1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Vai trò của ngân hàng thương mại trong tiến trình hình thành và vận hành thi trường chứng khoán việt nam - vũ nhất linh. hutech, 1999

80 523 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của ngân hàng thương mại trong tiến trình hình thành và vận hành thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả Vũ Nhất Linh
Người hướng dẫn PGS-PTS Lê Văn Tế
Trường học Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1999
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 6,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nước có thị trường chứng khoán phát triển có thể chứng minh ngân hàng thương mại có thể tham gia vào nhiều nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán như: đầu tư, kinh doanh chứng khoán

Trang 1

BO GIAO DUC VA DAO TAO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ

KHOA QUAN TRI KINH DOANH

TRONG TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ_ |

VẬN HÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

VIỆT NAM

TRƯỜN” SHDL- KTÊN, THU VIEN

Trang 2

BO GIAO DUC & DAO TAO Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Độ môn : eceeeosieeeree Chủ ý : Sinh viên phải dán tờ giấy này vào trang thứ nhất của bản

thuyết mình

Họ và tên MENA Lint MSSV:

Ngành " d<«<'ÃỶ ,Ô Lớp ANG TR cesses

Trang 3

3 Ngày giao nhiém vu ludn én : Cf 4/ = 4499

4 Ngay hoàn thành nhiệm vụ : vowel eek EK

5 Họ tên người hướng dẫn : —

UREN 2 PIS AE wen FE

QD vecsessecseesessessnseaeesasatessecsstssussuseeserssavessesens

“`

Nội dung và yêu cầu LATN đã được thông qua

Ngày ££ thang A ndm BY Leo ©

Chu nhiém khéa

~ a

(Ky va ghi rgvho tén)

78 bu thand Th

PHAN DANH CHO KHOA, BO MON

STONER Te Neen e reer anes eet een e enon eee eb ee nee tad enEeeeeeneereeeareneeD s5 6 800606000000 906.6 6 60600600 6 008.606 2.6 0.6 k:Á 6 4 S0 4 66 9.6 4° 00 8 0 6 6 0.0 0 0:00 8 0 6 8 0 Đền g m6 b8

NGƯỜI HƯỚNG DẪN CHÍNH

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

Loi cam on

Qua thời gian học tại khoa Quản Trị - Trường Đại Học Dân Lập Kỹ Thuật

Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh, em xin chân thành cảm ơn qúy thấy, gáy

cô đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho em đạt kết quả tốt trong học

tập

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Phó Giáo Sự - Phó Tiến Sĩ Lê Văn Tê

đã dành nhiều thời gian, công sứe hướng dẫn cho em hoàn thành luận văn này

Em cũng xin chân thành cảm ơn toà soạn báo Kinh Tế Sài Gòn và các cô

chú, anh chị trong phòng tư liệu đã nhiệt tình chỉ dẫn, cung cấp tài liệu và cập

nhật những kiến thức thực tế để cho luận văn này thêm phong phú

Em xin chân chân thành cảm on sự giúp đỡ, động viên cuả gia đình và bè

bạn đã giúp em vượt qua nhiều khó khăn trong học tập

Thang 12/1999

Sinh vién thuc hién |

Vũ Nhất Linh

Trang 5

Nhận xét cuả giáo sư hướng dẫn

Trang 6

[\kibo Xr cos gras vie Phar bibs -

-®- Ping Asan ahh Se 2=o At ats Arar, |

ep vy Cua WH Be AS RS Che qua Ino

Nine thal the yy May KAca, 0 VA cor gua

Ae que ne me" 5 VV, 27 SA rưi ~~

li _ doc _ rẽ ti tuân VA, nay 2,

de mist 6 2ý “kén

+ @ Mu Ga day 4£ cho Aưen Luar, Van’ g |

Ay, Phg plur ve ney done , Ut Per As nubs

te, CELA lua, yarn ~F0 VO

x Muia P đụ ĐÁ bier sgh Om Bay

chums ) ⁄2Š Sai „Ác ber ke | "y$p -

Trang 7

1 Nhu cầu vốn cho nên kinh tế và nguồn huy động vốn .o-<c<ssssssesrsssssssse Í

1 Nhu cầu vốn cho nền kinh tế -cccc<csccccce ¬ ÔỎ weed

2 Nguồn huy động vốn "

II.Vai trò cuả thị trường chứng khoán đối với nền kinh 'tế -. <ss<ese<seseesesssss Ủ

1 Thị trường chứng khoán là công cụ tài trợ vốn cho nền

2 Thị trường chứng khoán là nơi hấp dẫn đối với các nhà

đầu tư và kinh đoanh đt —— 13

3 Thị tường chứng khoán là câu nối giữa cung câu về vốn

và tạo tính thanh khoản cao - 49H Hy ve key "¬- L1 1151 1 gen gen 16

4 Thị trường chứng khoán là công cụ đo lường giá trị tài sản

cua các doanh nghiệp và sức mạnh kinh tế cuả một quốc gia -. .-‹s «‹c-«+ 7

L Những nghiệp vụ đương nhiên cuả ngân hàng thương mại

hỗ trợ cho hoạt động cuả thị trường chứng khoán « ceesseeeeersseseeeeseeeoe 2)

1 Nghiệp vụ thanh toán

2 Nghiệp vụ tín dụng — KH khien 24

3 Nghiệp vụ thu ngân ¬

Trang 8

II Những nghiệp vụ trực tiếp cuả ngân hàng thương mại

trong hoạt động cuả thị trường chứng khoán o s<<s <5 ss°s<5S5E555565696959565856550 28 I2) 800) 1a 8 e 28

2 Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán - ‹ - 29

III Những nghiệp vụ gián tiếp đối với hoạt động cuả thị

trường chứng khoán thông qua công ty chứng khOÁI eosssesseosesSskSsesSSASssessesse 30

1 Bảo lãnh phát hành chứng khoán - «Sàn HH HT TT HT Hành 31

2 Tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng 2222 +x+x2 xxx xExereeeserree 35

3 Môi gidi mua ban chitng khodn cho khach hang 0.0 sccssseceseeceseeseecesseceneesereetsaeesatens 39

4 Mua bán chứng khoán cho chinh minh 200.0 cscccssccsseessteeeetesserseaeecencnsetesens

5 Quản lý đanh mục đầu tư 5< <ktSn 2z k1 41923 1717113 211 13x 1n kg g1 se 46

1 Các giải pháp thúc đẩy sự hình thành và phát triển

thị trường chứng khoán Việt Na TH TH G0 0600450 0681658014048001 06 47

1 Tạo chứng khoán cho thị trường chứng khoán 2H HH HH key 47

2 Thành lập các công ty môi giới chứng khoán c3 ng H0 188 ng 49

3 Tăng nhu cầu chứng khoán 5 s25 S2 1211212125351 3115 51413110113 xe prirsr 50

4 Tạo lập mdi (rường lành mạnh cho thị trường chứng khoán sen se 52

II On định hệ thống ngân hàng- Điều kiện cần cho phát triển

thị trường chứng khoán Việt ÏNaIM co S0< G4 9 9.4903 T0Y 9 00 688448048660601806142086 33

1 Một số khó khăn hiện nay cuả các ngân hàng thương mái -ccccscs- 53

2 Can d6i mdi manh mé hé théng ngén hang, .ccccccsessessssscssesecsecsessessssnssesssesesveneeseeneens 57 IIL Một số ý kiến về nghiệp vụ cuả ngân hàng thương mại

trên thị trừờng chứng khoán Việt Nam, o- «<< HH BH nh nan nen sa 59

1 Vai trò cuả ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp

Ho 012000/1):8.15 10000008886 59

2 Ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ chiết khấu trái

phiếu giúp thị trường sơ cấp phát triỂn . -< S313 1k ngàn net 60

3 Đánh giá thể thức thanh toán và quy chế tín dụng cuả các

0:80 01/))(9:150i,) 01088 61

KET LUAN

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

e Ly do chon dé tai

Hệ thống ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian chủ

yếu hoạt động kinh doanh tiển tệ có nhiễu khả năng và điểu kiện thuận lợi

hơn các tổ chức trung gian tài chính khác trong việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam Các nước có thị trường chứng

khoán phát triển có thể chứng minh ngân hàng thương mại có thể tham gia

vào nhiều nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán như: đầu tư, kinh doanh

chứng khoán trong và ngoài nước, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán và các dịch vụ khác có liên quan đến chứng khoán Với một nên kinh tế chưa thật sự phát triển như nước ta, cùng nhiễu nguyên nhân

khách quan khác, các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa thực hiện được

các nghiệp vụ trên mà chủ yếu làm 3 nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay và nghiệp vụ ngân hàng quốc tế (tài trợ xuất nhập khẩu là chính)

Do bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực, hoạt động

sản xuất kinh doanh cuả Việt Nam có chiều hướng chựng lại, lĩnh vực tài

chính tiển tệ cũng không tránh khỏi tác động đó, đồng tiễn Việt Nam phải

điểu chỉnh tỷ giá để tạo sức cạnh tranh trong khu vực và phải đi đến việc

chấn chỉnh lại hoạt động ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại cổ

phần nhằm thích hợp với tình hình mới, các ngân hàng thương mại gặp không

ít khó khăn trong quá trình huy động vốn cũng như giải ngân nguồn vốn trong

khi nền kinh tế đang rất cần vốn

Ngày 11/07/1998 chính phủ ban hành nghị quyết số 127/QĐ-TTG thành

lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, và

mới đây chính phủ giao cho Ủy ban chứng khoán nhà nước trễ nhất là ngày

31/12/99 phải đưa Trung tâm giao dịch chướng khoán TP Hồ Chí Minh vào hoạt động Đây là cơ hội để cho các ngân hàng thương mại có thêm nghiệp vụ

mới, một lối thoát nhằm tăng doanh số trong chiểu hướng đa dạng hoá các hoạt động cuả ngân hàng Vì vậy luận văn tốt nghiệp này muốn để cập đến

một số nghiệp vụ cuả ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ tham gia vào thị

trường chứng khoán với tựa đề:

“VAI TRÒ CUÁ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG TIẾN

TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ VẬN HÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM”

Trang 10

e Phương pháp nghiên cứu

Sự ra đời cuả thị trường chứng khoán là đỉnh cao cuả nên kinh tế thị

trường phát triển, nên hoạt động cuả nó có mối liên hệ mật thiết với hoạt

động cuẩ ngân hàng và chịu sự tác động mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố kinh tế,

chính trị, xã hội và liên hệ nhiều đến các học thuyết kinh tế hiện đại Do

đó trong quá trình nghiên cứu để đảm bảo tính khoa học và khách quan, các

phương pháp được sử dụng song hành và đan xen lẫn nhau, bao gồm:

phương pháp thống kê được dùng trong việc thu thập số liệu làm cơ sở cho

việc phân tích, phương pháp phân tích giúp đưa ra những luận cứ khoa học

có tính thuyết phục và khả thi trong để tài, ngoài ra còn có các phương pháp

khác như: phương pháp tổng hợp, phương pháp suy đoán

e Giới hạn đề tài „

Hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam mới thành lập trên giấy tờ và

mới có những quy định cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán,

còn thiếu những quy định về hoạt động cuả thị trường chứng khoán mà cụ

thể là sự tham gia cuả ngân hàng thương mại trên thị trường Do đó, luận

văn để cập đến những nghiệp vụ cuả ngân hàng thương mại theo quy định

hiện hành cuả ngân hàng nhà nước mà chúng sẽ hõ trợ cho hoạt động cuả

thị trường chứng khoán Những nghiệp vụ khác đề tài cũng để cập đến với

tính cách gợi ý Nội dung chính mà luận văn sẽ nêu gồm 3 chương:

chương I: Nhu cầu vốn cho nên kinh tế và vai trò cuả thị trường

chứng khoán trong huy động vốn

chương II: Những nghiệp vụ cuả ngân hàng thương mại liên quan

đến thị trường chứng khoán

chương IH: Một số ý kiến nhằm sử dụng ngân hàng thương mại như

là một thành phần quan trọng trong thị trường chứng khoán

Trang 11

Với kết cấu như trên, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ vai trò cuả ngân

hàng thương mại trong quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán tại VIỆT NAM, đồng thời chỉ rõ từng nghiệp vụ trên thị trường chứng

khoán nên tham gia như thế nào

a

Do trình độ chuyên môn cuả một sinh viên sắp ra trường còn hạn hẹp

nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, người viết rất mong được sự

thông cắm, góp ý cuả quý thầy cô và bạn đọc

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 12 năm 1999

Sinh viên thực hiện

Vũ Nhất Linh

Trang 13

I NHU CAU VON CHO NEN KINH TE VA NGUON HUY DONG

VON

1 Nhu cầu vốn cho nền kinh tế

Kinh nghiệm cuả các quốc gia trong khu vực trong những thập kỷ

qua cho thấy muốn phát triển nền kinh tế thì phải đầu tư, muốn đầu tư phải có thị trường vốn, qua đó người cung ứng vốn gặp gỡ người cần vốn,

và như vậy cần phải thông qua nhiễu biện pháp để khuyến khích phát triển thị trường vốn, trong đó có những biện pháp phát triển thị trường tín

dụng dài hạn và thị trường chứng khoán

Một quốc gia đang phát triển, đang hướng tới một nền kinh tế thị

trường như Việt Nam hiện nay thì việc tạo ta các công cụ của thị trường vốn và qua đó tổ chức một thị trường chứng khoán là khâu then chốt trong giai đoạn đầu và cả quá trình phát triển sau này

Về cơ bản đến nay thị trường vốn thực thụ cuả Việt Nam chưa được

hình thành Tổng giá trị chứng khoán có mặt trên thị trường hiện nay

không thể đáp ứng được nhu cầu cuả nền kinh tế, bởi theo đánh giá cuả

ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam muốn gia tăng GDP nhanh hơn trong giai đoạn 5 năm tiếp theo thì cần phải có 40-45 tỷ USD von dau tu (tap -

chí ngân hàng, số 5/1998)

Với phác hoạ trên, có thể thấy rằng tuy mục tiêu tăng trưởng kinh tế

cuả Việt Nam đến năm 2003 chưa thật sự vượt qua ngưỡng đói nghèo,

tức là nước ta vẫn nằm trong những nước có thu nhập bình quân đầu

người thấp hơn 600 USD Nhưng chỉ với mục tiêu đó thôi thì khả năng

cung cấp đủ vốn cho nhu cầu đâu tư phát triển nước nhà thật sự là một

vấn để nan giải cho các nhà hoạch định chính sách tài chính quốc gia

2 Nguồn huy động vốn

Đối với các nước đang trong thời kỳ phát triển thì vốn bao giờ cũng

là nguồn lực khan hiếm, vì vậy tìm kiếm vốn bao giờ cũng chiếm vị trí

quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của nước đó

Trang 14

Nguồn vốn có thể được huy động từ trong và ngoài nước Vốn trong nước

được xem là nền tảng cơ bản, là nguồn vốn chủ yếu cho sự phát triển và

hiện đại hoá đất nước Trong khi đó nguồn vốn ngoài nước được xem là nền tảng khởi đâu, là đòn bẫy đặc biệt đối với sự phục vụ cho việc thu hút công nghệ tiên tiến từ nước ngoài Hai nguồn này luôn gắn bó mật thiết với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, trong đó nguồn vốn trong nước không

ngừng được mở rộng phạm vi đầu tư và quy mô tích lũy

Đối với Việt Nam khi bước vào công nghiệp hoá cũng không vượt khỏi quy luật chung cuả thế giới Việt Nam đã, đang và sẽ dựa vào

nguồn vốn trong và ngoài nước Nhưng để đáp ứng được nhu cầu về vốn như đã phân tích ở trên, từ nay đến năm 2003 khả năng huy động vốn được bao nhiêu từ 2 nguồn này

2.1 Nguồn vốn trong nước Xét về mặt chiến lược thì vốn trong nước là nguồn vốn chủ yếu và

vững chắc Sử dụng vốn trong nước cũng có nghiã là thành quả đạt được

sẽ không bị lọt ra ngoài, sử dụng vốn trong nước cũng có nghiã là làm giàu cho chính dân tộc mình Nguồn vốn này không nhỏ, nó xuất phát từ

tiết kiệm trong nước

a/ Nguôn tiết kiệm từ dân chúng

Theo dự báo cuả cục thống kê và nhiều chuyên gia thì lượng tiền

nhàn rỗi còn khá nhiều, thực tế đã chứng minh qua các đợt thu đổi tiền tệ

cho thấy nguồn vốn bằng tiễn trong dân chúng chiếm tỷ trọng rất lớn so với tổng khối lượng tiễn tệ trong lưu thông Ngoài ra còn một khối lượng lớn là vàng và quý kim Theo thống kê cuả hội đồng vàng thế giới, chi trong quý hai năm 1999, khối lượng vàng tiêu thụ ở Việt Nam là 13 tấn, trong khi đó hổi quý một, khối lượng vàng được đưa vào Việt Nam lên đến con số 15 tấn (KTSG s& 38/99) Tuy nhiên nguồn vốn này chỉ trở thành nguôn tiết kiệm có thể huy động dưới dạng tài sản chính Nếu như

mức lạm phát cao hoặc không có nhiều hình thức huy động phong phú thì

nguồn vốn này sẽ bị thất thoát do dân chúng chuyển sang mua vàng dự

trữ hoặc các tài sản có giá khác như đất đai, nhà cửa

Trang 15

Theo ước tính cuả Tổng cục thống kê, nguồn vốn trong dân hiện nay

chiếm khoảng 6-8 tỷ USD và được phân bổ như sau:

doanh nghiệp cả về cơ cấu vốn và lĩnh vực hoạt động chưa lớn mạnh, để

khuyến khích các nhà đâu tư tái đầu tư, ngày 16/07/99 Bộ Tài Chính đã

ban hành thông tư 89 về việc hoàn toàn bộ số thuế thu nhập doanh

nghiệp nếu họ sử dụng toàn bộ thu nhập này để tái đầu tư vào các dự án được khuyến khích Mức hoàn thuế theo thông tư này là 100% nếu đầu

tư vào các dự án có thuế suất thuế thu nhập là 10%, hoàn thuế 75% nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 15% và hoàn 50% thuế nếu thuế suất là 20% Theo một số chuyên gia kinh tế ước lượng, nguồn tiết

kiệm cuả các doanh nghiệp có thể đạt 600-750 triệu USD (K7SG số 32/99)

c/ Nguôn tiết kiệm cuả chính phủ

Là phân chênh lệch giữa thu và chi thường xuyên cuả ngân sách Mấy năm qua việc quản lý ngân sách đã khá hơn, tuy nhiên những thất

thoát trong các nguồn thu và chi còn rất lớn, vì vậy gần đây chính phủ

Trang 16

phải phát hành 4000 tỷ đồng trái phiếu để bù đắp bội chỉ ngân sách Do

đó cần tổ chức lại hệ thống tài chính, hệ thống kiểm toán cũng như làm trong sạch bộ máy nhà nước, tiết kiệm chỉ tiêu để có được nguồn thu một

cách tốt nhất, tránh được thất thu ngân sách cho chính phủ

Như vậy khả năng huy động vốn tiết kiệm trong nước trong giai

đoạn tới là bao nhiêu ? Nếu lấy tỷ lệ tiết kiệm cho đầu tư các năm qua là

10% (cao hơn số ADB ước tính ), tốc độ tăng trưởng bình quân là 9,5% trong những năm sắp tới và tỷ lệ tích luỹ nội điạ ( tỷ lệ tiết kiệm cho đầu

tư và GDP ) được nâng dẫn từ 10%, 20% và 25% từ nay đến 2003, nếu so vơi các nước trong khu vực thì tỷ lệ này không phải là cao Tuy nhiên để

đạt được tỷ lệ này đòi hỏi phải tiết kiệm, thậm chí khắc khổ trong chỉ

tiêu toàn xã hội, có thể lập bảng tính như sau:

Như vậy với tốc độ tăng trưởng bình quân 9,3%/năm và tỷ lệ tích

luỹ nội điaạ đạt bình quân 16,4%/năm thì trong vòng 10 năm nên kinh tế

Trang 17

trong nước có thể cung cấp một lượng vốn khoảng 37,7 ty USD

Qua những phân tích trên có thể thấy nguồn vốn huy động từ nền

kinh tế trong nước rất lớn Câu hỏi cần đặt ra lúc này là làm thế nào để thu hút được nguồn vốn không nhỏ này vào công cuộc đầu tư, một nguồn

vốn hoàn toàn tích cực cả về lý thuyết lẫn thực tế Có hai giải pháp cơ

bản:

- Thứ nhất: Phải bằng chính sách phát triển kinh tế nhiễu thành

phần, khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân, trong đó đặc biệt

phát triển hình thức công ty cổ phần

- Thứ hai: Phải bằng luật pháp, thiết lập các định chế tài chính, thông qua đó tạo khả năng huy động vốn hữu hiệu nhất

Các giải pháp này trong thời gian qua ta đã làm, đã thu được mét sé

kết quả nhất định, nhưng khả năng còn rất tiểm tàng Với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phân, thời gian qua đã có sự thay đổi cơ bản cơ

cấu thành phần kinh tế, theo số liệu thống kê cho thấy, số dự án cuả dân doanh đã chiếm đến 37,3% trong tổng số các dự án được hưởng ưu đãi

dau tu (KTSG số 5/99), tuy nhiên để khuyến khích đầu tư trong nước,

cần nhanh chóng giảm bớt thủ tục đối với khu vực dân doanh trong việc tham gia đầu tư, đối với các nhà đầu tư nhỏ và các nhà đầu tư không sử

dụng vốn nhà nước có thể không nhất thiết đòi hỏi họ phải có quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư

2.2 Nguồn vốn ngoài nước

Trong điểu kiện thực tế hiện nay ở nước ta, việc thu hút từ bên ngoài là rất quan trọng, nó có nhiễu ưu điểm: Nguồn vốn này có thể nói

là 'vô tận” đi liền với chúng là công nghệ kỹ thuật hiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến Nhưng bên cạnh đó cũng có những nhược điểm

đáng quan tâm, vốn bên ngoài vào nhiều thì lượng tiển tệ trong nước tất yếu phải gia tăng, trong khi thời kỳ đầu khả năng cho ra sản phẩm từ nguồn vốn này chưa có, như vậy sẽ làm gia tăng tốc độ lạm phát Mặt

Trang 18

khác sau một thời gian sử dụng nguồn vốn nước ngoài, khi nền kinh tế đi

vào ổn định thì phải chi trả cho phần doanh lợi từ nguồn đó, tức là phải chuyển một số vốn bằng ngoại tệ trong nước ra nước ngoài, và như vậy

sẽ làm mất cân đối cán cân thanh toán ngoại hối Ngoài ra còn yếu tố bảo vệ các nhà sản xuất trong nước, tránh sự lệ thuộc về kinh tế

a/ Nguồn vốn vay và viện trợ

Cần phân biệt hai đối tượng vay là nhà nước và doanh nghiệp, phần

lớn doanh nghiệp đi vay nước ngoài đều chịu lãi suất thương mại, do đó việc tính toán hiệu quả sử dụng vốn là rất quan trọng Phần nhà nước đi

vay có ý nghiã đặc biệt, vì đây là những nguồn vốn cuả các tổ chức tài

chính- tiễn tệ quốc tế hoặc chính phủ các nước cho vay ưu đãi, lãi suất

thấp, thời hạn trả nợ dài, chính nguồn vốn này sẽ góp phần tích cực vào

việc thực hiện chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế và mục tiêu tăng trưởng

Trong các tài khoá 1997-1999, WB dự kiến cho Việt Nam vay

khoảng 500 triệu nhằm hỗ trợ về kỹ thuật và tư vấn trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội và để bổ sung nguồn vốn phát triển, từ 1993 đến nay Việt

Nam đã tranh thủ được nguốn vốn ODA (vốn viện trợ phát triển chính thức) lên đến 11,3 tỷ USD, trong đó đã giải ngân được 4,61 tỷ USD Vừa

qua, hội nghị tư vấn các nhà tài trợ đã quyết định cho Việt Nam vay 2,2

ty USD trong năm 1999, (K7SG số 3/99)

Nhật Bản là nước cung cấp vốn ODA lớn nhất cho Việt Nam với tổng cam kết tài trợ đến 548,85 tỷ yen, trong đó viện trợ không hoàn lại khoản 69 ty yen (KTSG số 5/99) Những khoản vốn dài hạn trên là rất quý trong bối cảnh cán cân thương mại nước ta vẫn tiếp tục mất cân đối

và đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực

Thực tế cho thấy, tiểm năng vốn từ nước ngoài còn rất lớn, đòi hỏi

phẩi có sự tiếp nhận và quản lý thật tốt thì việc sử dụng mới có hiệu quả,

nhưng việc khai thác, huy động còn nhiều khó khăn và ở mức thấp, việc đưa các khoản vay đó vào Việt Nam còn chậm

Trang 19

b/ Vốn đầu tư trực tiếp

Từ khi luật đầu tư nước ngoài ra đời tại Việt Nam (29/12/1987), số

dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép ở nước ta đã gia tăng mạnh, riêng

những năm gần đây có sút giảm do sự tác động từ cuộc khủng hoảng kinh

tế khu vực, có thể thấy qua bảng thống kê sau:

SỐ DỰ ÁN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC CẤP PHÉP

Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư | Tổng vốn pháp định

(Nguồn: Niên giám thống kê 1998, cục thống kê TP HCM)

Đến cuối 7/99, tổng vốn đăng ký đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là 1,092 tỷ USD (kể cả tăng vốn), trong đó tổng vốn thực hiện là 896 triệu USD (KTSG số 32/99) Trong các quốc gia có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, các nước trong khu vực có tổng vốn đầu tư nhiều hơn Sau đây là

10 quốc gia đầu tư lớn nhất tại Việt Nam:

Trang 20

(Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư)

Để khuyến khích đầu tư trực tiếp, ngày 16/17/1999, Bộ Tài Chính

đã ban hành thông tư 89 với nội dung: Các nhà đầu tư nước ngoài có thể được hoàn toàn bộ thuế thu nhập nếu sử dụng toàn bộ thu nhập này để

tái đầu tư vào các dự án được khuyến khích

Như vậy, với một đạo luật đầu tư được đánh giá là cởi mở và ở một

đất nước được đánh giá là có tiểm năng thì những con số ở trên chưa phải

là lý tưởng, đó không phải là những con số mà phiá Việt Nam cũng như các nhà đầu nước ngoài mong muốn, họ muốn con số này phải cao hơn

Số vốn đầu tư chưa cao do nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một yếu tố cơ bản là hai bên đều thiếu thông tin và phiá Việt Nam tiếu khả

năng luân chuyển vốn Có lẽ chính phủ nên có quy chế cho cơ quan quản

lý nhà nước được cấp những thông tin không thuộc phạm vi bí mật cuả ngành, cuả quốc gia và thu lệ phí để phục vụ cho công tác thu thập và

xử lý tin tức Việc quản lý thông tin kinh tế như hiện nay không giúp ích

gì cho đa số các doanh nghiệp trong và ngoài nước mà chỉ có lợi cho một

số ít người nắm thông tin

c/ Vốn đầu tư gián tiếp

Đầu tư gián tiếp ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các nước

đang phát triển Riêng Việt Nam, đầu tư gián tiếp còn chiếm vị trí thứ yếu so với đâu tư trực tiếp trong tổng số vốn đầu tư nước ngoài Sáu quỹ

đầu tư là Beta Vietnam Fund (Anh), Lazard Vietnam Fund (Pháp), Templeton Vietnam Opportunities Fund (MY), Vietnam Fund (Singapore), Vietnam Frontier Fund (Mj-Phdp) va Vietnam Enterprise Investment LTD (do Dragon Capital quan ly) d4 dau ty vao Viét Nam

với số vốn gần 400 triệu USD huy động từ các nhà đầu tư bên ngoài, khi

Trang 21

đó họ nghĩ rằng với một đất nước có nhiều cơ hội đầu tư như Việt Nam

thì việc sử dụng số tiển này không khó Nhưng thực tế lại không dễ dàng , các nhà quản lý đầu tư nhận ra rằng họ không biết đầu tư vào đâu

(KTSG 41/99)

Sở dĩ đầu tư gián tiếp gặp nhiều khó khăn do Việt Nam chưa có thị trường chứng khoán nên các quỹ đầu tư buộc phải đầu tư vào từng dự án

riêng lẽ Các quỹ chỉ góp vốn chứ không tham gia điều hành, nên họ chỉ

là những nhà đầu tư phụ có tỷ lệ góp vốn rất thấp Vì vậy để có thể đầu

tư được nhiều vốn, giảm được chi phí thuê chuyên viên quản lý dự án đầu tư, các quỹ khi vào Việt Nam đều muốn nhắm đến các dự án có quy

mô lớn, trong khi thực tế vốn trung bình cuả một dự án tại Việt Nam chỉ vào khoảng 10 triệu USD Ngoài việc xem xét quy mô vốn, các quỹ cũng

đòi hỏi dự án đầu tư phải có tỷ suất lợi nhuận cao Những nguyên nhân

này đã làm cho các quỹ gặp khó khăn trong việc tìm dự án

II VAI TRÒ CUẢ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI

NÊN KINH TẾ

Sự tạo lập và duy trì thị trường chứng khoán có ý nghiã đặc biệt

quan trọng đối với sự phát triển kinh tế cuả mỗi nước có nền kinh tế thị trường Nó là kênh cung ứng các nguồn vốn trung hạn và đài hạn cho nhà

nước và các doanh nghiệp, nó là một yếu tố hạ tầng quan trọng nhất, một

công cụ có lợi thế rất căn bản so với các công cụ khác Chính vì thế các

nước có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trướng đều tổn tại một thị

trường chứng khoán và vai trò cuả nó trong nên kinh tế như sau:

1 Thị trường chứng khoán là công cụ tài trợ vốn cho nền kinh

^

Kinh nghiệm các nước phát triển theo cơ chế thị trường trên thế giới

cho thấy họ phải tuân thủ quy luật khắt khe cuả thị trường: quy luật giá

trị, quy luật cạnh tranh và quy luật cung cầu Do các quy luật này chỉ phối đã tạo ra môi trường cạnh tranh đối với các doanh nghiệp và luôn

dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu về vốn trong các tổ chức

Trang 22

kinh tế, trong các lĩnh vực, trong các vùng, khu vực, điều này dẫn đến sự

tất yếu khách quan về nhu cầu luân chuyển vốn với đúng nghiã cuả nó Nhu cầu này bắt đâu từ hai phiá: Từ những người cần vốn và những

người có vốn, và công cụ thuận lợi nhất để thực hiện việc luân chuyển

vốn nói trên là các chứng khoán được mua bán tự do trên thị trường

chứng khoán

1.1 Đối với các doanh nghiệp

Trên thương trường các doanh nghiệp muốn tổn tại và chiếm ưu thế

cạnh tranh cần phải có một khối lượng vốn rất lớn, đặc biệt là vốn trung

hạn và đài hạn để tăng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới trang thiết

bị máy móc, dây chuyển hiện đại nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm,

từ đó có thể hạ giá thành sản phẩm ở đầu ra Để đáp ứng nhu cầu về vốn

các doanh nghiệp thường sử dụng một số giải pháp căn bản sau:

a/ Có kế hoạch tích tụ vốn từ các khoản khấu hao cơ bản tài sản cố

định, lợi nhuận để dành tái đầu tư Tuy nhiên giải pháp này có nhược điểm là mất thời gian khá đài mới có thể đủ lượng vốn cần thiết, đa số là

không đáp ứng được nhu cầu về vốn vì không kịp thời

b/ Giải pháp thứ hai là vay vốn trung hạn và dài hạn từ các tổ chức

tín dụng, nhưng cũng có một số mặt hạn chế Các ngân hàng thương mại chủ yếu chỉ cho vay ngắn hạn, lượng vốn dùng để cho vay dài hạn chiếm

tỷ trọng rất nhỏ không đáp ứng được nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp Ngân hàng chỉ cho vay với những điều kiện nhất định về quy

mô, về mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn thanh toán nợ vay và lãi tiền

vay Mặt khác, đối với các dự án đầu tư bằng vốn vay dài hạn trong thời

gian đầu chưa có lợi nhuận hoặc có nhưng ít, thì lãi suất tiền vay là một

gánh nặng đối với các doanh nghiệp

c/ Giải pháp thứ ba là vay trực tiếp nước ngoài, gặp phải một số hạn

chế như vay theo lãi suất thương mại (thường là rất cao), chịu ảnh hưởng cuả tỷ giá hối đoái và thủ tục vay khó khăn, số vốn vay không nhiều Nếu doanh nghiệp tính toán không kỹ sẽ dẫn đến tình trạng thua lỗ,

Trang 23

không trả được nợ vay

đ/ Giải pháp thứ tư là có thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy

động vốn trực tiếp từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế trong và ngoài

nước, hoặc công ty có thể bán trực tiếp trên thị trường chứng khoán thông qua các công ty môi giới hay công ty kinh doanh chứng khoán Việc phát

hành trái phiếu hay cổ phiếu là một giải pháp ưu việt hơn so với các giải

pháp đã nêu:

- Nó thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi từ những người có vốn trong

và ngoài nước, có thể đáp ứng được nhu cầu vốn lớn cho doanh nghiệp

một cách nhanh chóng, tiết kiệm được chỉ phí

- Đối với các công ty cổ phần, phát hành trái phiếu bán trên thị trường chứng khoán để huy động vốn không phải lo lắng trả nợ như đi vay ở các tổ chức tín dụng vì vốn cổ phần là vốn góp, nó tổn tại suốt

trong thời gian hoạt động cuả công ty

- Mặt khác, doanh nghiệp thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, đáp

ứng nhu cầu về vốn cuả mình, đồng thời nhà nước có thể kiểm soát vốn

đầu tư nước ngoài qua việc mua bán trên thị trường chứng khoán có tổ

chức và có thể khống chế việc tham gia quản lý và kiểm soát cuả các công ty có vốn đầu tư nước ngoài bằng cách khống chế mức bán chứng

khoán cho người nước ngoài Như vậy giải pháp này có nhiều thuận lợi

hơn so với đầu tư trực tiếp

1.2 Đối với ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước thường ở tình trạng bội chi, không đảm bảo chi

cho các dự án có tâm cỡ quốc gia đang là vấn để nan giải đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Để bù đắp sự thiếu hụt ngân

sách, nhà nước có thể sử dụng các cách sau:

z⁄/ Phát hành thêm tiển giấy: Do quy luật lưu thông tiền tệ, cách

làm này sẽ gây ra lạm phát, làm mất ổn định kinh tế -xã hội, tác hại đến

Trang 24

các thành phần kinh tế và tầng lớp dân cư

b/ Vay từ các tổ chức, chính phủ các nước, ngân hàng thế giới (WB),

quỹ tiển tệ quốc tế (ME), ngân hàng phát triển châu A (ADB) cách

này không dễ dàng vì phải chịu nhiều điều kiện ràng buộc của tổ chức cho vay, dễ dẫn đến sự lệ thuộc về kinh tế

c/ Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có nhiều ưu điểm, tuy

vậy cũng có không ít nhược điểm là: Tốc độ lạm phát tăng nhanh theo

chiểu tỷ lệ thuận với sự gia tăng khối lượng nội tệ Mặt khác, các cân

thanh toán ngoại hối sẽ mất cân đối đáng kể khi phải chi trả một phân

doanh lợi với khối lượng ngoại tệ không nhỏ từ trong nước chuyển ra nước ngoài

đ/ Phát hành trái phiếu dài hạn vay nợ trực tiếp từ dân chúng và các

tổ chức kinh tế trong, ngoài nước có tính ưu việt hơn hết: Đáp ứng nhu

cầu vốn trung hạn và dài hạn để bù đắp sự thiếu hụt ngân sách, thực hiện các dự án phát triển kinh tế-xã hội, giúp tăng trưởng kinh tế Không phải

thông qua ngân hàng để phát hành tiền giấy vào trong lưu thông , dễ tạo

áp lực lạm phát

1.3 Đối với các đô thị, thành phố lớn

n định và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu cuả một thành

phố lớn Nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái trước hết phụ thuộc vào

chính sách và các biện pháp can thiệp cuả chính quyển địa phương Bất

cứ một thành phố nào cũng phải có ngân sách, ngân sách thành phố càng

lớn thì chương trình phát triển kinh tế xã hội càng dễ thành công

Để có vốn chi tiêu, chính quyển địa phương phải thực hiện chính sách thuế Thuế là biện pháp quan trọng nhất để tạo ngân sách Nhưng

thông thường thuế không đủ chi tiêu, do đó phải có nguồn thu khác, đó là

trái phiếu đô thị Về kinh tế, việc phát hành trái phiếu vay tiền cuả dân

là biện pháp thường xuyên, được xem là thiết thực và lành mạnh Các

trái phiếu đô thị được phát hành nhằm thu hút một lượng vốn không nhỏ

Trang 25

SSeS

từ đân chúng và các nhà đầu tư được sử đụng vào mục đích: xây dựng cơ

sở hạ tầng và tăng phúc lợi xã hội

Những công trình cân thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội tư nhân

không thể làm được hoặc không đủ sức làm, trong điều kiện bội chỉ ngân sách thì chỉ có thể thực hiện bằng việc phát hành trái phiếu có mục đích

Không có thị trường chứng khoán , thành phố cũng có thể phát hành

được trái phiếu, nhưng đó chỉ là những trái phiếu ngắn hạn và trung hạn,

nói chung việc phát hành sẽ phức tạp vì khả năng thanh khoản cuả trái

phiếu gặp nhiều khó khăn Có thị trường chứng khoán với thị trường

phát hành tập trung và thị trường mua đi bán lại tấp nập thì việc phát

hành trái phiếu sẽ rất thuận lợi

2 Thị trường chứng khoán là nơi hấp dẫn các nhà đầu tư và

kinh doanh

2.1 Các tầng lớp dân chúng

Trước đây do cơ chế huy động vốn không hợp lý, số tiền tiết kiệm cuả dân chúng khi chưa sử dụng đến, họ thường cất giữ ở nhà dưới dạng

vàng, ngoại tệ mạnh, đá quý hoặc các vật có giá khác tuỳ theo tình hình

kinh tế và cách suy đoán cuả họ Trong trường hợp này khoản tiển tiết

kiệm cuả họ nằm bất động, không sinh lời, không an toàn, đôi khi còn bị

mất giá Còn một số thì gửi vào ngân hàng và được hưởng mức lãi suất

do ngân hàng quy định Nếu gơi tiết kiệm không kỳ hạn thì mức lãi suất

rất thấp, còn gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì mức lãi suất có cao hơn nhưng

gặp khó khăn là người gởi tiền muốn rút vốn tiền gửi cuả mình khi chưa

đến hạn vì những lý do nào đó, thì họ sẽ không được hưởng lãi Ngoài ra

còn một số người ham lợi đã đầu tư một cách đây rủi ro (cho vay với lãi

suất cao)

Khi có thị trường chứng khoán, dân chúng có thể lựa chọn mua trái

phiếu hoặc cổ phiếu bằng tiền để dành cuả mình, cách này có nhiều điều

hấp dẫn hơn các cách trên vì những lý do sau:

Trang 26

- Nếu mua trái phiếu, họ sẽ được hưởng mức lãi suất nhất định Nếu

họ mua cổ phiếu sẽ được hưởng khoản cổ tức do các công ty cổ phần trả,

cổ tức càng cao khi hoạt động sản xuất kinh doanh cuả công ty có hiệu

quả

- Dân chúng mua cổ phiếu, trái phiếu thấy hấp dẫn hơn nữa bởi sự trồi sụt về giá trên thị trường Khả năng sinh lời nhiều hay ít tuỳ thuộc

vào cách tính toán cuả họ vào lúc giá chứng khoán tăng hay giảm

- Người mua cổ phiếu là người sở hữu một phần vốn cuả công ty,

ngoài việc được hưởng cổ tức qua hoạt động sản xuất kinh doanh cuả

công ty, họ còn được tham gia vào hoạt động cuả công ty, quyền kiểm soát công ty, quyền được cung cấp thông tin

- Người mua chứng khoán bất cứ lúc nào cũng có thể rút vốn về

bằng cách bán các chứng khoán đó trên thị trường chứng khoán dùng

tiển chi tiêu vào mục đích khác hoặc để đầu tư và kinh doanh vào một

loại chứng khoán nào đó mà họ ưng ý nhất, có lợi nhuận cao hơn hoặc

giảm lỗ Điều này được thực hiện dễ dàng thông qua các công ty môi giới hay kinh doanh chứng khoán Vì vậy đã giải quyết được mối ưu tư cuả dân chúng là sợ đồng tiền cuả mình nằm bất động, gặp nhiều rủi ro Như

vậy, khi thị trường chứng khoán ra đời đã khuyến khích dân chúng tiết

kiệm một khoản thu nhập cuả mình để mua cổ phiếu và trái phiếu có nhiều lợi ích hơn

2.2 Đối với các doanh nghiệp

Do đặc điển vận động cuả chu kỳ sản xuất kinh doanh, có lúc các

doanh nghiệp có những khoản vốn tạm thời nhàn rỗi (thuế doanh thu

chưa nộp, tiền mua hàng chưa đến kỳ thanh toán, vốn tích luỹ từ lợi

nhuận để tái đầu tư ) Những khoản này thường được các doanh nghiệp

gởi vào ngân hàng để được hưởng một tỷ lệ lãi suất thấp, chính vì thế việc sử dụng nguồn vốn cuả doanh nghiệp sẽ kém hiệu quả

Trang 27

Khi có thị trường chứng khoán, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn

vốn nhàn rỗi này mua chứng khoán, lúc nào cần tiền để chỉ tiêu có thể

bán lại trên thị trường Trong trường hợp hoạt động sản xuất kinh doanh

cuẩ công ty gặp nhiều khó khăn, không có lời hoặc lời ít hơn so với đầu

tư vào thị trường chứng khoán, thì doanh nghiệp có thể chuyển hướng kinh doanh, đùng một phần vốn cua minh để mua trái phiếu hoặc cổ

phiếu cuẩ một công ty làm ăn tốt, lợi nhuận cao hơn Như vậy nguồn vốn

này được sử dụng linh động hơn, có hiệu quả hơn

2.3 Đối với người nước ngoài

Thị trường chứng khoán không chỉ hấp dẫn đối với công chúng và các tổ chức kinh tế trong nước mà còn hấp dẫn các nhà đầu tư nước

ngoài Ngày nay, các doanh nhân ở những nước phát triển có xu hướng

đầu tư vốn qua thị trường chứng khoán ở nước ngoài có độ an toàn nhằm

kiếm được nhiều lợi nhuận Muốn làm được điều này họ cần được cung

cấp thông tin đầy đủ, chính xác về điều họ quan tâm Thị trường chứng

khoán có thể đáp ứng yêu cầu này vì thông qua giá mua bán trên thị

trường cao hay thấp, sẽ cho biết chất lượng kinh doanh cuả từng doanh

nghiệp có chứng khoán lưu thông trên thị trường là tốt hay xấu Qua đó

các nhà đầu tư nước ngoài theo dõi, phân tích và nhận định hoạt động

cuả từng doanh nghiệp, từng ngành để thực hiện đầu tư có hiệu quả Như vậy thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư

nước ngoài thực hiện việc đầu tư dễ dàng Họ có thể bổ vốn để mua trái phiếu chính phủ hay trái phiếu công ty hoặc cổ phiếu cuả các công ty cổ phân mới phát hành lần đâu tiên trên thị trường sơ cấp Và khi thấy đầu

tư vào một loại chứng khoán nào đó không có lợi nưã họ dễ dàng bán lại

chúng trên thị trường thứ cấp để rút vốn về nhằm tránh hoặc giảm bớt rủi

ro hoặc đầu tư vào một loại chứng khoán khác có lợi hơn Tất cả những

điều này các nhà đâu tư không thể làm được nếu đầu tư qua hình thức đầu tư trực tiếp

Trang 28

2.4 Doi véi cdc té chitc tai chinh

Các tổ chức tài chính như quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu bổng thu hút vốn chủ yếu từ các khoản đóng cuả dân chúng và cũng phải chỉ trả (trả tiền bảo hiểm, trả tiền hưu trí ) nhưng thường là họ có những khoản tién dư không cần sử dụng ngay Số tiển này luôn được những

người quản trị quan tâm, làm cách nào để nó vừa an toàn, đảm bảo tính

thanh khoản cao khi cần sử dụng, vừa sinh lợi nhiều nhất Thị trường

chứng khoán có thể đáp ứng được yêu cầu trên, những nhà quản lý sử

dụng số tiển này mua chứng khoán để hưởng cổ tức hoặc tiền lãi từ cổ phiếu hay trái phiếu Khi cần rút vốn để đầu tư vào lĩnh vực khác hoặc giải quyết vấn đề thanh khoản, họ dễ dàng bán chúng trên thị trường

chứng khoán

Tóm lại: Thị trường chứng khoán được xem như một trung tâm thu

gom nguồn vốn tiết kiệm cuả từng hộ gia đình, thu hút nguồn vốn to lớn

từ nước ngoài, các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ tạo

thành một nguồn vốn khổng lổ tài trợ cho nền kinh tế mà các phương

thức huy động vốn khác không thể làm được Nó tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp có vốn sản xuất kinh doanh và thu được nhiều lợi nhuận, đồng thời nó góp phần quan trọng trong việc kích thích các doanh nghiệp

nâng cao năng suất lao động, sử dụng vốn linh động và tối ưu Nó giúp

nhà nước giải quyết vấn để thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn để xây dựng các công trình tâm cỡ quốc gia Hiện nay, phần lớn nguồn vốn đầu

tư dài hạn ở các nước phát triển, các nước công nghiệp mới đều do thị trường chứng khoán cuả chính quốc gia đó tạo ra Nói chung, thị trường

chứng khoán hoạt động hưỡ hiệu sẽ cải thiện đời sống kinh tế cuả mỗi

thành viên trong xã hội, tạo điều kiện cho việc phát hành chứng khoán

và như vậy nó đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc tìm nguồn vốn

nhanh nhất và lớn nhất tài trợ cho nền kinh tế

3 Thị trường chứng khoán là cầu nối giữa cung cầu về vốn và

tạo tính thanh khoản cao

Tận dụng triệt để những nguồn vốn trong xã hội đủ để các nhà đầu

Trang 29

tư có thể nhanh chóng tìm thấy đối tác mua hoặc bán chứng khoán không gây ra những biến động tỷ giá quá mức

Với những người có vốn nhỏ không thể đầu tư cho sản xuất, nếu gởi

vào ngân hàng thì không thu được nhiều tiễn lãi mà tính thanh khoản lại không cao Do đó, tốt nhất là đầu tư vào chứng khoán, nếu đầu tư đúng

thì số lượng tiển vốn đù ít hay nhiều cũng đều đầu tư được và thu được

lãi Nơi đây có mức độ hoạt động rất rộng lớn, đa dạng, lúc nào cũng có

nhu cầu người mua, người bán Chính điểm này sẽ làm cho thị trường

chứng khoán được ổn định, không tạo ra sự biến động về tỷ giá, làm cho

các nhà đầu tư yên tâm

Ngoài ra điểm lợi thế hơn hẳn cua thi trường chứng khoán là tạo ra

tính thanh khoản cao cho các chứng khoán nếu so sánh với việc gởi tiền

tiết kiệm, khi đầu tư vào chứng khoán nguôn vốn cuả nhà đầu tư không

bất động, có thể chuyển đổi ở bất cứ thời điểm nào mà vẫn được hưởng

lợi tức và có khi còn được hưởng lợi do sự gia tăng giá cuả chứng khoán

4 Thị trường chứng khoán là công cụ đo lường giá trị tài sản

cua cdc doanh nghiệp và đo lường sức mạnh kinh tế cuả một quốc gia

Khi các doanh nghiệp tham gia vào thị trường chứng khoán thì phải

cung cấp thông tin chính xác và đều đặn về tình hình tài chính, tài sản,

năng lực sản xuất cuả mình Các thông tin này phải được công bố công

khai, rộng rãi ra công chúng qua các phương tiện truyền thông và chúng

do thị trường chứng khoán quy định nhằm đảm bảo cho các nhà đầu tư

đều có cơ hội như nhau, nghiêm cấm sự quảng cáo không trung thực để

tăng uy tín cuả doanh nghiệp và đặc biệt là các báo cáo tài chính phải có

sự xác nhận cuả công ty kiểm toán độc lập, đảm bảo cho các con số là chính xác Qua các nguồn thông tin này các nhà đầu tư mới tiến hành phân tích và dự đoán triển vọng tương lai cuả từng doanh nghiệp để có

thể quyết định nên đầu tư hay không

Chỉ số giá chứng khoán được xác định qua mỗi phiên giao dịch, đặt

Trang 30

trong bối cảnh do thị trường quyết định, nhờ yếu tố này mà tình hình tài

chính cuả doanh nghiệp được xác định nhanh chóng Nếu loại trừ các

nguyên nhân khách quan (tình hình chính trị bất ổn, nền kinh tế trong và

ngoài nước khủng hoảng, lạm phát cao ) mà chỉ số giá chứng khoán vẫn

biến động mạnh điều đó không có nguyên nhân gì khác ngoài tình hình tài chính không lành mạnh, có vấn để gì qua các báo cáo tài chính, các

nhà đầu tư có thể phân tích và thấy được tương lai cuả công ty ngày càng

xấu đi làm giá chứng khoán sụt giảm

Ngoài vai trò đánh giá doanh nghiệp, thị trường chứng khoán cũng được xem là một công cụ đo lường sức mạnh kinh tế cuả một quốc gia

Với phương pháp chỉ số hoá thị giá các loại chứng khoán chủ yếu trong nên kinh tế và việc phân tích nghiên cứu một cách khoa học, có hệ thống

trên thị trường chứng khoán ở từng nước trong mối quan hệ với thị trường

thế giới cho phép dự đoán trước sự biến động kinh tế, tương lai kinh tế

cuả một hoặc nhiễu quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó, nghiên cứu sự

biến động thị giá trái phiếu trên thị trường chứng khoán cũng cho phép

tính được một cách gián tiếp tỷ lệ lãi suất mà các nhà kinh doanh chứng khoán thu được qua các khoản cho vay dài hạn dưới hình thức trái phiếu

Đây là một chỉ số nói lên độ tin cậy cuả nhà đầu tư trước diễn biến cuả các rủi ro tiền tệ và rủi ro tài chính

Nhìn chung, vai trò cuả thị trường chứng khoán rất to lớn, song nó chỉ thật sự được phát huy khi thị trường chứng khoán hoạt động tốt Đảm bảo sự lành mạnh cuả thị trường, ta cũng phải thấy được những mặt tiêu

cực cuả nó để hạn chế được mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra Có như vậy mới tạo điểu kiện cho thị trường chứng khoán phát huy hết vai

trò cuả nó

- Điểu đầu tiên phải nói đến sự đầu cơ chứng khoán Thật ra đây là một hành động có tính toán, sẵn sàng chấp nhận rủi ro, nhưng nó dễ gây

ra ảnh hưởng dây chuyền làm cho giá chứng khoán tăng hay giảm giả tạo

do có sự cấu kết, tạo ra sự khan hiếm hay thừa thải Về luật pháp thì

không cấm đầu cơ, nhưng cấm sự liên kết đưới mọi hình thức

Trang 31

- Điều tiếp theo là sự mua bán nội gián và phao tin không chính xác,

đó là sự lợi dụng vào những thông tin nội bộ cuả doanh nghiệp để mua bán chứng khoán nhằm thu lợi riêng cho mình, luật pháp cũng nghiêm cấm điều này vì nó được xem là phi đạo đức trong kinh doanh

Trang 33

I NHỮNG NGHIỆP VỤ ĐƯƠNG NHIÊN CUẢ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI HỖ TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG CUẢ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Ngày nay nghiệp vụ kinh doanh cuả ngân hàng thương mại rất phong phú và đa dạng Với việc đưa vào hoạt động hình thức công ty cổ

phần và với sự nới lỏng một số hạn chế mà các ngân hàng phải thực hiện

trước đây, một số lớn các dịch vụ khác nhau do các ngân hàng thương mại và các chi nhánh cuả ngân hàng cung cấp được mở rộng Những đổi

mới gần đây trong nghiệp vụ ngân hàng bao gồm việc đưa vào sử dụng

các công cụ thanh toán (séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng,

ngân phiếu thanh toán, thẻ thanh toán), mở rộng chính sách tín dụng cho mọi thành phần có nhu cầu vay vốn cùng các dịch vụ có tính chất

chuyên nghiệp hơn đã một phần nào giúp các ngân hàng thương mại có

đủ điều kiện và phương tiện nhằm hỗ trợ cho hoạt động cuả thị trường

chứng khoán sắp được hình thành tại Việt Nam Trong đó có thể nêu ra

3 nghiệp vụ tiêu biểu sau:

1 Nghiệp vụ thanh toán

Trong nghiệp vụ này người mua chứng khoán yêu câu ngân hàng

trích tiễn trên tài khoản cuả mình để chỉ trả cho người bán Ngân hàng

chỉ thực hiện lệnh khi khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng và tài

khoản này phải có đủ số dư để thanh toán Có hai hình thức thanh toán

hiện được áp dụng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là: thanh toán

bằng tiễn mặt và thanh toán không dùng tiền mặt

Hình thanh toán bằng tiển mặt đơn thuần chỉ là việc trả tiền mặt cho người bán chứng khoán hoặc người khác do người bán ủy nhiệm Trên thị trường chứng khoán ít khi sử dụng hình thức này trong các giao địch vì

lượng tiền chuyển trả, chuyển nhượng hàng ngày rất lớn nên không tiện

lợi

Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt là tập hợp mọi quan hệ

chuyển trả tiền tệ được thực hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản cuả |

Trang 34

người này sang tài khoản cuả người khác dưới sự kiểm soát cuả ngân

hàng mà không dùng đến tiển mặt Trái với hình thức thanh thanh toán

dùng tiền mặt, hình thức thanh toán không dùng tiền mặt rất được ưa

chuộng trong việc chỉ trả cho các mối giao dịch chứng khoán, vì nó rất tiện lợi cho cả người mua, người bán lẫn người điều hành thị trường Mặt

khác, nó còn tạo tính thanh khoản cao cho các chứng khoán và làm giảm

một khối lượng lớn tiền mặt được đưa vào lưu thông Điều này đã giúp cho các chứng khoán có tính hấp dẫn hơn và nhờ vậy hoạt động cuả thị

trường chứng khoán thêm sôi động

Hiện nay, các công cụ được dùng trong thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam gồm có: séc, ủy nhiệm chi, ngân phiếu thanh toán, thư

tín dụng, thẻ tín dụng và ủy nhiệm thu

e Sec:

Là lệnh trả tiền cuả người phát hành trả cho người thụ hưởng Trong

thời hạn hiệu lực thanh toán cuả tờ sec, người phát hành sec có nghiã vụ thanh toán cho người thụ hưởng và phải thanh toán ngay khi người thụ hưởng nộp sec vào ngân hàng Sec gồm có các loại:

-_ Sec chuyển khoản: Do chủ tài khoản phát hành để trả trực tiếp cho

người thụ hưởng, thời hạn hiệu lực tối đa là 10 ngày làm việc kể từ ngày

phát hành sec

- Sec bdo chi: Sec chuyén khoản nhưng được ngân hàng xác nhận

có số dư bằng cách chuyển tiễn vào một tài khoản riêng để làm thủ tục

bảo chỉ trước khi giao cho khách hàng, thời hạn hiệu lực tối đa là 15 ngày

làm việc kể từ ngày bảo chi cuả sec

- Sổ sec định mức: Với số tiền ấn định duoc phép phát hành cho cả

sổ sec với mức tối thiểu là 20 triệu đồng và phải mở vào một tài khoản

riêng, thời hạn hiệu lực là 30 ngày làm việc

- Sec cá nhân : Dùng cho giao dịch cá nhân, người phát hành sec với

SO Oat |

Trang 35

số tiền trên 5 triệu đồng phải mở tài khoản riêng để làm thủ tục bảo chỉ,

thời hạn hiệu lực là 10 ngày làm việc

Việc phát hành sec để rút tiền và ký thác trong cùng một ngân hàng

là sự chuyển tiền từ một tài khoản này sang tài khoản khác Nhưng khi xảy ra với nhiều ngân hàng ở các địa bàn khác nhau buộc phải thực hiện

thông qua hệ thống thanh toán bù trừ Quá trình thanh toán sẽ trở nên

đơn giản, nhanh chóng và ít tốn kém Lý do này đã giải thích được vì sao

thanh toán không dùng tiền mặt được sử dụng thường xuyên trong các giao dịch chứng khoán

© Ủy nhiệm chỉ:

Là lệnh chi tiền cuả chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn cuả

ngân hàng, yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản cuả mình để chỉ

trả cho người thụ hưởng trong cùng hệ thống ngân hàng hay khác hệ

thống ngân hàng trong cùng địa bàn hoặc khác địa bàn

Trong cùng một ngày làm việc ngân hàng phải hoàn tất lệnh chỉ đó hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoắn cuả khách hàng không đủ tiền hoặc

lệnh chi không hợp lệ Đây là hình thức thanh toán chiếm tỷ lệ cao nhất

hiện nay

© Ngân phiếu thanh toán:

Là công cụ thanh toán do ngân hàng nhà nước phát hành có mệnh giá và thời hạn được ¡n sẵn trên từng tờ Ngân phiếu thanh toán không ký danh và chuyển nhượng được

Người nắm giữ ngân phiếu thanh toán được xem là người thụ hưởng,

khi ngân hàng nhận được phải thực hiện ghi có vào tài khoản tiền gởi

hoặc đổi ra tiễn mặt theo yêu cầu cuả người này

Trang 36

e Thu tin dung:

Khi ký kết hợp đồng mua bán, người bán có thể đồi người mua thanh toán bằng thư tín dụng vì muốn được trả ngay trị giá số hàng đã

giao, phù hợp với đơn đặt hàng hoặc hợp đồng đã ký kết Để thực hiện

hợp đồng, bên mua mở thư tín dụng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản tiền gởi hay tài khoản tiển vay ngân hàng một số tiền

bằng tổng giá trị hàng đặt mua để lưu ký vào một tài khoản riêng

Mức tiền tối thiểu cuả một thư tín dụng là 10 triệu đồng Tiển gởi

thư tín dụng không được hưởng lãi và mỗi thư tín dụng chỉ dùng để trả cho một người thụ hưởng Thời gian hiệu lực thanh toán cuả một thư tín

dụng là 3 tháng kể từ ngày ngân hàng bên mua nhận mở thư tín dụng

Trong thanh toán nội địa việc giao dịch này chỉ nêu ra trên lý

thuyết, thực tế không được sử dụng thường xuyên đặc biệt là trong giao

dịch chứng khoán vì thủ tục rườm rà

e Thẻ thanh toán:

Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho người sử dụng

để trả tiễn mua hàng hoá bằng cách rút tiền mặt tại các chi nhánh cuả ngân hàng , các quây trả tiền tự động hay các đại lý

Hiện nay có 3 loại thẻ thanh toán được áp dụng là thẻ ghi nợ, thẻ ký quỹ thanh toán và thẻ tín dụng Tuy nhiên chúng chưa được sử dụng rộng rãi vì người dân chưa quen hình thức này, mặt khác một số ngân hàng thương mại cũng chưa đáp ứng được nhu cầu này vì chi phí cho máy rút

tiền tự động rất tốn kém

Thẻ thanh toán chỉ dùng trong chỉ tiêu cá nhân, không phải là phương thức thanh toán thông dụng trong giao dịch chứng khoán

Trang 37

© Ủy nhiệm thu:

Được áp dụng thanh toán giữa người mua và người bán có mở tài khoản trong cùng một chỉ nhánh ngân hàng hay các chi nhánh ngân hàng

trong cùng hệ thống hoặc khác hệ thống Ủy nhiệm thu do người bán lập

gởi vào ngân hàng phục vụ mình yêu cầu thu dùm tiền bán chứng khoán

- Nếu người mua và người bán mở tài khoản ở cùng một ngân hàng: ngân hàng tiến hành ghi có vào tài khoản tiền gởi cuả người bán và ghi

nợ vào tài khoản người mua

- Nếu người mua và người bán mở tài khoản ở hai ngân hàng khác

nhau: ngân hàng bên bán gởi trực tiếp ủy nhiệm thu đến ngân hàng bên

mua Khi nhận được giấy này, ngân hàng bên mua trích tiển từ tài khoản

tiền gởi cuả người này trả ngay trong ngày cho người bán để hoàn tất

việc thanh toán

Trong 6 công cụ thanh toán không dùng tiển mặt trên, chỉ có sec, ủy

nhiệm chi và ngân phiếu thanh toán là thông dụng Riêng ủy nhiệm thu

và nhất là thể thanh toán không được sử dụng Trong các loại sec thì sec

định mức không còn được sử dụng nữa vì đã có ủy nhiệm chi được sử

dụng rộng tại Việt Nam

Việc sử dụng sec là hình thức thanh toán khá cổ xưa nhưng có nhiều

tiện lợi và khá thông dụng trên thế giới Nhưng tại Việt Nam, sec còn

nhiều hạn chế do các quy định sử dụng quá rườm rà, gò bó, chưa phù hợp

với thông lệ quốc tế do đó chưa được xã hội hoá

2 Nghiệp vụ tín dụng

Danh từ “tín dụng” dùng để chỉ một giao dịch nợ về tiển-hàng như

bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác Tính cách chung cuả những hành vi đó là dựa vào sự tín nhiệm: người ta cam kết sẽ trao một tài sản có giá làm vật thế chấp để được nhận một khoản tiễn rồi

sẽ trả trong một thời gian nhất định, theo một số điều kiện nhất định nào

Trang 38

tâm giữa người có tiền và người cần tiền

Nguyên tắc căn bản mà các ngân hàng luôn luôn tôn trọng là mức

an toàn tín dụng Các yếu tố ngân hàng thường xem xét trước khi cho

vay là: uy tín cuả người vay, năng lực trả nợ, khả năng tạo ra lợi tức, giá

trị tài sản thế chấp Với khách hàng là một công ty môi giới chứng khoán hay một nhà kinh doanh chứng khoán cũng không ngoại lệ

Do đặc tính trong giao dịch chứng khoán mang tính thời vụ về vốn

luân chuyển, có thể xem người kinh doanh chứng khoán cần những

khoản vốn ngắn hạn cho quá trình mua bán đó Ngân hàng có thể tài trợ cho họ theo 3 cách sau:

2.1 Cho vay ton trữ

Để được vay tiền theo cách này, người vay phải trao cho ngân hàng

một số chứng khoán để bảo đảm cho món nợ Thường thường đó là

những cổ phiếu và trái phiếu Ngân hàng sẽ xem xét một số các yếu tố trước khi thực hiện việc cho vay, một trong những yếu tố quan trọng nhất

là tính thị trường cuả các chứng khoán, việc xác định năng lực thanh toán

cuả đơn vị phát hành cũng quan trọng Các chứng khoán thường được chỉ

trả đầy đủ cá vốn gốc và lãi hoặc cổ tức ổn định, có sự ổn định về giá cả

và sự thừa nhận trên thị trường sẽ tốt hơn cho các chứng khoán Nếu xét

thấy người phát hành có trái phiếu không đáp ứng được các khoản chỉ trả lãi hay hoàn trả vốn khi đáo hạn, hoặc người phát hành cổ phiếu không thể duy trì cổ tức ổn định, các chứng khoán ấy sẽ không được thừa nhận như vật thế chấp đối với các khoản vay vốn cuả ngân hàng thương mại

Nhằm tránh các rủi ro tín dụng, không bao giờ ngân hàng cho vay tới 100% giá thị trường các chứng khoán Tuy nhiên, số lượng cho vay

Trang 39

trên các chứng khoán nhiều hay ít còn tùy thuộc vào giá trị thị trường các

chứng khoán đó Trái phiếu chính phủ ít có rủi ro tín dụng và được bán một cách dễ dàng, dễ được chấp nhận đối với các khoản cho vay, ngân

hàng có thể cho vay ở mức cao, chẳng hạn 70 — 80% giá trị thị trường các chứng khoán Các chứng khoán do các công ty phát hành thường có

nhiều rủi ro hơn, ngân hàng cho vay ở mức thấp hơn, ví dụ 60 ~ 65% giá thị trường các chứng khoán Nói chung, vốn sẽ được cho vay nhiều đối với các trái phiếu hơn là các cổ phiếu

2.2 Cho vay định mức

Trong hình thức cho vay này ngân hàng cam kết sẽ cho vay một

khoản tín dụng ở một mức tối đa theo yêu cầu cud người vay Để có một

biên vực an toàn, người vay có thể xin cấp số tiển cao nhất trong nhu cầu

chi trả cuả mình trong một thời gian nhất định Trong suốt thời gian vay,

khách hàng có thể yêu câu ngân hàng giãi ngân đến mức tối đa mà ngân hàng đã cam kết Số tiển này có tính chất luân chuyển

Trên thị trường chứng khoán người trung gian chứng khoán (stock broker) giữ một vai trò rất quan trọng trong việc mua bán chứng khoán Khách hàng nhờ người trung gian mua chứng khoán, có thể trả tiền một phần và thiếu chịu phần còn lại Công ty môi giới chứng khoán có thể cho khách hàng thiếu chịu tới 50% giá thị trường các chứng khoán mà

khách hàng nhờ mua Hẳn nhiên, nếu cho nhiều khách hàng thiếu chịu

như vậy công ty môi giới sẽ bị kẹt vốn Họ chỉ làm được điều này là nhờ

có sự tài trợ cuả ngân hàng Ngân hàng tài trợ bằng các cho vay phần

thiếu chịu còn lại để người trung gian có đủ tiền thanh toán với người

bán chứng khoán Nhờ sự tài trợ này, hoạt động cuả thị trường chứng khoán luôn sôi động, các chứng khoán được mua và bán dễ dàng, qua đó

mang lại tính thanh khoản cao cho các chứng khoán

2.3 Cho vay triển kỳ

Để hiểu rõ cách thức cho vay này, xin lấy ví dụ sau làm minh hoạ :

Trang 40

Ngày 15-1-1999, cổ phần cuả công ty X trị giá là 20.600đ, người

đầu cơ ở thị trường chứng khoán cho rằng một tháng nữa cổ phần đó sẽ

lên giá và có thể bán lấy lời Người ấy mua 1000 cổ phần, hạn một tháng, nghiã là đúng ngày 15-2-1999 mới giao

Ngày 15-2-1999 tới và giá trị cuả cổ phần X lên 20.900đ Lúc đó

người đầu cơ nói trên có thể bán lại ngay hết 1000 cổ phần để được lời

300.000đ Nhưng nếu không may, ngày 15-2-1999 giá cổ phần sụt xuống còn 20.000đ, người đâu cơ ở trong trường hợp khó xử: bán cổ phần thì bị

lỗ 600.000đ, ngược lại, không bán cổ phần thì phải có tiền trả cho người

bán ngày 15-1-1999

Để tránh cái lỗ đó, người đầu cơ đến thương lượng với ngân hàng để

xin vay triển kỳ :

Người này yêu cầu ngân hàng mua giúp 1000 cổ phần này theo giá thị trường ngày 15-2-1999 và ứng cho họ số tiển 20.000*1000 =

20.000.000đ Như vậy người đầu cơ chỉ phải bổ ra 600.000đ để có đủ

tiễn trả cho người bán Đồng thời, người này cam kết chuộc lại 1000 cổ

phẩm đó chẳng hạn vào ngày 15-3-1999 theo giá cao hơn một chút, ví dụ

là 20.100, số 100 là hoa hồng cuả ngân hàng Như vậy ngân hàng được

một số tiền chắc chắn là 100.000đ Còn người đầu cơ thì có cách triển kỳ việc đầu cơ cuả mình, rất có thể đến ngày 15-3-1999 giá cổ phần sẽ lên

tới 21.000 lúc đó người đầu cơ sẽ lời được : (400*1000) — 100.000 = 300.000đ

Như vậy ngân hàng đã giúp người đầu cơ lùi lại thời hạn một tháng nữa, vì vậy nghiệp vụ này được gọi là nghiệp vụ cho vay triển kỳ

Nhận xét: theo quy chế hiện nay cuả các ngân hàng thương mại,

chỉ đặt cho vay trong bối cảnh chung cuả nền kinh tế, chưa đi sâu vào

lĩnh vực thị trường chứng khoán Do đó, ngân hàng chỉ thực hiện ba nghiệp vụ cho vay nói trên khi cá quy định, văn bản hướng dẫn cuả ngân hàng nhà nước về tín dụng có liên quan đến thị trường chứng khoán

Ngày đăng: 08/05/2014, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w