1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

130 1,7K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
Trường học Đại Học Sư Phạm Hưng Yên
Chuyên ngành Quản lý hành chính công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 701,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân

1.2 Các yếu tố cấu thành chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân và

tiêu chí đánh giá chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 221.3 Yêu cầu cụ thể về chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 31

Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG

NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH

2.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã

2.2 Thực trạng chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở

2.3 Đánh giá chung về chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở HUYỆN

3.1 Quan điểm bảo đảm và nâng cao chất lượng đại biểu Hội đồng

3.2 Một số giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đại biểu

Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên 97

Trang 2

HĐND : Hội đồng nhân dân

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bộ máy Nhà nước ta, Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quanquyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, đại diệncho nhân dân địa phương trong việc thực thi quyền lực Nhà nước ở địaphương Với tính chất đó, HĐND nước ta có vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc đảm bảo quyền lực nhân dân, phát huy dân chủ, đảm bảo hiệu lực và hiệuquả hoạt động của bộ máy Nhà nước Vì vậy, nâng cao năng lực hoạt độngcủa HĐND các cấp là một trong những nhiệm vụ rất cơ bản của quá trình xâydựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước nói riêng, của sự nghiệp đổi mới đấtnước ta hiện nay nói chung Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đãkhẳng định:

Nâng cao chất lượng của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhândân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyềnđịa phương trong phạm vi được phân cấp Phát huy vai trò giám sátcủa Hội đồng nhân dân Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương,phân định lại thẩm quyền đối với chính quyền ở nông thôn, đô thị,hải đảo [19, tr.127]

Triển khai tinh thần đó, Nghị quyết Trung ương 5, khoá X đã đề xướng chủtrương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồmg nhân dân huyện, quận,phường Qua thí điểm, sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét thực hiện chính thức chủtrương này, cùng với việc xem xét sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Ngày 14/11/2008Quốc hội khoá XII đã thông qua 02 nghị quyết liên quan đến yêu cầu củng cố vàtăng cường hiệu quả hoạt động của HĐND như: Nghị quyết số 25/2008/QH 12ngày 14/11/2008 về việc kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009 của HĐND cáccấp Tại điều 1 của nghị quyết quy định kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009của HĐND và Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp cho đến kỳ họp thứ nhất của

Trang 4

HĐND các cấp khoá sau vào năm 2011 và Nghị quyết số 26/2008/QH 12 ngày14/11/2008 về thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường.

Đó chính là những động thái mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước nhằm hiện thựchoá các quan điểm tổ chức và hoàn thiện chính quyền địa phương Những độngthái này vừa là tiền đề chính trị quan trọng, vừa dự báo trước những thành côngcủa quá trình đổi mới

Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp có thể được triển khai

từ nhiều khâu, với nhiều cấp độ Một trong những hướng của sự đổi mớichính là yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng của đại biểu HĐND màtrước hết là ở cấp cơ sở - cấp xã Cơ sở lý giải cho yêu cầu này xuất phát từvai trò đặc biệt quan trọng của đội ngũ đại biểu HĐND cấp cơ sở là cấp gầndân nhất, là cấp mà mỗi động thái của đại biểu HĐND đều tác động trực tiếptới người dân, đều có khả năng gây ra những hệ quả hoặc tích cực hoặc tiêucực tới thái độ và lòng tin của nhân dân vào chế độ xã hội, chế độ nhà nước.Nhu cầu nâng cao chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã lại càng trở nêncấp bách nếu đặt trong bối cảnh thực trạng chất lượng của đại biểu HĐND xãtrên phạm vi cả nước nói chung, ở từng địa bàn cụ thể nói riêng Có thể lấy địabàn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên là một ví dụ điển hình Thực tế trongnhững năm qua chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnhHưng Yên đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ như các đại biểu HĐND

đã được nâng cao về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, đặc biệt là về kỹnăng công tác trong hoạt động đại biểu Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động củađại biểu HĐND cấp xã ở huyện Kim Động vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém nhưchưa thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo luật định, vai trò đạidiện nhân dân của từng đại biểu còn hạn chế Do vậy, nâng cao chất lượng đạibiểu HĐND cấp xã trên địa bàn này là một yêu cầu cần thiết

Trong bối cảnh đó, hoạt động nghiên cứu lại chưa được triển khai đúngmức khiến cho nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng hoạt động của

Trang 5

đại biểu HĐND cấp xã còn bị bỏ ngỏ Đề tài luận văn“Chất lượng đại biểu

Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” được lựa

chọn chính là nhằm góp phần khắc phục khoảng trống trong hoạt động nghiêncứu, góp thêm căn cứ để xây dựng các luận cứ khoa học cho việc nâng caochất lượng của đại biểu HĐND cấp xã ở nước ta hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây đã có nhiều cuốn sách, bài viết và một số đềtài khoa học đề cập thực trạng và các giải pháp liên quan đến chất lượng, nănglực của đại biểu HĐND cấp xã Có thể nêu một số công trình điển hình sau:

- “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam” do PGS.TS Lê Minh Thông, PGS TS Nguyễn Như Phát đồng chủ biên,

Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 Trong công trình này, các tác giả đã đề cậpnhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn về chính quyền ở Việt Nam trong đó có chương

IV bàn tập trung về tổ chức chính quyền cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay

- “Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa Việt Nam”do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên, Nxb Tư pháp Hà Nội,

2004.Trong tác phẩm này tác giả tập trung phân tích và kiến nghị về mô hình

tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong đó đặc biệt chú ý đến

mô hình của Hội đồng nhân dân cấp xã

- “Phương thức và kỹ năng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân

trong chương trình tập huấn đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ

1999 – 2004” do PGS.TS Bùi Thế Vĩnh chủ biên, Nxb chính trị quốc gia Hà

Nội 2000 Với công trình này lần đầu tiên, những vấn đề liên quan đến cơ sở

lý luận về phương thức và kỹ năng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân đãđược đặt ra nghiên cứu một cách tương đối sâu sắc

- “ Hệ thống chính trị cơ sở Thực trạng và một số giải pháp đổi mới” do

TS.Chu Văn Thành chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004 Các tácgiả đã nghiên cứu, khảo sát có hệ thống về thực trạng tổ chức hoạt động của

Trang 6

Hệ thống chính trị địa phương trên phạm vi cả nước và đi tới nhận định rằngHội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã luôn giữ vị trí vai trò trọng tâmtrong nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đáp ứng yêu cầu của thời

kỳ đổi mới Từ đó các tác giả đã đề ra phương hướng và một số giải pháp thiếtthực để củng cố về tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân,góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở

- Trong Tạp chí Quản lý Nhà nước số 2 năm 2005, TS Vũ Đức Đán có

bài viết “vấn đề bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Hội

đồng nhân dân” Tại đây, tác giả đã lý giải một cách biện chứng về vai trò, vị

trí của Hội đồng nhân dân nói chung và đại biểu Hội đồng nhân dân nói riêng

đã đề cập yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân ở nước

ta hiện nay

- Luận án tiến sĩ “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng đồng bằng sông cửu long hiện nay”, của Phạm Công Khâm Đây là công trình đầu

tiên nghiên cứu có hệ thống về thực trạng trình độ, năng lực, đặc thù của cán

bộ chủ chốt cấp xã ở một số tỉnh phía nam nước ta

- Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức tỉnh Thái Nguyên”, do tác giả Lương Thanh Nghị

thực hiện và bảo vệ năm 2004 Tác giả đã nghiên cứu có hệ thống về cơ sở lýluận và thực trạng trình độ, năng lực của cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnhThái Nguyên, qua đó chỉ rõ những bất cập, hạn chế trong thực hiện đào tạo,bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã ở các tỉnh vùng dân tộc, vùng sâu ở

Trang 7

nước ta hiện nay, đồng thời nêu ra một số giải pháp thiết thực để đổi mới hoạtđộng đào tạo bồi dưỡng cán bộ chính quyền cấp xã trong thời kỳ mới.

Sự thống kê một cách sơ lược về các công trình khoa học nói trên chothấy vấn đề đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở đã được cácnhà khoa học đề cập ở các khía cạnh và với các mức độ khác nhau Đặc biệt,liên quan trực tiếp tới chủ đề của luận văn này là vấn đề về năng lực và hiệuquả hoạt động của đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã đã được soi sáng ở mức

độ nhất định.Với kết quả nghiên cứu đạt được, các công trình nghiên cứu nóitrên đã cung cấp những tư liệu vật chất rất cần thiết cho việc triển khai cácnghiên cứu tiếp theo về chủ đề này theo hướng đẩy sâu hơn những nội dung

đã được đề cập

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, cho đến nay vẫn tồn tại một khoảng trống trongnghiên cứu về chất lượng của chính đội ngũ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.Đặc biệt, từ góc độ của khoa học pháp lý, hiện chưa có công trình nào nghiên cứumột cách đầy đủ, có hệ thống và xuất phát từ thực tiễn về yêu cầu và giải phápnâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã Đó cũngchính là một trong những lý do để học viên xác định chủ đề của luận văn thạc sĩ

luật học “Chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động

tỉnh Hưng Yên” nhằm cung cấp tư liệu thực tế cho hoạt động nghiên cứu về chất

lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nói chung, đồng thời trực tiếp nhằmmục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyệnKim Động nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về chất lượng đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã và thực trạng chất lượng hoạt động của đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, luận văn hướngtới đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của đạibiểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chất lượng và nâng cao chất lượng của đạibiểu Hội đồng nhân dân cấp xã

- Đánh giá thực trạng chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyệnKim Động trong giai đoạn từ 1999 đến nay, đặt trọng tâm vào nhiệm kỳ 2004 - 2011

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Hội đồng nhândân cấp xã ở huyện Kim động hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến chất lượngcủa đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại các xã thuộc huyện Kim Động, tỉnhHưng Yên

4.2 Phạm vi nghiên cứu luận văn

-Về phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng đạibiểu Hội đồng nhân dân ở 19 xã, thị trấn của huyện Kim Động, tỉnh HưngYên thông qua việc thu thập các báo cáo hoạt động và quy chế hoạt động củaHội đồng nhân dân; Quy chế phối hợp giữa Thường trực Hội đồng nhân dân,

Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện Kim Động và 19 xã, thịtrấn; báo cáo tổng hợp tiếp xúc cử tri, các nghị quyết đã được Hội đồng nhândân huyện và HĐND các xã, thị trấn ở huyện Kim Động thông qua

-Về phạm vi thời gian: luận văn khảo sát, phân tích làm rõ chất lượnghoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân các xã, thị trấn ở huyện Kim Độnggiai đoạn 1999 đến nay, trong đó tập trung chủ yếu vào nhiệm kỳ 2004-2011

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng

và hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Trang 9

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiêncứu cụ thể như phương pháp lịch sử, phương pháp luật học so sánh, phươngpháp phân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương phápthống kê…

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Thông qua các nội dung nghiên cứu, luận văn góp phần làm rõ về mặt lýluận và thực tiễn quy định của pháp luật về vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ,chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã

Luận văn góp phần tổng kết, đánh giá thực trạng chất lượng đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, đồng thời đề xuất giảipháp nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện KimĐộng tỉnh Hưng Yên

7 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn góp phần vào việc hoàn thiện cơ sở lý luận cho việc nâng caochất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Kim Động, tỉnh HưngYên Từ đó, giúp cho cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh có quy hoạch, kế hoạch vàphương pháp phù hợp trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả về việcnâng cao chất lượng của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã huyện Kim Độngphù hợp theo yêu cầu đổi mới

Luận văn được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch địnhchính sách, các nhà quản lý, sinh viên các trường luật, các nhà nghiên cứukhoa học pháp lý, đồng thời giúp cho bản thân tác giả làm tốt hơn nhiệm vụ

và trách nhiệm của mình với công việc hiện tại được giao

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN CÂN CẤP XÃ

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Trong bộ máy nhà nước ta hiện nay, chính quyền cơ sở góp một vai tròquan trọng, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và nhà nước, trực tiếp tổ chứcthi hành đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, đảm bảo hiệu quả triểnkhai nghị quyết của Đảng và những quy định của nhà nước tại địa bàn cơ sở

Bộ máy nhà nước ở Trung ương muốn vững mạnh thì phải thường xuyêncủng cố và kiện toàn chính quyền cơ sở Đó cũng là nhiệm vụ vừa cấp bách,vừa lâu dài của Đảng và nhà nước ta trong quá trình xây dựng nhà nước phápquyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta hiện nay.Hiến pháp năm 1992 quy định chính quyền cấp xã là một cấp - cấp cơ sở

- trong hệ thống hành chính bốn cấp của bộ máy nhà nước ta hiện nay Chínhquyền cấp xã là tổ chức nhà nước gần dân nhất nên không chỉ là nơi đảm bảocho pháp luật được tôn trọng và thực hiện đầy đủ mà còn tạo điều kiện thiếtthực phát huy quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân tại cơ sở, đảm bảoquyền và nghĩa vụ của mọi công dân, đồng thời tạo điều kiện cho người dân

ổn định đời sống vật chất và tinh thần trong phạm vi xã, phường, thị trấn.Xét về mặt cấu trúc tổ chức, chính quyền cấp xã gồm hai bộ phận cấu thành:HĐND cấp xã và UBND cấp xã Như vậy, HĐND xã, phường, thị trấn là bộ phậncấu thành không thể tách rời của chính quyền cấp cơ sở ở nước ta hiện nay

HĐND cấp xã ở Việt Nam là một hình thức tổ chức quản lý xã hội theokiểu mới, là hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân trong xã.Hội đồng nhân dân cấp xã do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho nhândân trong xã, đồng thời đại diện cho chính quyền nhà nước cấp trên

Trang 11

Trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn hoạt động quản lý, HĐND cấp

xã có thể được nhận diện từ những khía cạnh khác nhau Nhưng về cơ bản,căn cứ vào nhận thức chung về HĐND đã được xác định trong Luật tổ chứcHĐND và UBND cũng như căn cứ vào tính đặc thù của địa bàn cơ sở, có thểnêu khái niệm HĐND cấp xã như sau:

Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương,bao gồm các đại biểu do nhân dân trong xã trực tiếp bầu ra đại diện cho nhândân toàn xã, có toàn quyền quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội tại địaphương theo quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân trong

xã và chính quyền nhà nước cấp trên

Cũng giống như HĐND các cấp, HĐND cấp xã có hai chức năng:

Một là, chức năng quyết định các biện pháp, chủ trương về xây dựng,

phát triển địa phương thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương Cụ thể:

- Trong lĩnh vực kinh tế, HĐND xã quyết định:

+ Biện pháp thực hiện việc phát triển kinh tế-xã hội hàng năm nhằmphát huy mọi tiềm năng của địa phương

+ Dự toán và phân bổ ngân sách địa phương; phê chuẩn quyết toánngân sách địa phương; các chủ trương biện pháp để triển khai thực hiện ngânsách địa phương trong trường hợp cần thiết;

+ Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương; biệnpháp quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ cácnhu cầu công ích địa phương;

+ Biện pháp khuyến khích, vận động nhân dân chuyển đổi cơ cấu kinh

tế, cây trồng vật nuôi theo quy hoạch chung;

+ Biện pháp thực hiện xây dựng, tu sửa đường giao thông, cầu cốngtrong xã và các cơ sở hạ tầng khác ở địa phương;

+ Biện pháp thực hiện chính sách tiết kiệm chống tham nhũng, chốngbuôn lậu

Trang 12

- Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, xã hội và đời sống, HĐND cấp xãquyết định:

+ Biện pháp thực hiện việc phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục ở địaphương; bảo đảm các điều kiện cần thiết để trẻ em vào học lớp 1 đúng độtuổi, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục;

+ Biện pháp giáo dục thanh niên, bảo vệ chăm sóc giáo dục thiếu niên,nhi đồng, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giáo dục truyềnthống tốt đẹp; bài trừ mê tín, hủ tục chống các tệ nạn xã hội và những biểuhiện không lành mạnh trong đời sống xã hội ở địa phương;

+ Biện pháp đảm bảo giữ gìn vệ sinh, hòng chống dịch bệnh, thực hiện

có hiệu quả chương trình y tế cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia đình;

+ Biện pháp thực hiện chính sách, chế độ đối với thương binh, bệnh binhgia đình liệt sỹ, những người có công với nước

- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, HĐND cấp

xã quyết định:

+ Biện pháp thực hiện nhiệm vụ xây dựng quốc phòng toàn dân; bảo đảm thihành chế độ nghĩa vụ quân sự, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở địa phương;+ Biện pháp thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, nhiệm vụ động viênchính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương;

+ Biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn

xã hội, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các hành vi vi phạm phápluật khác ở địa phương

- Trong lĩnh vực thực hiện chính sách tôn giáo, HĐND cấp xã quyết định:+ Biện pháp đảm bảo thực hiện chính sách tôn giáo, quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật

- Trong lĩnh vực thi hành pháp luật, HĐND cấp xã quyết định:

+ Biện pháp bảo đảm thi hành hiến pháp, Luật các văn bản của cơ quannhà nước cấp trên ở địa phương;

Trang 13

+ Biện pháp bảo hộ tính mạng tài sản, tự do danh dự, nhân phẩm, cácquyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân tại địa phương;

+ Biện pháp bảo vệ tài sản, lợi ích của nhà nước, bảo hộ tài sản của tổchức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế ở địa phương;

- Trong lĩnh vực xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giớihành chính, HĐND cấp xã quyết định:

+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, Chủ tịch,Phó chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân cùng cấp;

+ Bãi nhiệm đại biểu HĐND, chấp nhận việc đại biểu HĐND cùng cấpxin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật;

+ Bãi bỏ những quyết định sai trái của UBND cùng cấp;

+ Thông qua đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính ở địaphương để đề nghị cấp trên xem xét quyết định

Hai là, chức năng giám sát Cụ thể:

- Giám sát hoạt động của Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, UBND cấp xã;giám sát thực hiện nghị quyết HĐND, việc tuân thủ pháp luật của cơ quan nhànước, của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị

vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương

- HĐND xem xét báo cáo của Chủ tịch HĐND, UBND cấp xã; Xem xétviệc trả lời chất vấn của người bị chất vấn Trong trường hợp cần thiết, giaocho Chủ tịch HĐND và đại biểu HĐND giúp HĐND giám sát việc thi hànhpháp luật, nghị quyết của HĐND và báo cáo của UBND tại kỳ họp gần nhất

- Trong quá trình thực hiện giám sát, Chủ tịch HĐND, đại biểu HĐND

có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có liên quan, các tổ chức chính trị xãhội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế cung cấp tài liệu thông tin cần thiết; khiphát hiện có sai phạm thì đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức,

cá nhân đó đình chỉ ngay hành vi vi phạm đó và xem xét để xử lý theo đúngthẩm quyền

Trang 14

Hai chức năng cơ bản nói trên của HĐND được thực hiện thông qua kỳhọp của HĐND, qua hoạt động của Thường trực HĐND, và qua hoạt động cánhân của từng đại biểu HĐND Như vậy, dù với hình thức hoạt động nào thìyếu tố quyết định hiệu quả và chất lượng hoạt động của HĐND suy cho cùngvẫn tuỳ thuộc vào hoạt động của đại biểu HĐND.

Điều 121 Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Đại biểu HĐND là người đạidiện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, phải liên hệ chặt chẽvới cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với

cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu, kiến nghịcủa cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Cụ thể hoá nội dung hiến định của Hiến pháp 1992, Luật quy định:

Đại biểu HĐND là công dân nước cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tínngưỡng, tôn giáo, trình độ, văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú đủ

18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng

cử đại biểu HĐND theo quy định của pháp luật [61, tr.6]

Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng củanhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luậtcủa nhà nước, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chính sách,pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước [62, tr.31]

Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ramình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phảnánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri với HĐND

và cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương [79, tr.65]

Theo cách hiểu đó, đại biểu HĐND cấp xã là công dân Việt Nam tại địaphương, do nhân dân trong xã bầu ra, đại diện cho nhân dân trong xã và thựchiện quyền lực nhà nước tại địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri trong

xã và chính quyền nhà nước cấp trên Đại biểu HĐND xã thay mặt cho cử tri

Trang 15

của mình để quyết định những vấn đề tại địa phương, đồng thời lắng nghe ýkiến của cử tri, chuyển những kiến nghị của cử tri đến tổ đại biểu HĐND vàThường trực HĐND cấp xã để tổng hợp báo cáo trước HĐND, gửi tới cơquan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét giải quyết.

Như vậy, đại biểu HĐND cấp xã là thành viên của cơ quan quyền lựcnhà nước ở địa phương, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làmchủ của nhân dân địa phương Đại biểu HĐND cấp xã vừa chịu trách nhiệmtrước nhân dân địa phương, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấptrên về mọi mặt kinh tế - xã hội, đảm bảo thực hiện Hiến pháp, Luật và cácquyết định của cơ quan nhà nước tại địa phương Trong hoạt động, đại biểuHĐND cấp xã thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, quyết định cácvấn đề quan trọng để phát huy các tiềm năng của địa phương, xây dựng và pháttriển kinh tế - xã hội, biến ý chí quyền lực của nhân dân trên địa bàn trở thànhquyền lực nhà nước, thể hiện bằng các quyết định của Nhà nước, thực hiệnquyền giám sát việc tuân theo pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và củacác cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhândân đóng tại địa phương Về thực chất, đại biểu HĐND cấp xã là người thựchiện quyền lực nhân dân theo phương thức thay mặt cử tri trên phạm vi địa bàn

cơ sở Bản thân quyền lực của người đại biểu HĐND cấp xã có được là donhân dân trao cho Đại biểu HĐND cấp xã được hình thành theo nguyên tắcbầu cử trực tiếp của cử tri

Từ cách nhìn nhận đó, có thể thấy đại biểu HĐND cấp xã có một số đặcđiểm sau:

* Đại biểu HĐND cấp xã là nhân tố cấu thành cơ quan duy nhất ở địa

bàn xã do cử tri bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Do đó, đại biểu HĐND cấp xã là đại diện tiêu biểu cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân trong xã, đại diện cho trí tuệ tập thể của cử tri.

Tính đại diện nhân dân của đại biểu HĐND cấp xã được thể hiện ởnhững điểm sau:

Trang 16

- Được nhân dân trong xã trao quyền thể hiện ý chí, nguyện vọng củanhân dân thông qua các quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước.

Sự yêu cầu về lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân là cơ sởcăn cứ xác định nội dung hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã; đại biểuHĐND cấp xã phải phản ánh trung thực và bảo vệ mọi quyền, lợi ích chínhđáng của cử tri nơi bầu ra mình Cần quan tâm đến mọi nguồn thông tin đạichúng để hiểu rõ cái gì cử tri đang đòi hỏi, để hình thành chương trình hoạtđộng của đại biểu HĐND

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền thay mặt nhân dân trong xã Đó làquyền thảo luận, quyền quyết định các vấn đề quan trọng của địa phươngtrong các kỳ họp HĐND; quyền thay mặt nhân dân khi quan hệ với các cơquan, tổ chức ở địa phương để yêu cầu giải quyết đảm bảo các quyền, lợi íchhợp pháp của nhân dân Trong hoạt động, mỗi đại biểu HĐND cấp xã cầnquan tâm trước hết là lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân địa phương,của cộng đồng xã hội trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội địa phương,trong bảo vệ lợi ích chung của dân tộc

* Đại biểu HĐND cấp xã là người trực tiếp thực hiện quyền lực nhà

nước của HĐND cấp xã.

Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của từng đại biểu HĐND cấp

xã được phản ánh ở hai khía cạnh sau:

- Mỗi đại biểu HĐND cấp xã đều trực tiếp tham gia thực hiện quyềnlực nhà nước tại địa bàn cấp xã Đại biểu là người quyết định những vấn đềquan trọng của địa phương trong phạm vi thẩm quyền của HĐND, thực hiệnquyền giám sát của HĐND thông qua hoạt động chất vấn, nghe và xem xétbáo cáo của các cơ quan nhà nước trước HĐND trong việc thực hiện nghịquyết của HĐND Điều đó được đảm bảo thông qua việc thực hiện quyền,nghĩa vụ của đại biểu HĐND trong thực tế

Trang 17

- Đại biểu HĐND cấp xã là người đại diện cho cơ quan quyền lực trongquan hệ với các cơ quan nhà nước khác và các viên chức nhà nước, với các tổchức xã hội và nhân dân Đại biểu có quyền kiến nghị với các cơ quan nhànước về việc thi hành pháp luật, về những vấn đề thuộc lợi ích chung, Đạibiểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội kịp thờichấm dứt việc làm trái pháp luật Các cơ quan, tổ chức được đại biểu HĐNDcấp xã yêu cầu thì phải bố trí tiếp đại biểu theo đúng quy định Đồng thời phải

có nghĩa vụ trả lời đại biểu HĐND khi có kiến nghị của đại biểu

Đây là hoạt động gắn liền với chức trách đại biểu của đại biểu HĐND

Để hoạt động của đại biểu có hiệu quả, pháp luật đưa ra những quy định cầnthiết, tạo khả năng thực tế cho đại biểu thực hiện đầy đủ tính đại diện nhândân, thực thi quyền lực nhà nước trong hoạt động HĐND ở đơn vị bầu cử.Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm khoá IX Ban chấp hành Trung ương Đảng

về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở xã, phường,thị trấn, đã nhấn mạnh:

Đổi mới cơ chế bầu cử, bảo đảm cho dân đề cử, ứng cử, lựachọn các đại biểu HĐND thực sự là người đại diện cho dân, tăngthêm số lượng đại biểu HĐND so với hiện nay, tăng tỷ lệ thích đángđại biểu HĐND là người ngoài Đảng; tăng số kỳ họp và nâng caochất lượng các kỳ họp HĐND [16]

* Đại biểu HĐND cấp xã thực hiện hoạt động đại biểu trong khuôn khổ

những quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định.

Đại biểu HĐND cấp xã có các quyền hạn và trách nhiệm sau:

Một là, quyền và nghĩa vụ trong tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã:

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền và nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳhọp, HĐND;

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền bầu cử và ứng cử trong các cơ quancủa HĐND;

Trang 18

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền đề nghị đưa vào chương trình của kỳhọp những vấn đề mà đại biểu HĐND xem xét thấy cần thiết để HĐND cấp xãxem xét quyết định Ý kiến của đại biểu phải được ghi vào biên bản kỳ họp;

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịchUBND, và các thành viên của UBND và Thủ trưởng các cơ quan chuyên mônkhác thuộc UBND cấp xã Người bị chất vấn phải có trách nhiệm trả lờinhững vấn đề mà đại biểu HĐND chất vấn theo thủ tục pháp luật quy định;

- Đại biểu HĐND cấp xã được bầu vào các cơ quan tổ chức của HĐND.Đại biểu HĐND cấp xã phải tôn trọng và chấp hành quy chế về tổ chức vàhoạt động do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

Hai là, quyền và nghĩa vụ trong mối liên hệ với cử tri ở đơn vị bầu cử

của đại biểu:

- Đại biểu HĐND cấp xã phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, tiếp xúc cử tri theolịch, lấy ý kiến của cử tri về các vấn đề sẽ đưa vào nội dung trong kỳ họp HĐND;

- Đại biểu HĐND cấp xã phải báo cáo với cử tri về hoạt động của mình

và HĐND Đồng thời chịu sự giám sát của cử tri về các hoạt động đó;

- Đại biểu HĐND cấp xã tham gia tổ chức thực hiện pháp luật và cácquyết định của HĐND và UBND cấp trên

- Đại biểu HĐND cấp xã tiếp dân theo lịch được phân công hoặc theoyêu cầu của nhân dân; khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của côngdân, đại biểu có trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất ý kiến trực tiếp hoặc thôngqua tổ chức hoạt động của HĐND cấp xã để giám sát, chất vấn các cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền xem xét giải quyết những khiếu nại, tố cáo đó;

Ba là, quyền của đại biểu HĐND cấp xã trong quan hệ với các cơ quan nhà

nước, tổ chức xã hội và các đơn vị trên phạm vi đơn vị hành chính và nghĩa vụcủa các cơ quan, tổ chức trong xem xét, yêu cầu của đại biểu và tiếp đại biểu

- Theo uỷ quyền của HĐND, đại biểu của HĐND cấp xã có quyền xemxét hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội… vềnhững vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND cấp xã;

Trang 19

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền yêu cầu được cung cấp tài liệu, đượcđảm bảo thông tin cần thiết cho hoạt động đại biểu Các cơ quan có thẩmquyền phải đảm bảo các yêu cầu đó cho đại biểu HĐND;

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền đề nghị để hoàn thiện tổ chức và hoạtđộng của cơ quan, tổ chức, đề nghị các biện pháp ngăn chặn tiêu cực trong cơquan, tổ chức, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm đốivới những cán bộ, công chức nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật;

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền theo dõi, giám sát, đôn đốc hoạt độnggiải quyết khiếu nại, tố cáo của các công dân trong các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền yêu cầu gặp lãnh đạo các cơ quan, tổchức Người có thẩm quyền phụ trách cơ quan phải có trách nhiệm tiếp vàgiải quyết các yêu cầu đó;

Các cơ quan Hành chính nhà nước và các cán bộ nhà nước trong phạm vithẩm quyền có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp tư liệu, thông tin, địa điểmtiếp xúc cử tri, phương tiện giao thông cho hoạt động đại biểu HĐND;

- Đại biểu HĐND cấp xã có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể trong hoạt động đại biểu HĐND

Bốn là, quyền của đại biểu HĐND cấp xã trong tăng cường pháp chế

Đảm bảo tăng cường và pháp chế là đòi hỏi đối với mọi tổ chức, cơ quan,cán bộ, công chức và mọi công dân Vì vậy, đại biểu vừa phải trực tiếp tiếnhành mọi hoạt động thuộc phạm vi chức năng, quyền hạn của HĐND cấp xãtheo đúng quy định của pháp luật, vừa có nghĩa vụ tham gia phát hiện đấutranh mọi hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể:

- Đại biểu HĐND cấp xã có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước

về việc thi hành chính sách, pháp luật và những vấn đề thuộc lợi ích chungcủa cộng đồng dân cư tại cơ sở

- Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu tổ chức, cơ quan nhà nước chấm dứt nhữngviệc làm sai trái, vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm đến quyền lợi của nhân dân

Trang 20

1.1.2 Vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Đơn vị hành chính cấp xã là nơi hàng ngày, hàng giờ diễn ra các mốiquan hệ trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội mà các cơ quan nhà nước cấptrên không thể giải quyết hết được Bởi vậy, ở đó phải đặt ra bộ máy chínhquyền cơ sở, xem đó là mắt xích quan trọng của hệ thống tổ chức nhà nước từTrung ương đến địa phương, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ

Ở nước ta, vị trí, vai trò của HĐND cấp xã luôn được đề cao trong suốtquá trình xây dựng và phát huy vị thế của HĐND cấp xã Kể từ khi nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến nay, cấp xã và HĐND cấp xã ngàycàng chiếm vị trí quan trọng trong tổ chức bộ máy nhà nước

Sau cách mạng tháng 8/1945, chỉ hai tháng sau khi tuyên bố độc lập,ngày 22/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 63 về tổ chức HĐND và

Uỷ ban hành chính Tại điểm I của Sắc lệnh đã nêu rõ: để thực hiện chínhquyền nhân dân ở địa phương trong nước Việt Nam sẽ đặt hai cơ quan HĐND

và Uỷ ban hành chính HĐND do nhân dân bầu ra theo lối phổ thông và trựctiếp đầu phiếu, là cơ quan thay mặt nhân dân Uỷ ban hành chính do HĐNDbầu ra, là cơ quan hành chính vừa thay mặt nhân dân, vừa thay mặt cho chínhphủ Ở hai cấp xã và tỉnh có HĐND và Uỷ ban hành chính, cấp huyện và thị

xã có Uỷ ban hành chính Ở khu đô thị mà lâu nay về mặt hành chính đượcthiết lập trực tiếp với tỉnh, từ nay sẽ gọi là thị xã Ở mỗi thành phố sẽ đặt ba

cơ quan: HĐND thành phố, Uỷ ban hành chính thành phố và Uỷ ban hànhchính khu phố do nhân dân khu phố bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầuphiếu, là cơ quan vừa thay mặt cho nhân dân, vừa thay mặt cho Chính phủ Như vậy, ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Đảng vàNhà nước ta đã xác định cấp hành chính cơ sở là xã, thị xã, khu phố

Tại điều 57, 58 Hiến pháp năm 1946 – Bản Hiến pháp đầu tiên của nước quy định: Nước Việt Nam về phương diện hành chính chia thành 3 bộ: Bắc bộ,Trung bộ, Nam bộ Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyệnchia thành xã Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược, ngày

Trang 21

ta-09/11/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký hai sắc lệnh 254 và 255 về tổ chức chínhquyền nhân dân trong thời kỳ kháng chiến Theo quy định của hai sắc lệnh nóitrên thì tổ chức chính quyền xã, thị xã có HĐND và Uỷ ban kháng chiến Đối vớinhững xã nằm trong vùng địch chiếm đóng hay bị uy hiếp, nếu chưa bầu đượcHĐND thì Uỷ ban kháng chiến hành chính chỉ ra một HĐND lâm thời, nếu đãbầu được HĐND nhưng đại biểu HĐND còn lại ít nhất 1/3 tổng số đại biểu theoquy định thì vẫn tiếp tục hoạt động Nếu không đủ 1/3 đại biểu Uỷ ban khángchiến hành chính xã do Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu chỉ định.

Như vậy là dù trong tình huống chiến tranh, thậm chí trong tình huống bị địchchiếm đóng thì xã vẫn có HĐND, vẫn là đơn vị hành chính cơ sở hoàn chỉnh

Sau ngày miền Bắc giải phóng (năm 1954), trước yêu cầu của nhiệm vụmới đòi hỏi phải chấn chỉnh và tăng cường bộ máy chính quyền các cấp, vàođầu năm 1958, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương.Theo đó, thì đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm có: xã, thị trấn, khu phố đều có

tổ chức HĐND và Uỷ ban hành chính

Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức HĐND nhân dân và Uỷ ban hànhchính năm 1962 tiếp tục xác định đơn vị hành chính cơ sở gồm có: Xã, thịtrấn, thị xã thuộc tỉnh, khu phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương Xã vàcấp tương đương có HĐND và Uỷ ban hành chính

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất, tại kỳhọp thứ nhất Quốc hội khoá VI đã thông qua Nghị quyết về tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở Hiến pháp năm 1959 Tại điểm 3của nghị quyết quy định ở địa phương có các cấp chính quyền sau:

- Tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương

- Huyện, khu phố, quận, thành phố và thị xã thuộc tỉnh

- Xã và cấp tương đương (thị trấn, phường)

Ở tất cả các cấp chính quyền đều có HĐND và UBND

Ngày 18/12/1980 Quốc hội khoá VI kỳ họp thứ 7 thông qua bản Hiếnpháp mới của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều 13 Hiến pháp

Trang 22

1980 quy định các đơn vị hành chính trong đó có cấp xã và tương đương, cáccấp hành chính đều có HĐND và UBND.

Ngày 30/6/1983 Quốc hội thông qua Luật Tổ chức HĐND và UBNDtrong Luật quy định rõ việc tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã

Hiến pháp năm 1992 quy định bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam được chia thành 4 cấp: Cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương; cấp huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; và cấp

xã, phường, thị trấn

Như vậy, trong lịch sử xây dựng và phát triển hệ thống chính quyền cáchmạng ở nước ta, có những cấp chính quyền ở vào những thời kỳ nhất định đãkhông tổ chức HĐND Riêng cấp xã, từ khi có sắc lệnh số 63 (1945) đến nay,

cơ quan HĐND cấp xã vẫn được duy trì và phát triển liên tục

Từ phân tích trên về vị trí của HĐND cấp xã có thể thấy rõ vị trí, vai tròcủa đại biểu HĐND cấp xã;

Trong điều kiện cụ thể của thể chế nhà nước Việt Nam, pháp luật quyđịnh: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đạidiện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương bầu

ra theo nguyên tắc: trực tiếp, phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín; chịu tráchnhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Như vậy, sựhiện diện của đại biểu HĐND cấp xã trong bộ máy nhà nước là một nhu cầukhách quan Đó là bộ phận trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước tại cơ sở và

là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân địa phương

Vị trí, vai trò của đại biểu HĐND cấp xã được minh chứng rõ nét qua vịtrí là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương Đạibiểu HĐND cấp xã là người do nhân dân trực tiếp bầu ra, mỗi đại biểu HĐND

xã đại diện cho một khu vực dân cư, tổ chức đoàn thể, thành phần dân tộc, tôngiáo hoặc một tổ chức nghề nghiệp trong địa bàn cấp xã Từng đại biểuHĐND xã đều có quyền và nghĩa vụ chuyển tải đầy đủ yêu cầu, kiến nghị của

Trang 23

chính tổ chức, thành phần do mình đại diện vào chương trình hành động củaHĐND cấp xã, đồng thời xem xét, phân tích, đánh giá thể chế hoá những nộidung cần thiết thành nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước tại cơ sở.Thông qua vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phươngcủa đại biểu HĐND, HĐND xã đã mang tính chất quyền lực Như vậy từ khíacạnh này đại biểu HĐND cấp xã giữ một vai trò quan trọng trong việc làngười thay mặt nhân dân địa phương thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,trong chức trách là người thực hiện chức năng quyền lực trực tiếp giám sátmọi hoạt động của UBND và các cơ quan, đơn vị chuyên môn trực thuộcUBND cùng cấp, bảo vệ mọi quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhândân trên địa bàn dân cư của người đại biểu Đại biểu HĐND cấp xã là ngườivừa quyết định những biện pháp cụ thể, vừa phải trực tiếp xử lý những vấn đềnẩy sinh từ thực tiễn quá trình thực hiện chính sách, pháp luật tại địa phương,kiểm nghiệm tính đúng đắn, phù hợp trong những quyết định của cơ quan cấptrên cũng như kịp thời phát hiện những vấn đề mới nẩy sinh tại cơ sở.

Trong cuộc đời hoạt động của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quantâm chăm lo việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng liênminh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, xây dựng nhà nướcViệt Nam thật sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân Tư tưởng xuyên suốtcủa Người luôn yêu cầu các cơ quan nhà nước phải lấy dân làm gốc, xemnhân dân là người chủ thực sự của đất nước và đảm bảo để nhân dân thựchiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội và HĐND các cấp Từ cuộc bầu

cử HĐND cấp xã khoá đầu tiên vào tháng 4 năm 1946 cho đến nay, tổ chức

và hoạt động của HĐND xã luôn được củng cố, hoàn thiện theo hướng ngàycàng phát triển để đảm bảo đúng đặc trưng là một cơ quan quyền lực, đại diệnchân chính cho nguyện vọng, ý chí của tất cả nhân dân trên địa bàn xã Thựctiễn trong từng giai đoạn cách mạng Việt Nam đã chứng minh: nếu đảm bảo

vị trí, vai trò của đại biểu HĐND trong chính quyền cấp xã thì sẽ hạn chếđược rất nhiều những tiêu cực phát sinh trong đời sống xã hội và trong quản

Trang 24

lý nhà nước, giảm bớt những vụ việc khiếu kiện lên cấp trên và sẽ tiết kiệmđược thời gian, tiền bạc, công sức của nhân dân

Hơn 7 thập kỷ qua, từ khi nhà nước dân chủ cộng hoà Việt Nam ra đờiđến nay, Đảng ta luôn coi trọng vị trí, vai trò của HĐND cấp xã là nền tảngcấu trúc chiến lược trong xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở Do vậy, chođến nay vị trí, vai trò của đại biểu HĐND cấp xã luôn được tăng cường thôngqua quá trình hoàn thiện và nâng cao vị thế thực quyền của cơ quan quyền lựcnhà nước cấp cơ sở Trong công cuộc đổi mới phát triển đất nước, đại biểuHĐND cấp xã đã và đang phát huy vai trò của mình trong thực hiện thắng lợiđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước ở từngđịa bàn dân cư Điều đó cho thấy đã có sự lớn mạnh và biến đổi sâu sắc về sốlượng và nâng lên chất lượng cả phẩm chất, năng lực, nhận thức của người đạibiểu theo yêu cầu, nhiệm vụ ở cấp cơ sở

1.2 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

1.2.1 Các yếu tố cấu thành chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân

Trước khi phân tích các yếu tố cấu thành chất lượng đại biểu HĐNDcấp xã, nhất thiết cần làm rõ khái niệm “chất lượng”

Theo từ điển Tiếng việt thì “chất lượng” hiểu theo nghĩa chung nhất là:

"cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc" [59, tr.28].Như vậy, nói đến chất lượng của một cá nhân là nói đến khả năng đạtđược kết quả trong hoạt động nào đó của chính cá nhân đó Muốn hoạt động

có kết quả thì cá nhân phải có những phẩm chất tâm lý nhất định phù hợp vớiyêu cầu của hoạt động Nếu những thuộc tính tâm lý cá nhân không phù hợpvới yêu cầu của hoạt động thì coi như không có chất lượng Chất lượng khôngphải là những thuộc tính cá nhân riêng lẻ mà là một tổ hợp các thuộc tính cánhân đáp ứng yêu cầu cao của hoạt động Tổ hợp không có nghĩa là các thuộc

Trang 25

tính đó tồn tại song song mà chúng có quan hệ và tác động lẫn nhau, thốngnhất với nhau theo yêu cầu nhất định.

Chất lượng của con người vừa là cái “tự nhiên” có sẵn, vừa là kết quả củaquá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người Có thể nóirằng, chất lượng không phải là tư chất bẩm sinh thuần tuý vốn có của conngười, tự động đảm bảo cho con người đạt kết quả trong hoạt động nào đó mà

nó là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện,

tu dưỡng, học tập thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Người cán bộ nói chung và người đại biểu HĐND nói riêng phải có phẩmchất, đạo đức, trình độ, năng lực nhất định mới có thể hoàn thành tốt chứcnăng, nhiệm vụ của mình Chất lượng của người đại biểu HĐND trong việc tưduy lý luận và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn là hai nhân tố quan trọngnhất tạo nên tài năng của mỗi người Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ vớinhau, không thể tách rời nhau, cái này hỗ trợ cái kia phát triển Nếu người đạibiểu HĐND không có khả năng tư duy lý luận thì không thể nào có khả năngkhái quát, sáng tạo và vận dụng đúng đắn, linh hoạt Trái lại, chỉ có năng lực

tư duy lý luận mà không có năng lực tổ chức thực tiễn thì năng lực tư duy lýluận dần dần bị xơ cứng, giáo điều, thoát ly thực tiễn, thoát ly cuộc sống, dễrơi vào chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí

Người đại biểu HĐND luôn gần gũi với nhân dân địa phương bầu ramình, lắng nghe và truyền tải ý chí, nguyện vọng của cử tri đến cơ quan nhànước có thẩm quyền, biến ý chí của nhân dân địa phương thành các quyết địnhquản lý nhà nước Điều đó đòi hỏi đại biểu HĐND xã phải là người có trình

độ, năng lực mới có thể hoạt động toàn diện trên tất cả các lĩnh vực thì mới cóthể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao Bởi vậy, ngoài các yếu tố trên,người đại biểu HĐND còn cần phải có tính sáng tạo, tính quyết đoán, khảnăng làm việc độc lập cũng như khả năng làm việc tập thể cao

Từ sự phân tích trên có thể hiểu, chất lượng của đại biểu HĐND là một

tổ hợp các khả năng của đại biểu giúp cho họ đạt được kết quả cao nhất khi

Trang 26

thực hiện các chức năng thuộc thẩm quyền của người đại biểu HĐND Theo

nghĩa đó, chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã là một tổ hợp các yếu tố

mang thuộc tính cá nhân giúp cho đại biểu HĐND cấp xã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao tại địa bàn cấp xã Từ đó, có thể nhận diện các yếu

tố cơ bản cấu thành chất lượng đại biểu HĐND cấp xã như sau:

- Chất lượng tư duy lý luận: Là tổng thể các phẩm chất trí tuệ của ngườiđại biểu có thể đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức nhanh nhạy, đúng đắn vềnhững vấn đề thực tiễn ở cấp độ lý luận, giúp cho người đại biểu HĐND cónhững đề xuất sắc bén, khả năng vận dụng sáng tạo, linh hoạt, góp phần nângcao hiệu quả hoạt động của HĐND, biểu hiện:

Một là, khả năng xác lập tri thức Đó là khả năng tiếp thu lý luận, chủ

trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước một cách đúng đắn; khảnăng phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề mới; khả năng tổng kết thựctiễn; khả năng vận dụng sáng tạo lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách đểxây dựng chương trình, kế hoạch công tác, kế sách phát triển kinh tế - xã hộiphù hợp với thực tiễn địa phương

Hai là, khả năng xác lập quan hệ giữa các tri thức Đó là khả năng liên

kết tri thức ở các lĩnh vực, các ngành nghề chuyên môn đa dạng, phong phúthành một tổng thể ở mức độ khái quát cao Đồng thời cũng phân định đượctính đặc thù giữa các loại tri thức, thông tin để khi vận dụng vào thực tiễn vừaphải đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể ở tầm quốc gia, vừa phải đảm bảo tínhđặc thù phù hợp với địa phương

Ba là, khả năng hiện thực hoá tri thức Đó là khả năng biến những tri

thức đã lĩnh hội được thành các chủ trương, kế hoạch hành động làm biến đổihiện thực trực tiếp Biểu hiện ở khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, liên hệ

lý luận với thực tiễn; vận dụng cái chung một cách đúng đắn vào từng tình huống

cụ thể Đó cũng là khả năng tổng hợp để có cái nhìn hệ thống, nắm được cái chủyếu, cái bản chất của sự vật, hiện tượng trong sự vận động của chúng, trên cơ sở

đó đưa ra quyết định đúng đắn, sát hợp với thực tế địa phương

Trang 27

Như vậy, chất lượng tư duy lý luận của người đại biểu HĐND có giá trịđịnh hướng đúng đắn hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của họ Chấtliệu trực tiếp tạo nên năng lực đó là những tri thức lý luận tiếp thu từ chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ kho tàng tri thức của nhân loại,

từ đường lối chủ trương của Đảng, chính sách , pháp luật của Nhà nước và từ

sự trải nghiệm trong phong trào cách mạng sâu rộng của địa phương

- Chất lượng tổ chức thực tiễn: Là khả năng hình thành một cơ cấu chỉnh

thể như một bộ máy với những bộ phận có chức năng ổn định hay những conngười cụ thể có nhiệm vụ xác định, hoạt động có trật tự, có nề nếp, nhịp nhàngcân đối, có hiệu lực, hiệu quả nhằm hiện thực hoá mục tiêu đề ra

Chất lượng tổ chức thực tiễn của người đại biểu HĐND được biểu hiện

cụ thể như sau:

Một là, khả năng thu nhận và xử lý thông tin liên quan đến mọi mặt của

đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng…) ở địaphương một cách nhanh chóng và có hiệu quả cụ thể, thiết thực Thông quahoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp xúc với nhân dân địa phương cũng như hoạtđộng hàng ngày của mình, người đại biểu HĐND phải nắm bắt thấu đáonhững nguyện vọng của nhân dân, phải biết được những gì nhân dân đangquan tâm, đang cần được giải quyết Đại biểu HĐND là người trực tiếp gầndân nhất nên phải nắm chắc tình hình ở cơ sở, ở địa phương để chuyển tải cácvấn đề đó đến HĐND xem xét, giải quyết Do vậy để thu thập và xử lý thôngtin đầy đủ, một mặt người đại biểu HĐND phải bám sát thực tế, đối thoại dânchủ với nhân dân, gần dân, tin dân; mặt khác, cần xây dựng phong cách làmviệc khoa học

Xét cho cùng, những quyết định và giải pháp mà người đại biểu HĐNDđưa ra đều phải xuất phát từ thực tiễn, bởi vậy họ cần phải có được lượng thôngtin chính xác và phong phú để có các quyết định đúng đắn, kịp thời trong hoạtđộng của mình Sau khi có thông tin, họ phải có khả năng tổng hợp, khái quát,

Trang 28

đánh giá, phân tích để đề ra những biện pháp hành động đúng đắn Kết quả nắmbắt và xử lý thông tin kịp thời, chính xác, khách quan quyết định chất lượng hoạtđộng của đại biểu HĐND nói riêng và của cả HĐND nói chung.

Hai là, có khả năng tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của địa

phương Sau khi nắm bắt thông tin từ cử tri, từ nhân dân địa phương, nắm bắtđược tình tình kinh tế, chính trị, xã hội… của địa phương, người đại biểuHĐND phải trực tiếp tham gia quyết định các vấn đề về phát triển kinh tế, xãhội của địa phương Các quyết định do HĐND đưa ra có tính khả thi cao trongthực tế hay không phụ thuộc vào khả năng đánh giá tình hình địa phương vàkhả năng đưa ra các quyết định mang tính chất quyết đoán nhưng khách quan,khoa học của từng đại biểu

Ba là, có khả năng tổ chức thực hiện các quyết định, bố trí và phối hợp

với các lực lượng ở cơ sở; khả năng lôi cuốn, thu hút, thúc đẩy cán bộ và nhândân thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước, các nghị quyết của HĐND cũng như nhiệm vụ do thực tiễn đặt ra

Đó là khả năng xử lý nhanh nhạy, chính xác những nhiệm vụ cơ bản trọng tâmtrước mắt và lâu dài, biết cách thay đổi nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với sựbiến đổi của tình hình Đó chính là khả năng phối hợp hoạt động của ngườiđại biểu HĐND với những chủ thể khác nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp

Bốn là, có khả năng kiểm tra việc thực hiện chủ trương đường lối của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các nghị quyết của HĐND đểphát hiện kịp thời những vấn đề mới nảy sinh để giải quyết, tìm ra những lệchlạc, sai sót để góp ý sửa chữa, hoàn chỉnh các đại biểu HĐND quyết định đảmbảo để các nghị quyết của HĐND đưa ra được chính xác, có tính khả thi caotrong thực tế Năng lực đó còn thể hiện ở khả năng đánh giá hiệu quả việcthực hiện các nghị quyết của HĐND và khả năng đúc rút kinh nghiệm thựctiễn kịp thời, khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm thực tiễn có giátrị vào cuộc sống Thực tế cho thấy, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn không chỉ

Trang 29

có giá trị trong việc biểu quyết, quyết định chính xác mà còn giúp tìm ranhững hình thức, biện pháp, cách thức thực hiện các quyết định một cách hiệuquả nhất.

Năm là, năng lực sáng tạo, tính quyết đoán Năng lực sáng tạo là khả

năng tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, đặc biệt là tìm rađược con đường mới trong những tình huống luôn luôn biến đổi ở địa phương

mà không gò bó, không phụ thuộc vào cái đã có Nó là quá trình suy lý, lậpluận chân thực, biết tìm ra cái mới, cái chưa biết từ cái đã biết thông qua phánđoán, suy luận, diễn dịch, quy nạp, so sánh…Đó cũng là khả năng phân loại

và hệ thống hoá vấn đề, xác định bản chất vấn đề Năng lực đó rất cần thiếttrong hoạt động của người đại biểu HĐND đặc biệt khi tham gia quyết địnhcác vấn đề quan trọng của địa phương Đó chính là khả năng tìm ra cái mới,phát hiện ra những cách làm mới, khơi dậy nguồn lực sẵn có để tập trung pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương Đồng thời với năng lực sáng tạo, tínhquyết đoán là khả năng phán đoán một cách quả quyết, có những quyết địnhnhanh chóng và dứt khoát, không do dự, không rụt rè, không đùn đẩy, thoáithác trách nhiệm Tính quyết đoán khác hẳn với bệnh hách dịch, cửa quyền,liều lĩnh, phiêu lưu Nó là sản phẩm của tính kiên quyết, tính chủ động, sựthận trọng và niềm tin khoa học Nó biểu hiện ở những khả năng sau:

Thứ nhất là khả năng phán đoán chính xác tình hình, đưa ra các quyết định

kịp thời, quyết định đó có được do sự nhạy cảm của năng lực trực giác, khả năngđoán định trên cơ sở kiến thức phong phú, khả năng phân tích, tổng hợp…

Thứ hai là khả năng ra quyết định một cách dứt khoát và giám chịu trách

nhiệm về quyết định của mình Để có được khả năng này, người đại biểuHĐND phải nhận biết trước được sự vận động của thực tiễn, biết lắng nghe và

am hiểu công việc mình đảm nhận

Ngoài các yếu tố cơ bản nêu trên, người đại biểu HĐND còn phải cónăng lực làm việc với con người, với tập thể và khả năng làm việc độc lập

Trang 30

Hoạt động của người đại biểu HĐND luôn luôn phải tiếp xúc với nhiềungười bằng nhiều phương thức khác nhau Bởi vậy, khả năng giao tiếp khôngchỉ là thành tố của năng lực đại biểu mà còn như một “nghệ thuật” để nângcao hiệu quả hoạt động của người đại biểu.

Phần lớn thời gian làm việc của đại biểu HĐND là hoạt động giao tiếp(đối thoại) như: hội họp, tiếp xúc với cử tri, với nhân dân, tiếp xúc với cácphương tiện thông tin đại chúng…Chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của họphụ thuộc nhiều vào khả năng giao tiếp này Qua giao tiếp mà các mối quan

hệ xã hội cũng như năng lực, phong cách công tác của họ được hình thành,hoàn thiện, kỹ năng, kỹ xảo được bộc lộ Nhờ nghệ thuật giao tiếp mà ngườiđại biểu HĐND có thể nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cử tri, của nhândân và chuyển tải tâm tư, nguyện vọng đó đến các kỳ họp của HĐND, vấn đề

đó trở thành quyền lực nhà nước Người đại biểu HĐND còn phải có khả năngđoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhândân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương

Chất lượng làm việc với cá nhân, với tập thể còn là khả năng xây dựngcác mối quan hệ, thu hút mọi người tham gia vào công việc chung Chẳnghạn, biết đặt mình vào vị trí người khác, biết phát huy tính tích cực của đồngnghiệp, của nhân dân, biết vì lợi ích chung, thương người, có thái độ điềmtĩnh, cư xử nhã nhặn, lịch sự, tế nhị, khiêm tốn với nhân dân, tôn trọng nhândân, hiểu rõ tâm tư, tình cảm của họ, thông cảm với họ, biết nghe dân nói, biếtnói cho dân nghe, biết phê bình và tự phê bình, biết khuyến khích cái hay, cáitốt của người khác, biết tôn trọng ý kiến, phát huy sáng kiến của nhân dân.Chất lượng đó biểu hiện rõ trong quá trình phân tích, đánh giá tình hình, trongthảo luận, lựa chọn phương án tối ưu, trong việc đề ra và thông qua các nghịquyết, chương trình, kế hoạch, trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, thuyết phục,đặc biệt trong công tác vận động quần chúng

Ngoài chất lượng giao tiếp, làm việc với tập thể, người đại biểu HĐNDcòn phải có khả năng làm việc độc lập, đó là khả năng tự nghiên cứu, phân

Trang 31

tích và đưa ra các quyết định mang tính chất cá nhân Trên cơ sở đó, thôngqua các kỳ họp, họ mới có khả năng tham gia ý kiến một cách độc lập dựa trênkết quả làm việc độc lập của bản thân, đảm bảo tính dân chủ, khắc phục đượctính hình thức trong các kỳ họp của HĐND Để làm được điều này, người đạibiểu HĐND phải có một tư duy lý luận sắc bén, có sự hiểu biết rộng rãi trongcác mặt của đời sống xã hội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tính quyết đoán

và tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học

1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Chất lượng đại biểu HĐND cấp xã là nhân tố quyết định chất lượng hoạtđộng của HĐND cấp xã Vì vậy, căn cứ vào các yếu tố cấu thành chất lượngđại biểu Hội đồng nhân dân, làm rõ tiêu chuẩn của đại biểu HĐND cấp xã và

từ đó xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng của đại biểu HĐND cấp xã làđiều kiện để bảo đảm chất lượng hoạt động của HĐND cấp xã trong việc thựcthi các chức năng, nhiệm vụ của HĐND trên địa bàn cơ sở

Theo quy định tại điều 3, Luật Bầu cử đại biểu HĐND, đại biểu HĐNDphải đáp ứng đầy đủ 5 tiêu chuẩn sau:

Một là, trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,

phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng, pháttriển địa phương;

Hai là, có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp

luật, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch,cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luậtkhác, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân;

Ba là, có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu

HĐND, có khả năng tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân

Trang 32

thực hiện chính sách, pháp luật, am hiểu tình hình kinh tế – xã hội

để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương;

Bốn là, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của

nhân dân, được nhân dân tín nhiệm;

Năm là, có điều kiện tham gia các hoạt động của HĐND [61, tr.6].

Về cơ bản, các yếu tố cấu thành chất lượng đại biểu HĐND cấp xã thểhiện thông qua hiệu quả hoạt động của họ Liên quan đến hiệu quả hoạt độngcủa người đại biểu HĐND hiện nay có những quan niệm khác nhau, trong đó

có quan niệm cho rằng hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã đồngnghĩa với những chi phí ít nhất (bao gồm những chi phí về vật chất, thời gian vàtinh thần…) Quan niệm như vậy phải chăng chỉ mới đánh giá được về mặtđịnh lượng, mà hoạt động của đại biểu HĐND ở đây có những mặt không thể

định lượng được, mà phải vừa có tính định tính, vừa có tính định lượng.

Trong thực tiễn, hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND cấp xã là kết quảthực tế do việc thực hiện các quy định pháp lý về quyền hạn, nhiệm vụ và tráchnhiệm của người đại biểu đem lại Kết quả đó càng cao thì hiệu quả càng lớn vàngược lại

Trên cơ sở các tiêu chuẩn của người đại biểu HĐND theo quy định của phápluật hiện hành, có thể nêu ra một số tiêu chí đánh giá chất lượng của đại biểuHĐND cấp xã, căn cứ vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người đại biểuthể hiện thông qua hiệu quả hoạt động của họ trên các phương diện sau:

Một là, mức độ chính xác và kết quả của việc phản ánh ý kiến của cử tri,

những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong xã đến HĐND cấp xã và các cơquan nhà nước khác Để làm tốt công việc này đòi hỏi người đại biểu phải thựchiện nghiêm túc chế độ tiếp xúc với cử tri, trả lời có tinh thần trách nhiệm trướcnhững yêu cầu và kiến nghị của cử tri, của nhân dân địa phương Người đại biểuphải luôn gần dân, sát dân, biết lắng nghe và tôn trọng các ý kiến, nguyện vọngchính đáng của nhân dân, đồng thời phải truyền tải thật chính xác, khách quan,trung thực ý kiến của cử tri tới HĐND và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 33

Hai là, khả năng bảo vệ nhân dân của người đại biểu Biểu hiện cụ thể

của vấn đề này là người đại biểu có tinh thần đấu tranh và có đấu tranh kiênquyết với những hành vi vi phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp, tự do, danh dự,nhân phẩm, tính mạng, sức khoẻ, tài sản của công dân hay không; người đạibiểu có sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân để bảo vệ quyền lợi của nhân dânhay không; họ có giám đấu tranh chống lại các quyết định của các cơ quannhà nước khi các quyết định đó không đạt tính khả thi trên thực tế, thậm chílàm phương hại đến đời sống của nhân dân hay không Trước khi đưa ra cácquyết định quan trọng liên quan đến việc phát triển kinh tế, xã hội…của địaphương, người đại biểu có thẳng thắn tranh luận để đi đến các phương án tối

ưu nhất, người đại biểu có thể hiện được khả năng quyết đoán, giám làm,giám chịu trước nhân dân hay không…

Thứ ba, khả năng tiến hành tốt các hoạt động chuẩn bị trước khi tham gia

kỳ họp của các đại biểu phải thật sự công phu, chu đáo, có tinh thần tráchnhiệm cao Trước khi tham dự kỳ họp, người đại biểu phải tiến hành tiếp xúc

cử tri, chuẩn bị tài liệu, nghiên cứu các tài liệu được cung cấp liên quan đếnchương trình nghị sự của kỳ họp, tiến hành thảo luận tổ, tham gia các cuộchọp chuyên đề…để có được các thông tin và sự hiểu biết thấu đáo các vấn đềliên quan đến kỳ họp Trước khi tham gia thảo luận xây dựng một nghị quyết,người đại biểu phải nắm bắt một cách chính xác, sâu sắc vấn đề cần đượcquyết định

Bốn là, khả năng giải quyết nhanh nhạy các vấn đề của cử tri đặt ra và có

uy tín với cử tri Muốn vậy, người đại biểu phải có trình độ hiểu biết về mọimặt nhất là hiểu biết về pháp luật và phải có tinh thần phấn đấu cao Đồngthời người đại biểu phải thường xuyên duy trì mối quan hệ với cử tri và nhândân địa phương, luôn bám sát thực tiễn, nắm vững tâm tư, nguyện vọng, yêucầu và luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân

1.3 YÊU CẦU CỤ THỂ VỀ CHẤT LƯỢNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

Trang 34

Chất lượng của đại biểu HĐND các cấp nói chung, đại biểu HĐND cấp

xã nói riêng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ đại biểu cần đảm bảo cácyêu cầu cụ thể trên các phương diện sau: Phẩm chất chính trị, đạo đức cáchmạng, trình độ, kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND

Thứ nhất, về phẩm chất chính trị.

Phẩm chất chính trị là yếu tố quan trọng, quyết định đến chất lượng củangười đại biểu HĐND Phẩm chất chính trị là động lực tinh thần thúc đẩy ngườiđại biểu HĐND vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được nhân dân giao phó.Phẩm chất chính trị là yêu cầu cơ bản đối với người đại biểu HĐND

Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành tuyệtđối với lý tưởng của Đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,tinh thần tận tuỵ với công việc, hết lòng hết sức vì sự nghiệp của nhân dân; làbản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường đi lên Chủnghĩa xã hội

Phẩm chất chính trị đòi hỏi người đại biểu HĐND phải thấm nhuần chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt chủ trương đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần cương quyết đấutranh chống lại các hiện tượng lệch lạc, những biểu hiện mơ hồ, sai trái đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước

Người đại biểu HĐND có phẩm chất chính trị tốt là người luôn trăn trở,băn khoăn trước những tâm tư, nguyện vọng của cử tri, của nhân dân, luôn tìmcách để giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân; trăn trở trước nhữngvấn đề phát triển đi lên của địa phương, cùng nhân dân tìm cách tháo gỡnhững khó khăn, phát huy những tiềm năng sẵn có của địa phương để pháttriển đi lên, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân;tích cực tuyên truyền, vận động gia đình, nhân dân thực hiện tốt mọi chủtrương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Thứ hai, về đạo đức cách mạng.

Trang 35

Đạo đức cách mạng là nền tảng, là gốc, là sức mạnh của người đại biểuHĐND Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: "Cũng như sông có nguồn thì mới

có nước, không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc, không có gốc thì câychết; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức thì cótài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" [58, tr.252]

Người đại biểu HĐND là người gần dân nhất, thường xuyên tiếp xúc vớinhân dân Bởi vậy đạo đức cách mạng của họ sẽ có tác động rất lớn đối vớingười dân, có ảnh hưởng rất lớn đối với hiệu quả công tác của họ Nếu ngườiđại biểu HĐND có đầy đủ các phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vôtư” thì sẽ được nhân dân tin tưởng và gửi gắm những tâm tư nguyện vọng.Ngược lại, nếu người đại biểu HĐND không có đủ các phẩm chất đạo đứctrên thì họ sẽ bị mất niềm tin của nhân dân, mọi quyết định của họ chỉ là võđoán, xa rời thực tế, không phù hợp với lợi ích của nhân dân

Người đại biểu HĐND phải là người gương mẫu đi đầu trong việc chấphành chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nói

đi đôi với làm, là tấm gương sáng để nhân dân noi theo

Người đại biểu HĐND có đạo đức cách mạng là người phải tích cực đấutranh chống lại các tiêu cực xã hội như: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, thahoá, sa sút về đạo đức lối sống, chạy theo địa vị, danh lợi, tranh giành, kèncựa lẫn nhau, mất đoàn kết nội bộ, dối trá, lười biếng, suy thoái về tư tưởngchính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng…

Người đại biểu HĐND muốn được nhân dân tin yêu, thu phục được nhândân thì phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong mọi lúc, mọinơi Bác Hồ đã từng dặn: "Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời saxuống Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố.Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong" [58, tr293]

Thứ ba, về trình độ (Trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ).

Trang 36

- Trình độ học vấn (trình độ văn hoá) không phải là yếu tố duy nhất quyếtđịnh hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, nhưng đây là tiêu chí quan trọngảnh hưởng đến hoạt động của người đại biểu Nó là nền tảng cho việc nhậnthức, tiếp thu chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước cũng như đánh giá được tình hình cụ thể của địa phương Hạn chế vềtrình độ học vấn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức cũng như năng lực hoạtđộng của người đại biểu HĐND.

- Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định quanđiểm, lập trường giai cấp công nhân của người đại biểu HĐND Thực tế chothấy nếu người đại biểu HĐND có lập trường chính trị vững vàng, hoạt động

vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng thì sẽ được nhân dân, tin yêu và sẽ vận độngđược nhân dân thực hiện tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước Ngược lại, nếu lập trường chính trị của người đạibiểu HĐND không vững vàng, hoạt động vì lợi ích cá nhân, thoái hoá, biếnchất sẽ đánh mất lòng tin ở nhân dân, dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp, thậmchí còn làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, ảnh hưởng tới uy tín của cơquan nhà nước, ảnh hưởng đến tính chất ưu việt vốn có của chế độ nhà nướccủa nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Là những kiến thức chuyên sâu về mộtlĩnh vực nhất định được biểu hiện qua những cấp độ sơ cấp, trung cấp, caođẳng, đại học Đây là những kiến thức mà một người đại biểu HĐND buộcphải có khi tham gia hoạt động của người đại biểu Nếu thiếu kiến thức chuyênmôn sẽ rất khó khăn khi giải quyết công việc, đặc biệt khi tham gia quyết địnhmột vấn đề nào đó của địa phương trong lĩnh vực chuyên môn nhất định

Tuy nhiên, một người đại biểu HĐND ngoài trình độ chuyên môn nghiệp

vụ nhất định còn phải là người có hiểu biết rộng rãi các vấn đề cơ bản về cáclĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đủ để họ vận dụng vào hoạt động củangười đại biểu khi cần thiết Bởi vì, người đại biểu HĐND cấp xã phần lớn

Trang 37

không phải là người hoạt động chuyên trách mà họ có thể là những cán bộ,công chức nhà nước làm việc trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị

xã hội, là những người dân bình thường, doanh nghiệp nhà nước… Vì vậy, hoạtđộng của đại biểu HĐND là những hoạt động đòi hỏi gắn kết giữa hoạt độngcủa đại biểu với tư cách là đại biểu và hoạt động của họ với tư cách là một nhàchuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể của từng đơn vị, cơ quan nơi đại biểucông tác

Thứ tư, về kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND.

Để có kỹ năng hoạt động tốt, người đại biểu HĐND phải luôn rèn luyệnphong cách tư duy khoa học và xây dựng cho mình một phương pháp làm việckhoa học Phong cách tư duy khoa học đối lập với phong cách tư duy kiểu kinhviện, giáo điều, duy ý chí Đại biểu HĐND phải không ngừng tự học tập, tự bồidưỡng nâng cao trình độ mọi mặt, phải gắn lý luận với thực tiễn, đồng thời phảirèn luyện phong cách làm việc có kế hoạch, có chuẩn bị, có quan điểm thực tiễn

và phải học cách nói của quần chúng, học cách làm của quần chúng… Ngườiđại biểu HĐND có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực mớihoàn thành tốt được các nhiệm vụ được giao, mới được quần chúng nhân dântín nhiệm Bởi vì người đại biểu HĐND nếu có tri thức khoa học, có lý luậncách mạng và luôn tâm huyết với nhiệm vụ, nhưng lại không có phương pháp,tác phong làm việc khoa học, xa rời thực tiễn, thậm chí chuyên quyền, quanliêu, độc đoán…

Kỹ năng hoạt động của đại biểu HĐND là khả năng vận dụng khéo léo,thành thạo những kiến thức và kinh nghiệm vào thực hiện chức năng, nhiệm

vụ của người đại biểu Kỹ năng hoạt động của người đại biểu HĐND đượcbiểu hiện cụ thể trên các mặt sau: Kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động củađại biểu HĐND, kỹ năng tiếp xúc với cử tri, kỹ năng tiếp xúc với các phươngtiện thông tin đại chúng, kỹ năng chất vấn, kỹ năng giám sát, cụ thể:

+ Kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động của đại biểu HĐND.

Trang 38

Xây dựng kế hoạch hoạt động của đại biểu HĐND phải dựa trên một sốnội dung cụ thể sau:

Phải kết hợp chặt chẽ với hoạt động mang tính chất chuyên môn của đạibiểu HĐND Đây là một vấn đề quan trọng, do hầu hết các đại biểu HĐNDkhông phải là đại biểu chuyên trách; vừa thực hiện nhiệm vụ đại biểu vừa đảmnhiệm công tác chuyên môn khác nên thời gian giành cho hoạt động với tưcách là đại biểu phải hết sức được chú ý

Kế hoạch, chương trình hoạt động của đại biểu HĐND phải được xâydựng trên chương trình hoạt động của HĐND cả nhiệm kỳ, từng năm và sáutháng Do kỳ họp của HĐND 3 cấp nói chung, HĐND cấp xã nói riêng chỉ cóhai kỳ trong một năm (không kể các kỳ họp chuyên đề và bất thường vì vậyđại biểu HĐND cấp xã cần dựa vào chương trình sáu tháng, một năm và cảnhiệm kỳ của HĐND để xây dựng chi tiết cụ thể các nội dung công việc cầnlàm để thực hiện được nhiệm vụ của một đại biểu HĐND

Chương trình hoạt động của mỗi đại biểu HĐND cấp xã phải được thôngbáo cho HĐND cấp xã, cử tri khu vực nơi đại biểu HĐND được bầu để theodõi, giám sát và tạo điều kiện hỗ trợ của cử tri

+ Kỹ năng sử dụng và tiếp xúc với cử tri.

Đây là vấn đề quan trọng và có tính thường xuyên của đại biểu HĐND,việc giữ mối liên hệ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri là một trong nhữngnhiệm vụ của đại biểu HĐND cấp xã vì vậy khi tiếp xúc với cử tri Cụ thể đạibiểu HĐND cấp xã phải liên hệ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giámsát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyệnvọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri, thựchiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạtđộng của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu kiến nghị của cử tri Saumỗi kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND cấp xã có trách nhiệm báo cáo với cử tri

về kết quả kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động

Trang 39

gia đình và cùng nhân dân thực hiện các nghị quyết mà HĐND cấp xã đãthông qua.

Ngoài việc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp theo quy định, đại biểu cótrách nhiệm gặp gỡ cử tri, tìm hiểu vấn đề cử tri quan tâm

Kỹ năng tiếp xúc cử tri bao gồm: chọn địa bàn, đối tượng và thời điểm, chuẩn bịnội dung phát biểu, cách ghi chép, tổng hợp và xử lý các kiến nghị của cử tri

Đại biểu HĐND cấp xã phải lựa chọn địa bàn trong các địa bàn thuộcđơn vị bầu cử của mình cho phù hợp với nội dung cần tiếp xúc…Có thể mỗilần tiếp xúc nên tổ chức ở các địa bàn khác nhau Ví dụ khi bàn về nội dungxoá đói, giảm nghèo thì tiếp xúc cử tri ở những nơi có nhiều hộ nghèo HĐNDhọp ra nghị quyết về công tác phòng chống ma tuý thì tổ chức tiếp xúc ởnhững nơi có nhiều tụ điểm diễn biến phức tạp về vấn đề này Về địa bàn tiếpxúc cử tri không nên hạn chế, mỗi kỳ họp càng tổ chức ở nhiều điểm tiếp xúc

cử tri thì đại biểu càng có điều kiện thu thập đầy đủ ý kiến của cử tri, nắmđược đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của cử tri

Mỗi đợt tiếp xúc cử tri phải phù hợp Căn cứ vào nội dung kỳ họp mà lựachọn tiếp xúc cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất Đại biểu có thể lựa chọncách tiếp xúc với mọi thành phần hoặc chỉ tiếp xúc với những người trực tiếpcông tác tại lĩnh vực ngành nghề mà HĐND cấp xã bàn và ra nghị quyết tại kỳhọp Số lượng cử tri ở các buổi tiếp xúc không hạn chế, càng nhiều càng tốt,thông qua các ý kiến của cử tri giúp cho đại biểu HĐND cấp xã nắm bắt đượctâm tư, nguyện vọng của số đông cử tri, hiểu rõ được các vấn đề đang đặt racho địa phương, đồng thời cử tri cũng tham gia đóng góp nhiều ý kiến quan trọng

về phát triển kinh tế – xã hội và những tồn tại yếu kém cần được khắc phục.Cách chuẩn bị và trình bày nội dung phát biểu trước cử tri đòi hỏi đạibiểu phải thu thập đầy đủ tài liệu liên quan đến nội dung tiếp xúc cử tri, chuẩn

bị đề cương những vấn đề cần phát biểu tại buổi tiếp xúc Tại các buổi tiếpxúc cử tri trước kỳ họp thì chủ yếu là đại biểu nghe cử tri phát biểu ý kiến

Trang 40

Nhưng trước khi phát biểu ý kiến thì đại biểu phải nêu lên những nội dungtrong kỳ họp sắp tới, yêu cầu những vấn đề mà cử tri cần đóng góp ý kiến.Đối với những buổi tiếp xúc cử tri sau kỳ họp, đại biểu cần báo cáo kết quả kỳhọp, nhấn mạnh nội dung nghị quyết mà kỳ họp HĐND đã thông qua, đồng thời đạibiểu tuyên truyền, vận động thuyết phục cử tri thực hiện nghị quyết của HĐND.

+Kỹ năng tiếp xúc với phương tiện thông tin đại chúng

Sử dụng phương tiện thông tin là một trong những công cụ quan trọng đểngười đại biểu HĐND cấp xã có thể tiếp xúc nhanh nhất, rộng nhất với tất cả cửtri, không chỉ trên địa bàn thuộc đơn vị bầu cử mà có thể cả đơn vị hành chínhcấp xã

Tiếp xúc với phương tiện thông tin đại chúng có thể thông qua báo chí,đài phát thanh, đài truyền hình và được thực hiện dưới hình thức trả lời phỏngvấn hoặc phát biểu trên các phương tiện thông tin đại chúng

Để một cuộc phỏng vấn HĐND cấp xã có kết quả tốt cần xác định vàthoả thuận về thời gian và nội dung chính của cuộc phỏng vấn Xác định địađiểm tiến hành phỏng vấn, mục đích của cuộc phỏng vấn, giải thích một vấn

đề hay biết quan điểm, ý định của đại biểu về một vấn đề Dung lượng thờigian phỏng vấn nếu dài quá sẽ khó giữ được sự tập trung hoặc nếu kéo dài màkhông chuẩn bị sẽ bị hạn chế ảnh hưởng đến cuộc phỏng vấn Cách thức cungcấp thông tin cuộc phỏng vấn lên các phương tiện thông tin đại chúng: trựctiếp, đưa tin, truyền hình… Ngôn ngữ sử dụng khi trả lời phỏng vấn mang tínhphổ thông Không sử dụng ngôn từ địa phương nếu như cuộc phỏng vấnchung cho cả địa phương rộng Đại biểu HĐND cấp xã khi trả lời trực tiếp cáccâu hỏi phỏng vấn không diễn đạt dài dòng và lệch chủ đề Khi trả lời phỏngvấn không để người nghe hiểu sai hay hiểu nhiều nghĩa câu trả lời Điều quantrọng hơn là đại biểu HĐND cấp xã phải tự tin chính mình khi trả lời, khôngrụt rè hay lưỡng lự cả khi trả lời biết hay không biết

Ngày đăng: 08/05/2014, 21:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2002), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu học tập các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
7. Bộ Nội vụ (2004), Tài liệu bồi dưỡng HĐND cấp huyện, xã nhiệm kỳ 2004-2009, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng HĐND cấp huyện, xã nhiệm kỳ 2004-2009
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2004
8. Cẩm nang pháp luật cần thiết dành cho lãnh đạo HĐND, UBND các cấp (2009), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang pháp luật cần thiết dành cho lãnh đạo HĐND, UBND các cấp
Tác giả: Cẩm nang pháp luật cần thiết dành cho lãnh đạo HĐND, UBND các cấp
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009
9. Mai Thị Chung (2001), Nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, trong sách 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, trong sách 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Mai Thị Chung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 54-QĐ/TW ngày 12/5/1999 về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1999
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 17- NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm khoá IX ngày 18-3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 17- NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm khoá IX ngày 18-3
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị 3 BCHTW khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị 3 BCHTW khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
22. Nguyễn Văn Động (2003), “Suy nghĩ về cơ sở khoa học của việc đổi mới tổ chức HĐND và UBND ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về cơ sở khoa học của việc đổi mới tổ chức HĐND và UBND ở nước ta hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Năm: 2003
51. Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Động (2003), tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Động
Tác giả: Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Động
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
52. Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Động (2008), tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Động
Tác giả: Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Động
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
53. Nguyễn Văn Mạnh (1999), “Thực trạng và giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền cơ sở trong cải cách hành chính”, Tạp chí nghiên cứu lý luận, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền cơ sở trong cải cách hành chính”, "Tạp chí nghiên cứu lý luận
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Năm: 1999
55. Hồ Chí Minh (1984), Toàn tập, tập 4,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1984
56. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
57. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
58. Hồ Chí Minh (2004), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
59. Hoàng Phê (2000), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w