rõ từng loại - luận văn thạc sĩ Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.3 Thống kê số vụ phạm tội hình sự phát hiện đợc và kết quả điều tra làm rõ từng loại (Trang 30)
Bảng 2.4: Thống kê các dạng tài sản bị chiếm đoạt  trong các vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân - luận văn thạc sĩ Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.4 Thống kê các dạng tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ trộm cắp tài sản tại nơi ở công dân (Trang 34)
Bảng 2.5: Thống kê kết quả công tác su tra, hiềm nghi, chuyên án  từ năm 2002 đến nay - luận văn thạc sĩ Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.5 Thống kê kết quả công tác su tra, hiềm nghi, chuyên án từ năm 2002 đến nay (Trang 53)
Bảng 2.7: Thống kê phân tích số lợng tin báo, tố giác tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân đến với cơ quan Công an các cấp - luận văn thạc sĩ Điều tra tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại nơi ở của công dân trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Bảng 2.7 Thống kê phân tích số lợng tin báo, tố giác tội phạm trộm cắp tài sản tại nơi ở của công dân đến với cơ quan Công an các cấp (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w