23 MỞ ĐẦU Lí do chọn đề tài Trong xã hội hiện nay, xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang ăn sâu vào trong tâm thức người Việt Nó đã hình thành cho con người những tư duy, suy nghĩ với hướn[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong xã hội hiện nay, xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã vàđang ăn sâu vào trong tâm thức người Việt Nó đã hình thành cho conngười những tư duy, suy nghĩ với hướng đa chiều, đa diện về mọiphương diện của cuộc sống
Xuất phát từ những yêu cầu của xu hướng ấy, Việt Nam đang từngbước tiến sâu vào thời kì phát triển toàn diện đất nước, hướng tới mục tiêudân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình mở rộng cơ chế thị trường,Việt Nam đang dần thay mình đổi dạng để tiến sâu hơn nữa, hòa nhập vớithế giới, hòa nhập với tư duy nhân loại Sự tiếp thu những tư duy mớiđược đi theo nhiều hướng khác nhau, tiêu cực có, tích cực có, và lưỡngcực có Bên cạnh những điều tích cực đưa Việt Nam đi lên phát triểntoàn diện, thì đâu đó xung quanh vẫn còn rất nhiều những biểu hiện tiêucực đang hiện diện rõ lên bề mặt xã hội Những điều tiêu cực ấy đang đẩy
xã hội đi xa hơn
Ngoài những yếu tố về vật chất: cơm, áo, gạo, tiền… thì yếu tố tinhthần trong đời sống con người là vô cùng quan trọng và cần thiết Để giảmtải những áp lực trong cuộc sống sinh hoạt và lao động thì trong xã hộixưa, người dân đã biết đưa những tiếng cười của mình vào những câuchuyện xôm tụ Tiếng cười trong trẻo hồn nhiên xuất phát từ chínhnhững tâm hồn vui tươi mang nhiều sách thái khác nhau Từ tiếng cườisinh lý đến tiếng cười tâm lý, mang nhiều ý nghĩa khác nhau, đặc biệt hơn
cả là tiếng cười phê phán Chính tiếng cười này được nhân dân ta vậndụng đưa vào văn chương, như những bài thuốc quý giá chữa bách bệnh vì
Trang 2“Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, và “Truyện cười” chính là thểloại mang lại những tiếng cười như vậy.
Trong hệ thống văn học dân gian, truyện cười là kho tàng lớn vôcùng phong phú về nội dung Truyện cười dân gian đã trở thành một trongrất nhiều thành tố quan trọng trong gia tài văn học nước ta Nhờ sự nhạybén trong ngôn từ và cách sử dụng những từ ngữ bình dị, truyện cười đãtrực tiếp hoặc gián tiếp phản ánh nhiều mặt của xã hội, từ những thói hưtật xấu cho tới những điều gần gũi thân thuộc xung quanh ta
Nhờ những đặc điểm độc đáo về nghệ thuật của thể loại mình, truyệncười đã đưa người đọc đến với thế giới nhiều hình hài khác nhau, thể hiệnqua những dạng cốt truyện, kết cấu và nhân vật, cũng như các thủ phápgây cười khác nhau Qua những vấn đề được đề cập tới trong truyện cườidân gian, người đọc đương thời sẽ hiểu sâu hơn về thể loại này, từ đó sẽ
có những thay đổi trong cách tiếp nhận cho phù hợp, đưa những bài họcsâu sắc ngầm ý vào thực tiễn hiện tại
Một thế giới truyện cười dân gian phong phú không thể không kểđến những truyện cười ở các vùng miền khác nhau Không những bổ sungthêm cho kho tàng văn học dân gian, hệ thống truyện cười trên mọi miềnđất nước còn bổ sung thêm nhiều tiếng cười sâu sắc, tạo nên một thế giớicười giòn giã mua vui hay cười cay độc phê phán những thói hư tật xấu.Trong hệ thống truyện cười dân gian Việt Nam, chúng ta cần chú ý đếnkho tàng truyện cười dân gian Nam Bộ Truyện cười ở vùng Nam Bộ sẽ cónhững đặc sắc riêng, tạo nên những đặc trưng về cả nội dung và nghệthuật Từ những đóng góp nhỏ bé nhưng ý nghĩa của hệ thống truyệncười dân gian Nam Bộ đã góp phần xây dựng kho tàng văn học dân giannói chung và truyện cười dân gian nói riêng một vị trí vững chắc Nhómtruyện cười dân gian Nam Bộ với những đóng góp của mình đã làm nổi
Trang 3bật nội dung, và đặc biệt là những đặc sắc nghệ thuật của hệ thống truyệncười dân gian.
Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm nghệ thuật của truyện cười dân gian Nam Bộ” để tìm hiểu và nghiên cứu.
Về giáo trình, xin trích dẫn ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu,
đã được đưa vào chương trình giảng dạy của một số trường đại học Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu (1992), Văn học dân gian những tác phẩm chọn lọc của Bùi Mạnh Nhị biên soạn (1999), Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh chủ biên (2006), Văn học dân gian Việt Nam của Vũ Anh Tuấn chủ biên (2012)…
“Văn học dân gian Bến Tre: tuyển chọn từ tài liệu sưu tầm điền dã”,
của Ngọc Quang Nguyễn, Nxb Khoa học xã hội, 2015
“Văn học dân gian Châu Đốc”, Nguyễn Ngọc Quang, Nxb Dân trí, 2010.
“Văn học dân gian Bạc Liêu”, Chu Xuân Diên - H : ĐHQG Hà
Nội, 2011 Đây là một số công trình có đề cập và nghiên cứu về thể loạitruyện cười dân gian của các tỉnh Nam Bộ
“Văn học dân gian Sóc Trăng :Tuyển chọn từ tài liệu sưu tầm điền dã”, Chu Xuân Diên; Lê Văn Chưởng, [và những người khác], - H : Văn
hoá thông tin, 2012
Trang 4“Văn học dân gian An Giang (Tuyển chọn từ tài liệu sưu tầm điền
dã – quyển 2)” do Nguyễn Ngọc Quang (chủ biên), Nxb Văn hóa dân tộc,
2016
Ngoài giáo trình được công nhận, thì còn một số công trình nghiên
cứu về truyện cười dân gian: Giá trị văn hóa thực tiễn trong truyện cười dân gian Khmer Nam Bộ của Huỳnh Vũ Lam (2008) có hệ thống hóa
nguồn truyện cười dân gian Khmer và xác định những giá trị văn hóa đãtrở thành quy luật nội tại thúc đẩy sự vận động và phát triển của thể loạinày Qua đó góp phần làm rõ tính tất yếu của quá trình giao lưu văn hóacũng như những nét đặc trưng còn giữ lại, không thể hòa lẫn của từng tộcngười
Ngoài những công trình nghiên cứu đã được nêu, chúng tôi còn tìmhiểu được một số bài luận về văn hóa trong truyện cười dân gian Đó là
luận văn của Nguyễn Thị Hằng năm 2017 “Văn hóa ứng xử trong truyện cười dân gian Việt Nam” Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một
hướng nghiên cứu mới cho truyện cười dân gian Việt Nam về văn hóa.Đây cũng là hướng tiếp cận khác trong việc tìm hiểu thể loại văn học dângian này, phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy truyệncười ở các bậc học nói chung
2.2 Một số công trình đã nghiên cứu về đặc điểm nghệ thuật truyện cườidân gian Nam Bộ
Một số công trình nghiên cứu lớn về nghệ thuật truyện cười của các
nhà nghiên cứu khác nhau được vận dụng Đó là “Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân gian” của Hoàng Tiến
Tựu, Nxb Giáo dục, năm 1997
“Bình giảng truyện dân gian” của Hoàng Tiến Tựu “Truyện cười người xưa” của Hoàng Bắc hay “Truyện cười xưa và nay” của Thu Trinh.
Trang 5Hỗ trợ trong quá trình viết bài luận này, không thể không nhắc tới
“Nghệ thuật chơi chữ trong văn chương người Việt” của Triều Nguyên,
Nxb Giáo dục, năm 2004
Cũng đề cập tới một số đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện cười
dân gian Việt Nam, luận văn “Truyện cười tiếng Việt nhìn từ lý thuyết hội thoại” đã nghiên cứu hội thoại truyện cười nhằm chỉ ra các đặc điểm hội
thoại dưới góc nhìn ngữ dụng học Đồng thời luận văn cung cấp chongười tiếp nhận cách thức vận dụng những kiến thức ngôn ngữ học để cóthể giải mã về truyện cười và các yếu tố tạo nên tiếng cười
Luận văn “Giá trị của tiếng cười trong truyện cười dân gian Việt
Nam” đã đi vào khai thác một số biện pháp gây cười – là một yếu tố quan
trọng trong thi pháp truyện cười qua bài viết, người đọc có thể hiểu chitiết hơn về những yếu tố có trong truyện cười, từ đó, có hướng tiếp cậnthể loại tự sự này một cách đầy đủ nhất
Trong luận văn “Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian Bến Tre qua một số thể loại tiêu biểu” của Huỳnh Thanh Sang năm 2012 có
luận bàn về một số đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian Bến Tre thôngqua việc chỉ ra đặc trưng cấu trúc và giá trị nội dung của một số thể loạitiêu biểu Và trong đó truyện cười cũng được đề cập tới và đi vào nghiêncứu khảo sát trong hệ thông truyện cười của Bến Tre
Luận văn “Các biện pháp gây cười trong truyện cười dân gian Việt Nam
– trên quan điểm ngữ dụng học” của thạc sĩ Nguyễn Thị Tuyển năm 2016
có đề cập tới một số phương diện khi nghiên cứu truyện cười dân gianViệt Nam Đồng thời luận văn cũng đưa ra những phương thức tạo ratiếng cười của tác giả dân gian trên quan điểm ngữ dụng học
Trang 6Nhìn tổng thể, đã có một số công trình nghiên cứu về nghệ thuật vànội dung của truyện cười dân gian nói chung Từ những tài liệu thực tế
đã nêu, chúng tôi thấy rằng, người viết chủ yếu đề cập đến một số biệnpháp gây cười cũng như giá trị của tiếng cười trong truyện cười dângian, hướng nhìn nhận truyện cười về lý thuyết hội thoại…
Tuy nhiên, những tài liệu tìm hiểu và nghiên cứu về truyện cười dângian Nam Bộ còn rất hạn chế, đặc biệt là nghiên cứu về mặt nghệ thuậtcủa thể loại văn học này Luận văn này sẽ tiếp nối những công trình trước
đó, sẽ tìm hiểu chi tiết hơn và hệ thống lại những đặc điểm nghệ thuật mộtcách cụ thể và mạch lạc hơn
2 Đ i ố t ượ và ph m ng ạ vi nghiên c u ứ
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của công trình này là kho tàng truyện cườidân gian của người Việt ở Nam Bộ Những truyện cười dân gian này đượccông bố trong các tuyển tập được sưu tầm và biên soạn bởi những ngườicon gắn chặt cái tình với mảnh đất Nam Bộ
Đề cập đến truyện cười không thể không nói tới mảng truyện trạng
và các câu truyện gắn liền với các nhân vật có tiếng trên mảnh đất Nam Bộ
Đó là bác Ba Phi, ông Ó,… Tuy nhiên ở luận văn này, chúng tôi khôngtiến hành khảo sát và nghiên cứu những chùm truyện cười về một số nhânvật như trên Bởi lẽ, thứ nhất, mảng truyện đó có điều đặc biệt là chúngđược kết chuỗi với nhau Thứ 2, trong quá trình tìm hiểu và khảo sát các tàiliệu liên quan, chúng tôi nhận thấy có một số công trình đã đặc biệtnghiên cứu làm rõ Và thứ 3, những mẩu chuyện cười không kết chuỗi sẽcho người đọc nhận thấy được sự đa dạng của những đặc điểm nghệ thuậtkhác nhau
3 Ph m ạ vi nghiên c u ứ
Trang 7Luận văn này tập trung sưu tầm, nghiên cứu và hệ thống những đặcđiểm về nghệ thuật trong truyện cười dân gian người Việt ở Nam Bộ qua
những tuyển tập truyện cười dân gian được đề cập (tính đến thời điểm viết
đề cương):
- Văn học dân gian Sóc Trăng
- Văn học dân gian Bến Tre
- Văn học dân gian Châu Đốc
- Văn học dân gian An Giang
- Văn học dân gian Bạc Liêu
- Văn học dân gian Tiền Giang
4 Ph ươ ng pháp nghiên c u ứ
Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau, nhằm chỉ ra rõ ràng và làm nổi bật những đặcđiểm nghệ thuật nổi bật trong truyện cười dân gian người Việt ở Nam Bộ.5.1 Phương pháp thống kê và hệ thống
Đây là hai phương pháp cơ bản nhất, giúp người viết tập hợp và kiểm
kê ra được số lượng, tập hợp và phân loại đối tượng Sau đó, đưa ra nhữngđánh giá khách quan về những đặc điểm về nghệ thuật trong các mẩutruyện cười dân gian vùng Nam Bộ
Người viết cũng tiến hành thống kê hệ thống truyện cười dân gian cáctỉnh Nam Bộ trong hệ thống truyện cười dân gian Nam Bộ Và để ngườiđọc thấy được những thành tố về nghệ thuật trong truyện cười dân gianNam Bộ chỉ là một chi tiết nhỏ trong các thành tố về nghệ thuật lớn hơn– đó là toàn bộ đặc điểm nghệ thuật của thể loại truyện cười Từ đó, sự đadạng sẽ được thể hiện rõ ràng, rành mạch
5.2 Phương pháp liên ngành
Trang 8Để làm rõ những đặc điểm nghệ thuật trong truyện cười dân gianNam Bộ, người viết phải hiểu biết rõ về những kiến thức liên quan đếnvăn hóa, những phong tục tập quán của các vùng miền khác nhau, từ đó
có những so sánh với văn hóa Nam Bộ Việc người viết vận dụng mộtcách linh hoạt các kiến thức về văn hóa dân tộc, văn học, xã hội học… làđiều tối quan trọng
5.3 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Từ những nhìn nhận các đặc điểm về nghệ thuật của truyện cười dângian, người viết tiến hành việc phân tích chi tiết, cụ thể những biểu hiện cụthể Tiếp đến, người viết bắt đầu đi giải thích những biểu hiện đó và đi đếnthống nhất lại, rút ra một kết luận tổng hợp lại vấn đề đang tìm hiểu
5 Ph ươ ng pháp so sánh
Việc sử dụng phương pháp so sánh sẽ giúp nhận thấy được đặcđiểm nghệ thuật của truyện cười dân gian Nam Bộ Từ đó, phân biệt đượcnhững yếu tố khác nhau giữa đặc điểm nghệ thuật của truyện cười dân gianNam Bộ nói riêng và đặc điểm nghệ thuật của hệ thống truyện cười dângian Việt Nam nói chung
6 Đóng góp c a ủ đ ề tài
Đề tài “Đặc điểm nghệ thuật của truyện cười dân gian Nam Bộ” làmột hướng nghiên cứu tiếp nối những nghiên cứu đặc trưng của thể loạitruyện cười Kết quả nghiên cứu của đề tài này hy vọng sẽ đưa đến một số
ý nghĩa nhỏ trong quá trình nghiên cứu về chủ đề văn học dân gian
Qua đề tài, chúng tôi sẽ sưu tầm và hệ thống lại kho tàng truyện cườidân gian Nam Bộ Đó là bước đầu tìm hiểu và phân tích các đặc điểmnghệ thuật của truyện cười dân gian Nam Bộ Đồng thời cũng góp phầnkhẳng định một lần nữa giá trị nghệ thuật đặc sắc của truyện cười dân giannói chung và truyện cười dân gian Nam Bộ nói riêng
Trang 9CHƯƠNG 1.KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT NAM BỘ VÀ KHO TÀNG
TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN NAM BỘ 1.1 Khái quát về vùng đất Nam Bộ
1.1.1 Tự nhiên
1.1.1.1 Địa lý
Nằm ở phía Nam của nước Việt Nam, thuộc hạ lưu sông Cửu Long,sông Vàm Cỏ, sông Đồng Nai, tiếp giáp biển Đông Hiện nay có 19 tỉnh,thành (miền Đông Nam Bộ có 6 tỉnh, thành: Bình Phước, Bình Dương, TâyNinh, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai; miền TâyNam Bộ có 13 tỉnh, thành là tỉnh Long An, Tiềng Giang, Bến tre, ĐồngTháp, An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang,Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang) và hàng trăm hải đảo lớn nhỏ,
có đường biên giới trên bộ giáp với Cam-pu-chia dài gần 880 km; vùng lãnhhải rộng hàng triệu km2, giáp với vùng biển các nước Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-
a, Thái Lan, Cam-pu-chia
Dân số toàn vùng Nam Bộ hiện nay trên 30 triệu người, chiếmhơn một phần ba (1/3) dân số cả nước (cả nước trên 80 triệu dân), trong đóngười Khmer khoảng 1,3 triệu người, người Hoa trên 600.00 người, ngườiChăm trên 14.000 người, người Việt gần 28 triệu người và một số dân tộcngười khác nhưng số lượng ít
Trang 10Vùng đất Nam Bộ có diện tích trên 63.277,2 km2, nằm ở hạ lưu
3 con sông lớn nên đất đai phì nhiêu, màu mỡ Nam Bộ có nhiều sông, rạchthuận lợi giao thông thủy Hiện nay vùng đất Nam Bộ có thế mạnh về côngnghiệp, thương mại – dịch vụ, nông nghiệp, thủy sản lớn nhất nước ta Năm
2005, giá trị công nghiệp toàn vùng chiếm 56,7% giá trị cả nước, tổng mứcbán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chiếm 53,78% cả nước, sản lượng gạoxuất khẩu chiếm trên 90%, sản lượng thủy sản chiếm 65% sản lượng cảnước
Có được những thành tựu nêu trên, Nam Bộ phải trải qua quá trìnhđấu tranh gian khổ, hy sinh để khai phá, chống giặc ngoại xâm, ra sức xâydựng và phát triển Đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải không ngừng nâng caonhận thức về cội nguồn và lịch sử phát triển của vùng đất Nam Bộ
1.1.1.2 Lịch sử hình thành
Lịch sử Việt Nam, ngoài những bộ sử trước Cách mạng Tháng Tám(1945), sau khi miền Bắc hòa bình, bộ “lịch sử Việt Nam” ra đời và khôngngừng được bổ sung hoàn thiện đã được phổ biến rộng rãi và đưa vàochương trình học chính thức ở các cấp, góp phần nâng cao nhận thức trongcác tầng lớp nhân dân về “gốc tích nước nhà Việt Nam”, nâng cao tình yêuquê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức mạnh mẽ về biên giới quốcgia, về vùng lãnh hải và các hải đảo, về độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ
Từ sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước (30/4/1975),các nhà sử học, khảo cổ học đã nghiên cứu các tư liệu lịch sử trong nước vànước ngoài, khai quật di tích lịch sử ở nhiều địa phương Nam Bộ, một sốnhà sử học đã biên soạn nhiều tài liệu quí giá về vùng đất Nam Bộ; đồngthời, các tỉnh, thành ở Nam Bộ cũng đã nghiên cứu và biên soạn lịch sử địaphương mình Trên cơ sở đó, Hội khoa học lịch sử Việt Nam đã tập hợp,biên soạn phát hành sách “Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam” Tuy là
“lược sử” nhưng quyển sách ra đời có ý nghĩa quan trọng tập hợp các quan
Trang 11điểm và chứng cứ, tài liệu lịch sử khoa học để khẳng định “cội nguồn và lịch
sử phát triển vùng đất Nam Bộ Việt Nam”, góp phần nâng cao nhận thứclịch sử cho mọi công dân, giữ gìn, phát huy và bảo vệ vùng đất cực Nam của
Cũng dựa vào các thư tịch cổ, các nhà khoa học đã thống nhấtnhận định rằng, nước Phù Nam xuất hiện vào khoảng đầu công nguyên vàsuy vong vào khoảng thế kỷ thứ VII Năm 1944, nhà khảo cổ học PhápLouis Malleret đã tiến hành một cuộc khai vật có ý nghĩa lịch sử ở gần núi
Ba Thê (nay thuộc địa phận xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang),phát hiện ra Nền văn hóa Óc Eo Các nhà khoa học khẳng định rằng những
di chỉ thuộc văn hóa Óc Eo là di tích văn hóa vật thể của nước Phù Nam.Các học giả cũng khẳng định Óc Eo là một nền văn hóa có nguồn gốc bảnđịa, ít ra là từ thời đại kim khí Từ những nghiên cứu khoa học và khảo cổhọc qua khai quật tìm thấy ở Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang
và nhiều đại phương khác ở đồng bằng Nam Bộ thì văn hóa Óc Eo hoàn
Trang 12toàn khác biệt với văn hóa Khmer, về phong tục tập quán, tang lễ và hônnhân.
Về mặt lịch sử, các tư liệu trong thư tịch cổ Trung Quốc cũngphân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp Sử ký của nhà Tùy chép rằng, nướcChân Lạp ở về phía Tây Nam Lâm Ấp (Chăm Pa), nguyên là một chư hầucủa Phù Nam Vua nước Chân lạp là Ksatriya Citrasena đã đánh chiếm vàtiêu diệt Phù Nam Sử ký nhà Đường cũng chép: “Trong nước (Phù Nam)bấy giờ có thay đổi lớn Nhà vua đóng đô ở thành Đặc Mục, thình lình bịnước Chân Lạp đánh chiếm, phải chạy trốn về miền Nam, trú ở thị trấn NaPhất Na những sự kiện được chép trên đây diễn ra vào đầu thế kỷ VII Căn
cứ vào sự kiện năm 627, Phù Nam còn đến triều cống nhà Đường lần cuốicùng, các học giả cho rằng, sự kiện nước Phù Nam bị tiêu diệt phải xảy rasau năm 627
Như vậy, Chân Lạp là một quốc gia ở vùng trung lưu sông MêKông, khu vực gần Biển Hồ, lấy nông nghiệp làm nghề sống chính Còn PhùNam là một quốc gia ven biển có truyền thống hàng hải và thương nghiệpphát triển Trong thời kỳ Phù Nam cường thịnh có nhiều nước nhỏ thần phụcvới tư cách là những thuộc quốc hoặc chư hầu, trong đó có Chân Lạp Vàođầu thế kỷ VII, nhân lúc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp đã tấn công và chiếmlấy Lãnh thổ Phù Nam về tay Chân Lạp do kết quả của những cuộc chiếntranh Những phần lãnh thổ khác của Phù Nam trở thành một phần của đấtnước Thái Lan, Mailayxia, Inđônêxia Đến thế kỷ 17 – 18 phần lãnh thổđược coi là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộphận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam bộ ngày nay
Như vậy, khoa học đã chứng minh vùng đất Nam Bộ đã có lịch
sử lâu đời, là một phần lãnh thổ của Vương quốc Phù Nam, ra đời trướcVương quốc Chân Lạp 4 đến 5 thế kỷ Sau những biến thiên của lịch sửVương quốc Phù Nam bị suy vong và Nam Bộ đã trở thành một phần lãnh
Trang 13thổ của Việt Nam Nước ta đã quản lý, xây dựng và phát triển vùng đất Nam
Bộ ổn định, hòa bình và liên tục từ thế kỷ 16 đến nay, Nam bộ là một bộphận thiêng liêng không thể tách rời của Việt Nam Mọi luận điệu xuyên tạcnói Nam Bộ là của Cam-pu-chia hoặc đòi thành lập “Nhà nước Khmer Cam-pu-chia Crômtự trị” đều là luận điệu phản động của các thế lực thù địch
b Giai đoạn II: Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân lạp (từ thế kỷVII đến thế kỷ XVI)
Sau khi chiếm được Phù Nam, vùng đất này được gọi là “ÔThủy Chân lạp” để chỉ phần lãnh thổ Phù Nam trên vùng đất Nam Bộ vàphân biệt với vùng đất gốc của Chân Lạp là “Lục Chân lạp” Tuy nhiên, việccai quản phần lãnh thổ mới đối với Chân lạp là hết sức khó khăn Trước hết,đây là một vùng đồng bằng mới bồi lấp còn ngập nước và sình lầy, ngườiKhmer với dân số ít ỏi chưa thể tổ chức khai thác trên qui mô lớn, phần lớn
ở vùng đất cao, giồng cát Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của
“ Lục Chân Lạp” đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực Vào nửa sau thế kỷVII, quân đội Srivijaya của người Java chiếm Cả Vương quốc Chân Lạpgần như bị lệ thuộc vào Srivijaya Cục diện này đến năm 802 mới kết thúc.Tuy nhiên, người Khmer lúc này muốn dồn sức phát triển các vùng trungtâm truyền thống của họ ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mê Kông vàhướng nỗ lực bành trướng sang phía Tây, vùng lưu vực sông Chao Phaya.Trong khoảng thời gian từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ XI, Chân Lạp trở thànhmột quốc gia cường thịnh, tạo nên nền văn minh Angkor rực rỡ, đồng thời
mở rộng lãnh thổ lên tận Nam Lào và trùm đến cả khu vực sông ChaoPhaya Trong khí đó, qua các di tích khảo cổ học, dấu tích của văn hóaKhmer và văn minh Angkor ở vùng Đồng Nai – Gia Định hết sức mờ nhạt
Do chiến tranh và phải tập trung công sức phát triển các trungtâm ở các vùng lục địa, sau mấy thế kỷ thuộc Chân Lạp, đến thế kỷ XIII,theo Chu Đạt Quan – một người Trung Quốc, có dịp đến Chân lạp vào năm
Trang 141296-1297 đã miêu tả vùng đất Nam Bộ như sau: “Từ chỗ Chân Bồ (tức BàRịa – Vũng Tàu) hầu hết là rừng thấp, cây rậm, tiếng chim hót và thú vậtkêu vang dội khắp nơi những cánh đồng bị bỏ hoang phế, không có mộtgốc cây nào Xa hơn tầm mắt chỉ là cỏ kê đầy dẫy, hàng trăm, hàng ngàncon trâu rừng tụ họp thành từng bầy trong vùng này, tiếp đó là nhiều conđường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm ”.
Bắt đầu thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướngcủa các vương triều Thái Lan từ phía Tây, đặc biệt là từ sau khi Vương quốcAyuthaya hính thành Trong gần một thế kỷ, Chân Lạp liên tiếp phải đối phóvới những cuộc tiến công từ phía người Thái, có lúc kinh thành Angkor đã
bị quân đội Ayuthaya chiếm đóng Thực tế vùng đất Nam Bộp thời kỳ nàychưa có sự quản lý về mặt hành chính
c Giai đoạn III: Vùng đất Nam Bộ trở thành một bộ phậnkhông thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam (từ thế kỷ XVI cho đến nay)
* Công cuộc khai phá của người Việt trên vùng đất Nam Bộ (từthế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII)
Từ thế kỷ XVI, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp
bị chia rẽ sâu sắc và dần bước vào thời kỳ suy vong, hầu như không có điềukiện quan tâm đến vùng đất Nam Bộ và trên thực tế đã không đủ sức quản lývùng đất này, trong bối cảnh đó, nhiều cư dân Việt từ đất Thuận Quảng đãvào vùng Mô Xoài, Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ) khai khẩn đất hoang,lập làng, sinh sống
Năm 1620, vua Chân lạp Chey Chetta II đã cưới công chúaNgọc Vạn con gái của chúa Nguyễn Phúc Nguyên làm vợ Đối với ChânLạp, việc kết tham giao với chúa Nguyễn là để dựa vào lực lượng quân sựcủa người Việt lúc này đang rất mạnh làm giảm sức ép từ phía Xiêm Vớichúa Nguyễn, quan hệ hữu hảo này tạo điều kiện thuận lợi cho người Việtvốn đã có mặt từ trước, được tự do khai khẩn đất hoang và làm ăn sinh sống
Trang 15trên đất “Ô Thủy Chân lạp” và tăng cường ảnh hưởng của họ Nguyễn vớitriều đình Oudong (U-Đông là nơi vua Chey Chetta II xây dựng cung điện).
Năm 1623, chúa Nguyễn chính thức yêu cầu triều đình Chânlạp để cho dân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân
và để quản lý chúa Nguyễn lập ở Pray Kor (vùng Sái Gòn ngày nay) mộttrạm thu thuế Vua Chân lạp đã chấp nhận đề nghị này Vào thời điểm đó, cưdân Việt đã có mặt ở hầu khắp miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn
Sau cái chết của vua Chey Chetta II vào năm 1628, nội bộ giớicầm quyền Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc Nhiều cuộc chiến trabnh giữa cácphe phái đã diễn ra với sự trợ giúp quân sự của một bên là quân Xiêm (TháiLan), một bên là quân Nguyễn Những cuộc chiến ấy chẳng những khônganh hưởng đến người Việt tiến hành khai phá những vùng đất hoang hóa ởđồng bằng sông Cửu Long, mà trái lại còn tạo điều kiện cho chúa Nguyễnthiết lập quyền kiểm soát chính thức của mình trên những vùng đất cư dânViệt đã dựng nghiệp Mặt khác, cùng thời kỳ này một số quan lại Nhà Minh(Trung Quốc) không thần phục nhà Thanh đã vượt biển đi về phía Nam, đãgóp phần đẩy nhanh quá trình xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên vùngđất Nam Bộ Từ năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần đã tạo điều kiện đểnhóm Dương Ngạn Địch cùng nha môn, quân sĩ vùng Quảng Tây (TrungQuốc) tổ chức khai phá và phát triển kinh tế vùng lưu vực Tiền Giang (MỹTho), cho nhóm Trần Thượng Xuyên và những đồng hương Quảng Đông(Trung Quốc) của ông chiêu dân tiếp tục mở mang vùng Biên Hòa – DốngNai Trong gần 20 năm, một vùng đất trải dài từ Bà Rịa đến Tiền Giang, vồn
đã được cư dân Việt đến sinh cơ lập nghiệp từ trước, nhanh chóng trở thànhnhững trung tâm kinh tế quan trọng với nhiều làng mạc trù phú, phố phườngsầm uất, hải cảng nhộn nhịp, có thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, TâyDương, Bồ Bà (Java) tới buôn bán