LỜI NÓI ĐẦU Hình phạt tử hình là một khái niệm pháp lý được đề cập trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật hình sự nói riêng Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất nhằm trừng trị những tội phạm đ[.]
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hình phạt tử hình là một khái niệm pháp lý được đề cập trong khoa học pháp lýnói chung và khoa học luật hình sự nói riêng Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất nhằmtrừng trị những tội phạm đặc biệt nguy hiểm cho xã hội Trong lịch sử, hình phạt tửhình đã được áp dụng ngay từ buổi sơ khai hình thành hệ thống nhà nước và pháp luật.Ngày nay, hình phạt tử hình vẫn được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới khôngphân biệt về trình độ phát kinh tế - xã hội
Mặc dù vậy, trong những năm gần đây, hình phạt tử hình đang gây nhiều tranhcãi trên phạm vi quốc tế Hiện có hai luồng ý kiến về vấn đề này: duy trì hay bãi bỏhình phạt này Những tranh cãi này xoay quanh hai chủ đề chính: tính đạo đức và tínhpháp lý của hình phạt tử hình Dù còn thiếu sự đồng thuận, nhưng xu thế chung của thếgiới hiện nay là giảm dần, tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình Đối với những quốc giachưa có lộ trình cụ thể xóa bỏ hình phạt này trong tương lai gần thì cũng có xu hướngcải cách phương thức thi hành án sao cho hình phạt này trở nên nhân đạo hơn
Để đạt được những tiến bộ kể trên, Liên Hợp quốc (LHQ) đã đóng vai trò quantrọng với tư cách là tác nhân thúc đẩy xu thế giảm dần, tiến tới xóa bỏ hình phạt tửhình Ngày 15 tháng 12 năm 1989, Nghị định thư tùy chọn thứ hai của Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị (sau đây gọi là Nghị định thư tùy chọn thứ 2ICCPR) với mục tiêu xóa bỏ hình phạt tử hình được Đại hội đồng LHQ thông qua tạiNew York (Có hiệu lực từ ngày 11 tháng 7 năm 1991) Hiện nay, số lượng thành viêncủa Nghị định thư này là 88 quốc gia Việc Đại Hội đồng (LHQ) thông qua nghị địnhthư này đã chứng tỏ quyết tâm vận động các quốc gia giảm, hoãn áp dụng và tiến tớixóa bỏ hình phạt tử hình Rộng hơn nữa, thông qua Nghị định thư tùy chọn thứ haiICCPR và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), LHQ còn chothấy mục tiêu bảo đảm tiến trình tố tụng công bằng và đối xử nhân đạo với tử tù
Không nằm ngoài xu thế trên, Việt Nam trong những năm gần đây đang cảicách luật hình sự theo hướng giảm dần phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với các
Trang 2loại tội phạm Điều này có thể thấy rõ thông qua những lần sửa đổi bổ sung Bộ LuậtHình sự (BLHS) qua các năm.1
Với xu thế cải cách tư pháp kể trên, Việt nam có thể có khả năng gia nhập Nghịđịnh thư tuỳ chọn thứ hai Tuy vâỵ, tại thời điểm hiện tại, vẫn còn nhiều rào cản cảntrở việc Việt Nam gia nhập Nghị định thư trên trên thực tế và pháp luật Trên thực tế,việc đầu tiên Việt Nam cần làm để gia nhập Nghị định thư là xoá bỏ hình phạt tử hình.Tuy nhiên, việc này còn gặp phải các khó khăn là (i) dư luận xã hội có nhiều tranh cãi;(ii) tính bảo mật của dữ liệu về án tử hình; (iii) tình hình tội phạm nghiêm trọng hiệnvẫn đang gia tăng Bên cạnh đó, về phía pháp luật, do ảnh hưởng của thực tiễn đờisống xã hội nói trên, Việt Nam vẫn gặp phải khó khăn lớn nhất là pháp luật chưa tươngthích với các quy định của Nghị định thư thứ 2
Vì những điều nêu trên, đề tài này được lựa chọn nghiên cứu nhằm mục đíchlàm rõ vấn đề về hình phạt tử hình, vai trò của Nghị định thư tùy chọn thứ hai ICCPRtrong việc thúc đẩy bãi bỏ hình phạt tử hình, những rào cản trong quá trình gia nhậpcủa Việt Nam trong tương lai và ảnh hưởng (có thể xảy ra) khi Việt Nam gia nhậpNghị định thư này
hình phạt này
Trang 3CHƯƠNG 1.XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA NGHỊ
ĐỊNH THƯ TÙY CHỌN THỨ 2 ICCPR 1.1 Tranh luận về việc xóa bỏ hình phạt tử hình
Hình phạt tử hình là một khái niệm pháp lý được đề cập trong khoa học pháp lýnói chung và khoa học luật hình sự nói riêng Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất nhằmtrừng trị những tội phạm đặc biệt nguy hiểm cho xã hội Trong lịch sử, hình phạt tửhình đã được áp dụng ngay từ buổi sơ khai hình thành hệ thống nhà nước và pháp luật.Ngày nay, hình phạt tử hình vẫn được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới khôngphân biệt về trình độ phát kinh tế - xã hội
Mặc dù vậy, trong những năm gần đây, hình phạt tử hình đang gây nhiều tranhcãi trên phạm vi quốc tế Hiện có hai luồng ý kiến về vấn đề này: duy trì hay bãi bỏhình phạt này Những tranh cãi này xoay quanh hai chủ đề chính: tính đạo đức và tínhpháp lý của hình phạt tử hình Dù còn thiếu sự đồng thuận, nhưng xu thế chung của thếgiới hiện nay là giảm dần, tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình Đối với những quốc giachưa có lộ trình cụ thể xóa bỏ hình phạt này trong tương lai gần thì cũng có xu hướngcải cách phương thức thi hành án sao cho hình phạt này trở nên nhân đạo hơn
Để đạt được những tiến bộ kể trên, Liên Hợp quốc (LHQ) đã đóng vai trò quantrọng với tư cách là tác nhân thúc đẩy xu thế giảm dần, tiến tới xóa bỏ hình phạt tửhình Ngày 15 tháng 12 năm 1989, Nghị định thư tùy chọn thứ hai của Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị (sau đây gọi là Nghị định thư tùy chọn thứ 2ICCPR) với mục tiêu xóa bỏ hình phạt tử hình được Đại hội đồng LHQ thông qua tạiNew York (Có hiệu lực từ ngày 11 tháng 7 năm 1991) Hiện nay, số lượng thành viêncủa Nghị định thư này là 88 quốc gia Việc Đại Hội đồng (LHQ) thông qua nghị địnhthư này đã chứng tỏ quyết tâm vận động các quốc gia giảm, hoãn áp dụng và tiến tớixóa bỏ hình phạt tử hình Rộng hơn nữa, thông qua Nghị định thư tùy chọn thứ haiICCPR và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), LHQ còn chothấy mục tiêu bảo đảm tiến trình tố tụng công bằng và đối xử nhân đạo với tử tù
Trang 4Không nằm ngoài xu thế trên, Việt Nam trong những năm gần đây đang cảicách luật hình sự theo hướng giảm dần phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với cácloại tội phạm Cụ thể:
- Bộ luật hình sự (BLHS) 1985 (qua các lần sửa đổi) quy định 44 điều luật cóhình phạt tử hình;
- BLHS 1999 (qua các lần sửa đổi) đã giảm xuống còn 22 điều luật có hìnhphạt tử hình;
- BLHS 2015 (qua 01 lần sửa đổi) tiếp đà giảm xuống còn 18 điều luật có hìnhphạt tử hình
Với xu thế cải cách tư pháp kể trên, khả năng Việt Nam gia nhập Nghị định thưtùy chọn thứ hai ICCPR trong tương lai là hoàn toàn có thể Đề tài này được lựa chọnnghiên cứu nhằm mục đích làm rõ vấn đề về hình phạt tử hình, vai trò của Nghị địnhthư tùy chọn thứ hai ICCPR trong việc thúc đẩy bãi bỏ hình phạt tử hình và khả nănggia nhập của Việt Nam trong tương lai Đây cũng là một cơ hội tăng cường hợp tácquốc tế về tư pháp giữa Việt Nam và các quốc gia thành viên công ước nói chung,CHLB Đức nói riêng nhằm làm sáng tỏ vấn đề trên
1.2 Nghị định thư tùy chọn thứ hai của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị – Công cụ pháp lý quốc tế nhằm xóa bỏ án tử hình
1 Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành được Quốc hội khóa Xthông qua ngày21/12/1999 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật hình sự Việt Nam, phát huythành tựu của BLHS năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991,
1992 và 1997) Sau hơn 14 năm thi hành, BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sungnăm 2009) đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm, bảo
vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sựnghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tốthơn quyền con người, quyền công dân, thể hiện trên một số điểm lớn như sau:
Thứ nhất, từ khi được ban hành vào năm 1999, BLHS đã sớm đi vào cuộcsống và phát huy vai trò, tác dụng tích cực là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấutranh phòng, chống tội phạm Với những quy định tương đối có hệ thống, toàn diện vềcác nguyên tắc xử lý, chế định chung của chính sách hình sự, về tội phạm và hình phạt
Trang 5cũng như việc hình sự hóa khá nhiều hành vi nguy hiểm cao cho xã hội, BLHS mộtmặt đã thể hiện được tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh phòng,chống tội phạm, mặt khác tạo cơ sở pháp lý góp phần nâng cao hiệu quả điều tra, truy
tố, xét xử tội phạm, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia; xâm phạm tínhmạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; tội phạm về kinh tế, ma túy và tộiphạm tham nhũng qua đó góp phần kiểm soát và kìm chế tình hình tội phạm, bảo đảm
ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước
Thứ hai, BLHS đã có nhiều quy định thể hiện tinh thần nhân đạo, chính sáchkhoan hồng của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, cụ thểnhư quy định về khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác ngườiđồng phạm, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra; về các trường hợploại trừ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về miễn trách nhiệm hình sự, miễn giảmhình phạt… Đặc biệt, BLHS đã quy định chặt chẽ hơn các điều kiện áp dụng hình phạt
tử hình; mở rộng diện đối tượng không áp dụng, không thi hành hình phạt tử hình vàthu hẹp diện các tội danh có quy định hình phạt tử hình Các quy định này đã góp phầnbảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, nâng cao vai trò giáo dục, cảm hóađối với người phạm tội, đồng thời giáo dục người dân ý thức tuân thủ pháp luật, chủđộng phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Thứ ba, BLHS có những quy định phù hợp với xu hướng chung của quốc tế,tạo tiền đề quan trọng cho việc tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng,chống tội phạm, nhất là các tội phạm mang tính quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyênquốc gia như tội phạm về ma túy, mua bán người, rửa tiền, khủng bố, tài trợ khủng bố;các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao… qua đó, góp phần vào việc thực hiện cóhiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập quốc tế
2.Tuy nhiên, kể từ sau khi BLHS năm 1999 được ban hành, tình hình đất nước
ta đã có những thay đổi lớn về mọi mặt Việc thực hiện đường lối, chính sách củaĐảng, Nhà nước về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN mà nội dung cơ bản là ghi nhận và bảo đảm thực hiện cácquyền con người, quyền cơ bản của công dân; chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp
Trang 6luật, chiến lược cải cách tư pháp và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam đã manglại những chuyển biến lớn, tích cực về kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước Bêncạnh đó, tình hình tội phạm nhìn chung vẫn diễn biến hết sức phức tạp với nhữngphương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Số lượng tội phạm luôn có xu hướng giatăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô và tính chất, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế,môi trường Điều này đã làm cho BLHS hiện hành trở nên bất cập không đáp ứngđược yêu cầu của thực tiễn Mặc dù, năm 2009, Quốc hội khoá XII đã sửa đổi, bổ sungmột số điều của BLHS, nhưng do phạm vi sửa đổi chỉ giới hạn trong một số điều, nênchưa thể khắc phục được đầy đủ, toàn diện những bất cập của BLHS trong thực tiễn.Những bất cập, hạn chế của BLHS hiện hành được thể hiện ở một số điểm chủ yếunhư sau:
Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng định hướng XHCN của nước ta
đã có những bước phát triển quan trọng, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tếthế giới và đã mang lại những lợi ích to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đềcần phải giải quyết, trong đó có vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm Cùng với cácluật khác trong hệ thống pháp luật nước ta, BLHS phải thể hiện đúng vai trò là công cụhữu hiệu để bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên,BLHS hiện hành nhìn chung vẫn là sản phẩm mang đậm dấu ấn của thời kỳ đầu củaquá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, do vậy, chưa thực sự phát huy tác dụng trong việc bảo vệ
và thúc đẩy các nhân tố tích cực của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN pháttriển một cách lành mạnh Một số quy định của Bộ luật tỏ ra không còn phù hợp vớiđiều kiện phát triển nền kinh tế thị trường Mặt khác, nhiều tội phạm mới phát sinhtrong quá trình vận hành nền kinh tế chưa được kịp thời bổ sung hoặc tuy đã được bổsung, nhưng chưa đầy đủ, toàn diện, nhất là các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất kinhdoanh, thương mại, tài chính, ngân hàng, thuế, bảo hiểm, chứng khoán, tội phạm tronglĩnh vực môi trường,… Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triểncủa nền kinh tế cũng như hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm vàđòi hỏi cần phải tiếp tục hoàn thiện BLHS để góp phần bảo vệ và thúc đẩy hơn nữa sựphát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trang 7Thứ hai, do ban hành từ năm 1999, nên BLHS chưa thể chế hoá được nhữngquan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghịquyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08/NQ-TW); Nghị quyết
số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số48/NQ-TW) và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49/NQ-TW) Trong cácnghị quyết này Đảng ta chỉ rõ cần phải “coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự
và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc
xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạtcải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm Hạn chế áp dụng hình phạt tửhình theo hương chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm Khắc phục tìnhtrạng hình sự hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm Quy định là tộiphạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế” Đồng thời, “xử lýnghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi phápluật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội Người có chức vụ càngcao mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội thì càng phải xử lý nghiêm khắc để làmgương cho người khác” Đây là những quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta vềchính sách hình sự mà BLHS cần phải được thể chế hóa một cách đầy đủ
Đặc biệt, sự phát triển của Hiến pháp năm 2013 về việc ghi nhận và đảm bảothực hiện các quyền con người, quyền công dân đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới,hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự với tính cách là công
cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người,quyền cơ bản của công dân Theo đó, một mặt, BLHS cần được sửa đổi, bổ sung theohướng bảo đảm xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ bảncủa công dân; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi theo hướng đề cao hiệu quảphòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tạo điều kiện thuận
Trang 8lợi để người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng Thực tiễn cho thấy, vẫn còn tình trạngquyền con người, quyền cơ bản của công dân, nhất là đối với các đối tượng yếu thếtrong xã hội vẫn chưa được tôn trọng một cách đầy đủ, toàn diện Nhìn chung, ngườidân chưa thực sự cảm thấy an toàn về môi trường sống, vẫn còn xảy ra những vụ giếtngười, cướp của tàn bạo gây chấn động trong dư luận và gây tâm lý hoang mang trongmột bộ phận nhân dân; người dân chưa thực sự yên tâm phát huy tính sáng tạo tronghoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tích cực, chủ động tham gia phòng, chống tộiphạm và các vi phạm pháp luật Tình trạng ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh an toànthực phẩm, mất an toàn trong lao động, trong xây dựng, trong khi tham gia giao thông
đã đến mức báo động Đối với người bị kết án thì việc xóa án tích, nhất là đương nhiênđược xóa án tích hiện nay rất phức tạp, thủ tục rườm rà chưa tạo điều kiện thuận lợicho họ tái hòa nhập cộng đồng Vì vậy, BLHS phải được tiếp tục hoàn thiện để gópphần tạo ra một khung pháp lý đủ mạnh nhằm bảo vệ một môi trường sống an lành chongười dân; bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân;động viên khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân yên tâm tham đấu tranh phòng, chốngtội phạm, phát triển kinh tế, sáng tạo khoa học
Thứ ba,BLHS hiện hành chưa cập nhật được đầy đủ, kịp thời các hành vi viphạm có tính chất phổ biến, nguy hiểm cao cho xã hội để có biện pháp xử lý hình sựthích đáng Điển hình có thể kể tới các hành vi lạm dụng lao động trẻ em; chiếm đoạt,mua bán trái phép mô tạng, các bộ phận cơ thể người; vi phạm quy định về an toàngiao thông đường bộ; lợi dụng bán hàng đa cấp để chiếm đoạt tiền, tài sản; các viphạm trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, môi trường, công nghệcao, v.v… Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm
Thứ tư, BLHS hiện hành được ban hành từ năm 1999 trong bối cảnh nước tachưa hội nhập sâu vào thế giới, nhiều điều ước quốc tế chúng ta chưa có điều kiện gianhập, do vậy, chưa phản ánh được những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng, chốngtội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợicho việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Ngày nay, xu thế chủđộng hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của Việt Nam Trên thực tế, nước ta
đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và đã trở thành thành viên của
Trang 9nhiều điều ước quốc tế đa phương, trong đó có các công ước về phòng chống tộiphạm, như: Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961; Công ước về các chấthướng thần năm 1971; Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy vàchất hướng thần năm 1988; Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vàNghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Côngước chống tham nhũng; Công ước chống tra tấn; các điều ước quốc tế liên quan đếnchống khủng bố, tài trợ khủng bố, rửa tiền, cướp biển, bắt cóc con tin, Bên cạnh đó,cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nước ta cũng đang phải đối mặt với sự gia tăngcủa các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, các tội phạm do người nước ngoàithực hiện Điều này, đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung BLHS để nội luật hóa cácquy định về hình sự trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên nhằm thựchiện đầy đủ các nghĩa vụ của quốc gia thành viên và tạo cơ sở pháp lý thuận lợi choviệc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm, đặc biệt làcác tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
Ngoài ra, BLHS hiện hành cũng còn nhiều bất cập về mặt kỹ thuật lập phápliên quan đến sự thống nhất giữa Phần chung và Phần các tội phạm; các dấu hiệu địnhtội, định khung của nhiều tội danh; các tội ghép; cách thiết kế khung hình phạt cũngnhư khoảng cách khung hình phạt của một số tội danh; chưa có sự nhất quán trongcách phân chia các chương tội phạm Những bất cập này cũng ảnh hưởng lớn đếnviệc hướng dẫn thi hành và áp dụng các quy định của BLHS trên thực tế
Những hạn chế, bất cập nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực và hiệuquả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; chưa thực sự tạo môi trường pháp lýthuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước cũng nhưcho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền của người dân Do đó,việc xây dựng BLHS (sửa đổi) là hết sức cần thiết
Ngay sau khi các nghị quyết của Quốc hội được ban hành, VKSND tối cao đãkhẩn trương xây dựng các kế hoạch và tổ chức nhiều hội nghị quán triệt, triển khaithực hiện nghiêm túc từ trung ương đến cấp cơ sở ; kịp thời nghiên cứu, sửa đổi, bổsung hệ thống chỉ tiêu công tác trong Ngành, bám sát các chỉ tiêu của nghị quyết Quốchội và chỉ đạo tổ chức thực hiện trong toàn Ngành Thông qua các chỉ thị công tác
Trang 10hàng năm, các chỉ thị công tác chuyên đề , Viện trưởng VKSND tối cao chỉ đạo VKScác cấp triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương “Đổi mới, chất lượng, kỷ cương,hướng về cơ sở”; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong quản lý, điều hành ;yêu cầu mỗi VKS địa phương, đơn vị lựa chọn ít nhất một nội dung công tác đột phá
để tập trung chỉ đạo thực hiện, nhằm tạo sự chuyển biến thực sự trong từng khâu côngtác, ở từng địa phương, đơn vị và trong toàn Ngành ; nghiên cứu, đề xuất Đảng, Quốchội và Chính phủ chủ trương đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng của Ngành;kiện toàn, đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm tăng cường kỷcương, kỷ luật về nghiệp vụ, công vụ và trật tự nội vụ trong toàn Ngành; chú trọngcông tác tổng kết thực tiễn, hướng dẫn nghiệp vụ đối với các cấp kiểm sát; đánh giákết quả công tác trên cơ sở mức độ hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ Quốc hội giao; tíchcực nghiên cứu, xây dựng các đề án nâng cao năng lực cho Ngành; tăng cường ứngdụng công nghệ thông tin bảo đảm phục vụ công tác có hiệu quả; chủ động tham mưucho các cấp ủy đảng tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác tư pháp, công tác kiểmsát ; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp và các cơ quan hữu quan bảo đảm thựchiện tốt các nghị quyết của Quốc hội
Qua 3 năm triển khai thực hiện, ngành Kiểm sát đều thực hiện vượt 04/04 chỉtiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết số 37, các chỉ tiêu đạt được năm sau tốt hơn năm trước ;trách nhiệm công tố có chuyển biến rõ nét; chất lượng, kỹ năng tranh tụng của Kiểmsát viên từng bước được nâng lên; kiểm sát hoạt động tư pháp hiệu quả hơn Cụ thể: đãkiểm sát 100% các vụ án hình sự ngay từ khi khởi tố; tỷ lệ truy tố đúng thời hạn đạt99,7%, vượt 9,7%; tỷ lệ truy tố đúng tội danh đạt 99,6%, vượt 4,6%; kháng nghị cácloại được Tòa án chấp nhận đạt 78,8%, vượt 8,8% Công tác phát hiện, kiến nghị,kháng nghị yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp đạt nhiều kếtquả nổi bật; trong 2 năm (2013 - 2014) đã ban hành 21.029 kiến nghị, kháng nghị, tăng84,2% so với 2 năm trước khi có Nghị quyết số 37 Qua thực hiện chức năng, đã kiếnnghị với Chính phủ, một số bộ, ngành nhiều biện pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn viphạm pháp luật và tội phạm
Trang 112.2 Tích cực tham gia xây dựng và triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013;chủ trì soạn thảo Luật Tổ chức VKSND (sửa đổi), Bộ luật TTHS (sửa đổi) bảo đảmtiến độ và chất lượng theo yêu cầu của Quốc hội
Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIII,ngành Kiểm sát đã sớm xây dựng kế hoạch thực hiện và tập trung chỉ đạo tổ chứcnhiều hội nghị, hội thảo tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chứcVKSND năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND, Pháp lệnh Viện kiểm sát quân
sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trong toàn Ngành Chỉ đạo toàn Ngành tíchcực tham gia xây dựng Hiến pháp năm 2013; chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các ủy bancủa Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và các bộ, ngành thực hiện 02 dự án: Luật Tổchức VKSND (sửa đổi) và dự án Bộ luật TTHS (sửa đổi) được Quốc hội giao chủ trìbiên soạn
Ngay sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực, VKSND tối cao đã xây dựng chỉthị, kế hoạch triển khai thi hành và khẩn trương tổ chức hội nghị trực tuyến quán triệtthực hiện đến từng cán bộ, Kiểm sát viên, chuyển tải đến toàn Ngành những nội dungtiến bộ của Hiến pháp 2013 Các dự án Luật Tổ chức VKSND (sửa đổi) và Bộ luậtTTHS (sửa đổi) được thực hiện đúng tiến độ; thể chế hóa đầy đủ những quy định mớicủa Hiến pháp năm 2013; những quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp; chọn lọctiếp thu những thành tựu tư pháp tiến bộ của thế giới, cụ thể hóa nhiều nội dung của dự
án luật, khắc phục cơ bản tình trạng luật ban hành phải chờ văn bản hướng dẫn dướiluật như hiện nay Tại kỳ họp Thứ 8, dự thảo Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) đã đượcQuốc hội thông qua với tỷ lệ tán thành cao và có hiệu lực kể từ ngày 01/6/2015 Đốivới dự án BLTTHS (sửa đổi), đến nay dự thảo đã được chỉnh lý, hoàn thiện; dự thảo
Bộ luật được các đại biểu Quốc hội và dư luận đánh giá cao về nội dung, tiến độ vàchất lượng chuẩn bị, sẽ được trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp này
Ngành Kiểm sát cũng đã và đang tích cực tham gia xây dựng nhiều dự án luậtquan trọng khác về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp Từ năm 2012 đến nay,VKSND tối cao đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan xây dựng, ban hành
80 văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật , nhất là các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 12CHƯƠNG 2.RÀO CẢN TRONG VIỆC GIA NHẬP NGHỊ
ĐỊNH THƯ TÙY CHỌN THỨ 2 ICCPR CỦA VN TRÊN THỰC TIỄN - VẤN ĐỀ XOÁ BỎ HÌNH
PHẠT TỬ HÌNH 2.1 Dư luận xã hội đối với hình phạt tử hình
Các nghị quyết chuyên đề của Quốc hội như Nghị quyết số 37, Nghị quyết số
63, Nghị quyết số 52 đã thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong hoạt động tưpháp nói chung và hoạt động của ngành Kiểm sát nói riêng, trong đó có những tồn tạikéo dài Thời gian qua, các cấp kiểm sát đã tập trung khắc phục những tồn tại này vàtrên thực tế đã đạt được những kết quả đáng kể Theo đó, đã phối hợp với các cấp, cácngành tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, cơbản kiềm chế được sự gia tăng, phức tạp của tội phạm ; các trường hợp bắt, tạm giữhình sự phải xử lý hành chính, trả tự do chiếm tỷ lệ thấp và giảm nhiều ; công tố tronggiai đoạn điều tra được thực hiện sớm hơn, toàn diện hơn và gắn chặt với hoạt độngđiều tra ; tiến độ, chất lượng giải quyết án hình sự được nâng lên và đều vượt chỉ tiêuNghị quyết 37; những trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiếnhành tố tụng giảm dần theo từng năm và chiếm tỷ lệ nhỏ ; các trường hợp bị khởi tố,điều tra, truy tố oan và đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 25 Bộ luật hình sựđều giảm mạnh ; nguyên tắc tranh tụng trong xét xử ngày càng được bảo đảm tốt hơn ;việc đề nghị áp dụng hình phạt cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, nhất
là đối với các bị cáo về tội tham nhũng, kinh tế chức vụ giảm đáng kể và đều có căn
cứ, đúng pháp luật ; đã chủ động phối hợp xây dựng và ban hành nhiều văn bản hướngdẫn thi hành pháp luật phúc đáp tốt hơn yêu cầu thực tiễn
2.4 Đẩy nhanh tiến độ, xử lý nghiêm minh các vụ án tham nhũng, kinh tế chức
vụ trọng điểm, phức tạp, được dư luận quan tâm; chủ động phối hợp làm rõ một số vụ
án có dấu hiệu oan sai hoặc có đơn khiếu nại kéo dài
Thời gian qua, ngành Kiểm sát đã thực hiện nhiều giải pháp nâng cao tỉ lệ pháthiện, đẩy nhanh tiến độ và xử lý nghiêm minh các vụ án lớn về kinh tế, chức vụ vàtham nhũng; tổ chức nhiều hội nghị nhằm quán triệt thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của
Trang 13Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các nghị quyết của Quốc hội
về đấu tranh phòng, chống tham nhũng
Thông qua công tác kiểm sát, đã yêu cầu khởi tố nhiều vụ án tham nhũng; Cơquan điều tra VKSND tối cao chú trọng phát hiện khởi tố, điều tra nhiều vụ việc thamnhũng trong hoạt động tư pháp ; chỉ đạo Viện kiểm sát cấp dưới đẩy nhanh tiến độđiều tra, truy tố và xét xử nghiêm minh nhiều vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trungương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính Trung ương và các tỉnh ủy, thành
ủy theo dõi, chỉ đạo Kết quả cho thấy, việc giải quyết các vụ án lớn về tham nhũng,kinh tế chức vụ đã có nhiều tiến bộ; thời gian giải quyết nhanh hơn, xử lý nghiêmminh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, được dư luận nhân dân đồng tình, ủng hộ
Chủ động phối hợp với các cơ quan tư pháp trung ương tiến hành kiểm tra, xácminh làm rõ một số vụ án có dấu hiệu oan hoặc sai nghiêm trọng; một số vụ án có dấuhiệu bức cung, dùng nhục hình; một số vụ án có đơn khiếu nại bức xúc, kéo dài, gâybức xúc trong dư luận, qua đó kịp thời bảo vệ quyền con người, quyền công dân theoquy định của Hiến pháp
2.2 Tính bảo mật về hình phạt tử hình
chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm các nguồn lực đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình mới Đến nay, các đề án được giao đã cơ bản hoàn thành, nhiều đề
án đã được triển khai trong thực tiễn; tổ chức bộ máy của VKS các cấp tiếp tục đượcđổi mới, kiện toàn theo hướng chuyên sâu, gọn đầu mối; chất lượng đội ngũ cán bộđược nâng lên; cơ sở vật chất, phương tiện làm việc ngày càng được bảo đảm
Quán triệt Nghị quyết số 82 của Quốc hội, Viện trưởng VKSND tối cao đã kịpthời xây dựng kế hoạch và chỉ đạo triển khai thi hành Luật Tổ chức VKSND năm 2014trong toàn Ngành , đánh dấu một thời kỳ phát triển mới trong tiến trình cải cách tưpháp và hội nhập quốc tế
VKSND tối cao đã chủ động nghiên cứu và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hộiban hành 14 nghị quyết và tổ chức triển khai thực hiện trong toàn Ngành , như: nghịquyết về thành lập mới, kiện toàn một số đơn vị thuộc VKSND tối cao; thành lập 3VKSND cấp cao ; nghị quyết phân bổ biên chế, số lượng chức danh tư pháp cho VKScác cấp đáp ứng nhu cầu công tác, ưu tiên cho cấp cơ sở và những đơn vị mới được
Trang 14thành lập hoặc có khối lượng công việc gia tăng; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết
bị và phương tiện phục vụ công tác cho VKS địa phương
Viện kiểm sát các cấp chú trọng rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo;làm tốt việc giới thiệu nhân sự là lãnh đạo Viện kiểm sát địa phương tham gia cấp ủynhiệm kỳ 2015 – 2020; đổi mới toàn diện công tác thanh tra, kiểm tra , tập trung thanhtra, kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được Quốc hội giao ; kỷ cương, kỷluật được tăng cường, đoàn kết nội bộ được giữ vững, góp phần hoàn thành tốt chứcnăng, nhiệm vụ của Ngành
Đến hết năm 2014, ngành Kiểm sát đã thực hiện đạt 97% số biên chế đượcgiao; thực hiện nhiều giải pháp nhằm khắc phục cơ bản tình trạng thiếu nguồn tuyểndụng, thiếu cán bộ có chức danh tư pháp tại các tỉnh phía Nam, Tây Nguyên và miềnnúi phía Bắc Đổi mới công tác tuyển chọn, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản
lý, cán bộ giữ chức danh tư pháp; tổ chức thi tuyển chọn nguồn bổ nhiệm lãnh đạo cáccấp, bổ nhiệm các chức danh tư pháp để chọn được người thực sự có đủ phẩm chất đạođức, năng lực và trách nhiệm ; trong 3 năm, ngành Kiểm sát đã tuyển chọn, bổ nhiệm2.603 chức danh tư pháp, đạt 89,3% số chỉ tiêu được giao Tập trung các nguồn lực đểxây dựng Trường Đại học Kiểm sát trở thành trung tâm đào tạo nguồn lực chất lượngcao cho Ngành Tăng cường hình thức tự đào tạo thông qua các vụ án rút kinh nghiệm
ở quy mô cấp tỉnh và cấp quốc gia Hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng được đẩymạnh
Toàn Ngành thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt làNghị quyết TW 4 khóa XI, Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, gắn với các cuộc vận động xâydựng đội ngũ cán bộ của Ngành trong sạch, vững mạnh
Sau phiên họp chất vấn trực tiếp tại Kỳ họp thứ 5, Viện trưởng VKSND tối cao
đã thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những lời hứa trước Quốc hội và cử tri; chỉ đạo toànNgành tăng cường phối hợp với các cơ quan tư pháp bảo đảm thực hiện đạt và vượtcác chỉ tiêu, nhiệm vụ nghị quyết Quốc hội giao ; triển khai đồng bộ các giải phápnâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự, chống oan, sai và chống bỏ lọt tộiphạm ; đẩy nhanh tiến độ, xử lý nghiêm minh các vụ án hình sự, nhất là những vụ ánlớn về kinh tế, chức vụ, tham nhũng
Trang 15Đối với các góp ý của đại biểu Quốc hội về công tác xây dựng pháp luật và xâydựng ngành, Viện trưởng VSND tối cao đã nghiêm túc tiếp thu và đưa vào các dự ánluật được giao cho Ngành chủ trì hoặc tham gia soạn thảo; bổ sung vào các đề án tăngcường cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện cho Ngành Đối với chất vấn về các
vụ án cụ thể, Viện trưởng VKSND tối cao đã chỉ đạo xem xét, giải quyết kịp thời theođúng quy định của pháp luật, theo đó: đã thành lập tổ chuyên viên liên ngành trực tiếpkiểm tra, xác minh và kịp thời ban hành kháng nghị đối với các vụ án có dấu hiệu oan,sai ; kiên quyết khởi tố, điều tra xử lý đối với cán bộ tư pháp có vi phạm nghiêm trọngdẫn đến làm oan người vô tội hoặc xâm phạm quyền con người ; đôn đốc thực hiện bồithường kịp thời, đúng quy định của pháp luật cho người bị oan; trả lời và ban hành kếtluận của liên ngành tư pháp trung ương đối với những trường hợp không đủ căn cứkháng nghị, như: vụ Lê Bá Mai, phạm tội Giết người xảy ra tại tỉnh Bình Phước, vụ
Hồ Duy Hải phạm tội Giết người xảy ra tại tỉnh Long An và một số vụ án khác; đồngthời, chỉ đạo rút kinh nghiệm nghiêm túc đối với những vi phạm, thiếu sót thuộc tráchnhiệm của Ngành Hiện nay, VKSND tối cao đang tiếp tục chỉ đạo kiểm tra, xém xétmột số vụ việc khác để trả lời Đại biểu Quốc hội theo đúng quy định của pháp luật
6 Một số tồn tại, hạn chế
Quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, ngành Kiểm sát còn một số hạn chế,thiếu sót, đó là: trách nhiệm công tố trong một số vụ án chưa tốt; chất lượng tranh tụngcủa Kiểm sát viên tại một số phiên tòa chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp; còn đểmột số trường hợp oan, sai trong quá trình giải quyết án hình sự; một số đơn vị chậmphát hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp để kháng nghị, kiến nghị yêu cầukhắc phục, phòng ngừa; năng lực trình độ, trách nhiệm công vụ của một bộ phận cán
bộ chưa đáp ứng yêu cầu; còn để xảy ra một số cán bộ vi phạm phải xử lý kỷ luật, cócán bộ phải xử lý hình sự Đây là những tồn tại cần tiếp tục khắc phục trong thời giantới
7 Những giải pháp trọng tâm tiếp tục thực hiện tốt các nghị quyết của Quốc hộitrong thời gian tới
7.1 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; đề cao trách nhiệm củangười đứng đầu đơn vị trong tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định
Trang 16Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác theocác nghị quyết chuyên đề của Quốc hội
7.2 Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy; bảo đảm đủ biên chế, chứcdanh tư pháp được giao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo quy định của Luật tổ chứcVKSND năm 2014; chú trọng công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nănglực, trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị chođội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên
7.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm
vụ theo nghị quyết chuyên đề Quốc hội giao; tăng cường kỷ cương, kỷ luật trongNgành
7.4 Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểmsát hoạt động tư pháp; kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật, thiếu sót trong điềutra, truy tố, xét xử và thi hành án để kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục, nhất lànhững vi phạm pháp luật dẫn đến oan, sai
7.5 Chú trọng công tác xây dựng pháp luật; phối hợp xây dựng, ban hành cácvăn bản hướng dẫn thi hành pháp luật, nhất là các văn bản luật về hoạt động tư phápđược Quốc hội thông qua tại Kỳ họp này
7.6 Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp và cơ quan hữu quan bảo đảm
2.3 Sự gia tăng tội phạm nghiêm trọng trong thời gian qua
Giảm tử hình là một chủ trương lớn của Đảng được thể hiện trong các nghịquyết về cải cách tư pháp và trong thực tiễn lập pháp hình sự nước ta Chủ trương nàyhoàn toàn phù hợp với tinh thần bảo vệ các quyền con người, quyền công dân củaHiến pháp năm 2013 và xu hướng hội nhập quốc tế của nước ta Vì vậy, việc tiếp tụcgiảm hình phạt tử hình nhận được sự đồng thuận tuyệt đối của các cơ quan, tổ chức ởTrung ương và địa phương trong quá trình xây dựng dự án BLHS (sửa đổi) Các ý kiếnđều thống nhất quan điểm về tiêu chí giảm tử hình cũng như chủ trương sửa đổi, bổsung các quy định của BLHS về hình phạt tử hình theo hướng: 1) quy định rõ, cụ thể
và chặt chẽ các điều kiện áp dụng hình phạt tử hình nhằm thu hẹp phạm vi áp dụnghình phạt này, theo đó hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với một số đối tượng(người tổ chức, người phạm tội có tính chất côn đồ, tái phạm nguy hiểm, người thực