Vải là loại cây ăn quả thân gỗ vùng nhiệt đới, có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc; tại đó người ta gọi là lệ chi, phân bố trải dài về phía nam tới Indonesia và về phía đông tới Philippines (tại đây người ta gọi nó là alupag) và sau đó mới được du nhập vào Việt Nam. Trong những năm cuối thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20, cụ Hoàng Văn Thành (sinh năm 1848 tại Thanh Hà, Hải Dương) từng làm phu khuân vác ở cảng Hải Phòng. Thấy mấy người lái buôn Trung Quốc quê ở Thiều Châu ăn quả vải rồi vứt hạt đi, cụ Thành đã nhặt được 6 hạt, đem về quê ươm giống và mọc được 3 cây. Sau đó 2 cây chết chỉ còn 1 cây, và đó chính là cây vải thiều đầu tiên ở Việt Nam. Rồi từ đó các thế hệ sau chiết cành ra để trồng thêm, số cây vải và số vườn vải càng ngày càng tăng. Con cháu nhớ ơn cụ Thành nên đã xây dựng miếu thờ cụ bên cạnh cây vải tổ. Vì có nguồn gốc như thế nên giống vải ở Hải Dương có tên là vải thiều. Cây vải tổ hiện nay vẫn còn và đang thuộc quyền sở hữu của cụ Hoàng Văn Thụ (cháu nội cụ Thành), sinh năm 1930 ở thôn Thuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ngày nay, vải thiều được nhân giống sang một số nơi khác trên cả nước như Lục Ngạn Bắc Giang, Chí Linh Hải Dương và nhiều địa phương khác
Trang 1Chủ đề: Xuất khẩu vải thiều sang thị trường Nhật Bản
Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Thị Ngân Lớp tín chỉ: Chuyên đề cập nhật TMQT - 01 Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 4
STT MSV Họ và tên
1 11202841 Nguyễn Bích Ngọc
2 11206329 Hoàng Bích Ngọc
3 11206775 Trương Ngọc Sáng
4 11203602 Bùi Phương Thảo
5 11207561 Nguyễn Ngọc Uyên Phương
6 11202365 Trần Duy Long
7 11208182 Vũ Thị Quỳnh Trang
Hà Nội, 2023
Trang 2CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM VẢI THIỀU VÀ TIỀM NĂNG CỦA
1.3 Tình hình trồng và sản xuất vải thiều của Việt Nam 5 1.4 Tình hình xuất khẩu vải thiều của Việt Nam 7
2 Tiềm năng của thị trường Nhật Bản đối với vải thiều Việt Nam 9
2.2 Tình hình nhập khẩu vải tươi vào Nhật Bản 10
CHƯƠNG II: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU VẢI THIỀU SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN 13
1 Các nhân tố về phía thị trường xuất khẩu - Nhật Bản 13
2 Các nhân tố về phía nước xuất khẩu - Việt Nam 32
CHƯƠNG III: THIẾT KẾ NỘI DUNG CHI TIẾT NGHIÊN CỨU THỊ
2.2 Dung lượng thị trường vải tươi ở Nhật Bản năm 2021 56
3 Nghiên cứu hệ thống phân phối sản phẩm trên thị trường 56
Trang 35.1 Dự đoán về cung vải tươi 61
CHƯƠNG IV: PHƯƠNG THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN 64
CHƯƠNG V: ĐỀ XUẤT CHIẾN LƯỢC MARKETING MIX 4P 68
1.2 Chiến lược đa dạng hóa mẫu mã để thỏa mãn khách hàng nhiều hơn: 68 1.3 Chiến lược đánh bóng hình ảnh bằng cách tạo uy tín về chất lượng: 69
Trang 4CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM VẢI THIỀU VÀ TIỀM NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
1 Giới thiệu sản phẩm vải thiều Việt Nam
1.1 Nguồn gốc quả vải thiều Việt Nam
Vải là loại cây ăn quả thân gỗ vùng nhiệt đới, có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc; tại đó người ta gọi là lệ chi, phân bố trải dài về phía nam tới Indonesia và về phía đông tới Philippines (tại đây người ta gọi nó là alupag) và sau đó mới được du nhập vào Việt Nam
Trong những năm cuối thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20, cụ Hoàng Văn Thành (sinh năm
1848 tại Thanh Hà, Hải Dương) từng làm phu khuân vác ở cảng Hải Phòng Thấy mấy người lái buôn Trung Quốc quê ở Thiều Châu ăn quả vải rồi vứt hạt đi, cụ Thành đã nhặt được 6 hạt, đem về quê ươm giống và mọc được 3 cây Sau đó 2 cây chết chỉ còn
1 cây, và đó chính là cây vải thiều đầu tiên ở Việt Nam Rồi từ đó các thế hệ sau chiết cành ra để trồng thêm, số cây vải và số vườn vải càng ngày càng tăng Con cháu nhớ ơn
cụ Thành nên đã xây dựng miếu thờ cụ bên cạnh cây vải tổ Vì có nguồn gốc như thế nên giống vải ở Hải Dương có tên là vải thiều Cây vải tổ hiện nay vẫn còn và đang thuộc quyền sở hữu của cụ Hoàng Văn Thụ (cháu nội cụ Thành), sinh năm 1930 ở thôn Thuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Ngày nay, vải thiều được nhân giống sang một số nơi khác trên cả nước như Lục Ngạn Bắc Giang, Chí Linh Hải Dương và nhiều địa phương khác
Trang 5Hình ảnh cây vải tổ hơn 200 tuổi ở Hải Dương
1.2 Các giống vải thiều chính
1.2.1 Giống vải thiều Thanh Hà
Vải thiều Thanh Hà được nhân giống từ cây vải tổ ở thôn Thúy Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Đặc điểm về giống: Cây sinh trưởng tốt, tán hình bán cầu cân đối Quả hình cầu, khi chín có màu đỏ tươi, gai thưa, ngắn Trọng lượng quả trung bình 20,7g (45-55 quả/kg), tỷ lệ phần ăn được trung bình 75%, độ Brix 18-21%, thịt quả chắc, vị ngọt đậm, thơm Năng suất trung bình cây 8-10 tuổi đạt 55kg/cây (8-
10 tấn/ha) Đây là giống chính vụ, thời gian cho thu hoạch từ 5/6 đến 25/6
1.2.2 Vải thiều Lục Ngạn - Bắc Giang
Vải thiều Lục Ngạn vốn bắt nguồn từ giống vải ở Hải Dương nên có những điểm tương đồng với vải thiều Thanh Hà là đều có cùi dày, nhiều nước, hạt nhỏ và rất ngọt Bên cạnh đó, vải thiều Lục Ngạn cũng có những đặc điểm riêng như khi chín có màu đỏ tươi chứ không phải màu hồng nhạt như vải thiều Thanh Hà Vải thiều Lục Ngạn có kích thước to hơn vải thiều Thanh Hà Một đặc điểm khác để phân biệt 2 loại vải này đó là vải thiều Lục Ngạn có lớp màng mỏng màu nâu giữa phần cùi và phần hạt trong khi vải thiều Thanh Hà không có
1.3 Tình hình trồng và sản xuất vải thiều của Việt Nam
Ngày 16/6/2022, tại TP Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức diễn đàn “Vải thiều Việt Nam vươn ra thế giới” của Bộ Công Thương Theo báo cáo thống kê cung cấp tại diễn đàn cho thấy năm 2022, vải thiều Việt Nam được mùa với sản lượng khoảng 340.000 tấn Tại vùng vải thiều lớn nhất cả nước Bắc Giang, diện tích trồng vải ước tính là 28.300 ha với sản lượng vải thiều dự kiến khoảng 180.000 tấn Tỉnh Hải Dương có khoảng 9.000 ha vải thiều, sản lượng thu hoạch dự
Trang 6kiến đạt 60.000 tấn Trong đó 100% diện tích trồng vải được hai tỉnh này định hướng theo quy trình sản xuất sạch an toàn
Chia sẻ tại Diễn đàn “Vải thiều Việt Nam vươn ra thế giới" do Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với UBND tỉnh Bắc Giang, Hải Dương tổ chức ngày 16/6/2022 tại Hà Nội, ông Phạm Văn Dũng, Chủ nhiệm HTX Nông nghiệp Hồng Xuân (Bắc Giang) cho biết, để sản phẩm vải thiều đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính cần có quy trình chăm sóc kĩ lưỡng, môi trường trồng vải phải đảm bảo, nhất là việc sử dụng các loại
thuốc bảo vệ thực vật theo phương pháp “4 đúng”: Đúng thuốc, đúng nồng độ, đúng liều lượng và đúng quy trình Theo chia sẻ của ông Dũng, với quy trình canh tác theo
Trang 7tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP cùng sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng đã giúp giá thành vải thiều tăng cao hơn trước từ 15%-20% khiến người trồng vải thấy hài lòng
1.4 Tình hình xuất khẩu vải thiều của Việt Nam
1.4.1 Về kim ngạch xuất khẩu
Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu quả vải và các sản phẩm chế biến từ quả vải của Việt Nam đạt 49,22 triệu USD, tăng hơn 2 lần so với 11 tháng năm 2017
Trong đó, chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu là quả vải với kim ngạch đạt 44,32 triệu USD, tăng 126,6% so với 11 tháng năm 2017
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chế biến từ quả vải cũng tăng mạnh 72,4% so với 11 tháng năm 2017, đạt 4,9 triệu USD
Kim ngạch xuất khẩu vải của Việt Nam trong 11 tháng năm 2018
(Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan)
Kim ngạch xuất khẩu quả vải và các sản phẩm chế biến từ quả vải sang một số thị trường cũng tăng mạnh như: Hà Lan tăng 1.591%, Hàn Quốc tăng 528,9%, Pháp tăng 304,9% Đặc biệt, Việt Nam đã xuất khẩu được một lượng khá lớn quả vải sang thị trường mới
là Papua New Guinea, đạt 7,65 triệu USD, đây là thị trường xuất khẩu quả vải và các sản phẩm từ quả vải lớn thứ hai của Việt Nam trong 11 tháng năm 2018
1.4.2 Về thị trường xuất khẩu
Trong 11 tháng năm 2018, quả vải và các sản phẩm chế biến từ quả vải được xuất khẩu sang 63 thị trường trên thế giới
Trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu quả vải và các sản phẩm từ quả vải của Việt Nam, đạt kim ngạch 34,29 triệu USD, tăng 83,3% so với 11 tháng năm 2017 Thị trường này chiếm tới 69,7% tổng kim ngạch xuất khẩu quả vải và các sản phẩm chế biến từ quả vải của Việt Nam, tuy nhiên con số này đã giảm đáng kể so với mức tỷ trọng 83,5% của 11 tháng năm 2017 Việt Nam xuất khẩu vải sang thị trường Trung Quốc gần như toàn bộ là dưới dạng quả
Trang 8Tại Bắc Giang: Theo Sở Công Thương tỉnh Bắc Giang, vải thiều Bắc Giang đã được xuất khẩu sang trên 30 quốc gia và vùng lãnh thổ trong năm 2018, cụ thể như: sang một
số nước EU (Pháp, Đức, Hà Lan…), Trung Đông, Nga, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Australia, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc … với tổng sản lượng vải tươi xuất khẩu đạt 97.100 tấn (chiếm 45% so với tổng sản lượng tiêu thụ), tổng giá trị xuất khẩu ước đạt là 170,5 triệu USD
Tỉnh Hải Dương: Theo Sở Công Thương tỉnh Hải Dương, năm 2018, sản lượng vải quả xuất khẩu của tỉnh Hải Dương đạt khoảng 21.000 tấn, chiếm gần 40% sản lượng toàn tỉnh, tăng 2,16 lần so với năm 2017 (năm 2017 xuất khẩu đạt khoảng 9.735 tấn) Không chỉ xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc với sản lượng đạt gần 20.000 tấn, năm nay, thị trường xuất khẩu đã được mở rộng sang nhiều thị trường mới và đòi hỏi yêu cầu cao
về vệ sinh an toàn thực phẩm như Hàn Quốc: 650 tấn; Nhật Bản: 300 tấn; xuất khẩu sang Australia, Anh, Pháp, Đức, Thụy Điển: 50 tấn, Thái Lan: 50 tấn…
Thị trường xuất khẩu vải và sản phẩm từ vải của Việt Nam trong 11 tháng
11T/2018 so với 11T/2017 (%)
Tỷ trọng
11 T/2018 (%)
Tỷ trọng
11 T/2017 (%)
Trang 9(Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan)
2 Tiềm năng của thị trường Nhật Bản đối với vải thiều Việt Nam
2.1 Tình hình sản xuất quả vải ở Nhật Bản
Vốn là loại trái cây thích hợp thổ nhưỡng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, quả vải rất khó trồng ở Nhật Bản Chỉ có rất ít địa phương có khí hậu phù hợp với việc trồng vải Theo Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản năm 2018, Sản lượng quả vải trồng ở Nhật Bản chỉ chiếm khoảng 5% thị phần tiêu thụ tại Nhật và chỉ có thể thu hoạch trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 7 Chính vì sản lượng thấp và khan hiếm như vậy, quả vải nội địa được bán như là một mặt hàng cao cấp, đặc biệt là quả vải trồng ở tỉnh Miyazaki Quả vải ở đây có thể được bán trực tiếp từ người nông dân đến người tiêu dùng
Trang 10Shintomi là một thị trấn nhỏ với khoảng 17.000 dân thuộc tỉnh Miyazaki năm trên đảo Kyushu phía Nam Nhật Bản Đây là nơi người nông dân bắt đầu thử nghiệm việc trồng vải trong nước từ năm 2005 với một chuỗi những khó khăn và thất bại Phải đến hơn 10 năm sau kể từ ngày bắt đầu thử nghiệm, những mong ước của người nông dân mới thành hiện thực khi trái vải kích thước lớn, mọng nước, hàm lượng đường cao đã ra đời Những trái vải ở Shintomi có màu đỏ bắt mắt, mùi thơm đặc trưng và cùi dày mọng Lượng đường của mỗi trái vải đạt trung bình 15 độ, có trái lên tới 18 độ và đặc biệt thơm ngon Mỗi trái vải Shintomi được bán với giá khoảng 1000 Yên/trái (hơn 200 nghìn đồng) Giá trị trái vải Nhật Bản được đánh giá cao, trở thành nguyên liệu cho những cửa hàng
đồ ngọt/cafe cao cấp, là nguyên liệu làm các loại kem, nước đá vải, trà vải thiều, bia vải thiều… mang lại sự hấp dẫn cho thực khách trong nước và khách du lịch đến Nhật Bản
2.2 Tình hình nhập khẩu vải tươi vào Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường có tiêu chuẩn cao về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, dư lượng chất bảo vệ thực vật phải đảm bảo đúng quy định Mặc dù sản lượng quả vải nội địa còn rất thấp và Nhật Bản phải nhập khẩu quả vải tươi từ nước ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước, tuy nhiên Nhật Bản chỉ cho phép nhập khẩu những sản phẩm đạt được các tiêu chuẩn đặt ra
Trang 11Từ trước đến nay Nhật Bản chủ yếu nhập khẩu quả vải tươi từ Đài Loan và Trung Quốc Cho đến năm 2016, Trung Quốc luôn là nước xuất khẩu vải tươi lớn nhất sang Nhật Bản Tuy nhiên trong giai đoạn 2017-2018, Trung Quốc mất vị trí số 1 nhưng đã trở lại
vị trí dẫn đầu xuất khẩu quả vải sang Nhật vào năm 2019 với sản lượng 102 tấn, tiếp sau là Đài Loan (khoảng 100 tấn), Mexico (hơn 6 tấn), Honduras (gần 3 tấn) và Hoa Kỳ (gần 1 tấn)
2.3 Tiềm năng của thị trường Nhật Bản
Nhật Bản luôn được xem là một trong thị trường xuất khẩu nông sản hàng đầu của Việt Nam Trong những năm gần đây, chúng ta đã lần lượt thành công xuất khẩu những sản
phẩm như chuối, sầu riêng, thanh long,… sang thị trường này Nhu cầu của thị trường Nhật Bản luôn cao và giá trị của sản phẩm xuất khẩu ở đây cũng rất hấp dẫn
Trang 12Tại Nhật Bản, các nhà khoa học phân tích thành phần chất hoá học thì quả vải có hàm lượng các chất hoá học, vi lượng vitamin còn cao hơn quả nho Quả vải được Hiệp hội
nhập khẩu hoa quả của Nhật Bản được giới thiệu như là một loại quả có giá trị Quả vải được du nhập vào đảo Oshima Nhật Bản từ năm 1720, đến cuối thời kỳ Edo quả vải được đưa đến Kagoshima
Người Nhật Bản rất thích ăn những loại trái cây như vải thiều Tuy nhiên sản lượng vải sản xuất hàng năm của nước này chỉ đạt 5% so với nhu cầu tiêu thụ Lý do là bởi vì
điều kiện khí hậu tại quốc gia ôn đới này không phù hợp để trồng vải Hầu hết vải có mặt trên thị trường Nhật Bản đều được nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam,… Chính vì thế Người Nhật Bản rất thích ăn những loại trái cây như vải thiều Năm 2020 đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu vải thiều tươi sang thị trường Nhật Bản Sau đó chúng ta nhanh chóng chiếm hơn 10% thị trường tiêu thụ vải của nước này Với việc xuất phát ở vị trí thứ 3 đã đủ để cho thấy tiềm năng của việc xuất khẩu vải sang Nhật Bản là rất lớn - Theo số liệu của Hải quan Nhật Bản Trong năm tiếp theo chúng
ta đang tiếp tục thăm dò phản ứng thị trường và kỳ vọng sẽ gia tăng mạnh thị phần trong thời gian tới
Nhật Bản từ trước đến nay luôn nổi tiếng là một thị trường có các tiêu chuẩn nhập khẩu nghiêm ngặt, đồng thời người tiêu dùng đòi hỏi rất cao về chất lượng sản phẩm thực phẩm, đặc biệt là đối với các sản phẩm nhập khẩu Quả vải thiều Việt Nam đã trải qua hơn 5 năm đàm phán, nỗ lực đáp ứng các quy định khắt khe mới có thể được cho phép nhập khẩu vào Nhật Bản Do vậy, trước tiên phía Việt Nam cần phải duy trì chất lượng quả vải sạch, đảm bảo giá thu mua, giá bán và giá xuất khẩu ổn định, đồng thời tích cực củng cố và đẩy mạnh nâng cao hình ảnh, thương hiệu hàng Việt Nam tại thị trường khó tính bậc nhất thế giới này, có như vậy mới có thể đẩy mạnh xuất khẩu quả vải thiều sang Nhật Bản
Trang 13CHƯƠNG II: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU VẢI THIỀU SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
1 Các nhân tố về phía thị trường xuất khẩu - Nhật Bản
1.1 Môi trường luật pháp và chính trị
a) FTAs và các ưu đãi về thuế quan
Doanh nghiệp Việt đang có nhiều lợi thế về tận dụng ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu sang Nhật nhờ 4 hiệp định thương mại tự do (FTA) với Nhật Bản đang được thực thi
Cụ thể, Việt Nam và Nhật Bản đang là thành viên của 4 FTA song phương, đa phương thế hệ mới, bao gồm: Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và gần nhất là Hiệp định Đối tác Kinh
tế Toàn diện Khu vực (RCEP) Theo đó, các sản phẩm nông sản của Việt Nam sẽ được cắt giảm thuế quan theo lộ trình khi vào thị trường Nhật Bản Với những cam kết trong mỗi FTA, tùy từng mặt hàng mà doanh nghiệp có thể lựa chọn FTA nào để thủ tục cấp C/O thuận lợi, mà vẫn nhận được ưu đãi thuế quan
➔ Điều này tạo rất nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu vải thiều, đặc biệt khi đây là mặt hàng không mang tính cạnh tranh mà bổ sung cho thị trường nông sản Nhật Bản
b) Các biện pháp phi thuế
Nhật Bản được biết đến là một trong những quốc gia có tiêu chuẩn chất lượng với hàng nhập khẩu khắt khe nhất thế giới Các tiêu chuẩn của Nhật Bản hầu như tương đương, thậm chí cao hơn cả những tiêu chuẩn quốc tế thông thường Đối với vải thiều là mặt hàng thực phẩm, trái cây tươi thuộc nhóm hàng nông, lâm, thủy sản phải đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật, và đòi hỏi phải được sản xuất, nuôi trồng theo các tiêu chuẩn GAP (VietGAP, GlobalGAP), HACCP hay Organic JAS – Tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ Nhật…
Trang 14
Các lô hàng vi phạm quy định về chất lượng sẽ bị tiêu hủy hoặc trả lại, đồng thời hải quan Nhật Bản sẽ tăng cường tần suất và mức độ kiểm tra hàng hóa trong những lần sau, có thể gây ra nhiều phiền phức và làm tăng chi phí cho doanh nghiệp xuất khẩu Bên cạnh đó, có đến 7 bộ luật chính quy định các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm tại Nhật Bản bao gồm:
- Luật cơ bản về an toàn thực phẩm: đặt ra các nguyên tắc xây dựng khuôn khổ
về an toàn thực phẩm và vai trò của Ủy ban an toàn thực phẩm quốc gia (FSC) – cơ quan đánh giá về các rủi ro liên quan đến thực phẩm
- Luật vệ sinh thực phẩm: thuộc quyền hạn của Bộ Y tế, Lao động và An sinh
(MHLW) – cơ quan quản lý các rủi ro về thực phẩm liên quan vệ sinh và an toàn của thực phẩm, nước giải khát Cơ quan này định ra các quy chuẩn và quy định đối với thực phẩm, nước giải khát, dụng cụ chế biến và vật dụng đựng thực phẩm hay bao bì đóng gói, chất phụ gia, chất gây ngộ độc và dư lượng hóa chất nông nghiệp và nghiêm cấm việc mua bán, nhập khẩu các loại thực phẩm có chất gây hại
- Luật khuyến khích bảo vệ sức khỏe: cũng thuộc thẩm quyền của MHLW, đưa
ra các hướng dẫn và biện pháp thực hiện để nâng cao sức khỏe toàn dân Một trong các biện pháp là tăng cường việc quản lý dinh dưỡng thực phẩm, với hệ thống đánh giá và dán nhãn hiệu “thực phẩm dành cho chế độ ăn đặc biệt” cho những nhóm khác nhau như trẻ sơ sinh, trẻ em, phụ nữ có thai, người đang bệnh…
- Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản: thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông
lâm ngư nghiệp (MAFF) với hệ thống bảo đảm chất lượng cho các mặt hàng thực phẩm và đồ uống (trừ rượu ra) và sản phẩm lâm nghiệp Các bộ tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản (JAS) hay thực phẩm hữu cơ Nhật Bản (JAS Organic) do Bộ này xây dựng
- Luật bảo vệ cây trồng và Luật kiểm soát bệnh truyền nhiễm trên động vật trong nước: đều thuộc thẩm quyền của MAFF Đây là cơ quan bảo vệ và ngăn
ngừa bệnh tật ở động thực vật trong nước và nhập khẩu
- Luật nhãn hiệu thực phẩm: Cơ quan các vấn đề người tiêu dùng định ra các
tiêu chuẩn về nhãn hiệu như quốc gia xuất xứ, chất gây dị ứng, ngày hết hạn, thực phẩm chức năng
➔ Bộ luật này áp dụng cho tất cả các loại thực phẩm, bao gồm cả thực phẩm nhập khẩu Thực phẩm nhập khẩu nếu như không đáp ứng được các yêu cầu này sẽ không được phép nhập khẩu Có thể thấy để xuất khẩu hàng hóa thuộc lĩnh vực thực phẩm như
Trang 15vải thiều vào Nhật Bản, cần trải qua những yêu cầu rất khắt khe và kỹ lưỡng, đòi hỏi sản phẩm phải đạt được những quy chuẩn nhất định
c) Các quy định cụ thể đối với mặt hàng vải thiều nhập khẩu
● Quy định về kiểm dịch thực vật
Ngày 15/12/2019, sau hơn 5 năm đàm phán giữa hai bên, Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản gửi thư cho Cục BVTV thông báo chính thức mở cửa cho quả vải thiều Việt Nam xuất khẩu trực tiếp sang Nhật Bản kèm theo quy định về kiểm dịch thực vật nhập khẩu đối với vải thiều Việt Nam
Cụ thể, Bộ Nông lâm Ngư nghiệp Nhật Bản yêu cầu:
- Quả vải thiều tươi xuất khẩu vào Nhật Bản phải được trồng tại các vườn được Cục Bảo vệ thực vật kiểm tra, giám sát và cấp mã số vùng trồng, đáp ứng quy định về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm của Nhật Bản
- Lô quả vải xuất khẩu phải được đóng gói và xử lý xông hơi khử trùng bằng methyl bromide tại các cơ sở được Cục Bảo vệ thực vật và Bộ Nông lâm Ngư nghiệp Nhật Bản công nhận với liều lượng tối thiểu là 32g/m3 trong thời gian 2 giờ, dưới sự giám sát của cán bộ kiểm dịch thực vật Việt Nam và Nhật Bản
- Bên cạnh đó, các lô quả vải thiều xuất khẩu phải kèm theo giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật do Cục Bảo vệ thực vật cấp
● Quy định MRL (giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật)
Hệ thống các quy định giới hạn dư lượng tối đa (Maximum Residue Level - viết tắt là MRL) của Nhật Bản có hiệu lực vào 05/2006 quy định giới hạn dư lượng tối đa đối với hóa chất nông nghiệp, thuốc thú y và phụ gia thức ăn được sử dụng trong nước và quốc
tế Khi các doanh nghiệp xuất khẩu vi phạm một quy định duy nhất của MRL thì sẽ bị dừng nhập khẩu và bị kiểm tra 50% các sản phẩm này và các sản phẩm liên quan nhập khẩu từ nước vi phạm
➔ Cụ thể, đối với mặt hàng vải thiều: trên các vườn trồng vải xuất khẩu sang Nhật Bản, tuyệt đối không được sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục cấm sử dụng và tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: dùng đúng thuốc - dùng đúng lúc - dùng đúng liều lượng và nồng độ - dùng đúng cách để đảm bảo đáp ứng quy định của Nhật Bản
về mức dư lượng tối đa cho phép đối với quả vải tươi xuất khẩu (Phụ lục I kèm theo
- Cẩm nang hướng dẫn xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản cho quả vải)
➔ Cần phải đặc biệt lưu ý về quy định này, bởi vì bất cứ lô vải thiều tươi nào có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá mức quy định của Nhật Bản đều sẽ bị trả lại hoặc bị tiêu hủy cho dù lô hàng này đã được xử lý xông hơi khử trùng
Trang 16● Quy định đóng gói, bao bì
Sau những bước chọn lọc khắt khe về ngoại hình và chất lượng, quả vải sẽ được đóng gói bao bì với quy chuẩn nhất định Việc đóng gói kịp thời và chuẩn xác sẽ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc duy trì, bảo quản chất lượng vải trong toàn bộ quá trình vận chuyển Những tiêu chí được áp dụng với việc lựa chọn bao bì đóng gói của vải thiều như sau:
- Quả vải sẽ được đóng vào túi chất dẻo, có dung lượng từ 1 đến 2kg quả
- Các túi chất dẻo chứa quả vải sẽ được đặt trong thùng carton có đục lỗ, có vách ngăn Quy cách về hộp carton cho phép thỏa thuận trong hợp đồng mua bán sản phẩm Trường hợp xuất khẩu sang Nhật Bản, người ta đóng vào thùng carton với khối lượng từ 5 – 18kg Đây là quy định của Cục Bảo vệ thực vật và Nhật Bản đối với vải thiều nhập khẩu
- Các thùng đóng gói phải có nhãn mác được ghi đầy đủ thông tin theo yêu cầu
● Quy định chiếu xạ trước khi xuất khẩu
- Một trong những biện pháp kiểm soát dịch bệnh khi nhập khẩu vào các thị trường khó tính là xử lý chiếu xạ
- Quy trình chiếu xạ thực hiện như sau: Một hộp đựng các vật phẩm cần chiếu xạ (hoa quả, thực phẩm hay các vật liệu cần nghiên cứu khác) được kéo qua một buồng chiếu xạ bằng băng chuyền Tùy theo loại vật phẩm và mục đích chiếu xạ, liều chiếu hay thời gian chiếu được xác định trước, đồng thời được đo bởi các liều kế gắn với các hộp chứa vật phẩm Như vậy, các vật phẩm không hề tiếp xúc với chất phóng xạ, chỉ được lướt qua chùm tia phóng xạ tương tự đi qua một luồng ánh sáng rộng trong một khoảng thời gian định trước
Trang 17- Nếu biện pháp đông lạnh chỉ có khả năng ức chế sự phát triển của vi sinh vật thì chiếu xạ gây tổn thương tính di truyền (phân tử AND) làm mất khả năng sinh sản của vi sinh vật Như vậy, sau khi chiếu xạ, các vi sinh vật gây bệnh cho người và các vi sinh vật gây hại cho thực phẩm bị bất hoạt, điều này có nghĩa là chiếu xạ giúp kéo dài thời gian bảo quản thực phẩm Cũng cần bổ sung thêm, quá trình tương tác giữa bức xạ và thực phẩm chỉ tạo ra một lượng nhiệt không đáng kể nên chiếu xạ diệt được vi khuẩn nhưng không làm chín, không làm mất các chất dinh dưỡng và không làm biến dạng bao gói thực phẩm bằng plastic tạo thuận lợi cho khâu lưu trữ, phân phối, xuất khẩu thực phẩm tới các thị trường xa, trái thời vụ
➔ Như vậy chiếu xạ thực phẩm được xem là công nghệ lành, vì vậy nhiều nước trong
đó có Nhật Bản yêu cầu các loại sản phẩm hoa quả nhập khẩu phải được kiểm dịch bằng bức xạ
➔ Vải xuất khẩu đi phải được xử lý tại các cơ sở chiếu xạ đã được Cục Bảo vệ thực vật công nhận, theo liều lượng quy định là 400gr/ 1kg dưới sự giám sát của cán bộ kiểm dịch thực vật của Việt Nam Mỗi lô vải được chiếu xạ trong khoảng một giờ đồng hồ, trước khi dán nhãn niêm phong, chuyển tới kho lạnh chờ xuất khẩu
Theo quy trình, sau khi được đóng gói tại cơ sở được Cục bảo vệ thực vật cấp mã số, vải
sẽ được đưa đến Trung tâm chiếu xạ, tập kết trong kho lạnh Cán bộ kiểm dịch sẽ sử
Trang 18dụng kính lúp và kính hiển vi để quan sát hình thức một số mẫu được lấy ngẫu nhiên
Các lô vải sau đó được đưa vào kho lạnh đầu vào để chờ chiếu xạ
Trang 19Từng hộp vải nhỏ sẽ được xếp vào thùng, chờ xe chuyên dụng đưa lên giá treo
Mỗi chiếc giá treo có thể chịu tải trọng vài chục kg, khi chất đầy sẽ tự động di
chuyển theo băng chuyền vào trung tâm chiếu xạ
Trang 20Khu vực chưa chiếu xạ và đã chiếu xạ được phân định rõ bằng hàng rào, mỗi lô vải
đưa vào chiếu xạ liên tục trong thời gian hơn 1h đồng hồ
Nhờ chiếu xạ mà tất cả côn trùng và trứng côn trùng bám trên hoa quả sẽ bị bất dục (không có khả năng sinh sản và nảy nở) khi sang nước nhập khẩu, song vẫn đảm bảo
an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng
Trang 21Lô vải sau đó sẽ được đưa ra ngoài để dán nhãn hoàn thành quy trình chiếu xạ
Sau khi hoàn thiện tất cả công đoạn, các thùng vải sẽ được dán tem niêm phong, đưa vào phòng lạnh 2-4 độ C để kiểm soát hoàn toàn các loại côn trùng gây hại, giúp kéo dài thời gian bảo quản (đến 20 ngày) trong khi chờ lên đường xuất khẩu
1.2 Môi trường kinh tế
Theo số liệu thống kê, Nhật Bản là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 3 toàn cầu vào năm
2020, với tổng sản phẩm nội địa (GDP) là 4.94 nghìn tỷ USD vào năm 2021 (WorldBank, 2021), cũng như xếp vị trí thứ 3 theo sức mua tương đương (sau Hoa Kỳ
và Trung Quốc); về xuất khẩu đạt vị trí thứ 4 và thứ 6 về nhập khẩu Hơn nữa, Nhật Bản còn xếp thứ 29 về chỉ số thuận lợi kinh doanh và thứ 5 chỉ số cạnh tranh toàn cầu
Trang 23Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến nhập khẩu vải thiều:
Nguồn: XE Currency Charts
Theo biểu đồ, có thể thấy đồng yên của Nhật Bản liên tục mất giá từ năm 2021 cho đến nay, bất chấp động thái của Bộ Tài chính Nhật Bản can thiệp vào thị trường tiền tệ để chặn đà trượt giá của nội tệ vào cuối năm 2022 Tính đến 9/3/2023, tỷ giá đồng yên Nhật
đã vượt ngưỡng 137 yên đổi 1 USD Chính phủ Nhật Bản đã lựa chọn hành động vì đồng Yên giảm giá đồng nghĩa với việc chi phí nhập khẩu các mặt hàng như năng lượng
và thực phẩm tăng cao, ảnh hưởng đến cả các hộ gia đình lẫn doanh nghiệp Do đó, khi xuất khẩu vải thiều sang thị trường Nhật Bản doanh nghiệp cũng phải lưu ý vấn đề này
Trang 241.3 Môi trường nhân khẩu học
● Quy mô:
Theo thống kê mới nhất từ WorldBank, dân số Nhật Bản vào năm 2021 là hơn 125 triệu người, với xấp xỉ 92% dân số sống ở thành thị Nhật Bản hiện đang đứng thứ 11 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ Mật độ dân số của Nhật Bản là 346 người/km2 (năm 2020)
➔ Với quy mô dân số rất lớn song nguồn cung trong nước lại không đủ đáp ứng, Nhật Bản hiện là thị trường có nhu cầu nhập khẩu nông sản cao Điều này mang lại rất nhiều cơ hội cho việc xuất khẩu vải thiều tươi
Trang 25Nguồn: data worldbank
● Cơ cấu:
- Tỷ lệ phụ nữ trong xã hội Nhật Bản cao hơn nam giới tuy nhiên sự chênh lệch không
nhiều và ổn định qua các năm Phụ nữ Nhật Bản không có vai trò và địa vị cao như
nam giới, đa số họ đều nghỉ việc sau khi kết hôn hoặc sinh con và đảm nhiệm công việc gia đình Tuy nhiên, trong gia đình, những bà nội trợ lại là người kiểm soát ngân sách Bên cạnh việc chăm sóc gia đình, các bà nội trợ Nhật Bản có vai trò to lớn trong việc kiểm soát ngân sách và ra quyết định cho hầu hết các cuộc mua sắm
➔ Điều này cho thấy mẫu mã, màu sắc của các sản phẩm bán sang thị trường Nhật Bản phải nghiên cứu kỹ đến văn hóa tiêu dùng của những bà nội trợ quốc gia này
Trang 26Nguồn: data worldbank
- Nhật Bản là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất trên
thế giới và tỷ lệ sinh ở mức thấp nhất Cụm từ “xã hội già hóa” được sử dụng trong
báo cáo liên hợp quốc vào năm 1956 Chính phủ Nhật Bản dựa theo tiêu chuẩn các nước phát triển phương Tây bấy giờ để giả định trên 7% là “dân số già hóa” Bắt nguồn từ đó, tỉ lệ già hóa được cho là thước đo chung cho cộng đồng quốc tế
Trang 27Độ tuổi từ 0-14 tuổi được gọi là thiếu niên, từ 15-64 tuổi là độ tuổi lao động, trên 65 tuổi là người cao tuổi Khi đó, tỉ lệ già hóa là tỉ lệ phần trăm của người cao tuổi trong
tổng dân số Người ta dựa theo tỉ lệ này để phân biệt và định nghĩa:
“Tỉ lệ già hóa vượt 7% sẽ được gọi là xã hội già hóa, trên 14% là xã hội già,
và trên 21% gọi là xã hội siêu già.”
Mặc dù không có một định nghĩa chính xác, các cụm từ trên được quy định để phân biệt
dễ hiểu tình trạng già hóa của một xã hội
Trang 28Dựa theo quy chuẩn trên, Nhật Bản vào thời điểm năm 2023 với tỉ lệ già hóa chạm mức 29%, đã bước vào xã hội siêu già Và đến năm 2040, con số này được dự báo sẽ vượt mức 35% Năm 2021 là năm thứ 51 Nhật Bản ghi nhận kỷ lục về số người già trên 100 tuổi Bên cạnh đó, số ca sinh hằng năm cũng giảm xuống mức thấp kỷ lục vào năm ngoái - lần đầu tiên giảm xuống dưới 800.000 ca, tương đương mức giảm 0,5%
Nguồn: data worldbank
Nguyên nhân khiến dân số Nhật Bản sụt giảm được giới phân tích nước này chỉ ra là do
số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 25 tuổi đến 39 tuổi giảm mạnh tới 21% trong 10 năm trở lại đây Điều này đã kéo theo số trẻ em được sinh ra giảm và tỷ lệ già hóa ngày càng tăng Đây là vấn đề đang ảnh hưởng ngày càng tiêu cực tới kinh tế, xã hội Nhật Bản và buộc chính phủ phải cấp bách đưa ra các chính sách để đối phó
➔ Nhận xét: Do dân số đang già đi của Nhật Bản, nên xu hướng chủ yếu về nhu cầu
thực phẩm nói chung và nông sản nói riêng, trong đó có vải thiều, sẽ liên quan tới sức khỏe và an toàn Dân số già hóa là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất trên thị trường tiêu dùng Nhật Bản
1.4 Môi trường văn hóa
Thị hiếu và thói quen tiêu dùng và của người Nhật rất đặc thù Khi mua hàng thì chất
lượng là yếu tố được người dân Nhật Bản quan tâm nhất Do hàng hóa nội địa của Nhật
có chất lượng cao, nên tâm lý tiêu dùng của người Nhật là luôn đòi hỏi các sản phẩm (kể cả các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài) phải có chất lượng tốt Bên cạnh đó, người Nhật cũng rất chú trọng đến giá cả, mẫu mã, kích thước, màu sắc, công dụng… của sản phẩm, cũng như các dịch vụ hậu mãi sau bán hàng
Sự ưa chuộng nông sản nhiệt đới của thị trường Nhật Do sự khác biệt giữa các mùa vụ, khác biệt về chủng loại rau quả do khác biệt về vùng khí hậu, sở thích của người Nhật đối với hoa quả có vị ngọt và đặc biệt là hiện nay nhận thức của người tiêu dùng với lợi
Trang 29ích sức khỏe của họ nên các mặt hàng trái cây như vải, chuối, dứa, xoài và bơ… rất được thị trường Nhật Bản ưa chuộng
Với thói quen thực phẩm, đặc biệt là hoa quả đều được lựa chọn kỹ càng vì giá trị dinh dưỡng cũng như là những sản phẩm tốt cho sức khỏe thì các đặc tính của quả vải Việt hoàn toàn phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng thị trường Nhật
Người tiêu dùng Nhật Bản có sự nhạy cảm cao với sự thay đổi liên tục giá bán của một sản phẩm nào đó, do vậy các nhà nhập khẩu Nhật Bản luôn đề cao sự ổn định của giá
cả và lượng cung ứng từ phía đối tác Việt Nam Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cũng nên chú trọng đầu tư nghiên cứu nâng cao chất lượng, đa dạng hóa chủng loại, hình thức sản phẩm nhằm đáp ứng thị hiếu riêng biệt của nhiều lứa tuổi, nhiều đối tượng khách hàng khác nhau
1.5 Môi trường công nghệ
Theo số liệu thống kê từ Báo cáo Digital Marketing 2021, quy mô sử dụng Internet nói chung của người dân Nhật Bản đã bao phủ đến 117.4 triệu người dùng, tương đương 93% dân số Tỷ lệ kết nối di động lên đến 159,3% dân số và tỷ lệ sử dụng mạng xã hội
Trang 30càng chuyển từ mua hàng tại cửa hàng sang mua hàng trực tuyến, trong đó thương mại điện tử là một trong số ít lĩnh vực cho thấy tác động tích cực từ đại dịch
Một báo cáo Phân tích thương mại điện tử của GlobalData tiết lộ rằng, doanh số thương mại điện tử ở Nhật Bản ước tính đạt 22,4 nghìn tỷ Yên (217,5 tỷ USD) vào năm 2021 Doanh số thương mại điện tử dự kiến sẽ tăng hơn nữa với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 5,9% trong giai đoạn 2021-2025, sẽ đạt 273,4 tỷ USD vào năm 2025
Ravi Sharma- Trưởng nhóm phân tích ngân hàng và thanh toán tại GlobalData nhận xét:
"Đại dịch đã thúc đẩy các hoạt động thương mại điện tử trong nước, vì người tiêu dùng
lo ngại muốn sử dụng kênh trực tuyến để mua hàng để tránh tiếp xúc với các vật trung gian truyền bệnh Với các quy tắc giãn các xã hội được áp dụng và việc đóng cửa một
số cửa hàng truyền thống, người mua sắm đã phải sử dụng kênh trực tuyến ngay cả khi mua sắm hàng ngày "
1.6 Môi trường tự nhiên
Nhật Bản là quốc gia nằm ở khu vực Đông Á, thuộc phía Tây của Thái Bình Dương, do bốn quần đảo độc lập hợp thành: Honshu, Shikoku, Kyushu, Hokkaido và còn rất nhiều đảo khác nữa Có thể nói, xét về vị trí chiến lược, Nhật Bản chính là mắt xích cốt yếu trong vành đai châu Á – Thái Bình Dương, gần các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên và các nước Đông Nam Á - khu vực có nền kinh tế phát triển năng động, trong đó có Việt Nam Điều này giúp cho hoạt động xuất khẩu vải thiều sang Nhật Bản trở nên thuận lợi hơn về mặt địa lý
Trang 31Địa hình Nhật Bản chủ yếu là đồi núi thấp, có nhiều núi lửa và có các đồng bằng nhỏ hẹp ven biển do đó không phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp Và vì quốc gia này chỉ canh tác được một số cây trồng như lúa gạo nên khoảng một nửa số lương thực phải nhập khẩu từ nước ngoài Tuy nhiên, nó mở ra cơ hội cho những nước có tiềm lực về xuất khẩu nông sản, lương thực tiếp cận được thị trường này, trong đó có cả Việt Nam Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông, mùa hè nóng và ẩm ướt, mùa đông lạnh
và khô Do địa hình trải dài trên nhiều vĩ tuyến từ Bắc xuống Nam nên khí hậu các vùng phân hóa khá rõ rệt, cụ thể các vùng phía Bắc có nhiệt độ trung bình thấp hơn hẳn các vùng phía Nam Chính điều này đã làm cho thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản rất
đa dạng và nhạy cảm với những thay đổi theo mùa Bởi vì họ quan tâm đến vấn đề thời trang và màu sắc hàng hóa phù hợp theo từng mùa xuân, hạ, thu, đông Do đó, tính đa dạng của sản phẩm là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc thâm nhập thị trường này Mối quan tâm đến các vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng cao đã nâng cao ý thức sinh thái và bảo vệ môi trường của người tiêu dùng Nhật Bản Do vậy, hàng hóa ở Nhật đang có xu hướng loại bỏ các sản phẩm đóng gói nhiều lớp Các bao bì, vỏ sản phẩm được khuyến khích thu hồi để tái chế và hiệp hội tiêu dùng của Nhật Bản luôn khuyến khích ý thức bảo vệ môi trường của cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng Do vậy, khi thâm nhập vào thị trường Nhật Bản, doanh nghiệp cũng cần lưu ý về khâu bao bì đóng gói của vải thiều
2 Các nhân tố về phía nước xuất khẩu - Việt Nam
2.1 Hoạt động trồng trọt và sản xuất vải
2.1.1 Điều kiện tự nhiên (đất, nước, nhiệt độ, ánh sáng )
Trang 32- 14 độ C cành hoa và lá đều có thể phát triển thành các chùm hoa có giá trị kinh tế, ở
18 - 19 độ C trở xuống vẫn có thể hình thành chùm hoa nhỏ, nhiều lá nhưng không có giá trị về kinh tế
Nhiệt độ còn ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải Cây vải trong quá trình sinh trưởng
có thời kỳ nghỉ để phân hóa mầm hoa trong mùa đông (tháng 12 - tháng 1), Để thực hiện phân hóa mầm hoa vải cần có một quỹ khô và lạnh trong thời gian 200 giờ và nhiệt
độ từ 13 độ trở xuống Nếu không có đủ quỹ khô lạnh này thì cây vải sẽ không nghỉ sinh trưởng, tức là tiếp tục ra lộc đông, do đó không thực hiện được quá trình phân hóa mầm hoa và vụ xuân của năm sau vải sẽ không ra hoa mà ra lộc xuân
Ngoài ra, nhiệt độ còn ảnh hưởng tới thời kỳ nở hoa và sự phát triển của quả Nhiệt độ thích hợp cho vải ra hoa, thụ phấn thụ tinh là 18 - 24 độ C Nhiệt độ bình quân hữu hiệu càng cao thì quả sinh trưởng phát triển càng nhanh, ngược lại, nhiệt độ thấp thì sinh trưởng của quả càng chậm
b) Lượng mưa và độ ẩm
Những tháng mùa hè và mùa thu là thời gian cây vải sinh trưởng mạnh, yêu cầu lượng nước lớn Những tháng mùa đông, mưa nhiều, vải dễ phát lộc đông, không thuận lợi cho phân hoá mầm hoa Mưa nhiều trong thời gian hoa đang nở dẫn đến làm thối hoa, tỷ lệ đậu quả rất thấp có thể dẫn đến mất mùa
Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 - 1.700 mm, độ ẩm không khí là 75 - 85% nên nó chịu được độ ẩm không khí cao ở thời kỳ sinh trưởng thân
lá Trong những tháng mưa nhiều, bộ lá cây vẫn xanh tốt Vải kém chịu úng hơn các cây khác như ổi, táo ta, nhãn nhưng có khả năng chịu hạn tốt hơn Tháng 11 - 12, cây vải cần thời tiết khô và rét để phân hoá mầm hoa
Như vậy, các ảnh hưởng trực tiếp của môi trường như ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm quá cao sẽ làm biến đổi chất lượng quả vải trong quá trình bảo quản, sự biến đổi không tốt này sẽ gây hao hụt khối lượng tự nhiên của quả vải thiều trong quá trình vận chuyển
và bảo quản khi xuất khẩu Bên cạnh đó còn có ảnh hưởng của độ ẩm, nhiệt độ môi trường tới độ cứng của thịt quả vải thiều trong quá trình sau khi thu hoạch và vận chuyển, ảnh hưởng đến hàm lượng các chất dinh dưỡng, độ hòa tan tổng số các chất, hàm lượng acid hữu cơ của quả vải Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm môi trường không thích hợp tác động đến sự biến đổi màu sắc vỏ quả vải thiều, làm cho quả vải không còn giữ được
Trang 33độ tươi của vỏ quả
c) Ánh sáng
Cây vải cần ánh sáng chiếu quanh năm đặc biệt là thời kỳ hình thành, phân hóa mầm hoa, hoa nở và quả phát triển Tổng số giờ chiếu sáng/năm từ 1.800 giờ trở lên là khá thích hợp đối với cây vải Ánh sáng đầy đủ giúp cho quá trình quang hợp và đồng hoá các chất xảy ra được thuận lợi tăng tích lũy chất dinh dưỡng, khả năng sinh trưởng và phân hoá mầm hoa cũng như ra hoa đậu quả tốt, số giờ chiếu sáng nhiều thì lượng hoa cái bình quân trên chùm tăng lên tương ứng
d) Đất
Khi muốn vải đạt được các tiêu chí về quả vải sạch đủ tiêu chuẩn thì yếu tố đất phải phù hợp với sự phát triển của giống vải thiều mới sinh trưởng và phát triển một cách tốt nhất Đất không bị nhiễm hóa chất, các chất độc hóa học, chất phóng xạ, môi trường đất chứa các yếu tố vi sinh giúp chất lượng quả vải đạt cao
Cây vải không kén đất, thích hợp nhất là phù sa, có tầng dày, chua nhẹ (độ pH: 6,0 - 6,5) Có thể trồng vải trên đất đồi thuộc loại đất đỏ, đất vàng, đất cát pha, đất phù sa, đất thịt Nên lựa chọn giống có sức sinh trưởng, phát triển mạnh trồng trên những loại đất ít phì nhiêu Đất tốt, giàu dinh dưỡng thì lựa chọn các giống có sức sinh trưởng thân tán ở mức trung bình Vải trồng bằng cành chiết, bộ phận rễ phát triển kém, nếu trồng trên đồi phải giữ ẩm tốt và cắm cọc buộc cành giữ cho cây khỏi lay gốc để đảm bảo tỷ
lệ sống sau trồng cao
Bên cạnh đó, diện tích đất trồng trọt có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu vải thiều Diện tích trồng trọt lớn sẽ góp phần làm gia tăng sản lượng của một vùng, góp phần tạo thương hiệu cho địa phương đó trong thị trường xuất khẩu
Cụ thể, vụ vải thiều năm 2019, tổng diện tích trồng vải của tỉnh Bắc Giang duy trì trên 28.000 ha; năm 2021 tổng diện tích vải thiều toàn tỉnh là 28.126 ha, năm 2022, vải thiều Việt Nam được mùa với sản lượng khoảng 320.000 tấn Riêng đối với huyện Lục Ngạn, diện tích trồng vải gần 17,4 nghìn ha (tăng hơn 1,9 nghìn ha so với năm 2021), trong đó diện tích sản xuất theo quy trình VietGap gần 13 nghìn ha Sản lượng vải thiều xuất khẩu đạt khoảng 80 nghìn tấn, chiếm khoảng 38,07% tổng sản lượng, kim ngạch xuất khẩu đạt 115,9 triệu USD
Đối với tỉnh Hải Dương, năm 2019 toàn tỉnh hiện có 9168 ha vải, trong đó huyện Thanh
Hà là 3.600 ha Diện tích sản xuất vải theo tiêu chuẩn quốc tế phục vụ xuất khẩu và thị trường cao cấp là 220 ha
Với những thông tin về diện tích trồng vải thiều đã cho thấy rằng diện tích trồng vải thiều của nước ta được tăng và nhân rộng Diện tích trồng vải thiều cũng đã phần nào
Trang 34phản ánh được tình hình xuất khẩu vải thiều của nước ta qua sự gia tăng về quy mô và diện tích cây trồng vải
2.1.2 Cơ sở hạ tầng
Để phát triển thương vụ kinh doanh vải thiều nói chung và hoạt động xuất khẩu vải thiều sang Nhật Bản nói riêng, yêu cầu đặt ra là đẩy mạnh phát triển giao thông để bảo đảm việc vận chuyển một cách thuận lợi nhất cho nông sản vải thiều nhằm thu hút nhân lực cho các dịch vụ phụ trợ Huyện xác định ưu tiên đầu tư hệ thống giao thông đối ngoại, liên kết vùng nhằm giúp bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội Trong giai đoạn này, toàn huyện đã có hơn 2.300km đường giao thông nông thôn được cứng hóa Cùng với cải tạo, nâng cấp giao thông nông thôn, huyện cũng quy hoạch, đầu tư xây mới nhiều tuyến nội thị, như: Mở rộng, làm mới đường Trần Phú, Lê Duẩn, cải tạo nút giao thông đường Trần Phú kéo dài giao cắt QL31 đi cầu Nam Dương Huyện được tỉnh đầu tư xây mới cầu Chữ; nâng cấp, mở rộng ĐT 289 qua thị trấn Chũ Đồng thời, mở mới nhiều tuyến giao thông đối ngoại và cầu khác Trong đó, có tuyến đường dẫn nối cảng Mỹ An
- QL31 - QL1 - hồ Suối Nứa và tuyến nhánh hồ Suối Nứa - Khuôn Thần dài 28,5km Hình thành tuyến trục dọc mới kết nối từ ĐT293 - cảng Mỹ An - QL31 đến cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn và QL1…
2.1.3 Trình độ khoa học - công nghệ
Yếu tố công nghệ tác động đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng hóa xuất khẩu giúp ích cho người trồng vải thiều Quy trình công nghệ là nhân tố quyết định đến chất lượng sản phẩm Vấn đề nan giải của nước ta là công nghệ bảo quản trong quá trình vận chuyển từ Việt Nam tới thị trường Nhật Bản nhằm giữ được chất lượng quả vải có hương
vị tươi ngon ban đầu của sản phẩm
Đối với các loại rau gia vị, củ quả và các loại trái cây có giá trị kinh tế cao và tiềm năng xuất khẩu như vải thiều do thời vụ quá ngắn và quả vải có đặc điểm rất nhiều nước nên khả năng bảo quản trong quá trình vận chuyển rất khó khăn Một đặc điểm nữa là sau khi thu hoạch, quả vải từ màu đỏ hồng hấp dẫn nhanh chóng chuyển sang màu nâu, làm giảm giá trị sản phẩm Đòi hỏi phải có công nghệ bảo quản phù hợp để giữ được chất lượng thương phẩm một cách tốt nhất, không bị hao hụt về trọng lượng, chất lượng thịt quả và các dưỡng chất của vải thiều lúc ban đầu Từ đó, công nghệ MAP ra đời MAP
là một công nghệ tiên tiến giúp bảo quản và nâng cao chất lượng quả vải bằng màng bao gói khí quyển biến đổi được sử dụng khá phổ biến trên thế giới cả ở dạng bảo quản chất đống, bao bì vận chuyển và bao bì bán lẻ Khi áp dụng công nghệ này, quá trình bảo quản đã khắc phục được các nhược điểm của việc vận chuyển vải thiều Sau 35 ngày bảo quản ở 4 độ C, quả vải vẫn bảo đảm giá trị thương phẩm với mức tổn thất nhỏ hơn 10% Việc kéo dài thời gian bảo quản, tồn trữ vải thiều được kéo dài mở ra cơ hội xuất khẩu vải sang các thị trường gần như Nhật Bản bằng đường biển thay vì đường hàng
Trang 35không như trước đây Bên cạnh đó, ưu điểm của MAP là đơn giản, chi phí thấp, dễ sử dụng, phù hợp cho mục đích chiếu xạ theo quy định của thị trường Nhật Bản
Ngoài ra còn có công nghệ bảo quản CAS - hệ thống tế bào còn sống - là công nghệ lạnh đông nhanh của tập đoàn ABI (Nhật Bản) Các sản phẩm được bảo quản bằng công nghệ CAS sau một thời gian dài (ít nhất là một năm) sau rã đông, sản phẩm vẫn giữ được độ tươi nguyên như vừa mới thu hoạch, giữ được cấu trúc mô - tế bào, màu sắc, hương vị, chất lượng sản phẩm Sự khác biệt của công nghệ CAS với các công nghệ lạnh đông thông thường đó là sự cùng tác động của từ trường (50Hz đến 5MHz) và quá trình lạnh đông nhanh ( -30 đến -60 độ C) đã làm cho nước trong tế bào quả vải được đóng băng ở chỉ một số rất ít phân tử, nên không phá vỡ cấu trúc tế bào và cũng không làm biến tính các hợp chất sinh học như protein hay vitamin Tuy nhiên thì giá thành chi phí cho công nghệ này khá cao, hiện hệ thống máy CAS trang bị tại Viện Nghiên cứu và phát triển vùng có giá khoảng 20 tỷ đồng, chỉ bảo quản được 100kg mỗi giờ, một ngày bảo quản được 1 tấn Doanh nghiệp muốn làm ít nhất phải đầu tư máy có công suất 1 tấn/giờ, giá khoảng 40 tỷ đồng, chưa kể phải đầu tư nhà xưởng và các chi phí khác Tuy nhiên thì công nghệ càng hiện đại kinh phí càng cao nhưng cũng tạo ra giá trị tăng cao Ngay cả khi trái vụ như (Tết nguyên đán, các ngày lễ trong năm) doanh nghiệp bán vải tươi ra thị trường sẽ cho hiệu quả kinh tế cao Chúng ta vẫn có thể giải quyết bài toán này bằng cách nội địa hóa các thiết bị trong CAS thông qua việc tự thiết kế, chế tạo một số khâu trong quá trình bảo sau thu hoạch như cấp đông, dao động điều hòa, dự trữ lạnh và nếu thành công thì việc này có thể giảm đến 60% chi phí giá nhập từ Nhật Bản Bên cạnh đó, nếu sử dụng CAS cho việc lưu giữ nhiều sản phẩm khác như thủy hải sản cũng góp phần làm giảm chi phí bảo quản tính trên mỗi đơn vị hàng hóa được bảo quản Điều này thực sự cần sự mạnh dạn đầu tư của các doanh nghiệp, sự khuyến khích của nhà nước trong việc thúc đẩy sản xuất công nghiệp chế biến máy móc trong bảo quản và lưu kho hoa quả Việt Nam
Khoa học - công nghệ như là cầu nối giữa sản xuất nông nghiệp và thị trường, đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành vào chuỗi sản xuất vải thiều tại các doanh nghiệp, đóng góp một phần quan trọng trong việc đảm bảo chuỗi cung ứng xuất khẩu vải thiều sang Nhật Bản, giảm bớt áp lực cho tiêu thụ trong nước và gia tăng giá trị cho sản phẩm Khoa học công nghệ còn tác động tới lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất khẩu,
kỹ thuật nghiệp vụ trong ngân hàng Nhờ sự phát triển của bưu chính viễn thông, các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàm phán với các bạn hàng qua điện thoại, fax, thư tín… giảm bớt chi phí, rút ngắn thời gian Giúp các nhà kinh doanh nắm bắt các thông tin chính xác, kịp thời
Công nghệ CAS được áp dụng cả tỉnh Bắc Giang và Hải Dương còn riêng tỉnh Bắc Giang đã đầu tư và áp dụng công nghệ MAP
Trang 362.1.4 Chuỗi logistics trong nước
Đặc thù của nông sản là tính thời vụ, thời gian lưu trữ, sử dụng ngắn ngày, đòi hỏi khâu bảo quản phải thực hiện tốt, khâu lưu thông tới người tiêu dùng phải nhanh để bảo toàn giá trị của vải thiều (https://www.youtube.com/watch?v=6qIpkD_4eng)
● Quả vải sản phẩm: Quả vải nguyên liệu, ngay từ khi chưa vào vụ các công ty bán
lẻ, các hệ thống siêu thị, đã liên kết với người dân địa phương để đảm bảo nguồn cung vải thiều hợp lý Lựa chọn vườn cây vải thiều GAP: đây là khâu đầu tiên của chuỗi cung ứng logistics Cây vải thiều được trồng và chăm sóc theo quy trình VietGAP, GlobalGAP Quả vải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây: không sâu bệnh hại trên quả vải thương phẩm, không gây hại đến cảm quan của sản phẩm Đạt tiêu chuẩn về mẫu mã của vải thương phẩm: quả tươi, phát triển bình thường, nguyên vẹn, lành lặn, không bị dập nát, hư hỏng, không bị dập nát, có mùi hôi thối, thâm
● Khâu thu gom sản phẩm: quả vải được thương nhân trong vùng thu gom từ các hộ gia đình hoặc trang trại, rồi chở đến địa điểm thu mua tập kết Địa điểm này thường nằm ngay sát đường giao thông, có đủ diện tích để xe container 40 feet bốc vải thuận tiện Nguyên tắc thu gom vải là chỉ khi phương tiện chuyên chở đến thì mới tiến hành thu hoạch để tránh thu hoạch trước làm quả vải bị hư hỏng do thiếu kho tàng
và thiết bị bảo quản chuyên dụng Việc hái và thu gom có thể do từng hộ gia đình thực hiện hoặc sử dụng nhân công thuê mướn
● Phân loại và sơ chế vải: Tiếp sau đó, quả vải được vận chuyển từ nơi thu hái về nơi phân loại, xếp sọt nhẹ nhàng, vận chuyển bằng xe ô tô có chế độ mát Phương tiện vận chuyển sạch sẽ, an toàn, đảm bảo không vận chuyển cùng các hàng hóa khác Công đoạn này được thực hiện bởi các xưởng chế biến chuyên dụng (dành cho xuất khẩu), bao gồm:
+ Kiểm tra: lô quả vải nguyên liệu được lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu cảm quan, xác định dư lượng thuốc bảo vệ thực vật để kiểm tra chất lượng đầu vào + Lựa chọn: loại bỏ các quả bị bầm dập cơ học, các quả có dấu hiệu sâu bệnh, các quả không đạt tiêu chuẩn (quả quá xanh, quá chín, bị dị dạng, quá bé)
+ Phân loại: quả vải sau khi lựa chọn được phân loại theo kích thước được tính bằng đường kính tối đa của quả vải hoặc theo yêu cầu của khách hàng
+ Xử lý mẫu: quả vải được rửa bằng nước sạch, sau đó để khô tự nhiên
● Bảo quản hoa quả: Đặt vải thiều vào môi trường có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cùng với sự điều chỉnh thành phần khí quyển để khống chế sự phát triển của các loại vi khuẩn gây ảnh hưởng đến chất lượng và hạn chế tối đa sự thay đổi hình