1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiếu- Một Thể Loại Văn Học Trung Đại Việt Nam.docx

22 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiếu – Một thể loại văn học trung đại Việt Nam
Người hướng dẫn Nguyễn Quang Huy
Trường học Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 489,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng Đề tài CHIẾU MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn Nguyễn Quang Huy Lớp học phần 21 0103 Nhóm thực hiện 2 Đà Nẵng, ngày 19 t[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng

Đề tài

CHIẾU MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Quang Huy

Lớp học phần : 21-0103

Nhóm thực hiện : 2

Đà Nẵng, ngày 19 tháng 4 năm 2022

HỆ THỐNG THỂ LOẠI VÀ NGÔN NGỮ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Trang 2

Chiếu – Một thể loại văn học trung đại Việt Nam

1 Khái niệm 2

2 Sự hình thành và phát triển của chiếu 2

2.1 Sự xuất hiện của Chiếu 2

2.2 Quá khứ hình thành, phát triển và một số đặc điểm của văn bản Chiếu 3

2.3 Thể chiếu trong Văn học Trung đại Việt Nam 4

2.4 Chiếu trong đời sống hiện đại 6

3 Đặc điểm của chiếu về hình thức 7

3.1 Bố cục của một bài chiếu 7

3.2 Phương thức trình bày văn bản chiếu 7

3.3 Ngôn từ sử dụng trong một bài chiếu 8

4 Đặc điểm về nội dung và nghệ thuật qua các tác phẩm chiếu 8

4.1 Nội dung 8

4.2 Nghệ thuật 10

5 Mở rộng 12

5.1 Các tác phẩm chiếu 12

5.2 Di chiếu 18

Định nghĩa: 18

Trang 3

1 Khái niệm

Theo Đại từ điển tiếng Việt, chiếu là văn bản nhà vua ban bố cho thần dân biết

rõ một số chính sách của nhà nước, viết theo lối văn tứ lục biền ngẫu, mỗi câu ngắtthành hai đoạn bốn – sáu hoặc sáu – bốn và có về đối ở từng cặp câu

Theo Từ điển Văn học (bộ mới), chiếu lệnh là một hình thức văn chương củaTrung Quốc và nhiều nước phương Đông thời cổ, dùng để gọi chung các văn từmệnh lệnh do nhà vua ban bố cho quần thần, bao quát các thể văn sách, chiếu,mệnh, lệnh, chế, cáo… vốn không thống nhất về thể loại cũng như tên gọi

Trong Thơ văn Lý – Trần nhìn từ thể loại, NXB Giáo dục,1996, tác giả NguyễnPhạm Hùng đã đưa ra định nghĩa về chiếu như sau:

Trang 4

“Chiếu là loại văn bản hành chính của triều đình nhằm công bố cho thần dântrong nước biết và thực hiện những nhiệm vụ hay những vấn đề có liên quan tớiđời sống quốc gia, dân tộc, vương triều”.

Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa chung cho vănchiếu như sau:

Chiếu là văn bản hành chính có tính quan phương trong thời kì trung đại, nhằmcông bố cho thần dân trong nước biết và thực hiện những nhiệm vụ hay những vấn

đề có liên quan tới đời sống quốc gia, dân tộc, vương triều và thường được viếttheo lối văn tứ lục biền ngẫu, mỗi câu ngắt thành hai đoạn bốn – sáu hoặc sáu –bốn, có vế đối ở từng cặp câu

2 Sự hình thành và phát triển của chiếu

2.1 Sự xuất hiện của Chiếu

Xuất hiện và phát triển trong chế độ phong kiến, chiếu là một loại hình văn bảnhành chính có vai trò rất lớn Ở mọi triều đại, trong mọi thời kì, chiếu luôn đượccoi là một trong những loại hình văn bản hành chính quan phương nhất, bởi nó trựctiếp thể hiện những mệnh lệnh, những ý kiến, những suy nghĩ của nhà vua và đượcban bố rộng rãi cho quần thần và dân chúng Nhưng mặt khác đây cũng là một thểloại văn học quan trọng ra đời từ thời cổ Ở Việt Nam, chiếu cũng xuất hiện tươngđối sớm và được ghi chép lại khá nhiểu trong sử sách Đặc biệt là hai bộ sử lớn củaViệt Nam là Đại Việt sử kí toàn thư và Đại Nam thực lục do Quốc sử triều Nguyễnsoạn Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu và hệthống các văn bản chiếu chiếu của Việt Nam

Theo Đại từ điển tiếng Việt, chiếu là văn bản nhà vua ban bố cho thần dân biết

rõ một số chính sách của nhà nước, viết theo lối văn tứ lục biền ngẫu, mỗi câu ngắtthành hai đoạn bốn - sáu hoặc sáu - bốn và có về đối ở từng cặp câu Theo Từ điểnVăn học (bộ mới), chiếu lệnh là một hình thức văn chương của Trung Quốc vànhiều nước phương Đông thời cổ, dùng để gọi chung các văn từ mệnh lệnh do nhàvua ban bố cho quần thần, bao quát các thể văn sách, chiếu, mệnh, lệnh, chế, cáo…vốn không thống nhất về thể loại cũng như tên gọi

2.2 Quá khứ hình thành, phát triển và một số đặc điểm của văn bản Chiếu

2.2.1 Chiếu là một loại hình văn bản hành chính đặc biệt đã xuất hiện ở TrungQuốc từ thời cổ và được truyền sang các nước phương Đông thuộc vùng ảnhhưởng của văn hóa Hán, trong đó có Việt Nam Sở dĩ đặc biệt vì đó là một trong

Trang 5

những loại hình văn bản hành chính có tính quan phương nhất của nhà nước đã rađời từ rất lâu, tồn tại trong suốt thời kì phong kiến Trong tác phẩm Lịch sử vănhóa Trung Quốc được tác giả Nguyễn Phạm Hùng trích dẫn trong cuốn Văn học Lý

- Trần nhìn từ thể loại, Đàm Gia Kiện đã viết về nguồn gốc của văn chiếu như sau:Chiếu là “cáo của triều đình ban bố gọi chung là chiếu lệnh, bắt nguồn từ thể cáotrong Thượng thư, thời Xuân Thu gọi là mệnh, thời Chiến Quốc gọi là lệnh Saukhi Tần thống nhất, đổi mệnh thành chế, đổi lệnh thành chiếu Đầu đời Hán mệnhchia làm bốn loại, danh mục, công dụng khác nhau Chiếu là cáo với bách quan…”Như vậy, chiếu vốn được bắt nguồn từ thể cáo trong sách Thượng thư, được gọi làchiếu lệnh, trải qua các tên gọi khác nhau, đến đời Tần mới có tên gọi là chiếu nhưhiện nay Thực chất, nó là loại văn bản hành chính của triều đình nhằm công bốcho thần dân biết và thực hiện những nhiệm vụ có liên quan đến đời sống xã hội,dân tộc, hoàng triều

2.2.2 Chiếu là từ Hán Việt Trong lịch sử Việt Nam, các đạo chiếu đầu tiên đượcghi lại trong biên niên sử từ thời Tiền Lê (năm 1000) Các đạo chiếu nổi tiếng củacác triều đại phong kiến Việt Nam có thể nói đến như: Chiếu dời đô của vua LýThái Tổ (Lý Công Uẩn) năm 1010 quyết định việc dời kinh đô từ Hoa Lư ra ThăngLong, mở ra một thời kì phát triển mới trong lịch sử Việt Nam; Chiếu Cần vươngnăm 1885 của vua Hàm Nghi và phe chủ chiến trong triều đình nhà Nguyễn doTôn Thất Thuyết cầm đầu kêu gọi nhân dân nổi dậy chống Pháp

Trải dài thời kì Trung đại, thời đại nào cũng có các văn bản chiếu SongNguyễn là thời kì có số lượng văn bản chiếu nhiều nhất Điều đó hoàn toàn có thểgiải thích được bởi lí do khách quan về thời gian, khí hậu, chiến tranh cũng như vì

ý thức của con người mà số lượng chiếu của các thời Lý, Trần, Lê đã bị mai mộtnhiều

Khi chế độ phong kiến Việt Nam được hình thành thì các văn bản chiếu cũnglập tức được lựa chọn và sử dụng Hiện nay văn bản chiếu sớm nhất được xác định

là Thiên đô chiếu của Lý Công Uẩn sáng tác vào năm 1010 và bản chiếu cuối cùng

là Thoái vị chiếu của vua Bảo Đại (tháng 8 năm 1945) Văn bản chiếu sau cùngnày cũng đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn vai trò của văn bản chiếu trong chế độphong kiến Việt Nam đã tồn tại lâu đời

Bảng thống kê số lượng Chiếu các thời trong lịch sử Việt Nam

(Qua một số nguồn tư liệu)

Trang 6

Lý Trần Lê Nguyễn

Khi chế độ phong kiến Việt Nam được hình thành thì các văn bản chiếu cũnglập tức được lựa chọn và sử dụng Hiện nay văn bản chiếu sớm nhất được xác định

là Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn sáng tác vào năm 1010 và bản chiếu cuối cùng

là Thoái vị chiếu của vua Bảo Đại (tháng 8 năm 1945) Văn bản chiếu sau cùngnày cũng đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn vai trò của văn bản chiếu trong chế độphong kiến Việt Nam đã tồn tại lâu đời

2.3 Thể chiếu trong Văn học Trung đại Việt Nam

Chiếu không chỉ đơn thuần thuộc phạm vi của văn bản hành chính của thời kìTrung đại mà còn là một thể loại có nhiều đóng góp cho nền Văn học mỗi nướctrong thời kì này Đó là một thể loại văn học có chức năng cao, phục vụ cho việcgiao tiếp có tính quan phương Tùy vào mỗi triều đại,thời kì cụ thể mà văn bảnChiếu có những đặc điểm riêng phù hợp với từng triều đại, từng thời kì đó Nhưng

về cơ bản, đặc trưng của thể loại này , xét về nội dung là mệnh lệnh của vua chúađối với thần dân; xét về hình thức thì đó là sự vận động phổ biến các cách diễn đạtcủa văn xuôi cổ thể, của biền văn, tản văn, và cả vận văn nữa, trong đó phổ biếnnhất là hình thức biền văn Từ ngữ được sử dụng trong văn chiếu cũng rất đa dạng,phong phú Điều này nhằm phù hợp với mục đích sử dụng của văn chiếu: vừa đảmbảo tính bác học vừa đảm bảo tính phổ cập, vì phải để mọi tầng lớp nhân dân đều

có thể hiểu được

Trong lịch sử Việt Nam, các đạo chiếu đầu tiên được ghi lại trong biên niên sử

từ thời Tiền Lê (năm 1000) Các đạo chiếu nổi tiếng của các triều đại phong kiếnViệt Nam có thể nói đến như: Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn)năm 1010 quyết định việc dời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, mở ra một thời kìphát triển mới trong lịch sử Việt Nam; Chiếu Cần vương năm 1885 của vua HàmNghi và phe chủ chiến trong triều đình nhà Nguyễn do Tôn Thất Thuyết cầm đầukêu gọi nhân dân nổi dậy chống Pháp

Chiếu còn gọi là “chiếu thư”, “chiếu chí” Đó là văn cáo mà Thiên tử hạ đạtmệnh lệnh xuống cho thần thuộc Có các loại chiếu như tức vị chiếu, di chiếu, ai

Trang 7

chiếu, phục chiếu, mật chiếu, thủ chiếu, khẩu chiếu Thái Ung đời Đông Hán nói:Thiên tử nhà Hán đặt hiệu là Hoàng đế, lời của Hoàng đế thì gọi là chế, chiếu.Nhiệm Phường thời nhà Lương, Nam Triều cho biết chiếu bắt đầu có từ thời nhàTrần Trước đó lời của vua gọi là Cáo, thệ, mệnh, đến đời nhà Tần đổi thành chiếu.Vương Triệu Phương nhà Thanh giải thích: Chiếu chính là Cáo, cáo về việc nào

đó Vua dùng chiếu để cáo với thiên hạ, ý cũng như mệnh lệnh Chỉ có đời Đường

do Vũ hậu có tên là chiếu, cho nên kị húy mà đổi chiếu ra chế Từ đời TrungĐường mới gọi là chiếu trở lại

Nói chung trong các sách thể loại văn học, chiếu với tư cách là văn thư quanphương không thấy bàn sâu Tuy vậy sách Văn tuyển và sách Cổ văn quan chỉtuyển một số bài chiếu thể hiện tư tưởng lớn trong việc trị nước đáng làm mẫu mựccho các Hoàng đế đời sau Đó là Cao đế cầu hiền chiếu, Văn đế nghị tá bách tínhchiếu, Cảnh đế lệnh nhị thiên thạch tư chức chiếu, Vũ đế cầu mậu tài dị đẳngchiếu Bức thứ nhất Hán Cao Tổ Lưu Bang cầu hiền tài để giữ nghiệp đế dài lâu,bức thứ hai của Văn đế Lưu Hằng đề nghị các quan đại thần nghĩ cách giúp đỡtrăm họ, bức thư thứ ba của Cảnh đế Lưu Khải lệnh cho các trưởng lại hai nghìnthạch phải thực hành đúng chức trách và trị tội những tham quan ô lại Bức thứ tư

Vũ đế Lưu Triệt cầu những người tài xuất chúng để lập những chiến công lừng lẫy

Có lẽ đức lớn của đế vương là cầu hiền, thương dân, trị tham quan ô lại, chăm lochọn người lập công Các bài chiếu trên lý lẽ xác đáng, lời văn sáng sủa, gẫy gọn,mạnh mẽ, được coi là chuẩn mực

Với tính chất là những văn kiện tương tự như thế mà các bài chiếu đời Lý, đời

Lê được trân trọng lưu truyền Lý Thái Tổ dời dô, tìm nơi gây dựng đế đô muônđời Lý Nhân Tông truyền di chiếu tỏ lòng khiêm nhường, thương dân, bình thảnnhìn cái chết một cách sáng suốt, cao thượng Lê Thái Tổ hiểu dụ hào kiệt dốclòng cứu nước Bình Ngô Đại Cáo tuyên bố chiến thắng vẻ vang Lê Thái Tổ kêugọi tiến cử hiền tài Mỗi bài chiếu phải thể hiện một tư tưởng chính trị lớn lao cóảnh hưởnglaau dài đến vận mệnh đất nước

Với tư cách là những văn kiện chính trị, chiếu trước hết là thể văn nghị luận,trong đó không phải chỉ có lý lẽ, mà phải thể hiện hình ảnh vị thiên tử có tầm nhìn

xa trông rộng, tâm hồn cao cả

2.4 Chiếu trong đời sống hiện đại

Xuất hiện và phát triển trong chế độ phong kiến, chiếu là một loại hình văn bảnhành chính có vai trò rất lớn Ở mọi triều đại, trong mọi thời kì, chiếu luôn đượccoi là một trong những loại hình văn bản hành chính quan phương nhất, bởi nó trực

Trang 8

tiếp thể hiện những mệnh lệnh, những ý kiến, những suy nghĩ của nhà vua và đượcban bố rộng rãi cho quần thần và dân chúng Nhưng mặt khác đây cũng là một thểloại văn học quan trọng ra đời từ thời cổ Ở Việt Nam, chiếu cũng xuất hiện tươngđối sớm và được ghi chép lại khá nhiểu trong sử sách Đặc biệt là hai bộ sử lớn củaViệt Nam là Đại Việt sử kí toàn thư và Đại Nam thực lục do Quốc sử triều Nguyễnsoạn Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu và hệthống các văn bản chiếu chiếu của Việt Nam.Hiện nay chiếu vẫn còn được lưu giữmột số tác phẩm qua các thời Tuy nhiên trong cuộc sống hiện nay đã có nhiều sựthay đổi mới , đất nước càng phát triển , khoa học có những phát minh mới thì việc

sử dụng chiếu như xưa không còn phổ biếnThay vào đó họ lại sử dụng các phầnmềm công nghệ thông tin để phục vụ cho việc truyền tải vấn đề chính trị trongnước cho người dân Việc này không mất quá nhiều thời gian công sức mà lại đưa

ra một văn bản rõ ràng sạch đẹp chính xác Vì vậy hiện nay chiếu không được sửdụng hầu như là không ,có thể coi đó là sự lãng quên hoặc nếu tồn tại thì còn sótlại trong một số tác phẩm như Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn được viết vào nămCanh Tuất (1010), muốn dời đô từ Hoa Lư nhỏ hẹp đến Đại La rộng, thuận tiệncho việc mở mang và củng cố, bảo vệ đất nước.Hiện nay văn bản chiếu sớm nhấtđược xác định là Thiên đô chiếu của Lí Công Uẩn sáng tác vào năm 1010 và bảnchiếu cuối cùng là Thoái vị chiếu của vua Bảo Đại (tháng 8 năm 1945) Văn bảnchiếu sau cùng này cũng đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn vai trò của văn bản chiếutrong chế độ phong kiến Việt Nam đã tồn tại lâu đời

3 Đặc điểm của chiếu về hình thức

3.1 Bố cục của một bài chiếu

Về hình thức: như trên đã nói, một bài chiếu thông thường được chia làm 3phần: Mở đầu, nội dung và kết luận, trong đó phần mở đầu thường có: (trẫm duy)

“trẫm nghĩ” hay  (trẫm văn)“trẫm từng nghe” Cách mở đầu như vậy đã có từ rấtlâu ở Trung Quốc và Việt Nam ảnh hưởng từ bài chiếu của Hán Văn đế, Lí Nhân

Tông khi mở đầu cho bài Lâm chung di chiếu cũng bằng từ “trẫm văn” như vậy.

Bố cục các văn bản chiếu thời Nguyễn thường có ba phần hoàn chỉnh cùng vớivăn phong biền văn, dùng theo thể tứ lục, tạo nên sự nhịp nhàng, cân đối hài hòa,làm cho văn bản chiếu thời Nguyễn mang tính chất hành chính mà vẫn đi vào lòngngười Các văn bản chiếu thời Nguyễn không tránh khỏi những ảnh hưởng của vănphong chiếu Trung Quốc, đặc biệt là văn phong thời kì Đường Tống, nhưng lại cónhững biến đổi để phù hợp với Việt Nam và khẳng định một nền văn hóa độc lập

Trang 9

Trừ một số bài không có phần kết luận thì hầu hết đều có phần kết luận, bởi đây

là phần tóm tắt toàn bộ ý kiến hay đưa ra những suy nghĩ của nhà vua Trong cácchiếu bố cáo hay ban ơn, phần kết luận này đều được bắt đầu bằng hai chữ: (ô hô)

“than ôi” Đây là đặc điểm mà các văn bản chiếu Lý - Trần không có và rất ít xuấthiện trong chiếu thời Lê Cuối cùng các văn bản chiếu thời Nguyễn đa số được kếtthúc bẳng (hàm sử văn tri) “để mọi người cùng biết”

3.2 Phương thức trình bày văn bản chiếu

Với tư cách là văn kiện chính trị, chiếu trước hết là thể vắn nghị luận, trong đó

lí lẽ phải xác đáng, lời văn sáng sủa gẫy gọn, mạnh mẽ, được coi là mẫu mực Từ

đó thể hiện hình ảnh vị thiên tử có tầm nhìn xa rộng, tâm hồn cao cả

Tùy vào mỗi triều đại, mỗi thời kì cụ thể mà văn bản chiếu có những đặc điểm

riêng phù hợp với từng triều đại, mỗi thời kì cụ thể mà văn bản chiếu có những đặcđiểm riêng phù hợp với từng triều đại, từng thời kì đó Nhưng về cơ bản, đặc trưngcủa thể loại này về hình thức thì đó là sự vận dụng phổ biến các cách diễn đạt củavăn xuôi cổ thể, của biền văn, tản văn, và cả vận văn nữa, trong đó  phổ biến nhất

là hình thức biền văn

3.3 Ngôn từ sử dụng trong một bài chiếu

Từ ngữ được sử dụng trong văn chiếu cũng rất đa dạng, phong phú Điều nàynhằm phù hợp với mục đích sử dụng của văn chiếu: vừa đảm bảo tính bác học vừađảm bảo tính phổ cập, vì phải để mọi tầng lớp nhân dân đều có thể hiểu được Bên cạnh đó từ ngữ trong các bài chiếu được sử dụng hết sức linh hoạt với cácđiển tích, điển cố, khi sử dụng thì trực tiếp liệt kê, viện dẫn cụ thể vào việc muốnnói, giải thích rõ ràng vừa tạo nên tính uyên áo, lại dễ hiểu, gần gũi với người dân

4 Đặc điểm về nội dung và nghệ thuật qua các tác phẩm chiếu

4.1 Nội dung

Trong lịch sử Việt Nam đã có những tác phẩm thể hiện đúng tinh thần của thểchiếu, tiêu biểu có thể kể đến như “ Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, “ Chiếu cầnvương” của Tôn Thất Thuyết và “ Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm Với chứcnăng chính là công bố cho thần dân trong nước biết những chủ trương, chính sách,nhiệm vụ liên quan đến vận mệnh, tình hình Quốc gia Mỗi bản chiếu trên đều thểhiện những chính sách, nhiệm vụ cấp bách đồng thời cũng là tình hình chính trị,bối cảnh lịch sử của đất nước

Trang 10

Với bối cảnh lịch sử vào đầu những năm 1880 sự phân hóa trong nội bộ đìnhthần, quan lại triều đình nhà Nguyễn diễn ra sâu sắc, triều đình phân hóa thành haiphe rõ rệt Đứng đầu phe chủ chiến – phe không khuất phục thực dân Pháp là TônThất Thuyết Sau khi Pháp tấn công kinh thành Huế, Sáng mùng 5 tháng 7, TônThất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi cùng đoàn tùy tùng đời kinh đô Huế chạy rasơn phòng Tân Sở (Quảng Trị) Tại đây, ngày 13 tháng 7 năm 1885, Tôn ThấtThuyết, lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, đã hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất ChiếuCần Vương ᴄó táᴄ dụng kêu gọi toàn bộ nhân dân ᴄả nướᴄ đứng lên ᴄùng đoàn kết

để giúp ᴠua ᴄhống lại thựᴄ dân.Chính lời kêu gọi đó đã dẫn lên một phong tràoᴄhống Pháp mạnh mẽ khắp ᴄả nướᴄ Trong đó, ᴄó thể kể đến một ѕố ᴄuộᴄ khởinghĩa tiêu biểu như: Khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hóa) do Phạm Bành – Đinh CôngTráng lãnh đạo, khởi nghĩa Bãi Sậу (Hưng Yên) do Nguуễn Thiện Thuật lãnh đạo,khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) do Phan Đình Phùng lãnh đạo… Chiếu dời đôcủa Lý Công Uẩn lại được dùng để thông báo rộng rãi quyết định dời đô từ Hoa Lư

ra Đại La

Được gọi là văn cáo mà Thiên tử hạ đạt mệnh lệnh xuống cho thần thuộc, chiếuphải thể hiện một tư tưởng chính trị lớn lao ảnh hưởng tới vận mệnh đất nước, đòihỏi người viết phải có kiến thức uyên bác, thâm sâu ” là công văn nhà nước lệnhcho thần dân thực hiện nhưng rất khác với các bài chiếu thông thường, đối tượngthực sự trong “Chiếu cầu hiền” là các trí thức, các bậc hiền tài lương đống của dântộc Vì thế, ngay nhan đề bài đã toát ra cách nói khiêm tốn, thể hiện tình cảm thiếttha, thái độ chân thành cầu hiền đãi sĩ, một lòng vì dân vì nước của vua QuangTrung Có thể nói, “Chiếu cầu hiền” là một chiếu đặc biệt, thể hiện mong mỏi, ướcnguyện chứ không phải là lệnh Bài “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm khôngchỉ cho thấy tác giả uyên bác, cao tay trong sáng tạo văn bản nghị luận chính trị -

xã hội, trong việc phát ngôn đại diện cho vua Quang Trung chiêu hiền đãi sĩ màcòn khắc đậm lòng khao khát cầu hiền đãi sĩ của vị vua trẻ - “áo vải cờ đào” đạiphá quân Thanh

Là một thể văn nghị luận nhưng trong các bài chiếu, tác giẩ vẫn gửi gắm nhữngtâm tư, nỗi niềm canh cánh trong lòng, những lo toan về dân, về nước

“ Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”

Trang 11

Kia như, trời còn tăm tối, thì đấng quân tử phải trổ tài Nay đương ở buổi đầu của nền đại định, công việc vừa mới mở ra Kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết, công việc ngoài biên đương phải lo toan Dân còn nhọc mệt chưa lại sức mà đức hoá của trẫm chưa kịp nhuần thấm khắp nơi Trẫm nơm nớp lo lắng, ngày một ngày hai vạn việc nảy sinh Nghĩ cho kĩ thì thấy rằng: Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình Suy đi tính lại trong vòm trời này cứ cái ấp mười nhà ắt phải có người trung thành tín nghĩa Huống nay trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?”

Ngô Thì Nhậm thay lời nhà vua để bộc lộ những tâm tư sâu kín, đó là nỗi niềmcanh cánh chờ mong sự xuất hiện của hiền tài: “ghé chiếu lắng nghe”, “ngày đêmmong mỏi” rồi hai câu hỏi tu từ liên tiếp: “Hay trẫm ít đức không đáng để phò táchăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”- cho thấy sựday dứt, trăn trở khôn nguôi trong lòng vua Quang Trung lúc bấy giờ Giọng vănbình dị như một lời tâm tình làm gần hơn khoảng cách giữa vua với các hiền tài-“nguyên khí quốc gia” Chúng ta thấy thái độ khẩn khoản của vua Quang Trung,thấy đức vua là người rất coi trọng hiền tài Như vậy người hiền tài sẽ không lo sợ

bị che lấp tài năng hoặc tài năng bị quên lãng, bỏ rơi như thời buổi suy vi

Chiếu còn là thứ khiến người dân đặt lòng tin vào sự anh minh của những ngườiđứng đầu, làm chủ đất nước Những biện pháp sáng suốt, cấp thiết ngay tại nhữngthời điểm đất nước nhiều biến động đều được đề ra trong chiếu Ngô Thì Nhậm đãđánh tan những băn khoăn của nhiều hiền tài trong thiên hạ bằng cách giúp vuaQuang Trung mở ra hướng sử dụng người hiền tài một cách rõ ràng, rộng mở và độlượng với nhiều biện pháp cụ thể Đối với người có tài năng học thuật, mưu hayhơn đời, lời nói nào dùng được thì cất nhắc, không kể thứ bậc Đối với người cónghề hay nghiệp giỏi, cho phép quan văn, quan võ tiến cử, tuỳ tài sử dụng Đối vớinhững người tài năng còn bị che kín thì được dâng sớ tự tiến cử… Người hiền theoquan niệm của Quang Trung thật đa diện Quang Trung và triều đại mới không chỉhướng tới những người giỏi chữ nghĩa mà còn hướng tới những người có tay nghềcao Ngoài ra còn khuyến khích người tài tự tiến cử Quan điểm về người hiền tàicủa nhà vua thật tiến bộ, hiện đại, hợp lòng dân, tạo con đường rộng mở cho ngườitài ra phò vua trị nước Những lời kêu gọi cuối tác phẩm như một lời hiệu triệu

Ngày đăng: 09/04/2023, 12:38

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w