1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận Văn Thạc Sĩ) Đảng Bộ Huyện Yên Sơn (Tỉnh Tuyên Quang) Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới Từ Năm 2008 Đến Năm 2019.Pdf

135 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Bộ Huyện Yên Sơn (Tỉnh Tuyên Quang) Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới Từ Năm 2008 Đến Năm 2019
Tác giả Lê Hải Yến
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Minh Tuấn
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 4,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC LÊ HẢI YẾN ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN SƠN (TỈNH TUYÊN QUANG) LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2019 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

LÊ HẢI YẾN

ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN SƠN (TỈNH TUYÊN QUANG)

LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

LÊ HẢI YẾN

ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN SƠN (TỈNH TUYÊN QUANG)

LÃNH ĐẠOXÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2019

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 8229015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MINH TUẤN

THÁI NGUYÊN- 2020

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn“Đảng bộ huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên

Quang) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2019” là

công trình nghiên cứu của riêng tôi, có tính độc lập, kế thừa, phát triển những công trình nghiên cứu có trước Các số liệu trong luận văn phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được tác giả thu thập từ nhiều nguồn khác nhau,

hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc, trích dẫn rõ ràng Nếu có vấn đề gì tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm./

Th ái Nguyên, ngày 25 tháng 7 năm 2020

Tác giả

Lê Hải Yến

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành

nhất tới thầy TS Nguyễn Minh Tuấn, người thầy đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô trong Bộ môn Lịch sử đã dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập dưới mái trường Đại học Khoa học Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân, đặc biệt là Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện Yên Sơn đã cung cấp những thông tin, tài liệu hữu ích giúp tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Th ái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Lê Hải Yến

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN SƠN 15

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 15

1.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ 17

1.3 ĐIỀU KIỆN VĂN HÓA - XÃ HỘI 19

1.4 TÌNH HÌNH NÔNG THÔN HUYỆN YÊN SƠN TRƯỚC NĂM 2008 21

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN SƠN LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2019 32

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 32

2.1.1 Khái niệm nông thôn mới 32

2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn 36

2.1.3 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nông thôn mới 38

2.2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN SƠN VỀ THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 44

2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Yên Sơn về xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2019 44

2.2.2 Công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương xây dựng nông thôn mới 52

2.3 KẾT QUẢ 53

Trang 6

2.3.1 Kết quả quá trình lãnh đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới 53

2.3.2 Kết quả huy động nguồn lực thực hiện xây dựng nông thôn mới (2008 - 2019) 61

2.3.3 Kết quả thực hiện tiêu chí xã nông thôn mới 63

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3 NHẬN XÉT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM 70

3.1 NHẬN XÉT QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN SƠN LÃNH ĐẠO XÂY DỰNGNTM (2008 - 2019) 70

3.1.1 Ưu điểm 70

3.1.2 Hạn chế 76

3.2 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN SƠN LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (2008 - 2019) 77

3.3 ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 80

Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 94

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, góp phần ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái Tại Hội nghị lần thứ 7 (tháng 7/2007), Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã nêu quan điểm:

Cần có bước phát triển mới về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó chú trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại hóa, bền vững; xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội nông thôn ổn định; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức thành nền tảng bền vững, bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Xây dựng NTM chính là giải pháp quan trọng và thiết thực nhằm cụ thể hóa mục tiêu Nghị quyết Hội nghị lần thứ

7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đề ra, tạo động lực quan trọng cho sự nghiệp CNH, HĐH nâng cao đời sống vật chất và tinh thần chongườidân

Từ đó nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội nông thôn được tăng cường, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn; đời sống vật chất và tinh thần của cư dân các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Tuy nhiên, nhiều kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế như: Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực nông thôn còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu

Trang 9

quy hoạch, kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt…còn tồn tại nhiều hạn chế; môi trường sinh thái ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn, nhiều vấn

đề mới đang phát sinh và tiềm ẩn những hệ quả trên đòi hỏi phải tiến hành xây dựng nông thôn mới (NTM), đây là đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn cuộc sống, là nền tảng để xây dựng môi trường sống lành mạnh, đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững ở khu vực nông thôn

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh:

“Hiện nay và trong nhiều năm tới đây vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn

có tầm chiến lược quan trọng”, “Xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Thực hiện chương trình xây dựng mới nhằm xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống ấm no, văn minh, sạch đẹp, gắn với việc hình thành các khu dân cư đô thị hóa Phát huy dân chủ, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các tệ nạn xã hội ở nông thôn” [24] Xây dựng NTM là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) “Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn” Trước khi có Nghị quyết số 26, đời sống nhân dân huyện Yên Sơn còn gặp nhiều khó khăn cả

về vật chất và tinh thần, cơ sở vật chất - kỹ thuật ở nông thôn còn thấp kém, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu chưa hình thành được những mô hình phát triển kinh tế bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân; bộ mặt nông thôn chưa được khởi sắc Chính vì vậy, việc tiến hành xây dựng NTM nhằm giải quyết tốt vấn đề “tam nông” trên địa bàn huyện Yên Sơn càng trở nên quan trọng và cấp thiết Việc khảo sát thực tiễn, phân tích, đánh giá thực trạng một cách đầy đủ, khách quan quá trình lãnh đạo xây dựng NTM của Đảng

bộ huyện Yên Sơn (Tuyên Quang) là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện nói riêng và của tỉnh Tuyên Quang nói chung Trên cơ sở đánh giá khách quan đặc điểm tình hình, thuận

Trang 10

lợi, khó khăn, thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng NTM của Đảng bộ huyện Yên Sơn để có cơ sở khoa học, căn cứ rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm thực hiện tốt chương trình xây dựng NTM ở Yên Sơn trong sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay

Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của vấn đề đó, tác giả

chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang) lãnh đạo xây dựng

nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2019” làm luận văn thạc sỹ Lịch sử,

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Công trình “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”,

của tác giả Frans Elltis (1994), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Công trình nêu những vấn đề cơ bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển qua việc nghiên cứu lý thuyết, khảo cứu thực tiễn ở nhiều nước châu Á, Phi,

Mỹ La-tinh Công trình xem xét nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn liền với phát triển thương mại nông sản trên thế giới; đồng thời chỉ ra mô hình thành công, thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân [28]

Tác giả Benedict J.tria Kerrkvliet, Jamesscott (2000),“Một số vấn đề

nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam” do Nguyễn Ngọc

và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nxb Hà Nội, Hà Nội Công trình đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng nghề truyền thống Việt Nam Công trình có giá trị tham khảo trong việc giải quyết vấn đề phát triển

Trang 11

nông thôn nước ta hiện nay như: tương lai của các trang trại nhỏ, nông dân với khoa học, hệ tư tưởng của nông dân [8]…

Công trình “Lao động nông thôn di cư, đặc điểm và mô hình việc làm -

nghiên cứu dựa trên điều tra nông nghiệp Trung Quốc”, của tác giả Tuan

Francis, Somwaru, Diao Xinshen Công trình đã khẳng định những người lao động nông thôn sẽ bị thu hút vào các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp do tốc độ phát triển công nghiệp diễn ra mạnh mẽ ở Trung Quốc Các tác giả khẳng định sự chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn phục vụ chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong xây dựng NTM, qua sự chuyển dịch này xuất hiện những mô hình kinh tế mới trong khu

vực nông thôn [63]

Trung tâm phát triển nông thôn, Dự án MISPA (2006), “Lý luận và thực

tiễn xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” do dịch giả Cù Ngọc Hưởng,

Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Bài viết đã nghiên cứu vấn đề xây dựng NTM XHCN ở Trung Quốc trên nhiều khía cạnh như: Hệ thống lý luận xây dựng NTM XHCN; mục tiêu, tiêu chuẩn đánh giá và hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình xây dựng NTM XHCN và lựa chọn các chỉ tiêu cho từng khu vực…Nhìn chung kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo cho các quốc gia trong quá trình xây dựng NTM [61]

Công trình “Một số vấn đề phát triển xã hội nông thôn năm 2009 (Lao động và việc làm nông thôn)”, đề tài khoa học cấp Bộ của tác giả Bùi Quang

Dũng làm chủ nhiệm Công trình tập trung nghiên cứu về tình trạng thiếu việc làm, tình trạng di dân đến khu vực đô thị và tình trạng nghèo đói của người lao động nông thôn Đề tài khẳng định sự chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng, tình trạng thất nghiệp mùa vụ là nguyên nhân cơ bản dẫn đến di dân Việc di dân đến khu vực đô thị kéo theo nhiều vấn đề phải

giải quyết như việc làm, nhu cầu ăn, ở, đi lại, dịch vụ y tế, giáo dục [16]

Tác giả Lê Thế Cường (2013) với bài viết “Thực tiễn hiện đại hóa nông

nghiệp đặc sắc Trung Quốc và kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam”, Học viện

Trang 12

Kinh tế chính trị - trường Đại học Nhân dân Trung Quốc, ngày 11/3/2013 http://www.tapchicongsan.org.vn/ Bài viết phân tích những nội dung mấu chốt

từ thực tiễn con đường “hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc”, trên

cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm đối với xây dựng nông thôn ở nước

ta như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gai xây dựng NTM; đẩy mạnh và đổi mới cơ chế, chính sách nông nghiệp, nông thôn, thực hiện đồng bộ, nghiêm túc chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng công trình điện, đường, trường, trạm phục vụ nhu cầu của người dân…[13]

Công trình “Phát triển nông thôn” của tác giả Phạm Xuân Nam, Nxb

Khoa học xã hội, năm 1997 Công trình nghiên cứu sâu về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như dân số, lao động và giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; vấn đề sử dụng nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; vấn đề phân tầng xã hội và xóa đói giảm nghèo Công trình đã phân tích những thành tựu, yếu kém và nêu một số yêu cầu, giải pháp trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách của Nhà nước trong bối cảnh chuẩn bị bước sang thế kỉ XXI [40]

Công trình “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới

- quá khứ và hiện tại” của tác giả Nguyễn Văn Bích, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, năm 2000 Cuốn sách đã phân tích những sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn Việt Nam sau hơn hai mươi năm đổi mới, qua đó khẳng định được bộ mặt nông nghiệp, nông thôn nước ta thay đổi nhanh chóng; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao so với trước đổi mới [9]

Công trình “Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam”, của

tác giả Nguyễn Hữu Tiến, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội năm 2007 Cuốn sách là tập hợp các công trình nghiên cứu của tác giả trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá

- xã hội ở nông thôn Qua đó thấy được những tồn tại và hạn chế của việc phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay Đồng thời công trình đánh

Trang 13

giá được thực trạng những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Trong đó thành tựu quan trọng nhất là làm thay đổi đời sống người dân, nhất là từ khi thực hiện đường lối đổi mới [59]

Công trình “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và

mai sau”, của chuyên gia nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, tác giả Đặng Kim Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008 Công trình này đã nêu lên thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại Xuất phát từ thực tiễn, tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghị những chính sách khả thi nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển [51]

Bài viết “Nhìn lại hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia

xây dựng nông thôn mới: Kết quả và một số bài học kinh nghiệm” của Phó Thủ

tướng, Trưởng ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, Tạp chí Cộng sản, (số 94), năm 2014, tr.8-14 Bài viết đã trình bày những kết quả quan trọng bước đầu trong hơn 3 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM căn cứ và 19 tiêu chí của NTM Đồng thời bài viết cũng khái quát những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc từ các cấp chính quyền địa phương, cơ chế, chính sách, văn bản hướng dẫn thực hiện đến nguồn vốn đầu

tư cho chương trình, từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng NTM trong thời gian tiếp theo…[46]

Công trình “Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam”, của

Tác giả Nguyễn Xuân Thảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Cuốn sách được hình thành trên cơ sở các bài viết, bài nghiên cứu, các văn bản chuẩn bị cho những chính sách, quyết định của Bộ, của Chính phủ về những vấn đềnông nghiệp, phát triển nông thôn Nội dung chính cuốn sách đề cập đến những vấn

đề mang tính chiến lược, những vẫn đề mang tính cơ bản, bức xúc của nông nghiệp, nông thôn đến vấn đề sử dụng đất đai, an ninh lương thực, khó khăn, quy hoạch các vùng kinh tế, vấn đề việc làm ở nông thôn, lợi ích người lao

Trang 14

động Tác giả đi sâu nghiên cứu, phân tích, đóng góp ý kiến cho phương hướng phát triển của lĩnh vực, chuyên ngành lớn của nông nghiệp như: Vấn đề phát triển cây công nghiệp, vùng nguyên liệu, nuôi trồng thủy sản, phát triển lâm nghiệp… Tác giả coi trọng tính thực tiễn, tổng quát, cơ sở khoa học về hiệu quả của những vấn đề nêu ra Cuốn sách là một trong những tài liệu quan trọng giúp tác giả tìm hiểu sâu về những khó khăn cơ bản của nông nghiệp trong quá trình xây dựng NTM [53]

Đặng Kim Vui và cộng sự, Kỷ yếu Hội thảo phát triển bền vững nông thôn

mi ền núi phía Bắc Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2006 Cuốn kỷ yếu là tập hợp

những công trình nghiên cứu khoa học của 10 tác giả và nhóm tác giả trình bày

những vấn đề khác nhau của sự phát triển bền vững nông thôn miền núi phía Bắc nước Việt Nam Trong đó có bài viết của tác giả Đỗ Thị Bắc, Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững ở tỉnh Thái Nguyên - Những vấn đề cần quan tâm Thông qua việc đánh giá thực trạng, đưa ra những quan điểm, mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững nông phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Nguyên tác giả đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững ở tỉnh Thái Nguyên [66]

Nguyễn Văn Hùng (2015), Xây dựng nông thôn mới trong phát triển

kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh, luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận án đã đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng NTM trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương cấp tỉnh, thực trạng xây dựng NTM trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh, trong đó công trình đã khẳng định được xây dựng NTM đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá trình hình thành những mô hình sản xuất kinh tế mới, qua đó làm thay đổi bộ mặt người dân Trên cơ sở thực trạng, tác giả đề ra phương hướng và giải pháp xây dựng NTM trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 [30]

Trang 15

Luận án “Huy động nguồn lực tài chính phát triển giao thông nông thôn

trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang” của tác giả Dìu Đức Hà Luận án nghiên cứu

thực trang huy động lực lượng tài chính phát triển nông thôn thông tin từ ba nguồn lực: từ ngân sách nhà nước, từ cộng đồng và từ doanh nghiệp giai đoạn

2011 - 2016, định hướng đến năm 2020 Các nguồn lực tài chính tập trung vào

ba loại đường giao thông nông thôn gồm: đường trực thôn, đường ngõ xóm và các tương đương dân điểm, trục đường đồng chính Những nguồn lực tài chính phát triển giao thông nông thôn đảm bảo cho việc quy hoạch và xây dựng cở

sở hạ tầng nông thôn ngày càng hoàn thiện

Nguyễn Thị Nga (2014), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo xây dựng

nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013, luận văn thạc sỹ lịch sử, Trường

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội đã phân tích thực trạng kinh tế, văn hóa, giáo dục, cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn tỉnh Thái nguyên trước 2008; làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình xây dựng NTM từ năm 2008 đến năm 2013, qua đó tác giả khẳng định những thành quả của xây dựng NTM là nhờ vào sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên Công trình trình bày một số thành tựu và hạn chế trong quá trình xây dựng NTM của tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở đó, tác giả rút ra những kinh nghiệm phục vụ cho công tác xây dựng NTM ở Thái nguyên trong giai đoạn hiện nay như: Tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng bộ; dựa vào dân để xây dựng NTM; tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động huy động cả hệ thống chính trị vào xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh

Thái nguyên [42]

Công trình “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng

trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020” của tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên,

Nxb Chính trị quốc gia, năm 2002 Công trình đã làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn, thực trạng một số điểm trọng tâm nổi bật về nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn mới Trên cơ sở nghiên cứu về lí luận và thực tiễn của Việt Nam, tác giả đã đặt ra những vấn đề xoay quanh mối quan hệ “nông nghiệp - nông dân -

Trang 16

nông thôn” trong mô hình kinh tế mới và những khó khăn gặp phải trong quá trình thực hiện mô hình tăng trưởng kinh tế mới [65]

Công trình “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới” của tác giả Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng

Hùng Cuốn sách đã trình bày khái quát về thực trạng, những khó khăn trong nông nghiệp Việt Nam Trên cơ sở phân tích những khó khăn đó, tác giả đã đưa ra những giải pháp, đề xuất mới, đặc biệt về tổ chức quản lý các cấp cho công cuộc xây dựng NTM ở Việt Nam [14]

Công trình “Xây dựng nông thôn mới - những vấn đề lý luận và thực tiễn”của PGS.TS Vũ Văn Phúc (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật,

Hà Nội, 2012 Cuốn sách gồm các bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các

cơ quan Trung ương, các địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng NTM; với những nội dung chủ đạo: Những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc

tế về xây dựng NTM và thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam Viết về vấn đề thực tiễn NTM ở Việt Nam, cuốn sách đã khẳng định đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng, được triển khai rộng khắp trên cả nước, nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn dân Nhóm tác giả đã nêu những thuận lợi, khó khăn và ưu điểm, nhược điểm trong những năm đầu thực hiện chương trình [47]

Công trình “Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn (1930

- 1975) ” của PGS.TS Vũ Quang Hiển, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2013 Đây

là cuốn sách góp phần tái hiện bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn

1930 - 1975, trong đó đặc biệt đi sâu phân tích chủ trương, chính sách của Đảng đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn Từ đó rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm trong việc tiếp tục phát huy vị trí, vai trò, sức mạnh của giai cấp nông dân, địa bàn nông thôn và ngành kinh tế nông thôn trong giai đoạn hiện nay [29]

Trang 17

Ngoài các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân và vấn đề xây dựng NTM còn là tiêu điểm trong nhiều tạp chí như tạp chí Lịch sử Đảng, tạp chí NTM, tạp chí Xây dựng Đảng, tạp chí Nghiên cứu lý luận… với nhiều bài viết như: Bài viết của tác giả Thanh An đăng trên

tạp chí Nông thôn mới số 278 (kỳ 1, tháng 9/2010) với nhan đề “Gỡ thế

cho“tam nông” phát triển là cơ hội để nông dân làm giàu” Bài viết đã đề cập

đến các ý kiến khác nhau trong việc tạo hướng đi mới cho nông nghiệp, nông dân Việt Nam hiện nay [1]

Bài viết của tác giả Hải Sơn đăng trên tạp chí Nông thôn mới số 279 (kỳ

2, tháng 9/2010) với nhan đề “Thi đua xây dựng nông thôn mới việc lớn phải làm

đến cùng” Bài viết đã đề cập đến vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng

NTM đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đất nước [52]

Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Đắc đăng trên tạp chí Nông thôn mới

số 290 (kỳ 1, tháng 3/2011) với nhan đề: “Kiện toàn Ban chỉ đạo xây dựng nông

thôn mới từ Trung ương đến cơ sở” Trong bài viết này, tác giả chủ yếu đề cập

đến việc củng cố, kiện toàn ban chỉ đạo xây dựng NTM từ Trung ương đến cơ

sở nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng NTM ở nước ta trong giai đoạn hiện nay [27]

Bài viết của tác giả Hồng Chương đăng trên tạp chí Xây dựng Đảng số

3/2011 với nhan đề: “Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ xã trong việc quy hoạch

xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình” Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu

phân tích vai trò của Đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong việc quy hoạch xây dựng NTM [12]

Tiếp cận từ các góc độ khác nhau, các công trình trên đây đã đề cập tới nhiều vấn đề xung quanh việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị, trong đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, nhất là trên địa bàn nông thôn; đồng thời

đề cập đến rất nhiều khía cạnh của nông nghiệp và nông thôn nước ta trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó các

Trang 18

nguồn tư liệu mà tác giả sử dụng để giải quyết vấn đề nghiên cứu là: Công trình

“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai

đoạn 2011 - 2020” của tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên; Luận án “Huy động nguồn lực tài chính phát triển giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang”

của tác giả Dìu Đức Hà Công trình “Góp phần phát triển bền vững nông thôn

Việt Nam”, của Tác giả Nguyễn Xuân Thảo, Bài viết của tác giả Hải Sơn đăng

trên tạp chí Nông thôn mới số 279 (kỳ 2, tháng 9/2010) với nhan đề “Thi đua xây

dựng nông thôn mới việc lớn phải làm đến cùng” Những công trình nghiên cứu,

những nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn nói trên đã giúp tác giả thấy được bức tranh về nông thôn Việt Nam; những công trình trên có ý nghĩa quan trọng, là nguồn tài liệu tham khảo rất có giá trị để tác giả nghiên cứu giải quyết xây dựng NTM trên địa bàn huyện Yên Sơn Tuy nhiên, dù những công trình nói trên đều đề cập đến phạm vi và góc độ khác nhau về vấn

đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn; vấn đề xây dựng NTM nhưng cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về sự lãnh đạo của

“Đảng bộ Huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang) trong xây dựng nông thôn mới 2008 - 2019” Trong đó tác giả tập trung nghiên cứu những yếu tố tác động

đến xây dựng NTM huyện Yên Sơn; chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng

bộ huyện Yên Sơn; đánh giá ưu điểm, hạn chế và đưa ra một số bài học kinh nghiệm góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng NTM dưới sự lãnh đạo của đảng bộ

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 19

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích các yếu tố tác động đến quá trình xây dựng NTM ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

- Trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Tỉnh ủy Tuyên Quang và Huyện uỷ Yên Sơn về xây dựng NTM từ năm 2008 đến năm 2019

- Làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Yên Sơn (Tuyên Quang) vận dụng những quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Tỉnh ủy Tuyên Quang về xây dựng NTM vào điều kiện cụ thể ở địa phương

- Luận văn làm rõ những thành tựu, hạn chế và một số kinh nghiệm, đề xuất, kiến nghị về xây dựng NTM ở huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang)

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các chủ trương của Đảng bộ huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang) trong quá trình lãnh đạo xây dựng NTM

- Quá trình Đảng bộ huyện Yên Sơn lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM từ năm 2008 đến năm 2019

- Luận văn dựa trên lập trường của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng NTM

Trang 20

được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết đại hội Đảng, nghị quyết các hội nghị Trung ương

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Đồng thời sử dụng các phương pháp chuyên ngành như phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát thực tiễn, phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh nhằm nghiên cứu, làm rõ các nội dung đề cập trong luận văn

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng, Tỉnh ủy Tuyên Quang về xây dựng NTM

- Khái quát chủ trương của Đảng bộ huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang) trong quá trình vận dụng quan điểm của Đảng và Tỉnh ủy Tuyên Quang trong xây dựng NTM

- Luận văn đưa ra một số kinh nghiệm góp phần vào quá trình thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn của huyện Yên Sơn

- Luận văn sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập Lịch sử Đảng nói chung, Đảng bộ huyện Yên Sơn nói riêng Đồng thời

có thể làm tài liệu tham khảo để tuyên truyền đối với chương trình xây dựng NTM ở các địa phương

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài nghiên cứu khoa học được chia làm 3 chương:

Chương 1: Những yếu tố tác động đến chủ quá trình xây dựng nông thôn

mới của Đảng bộ huyện Yên Sơn

Chương 2: Đảng bộ huyện Yên Sơn lãnh đạo xây dựng nông thôn mới

từ năm 2008 đến năm 2019

Chương 3: Nhận xét và bài học kinh nghiệm

LƯỢC ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

Trang 21

[Nguồn: Uỷ ban nhân dân huyện Yên Sơn, năm 2019]

Trang 22

C hương 1

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Huyện Yên Sơn nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của tỉnh Tuyên Quang, có vị trí địa lý từ 21o40’ đến 22o10’ vĩ Bắc, 105o10’ đến 105o40’ kinh Đông Phía Đông giáp các huyện Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên), Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn); phía Tây giáp huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang) và huyện Yên Bình (tỉnh Yên Bái); phía Nam giáp huyện Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ), huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang); phía Bắc giáp huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang) Đến năm 2010, diện tích đất tự nhiên của huyện Yên Sơn là 113.242,26 ha Trong

đó, đất nông nghiệp chiếm 18.297,15 ha, chiếm 16,16%; đất lâm nghiệp 83.976,48 ha, chiếm 74,16%; các loại đất khác là 11.994,54 ha, chiếm 10,59% [3, tr.4]

Vùng đất Yên Sơn được hình thành và trải qua nhiều lần thay đổi về địa danh, địa giới hành chính Dưới các triều đại phong kiến, thời nhà Trần thuộc

lộ Quốc Oai, đầu thời Lê là Trấn Tuyên Quang, giữa năm Quang Thuận (1466) đặt làm thừa tuyên Tuyên Quang, có 1 phủ, 1 huyện và 5 châu (Thu Vật, Lục Yên, Đại Man, Vị Xuyên, Bảo Lạc); đến thời điểm chính thức thành lập tỉnh Tuyên Quang (năm Minh Mạng thứ 13-năm1831) thuộc huyện Hàm Yên (bao gồm địa giới các huyện Hàm Yên, Yên Sơn và thành phố Tuyên Quang ngày nay) Dưới thời Pháp thuộc cho đến năm 1900 vùng đất Yên Sơn ngày nay vẫn thuộc huyện Hàm Yên, nằm trong tiểu quân khu Tuyên Quang, thuộc Đạo quan binh số 3 Theo Quyết định ngày 29/8/1916 của quyền Thống sứ Bắc kỳ, ngày 1/1/1917, huyện Hàm Yên được chia tách thành hai huyện Hàm Yên và Yên Sơn Huyện Yên Sơn chính thức được thành lập, gồm 9 tổng: Các tổng Sơn Đô,

Trang 23

Yên Lĩnh, Bình Ca, Thường Túc, Lang Quán, Trung Môn, Đồng Yên, Điền Sơn (tách từ huyện Hàm Yên) và tổng Kim Quan (tách từ châu Sơn Dương)

Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa (từ tháng 3 đến 8/1945), địa bàn huyện Yên Sơn có 5 đơn vị hành chính: các xã Tiến Bộ, Thái Long, An Khang thuộc châu Tự Do Tổng Sơn Đô, tổng Yên Lĩnh thuộc châu Khánh Thiện Hai tổng Bình Ca và Kim Quan thuộc châu Hồng Thái Các xã Thắng Quân, Tứ Quận, Chiêu Yên, Xuân Vân, Trung Trực thuộc phủ Toàn Thắng Các xã Mỹ Lâm, Phú Lâm, Kim Thắng, Vinh Phú, Hoàng Khai, Lưỡng Vượng, An Tường, Hưng Thành, Ỷ La, Trung Môn, Chân Sơn thuộc phủ Quyết Thắng [3, tr.3]

Thực hiện Sắc lệnh số 77-SL ngày 21/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tháng 5/1946, thị xã Tuyên Quang được thành lập, tách ra khỏi huyện Yên Sơn trở thành đơn vị hành chính độc lập thuộc tỉnh Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 5/1948, thị xã Tuyên Quang sáp nhập trở lại huyện Yên Sơn và đến ngày 15/02/1955 được tái lập

Sau nhiều lần điều chỉnh địa giới hành chính huyện, xã đến năm 2010 huyện Yên Sơn có 31 đơn vị hành chính gồm thị trấn Tân Bình và 30 xã (Chân Sơn, Chiêu Yên, Công Đa, Đạo Viện, Đội Bình, Hoàng Khai, Hùng Lợi, Kiến Thiết, Kim Phú, Kim Quan, Lang Quán, Lực Hành, Mỹ Bằng, Nhữ Hán, Nhữ Khê, Phúc Ninh, Phú Lâm, Phú Thịnh, Quý Quân, Tân Long, Tân Tiến, Thái Bình, Thắng Quân, Tiến Bộ, Trung Minh, Trung Môn, Trung Sơn, Trung Trực, Tứ Quận, Xuân Vân)

Địa hình huyện Yên Sơn hình thành 3 vùng rõ nét: Vùng thượng huyện (phía Đông và Đông Bắc) là những dãy núi đá có độ cao trung bình khoảng 600

m so với mặt biển Xưa kia, vùng này cư dân thưa thớt, kinh tế chủ lực là các nguồn lợi từ rừng Trong rừng có nhiều gỗ quý như đinh, lim, nghiến, lát, sến, táu, chò ; nhiều thú hiếm như hổ, gấu, hươu, nai nấm hương, mộc nhĩ và dược liệu quý Một số khoáng sản đã được phát hiện và khai thác như than, thiếc, chì,

Trang 24

barít, cao lanh, vàng sa khoáng Vùng trung và hạ huyện Yên Sơn là những dãy đồi bát úp, đất đai mầu mỡ, thích hợp cho cây công nghiệp như chè, cà phê, hoa màu và chăn nuôi gia súc Phía Tây huyện Yên Sơn là nơi có những cánh đồng rộng, phì nhiêu như Kim Phú, An Tường, Mỹ Bằng, Lang Quán thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây công nghiệp và chăn nuôi Ôm lấy những cánh đồng này là dãy núi Là đồ sộ (có đỉnh cao hơn 900m so với mặt nước biển), núi Quạt, núi Nghiêm [3, tr.4]

Do địa hình phức tạp nên khí hậu ở Yên Sơn cũng phân thành 2 khu vực khác biệt: Phía Đông mát mẻ, ôn hòa; phía Tây, nhiệt độ nóng hơn 10C, số ngày nắng và lượng mưa cũng cao hơn phía Đông

Chảy qua địa bàn Yên Sơn có 4 con sông: Sông Lô, sông Gâm, sông Chảy ở phía Tây và Tây Bắc, sông Phó Đáy ở phía Đông cùng mạng lưới suối, ngòi dày đặc Sông suối của huyện Yên Sơn nhiều thác ghềnh, thường lũ trong mùa mưa, tuy có gây một số khó khăn trong phát triển kinh tế, xã hội song cũng

có những tiềm năng, giá trị về mặt kinh tế Ngoài cung cấp nước phục vụ đời sống, sản xuất, sông suối còn cung cấp nguồn thủy sản khá phong phú, có giá

trị kinh tế cao phục vụ đời sống nhân dân, đồng thời là đường giao thông quan trọng giữa các vùng và tiềm năng phát triển thuỷ điện, du lịch Với điều kiện trên huyện Yên Sơn có nhiều tiềm năng, lợi thế để xây dựng nông thôn mới: Huyện tiếp giáp với nhiều huyện khác trong tỉnh và ngoài tỉnh, thuận lợi cho giao thông đi lại và trao đổi, buôn bán; đặc biệt là sự hình thành 3 vùng địa hình rõ rệt đã thúc đẩy sự phát triển của nhiều mô hình kinh tế mới trong quá trình xây dựng NTM

1.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ

Huyện Yên Sơn có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sông tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa miền núi với vùng trung

du và đồng bằng Từ Yên Sơn có thể xuôi về Hà Nội, ngược lên Hà Giang trên

Trang 25

Quốc lộ số 2, sang Thái Nguyên và Yên Bái trên Quốc lộ 13A (nay là Quốc lộ 37) Cũng có thể cơ động bằng đường thủy đến các tỉnh lân cận như Phú Thọ, Hà Giang tương đối thuận tiện, đặc biệt là vận chuyển tre, nứa, gỗ về xuôi Ngoài ra, huyện Yên Sơn còn có nhiều đường liên xã, liên thôn, đường dân sinh nối các điểm dân cư, các vùng kinh tế với nhau

Diện tích đất nông nghiệp của huyện khá lớn, mầu mỡ, thích hợp với việc phát triển cây lương thực, cây công nghiệp Bên cạnh đó, huyện Yên Sơn còn có thảm thực vật phong phú để phát triển chăn nuôi đại gia súc Ngoài nguồn tài nguyên chính là rừng, huyện Yên Sơn còn có các loại khoáng sản như sắt, chì kẽm, vàng, ba rít…

Huyện Yên Sơn là địa bàn bao quanh thành phố Tuyên Quang, huyện Yên Sơn luôn gắn bó chặt chẽ với thành phố trên nhiều phương diện và có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng Ngoài những lợi thế

về đất đai, nguồn nhân lực, khoáng sản để phát triển nông nghiệp, công nghiệp, huyện Yên Sơn có nhiều danh lam thắng cảnh như: Hồ Ngòi Là ở Chân Sơn; núi Là ở Lang Quán; suối khoáng Mỹ Lâm ở Phú Lâm có thể đầu tư khai thác phục vụ du lịch sinh thái Ngoài ra Yên Sơn còn có khu di tích lịch sử cách mạng ATK Kim Quan, khu di tích lịch sử Làng Ngòi, Đá Bàn ở Mỹ Bằng, di tích lịch sử Trường Nguyễn Ái Quốc, địa điểm Khe Lau, Km 7, hội trường Đại hội Ítxala, di tích CayXỏnPhômViHản, di tích XuPhaNuVong Ngoài ra còn có các đền, chùa, đình mở ra khả năng phát triển du lịch, thu hút khách thăm quan khi đến tỉnh Tuyên Quang Bên cạnh đó du khách đến Yên Sơn được thưởng thức những món đặc sản như tinh bột dong giềng Lực Hành, thịt mỡ muối, thịt bò khô, thịt trâu khô, cá thính của người Sán Dìu Nhìn chung, huyện Yên Sơn có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế đa dạng ngành nghề cả về nông nghiệp - công nghiệp - du lịch, dịch vụ Đây là cơ sở quan trọng để huyện Yên Sơn sớm đạt được tiêu chí về kinh tế - xã hội trong xây dựng NTM Đặc biệt nhất là sự hình thành mô hình kinh tế bền vững phù hợp

Trang 26

với điều kiện kinh tế - xã hội từng vùng (có nhiều nơi phù hợp cho phát triển

du lịch, dịch vụ; làng nghề; trồng cây ăn quả, cây công nghiệp ), góp phần hình thành nên những NTM kiểu mẫu

1.3 ĐIỀU KIỆN VĂN HÓA - XÃ HỘI

Huyện Yên Sơn vốn là vùng đất cổ, từ xa xưa đã có sự tồn tại của con người Tại Bình Ca, An Tường, An Khang, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những

di vật của người nguyên thủy như rìu đá, mũi giáo, hóa thạch xương trâu thuộc thời kỳ đá mới Trải qua hàng ngàn năm, các thế hệ cư dân định cư, lập nghiệp trên vùng đất Yên Sơn bằng bàn tay lao động và trí tuệ của mình đã tạo dựng được những thôn xóm, bản làng đông vui, những cánh đồng, nương rẫy tốt tươi và một nền văn hóa phong phú với những kho tàng chuyện cổ tích, tục ngữ, ca dao, những làn điệu dân ca, dân vũ đặc sắc

Quá trình lao động, xây dựng bảo vệ quê hương, đấu tranh cải tạo thiên nhiên đã hun đúc nên tình yêu quê hương đất nước; truyền thống đoàn kết cần cù, sáng tạo trong lao động, dũng cảm kiên cường chống giặc ngoại xâm, nhân

ái nghĩa tình, thương yêu đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau những khi khó khăn, hoạn nạn của đồng bào các dân tộc nơi đây Năm 1932 cả huyện mới có 11.692 người, đến nay dân số toàn huyện là 44.413 hộ, 174.540 khẩu, trong đó dân tộc thiểu số là 19.185 hộ, 82.052 khẩu, bao gồm trên 22 dân tộc sinh sống (Kinh, Dao, Tày, Sán Chay, Nùng, Mông ) tại 387 thôn, bản thuộc 30 xã và 01 thị trấn (trong đó có 12 xã đặc biệt khó khăn, 14 xã có thôn đặc biệt khó khăn) Nhân dân các dân tộc trong huyện sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và khai thác lâm, thổ sản; một số ít có nghề thủ công mây tre đan, dệt vải, thêu may, đánh bắt thủy sản và buôn bán nhỏ

Huyện Yên Sơn có 3 tôn giáo chính là Phật giáo, Công giáo, Đạo Tin Lành Trong đó: Công giáo có 2.004 hộ, 7.698 khẩu, cư trú ở 25 xã, sinh hoạt

ở 16 họ giáo, 14 nhà nguyện; Đạo tin lành có 37 điểm nhóm với 3.602 tín đồ, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông cư trú tại các xã Trung Minh, Hùng Lợi, Trung Sơn, Kiến Thiết, Kim Quan, Đạo Viện, Mỹ Bằng

Trang 27

Trên địa bàn huyện Yên Sơn hiện nay có 496 đội văn nghệ quần chúng với hơn 12.600 diễn viên Trung bình hàng năm, các đội văn nghệ đã tổ chức biểu diễn gần 1.800 buổi văn nghệ, phục vụ hàng chục nghìn lượt người xem Trong các buổi biểu diễn văn nghệ đã xuất hiện nhiều tiết mục mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số do những nghệ nhân, diễn viên quần chúng người dân tộc trình bày đã tạo nhiều ấn tượng, được người xem nhiệt tình cổ vũ Thời gian qua, Trung tâm Văn hóa, Thông tin - Thể thao huyện chú trọng tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho những người làm công tác văn hóa, văn nghệ ở các xã, thị trấn, các hạt nhân văn nghệ ở thôn, bản và trong các cơ quan, đơn vị; tạo điều kiện, khuyến khích các đội, các câu lạc bộ văn nghệ ở địa phương tổ chức các hoạt động giao lưu, biểu diễn văn nghệ phục

vụ nhân dân nhất là đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động với phương châm xã hội hóa trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, các thiết chế văn hóa, thể thao phục vụ hoạt động văn hóa Đến nay, toàn huyện có 17/31 xã, thị trấn và 374/473 thôn, bản có nhà văn hóa Công tác điều tra, khảo sát, đánh giá di sản văn hóa vật thể, phi vật thể trên địa bàn được quan tâm, thông qua đó bước đầu huyện đã xây dựng thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc như: Các làn điệu hát Páo Dung, múa quy phục gà thần của dân tộc Dao, hát Then, hát cọi của dân tộc Tày, hát Sình ca, múa xúc tép của dân tộc Cao Lan Nhiều lễ hội truyền thống của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn huyện được bảo tồn, khôi phục theo hướng phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp như lễ hội Đình làng Giếng Tanh, Lễ hội chùa Phổ Linh, lễ hội Đầm Mây Các hoạt động trong hội được tổ chức phong phú và đa dạng, thực sự trở thành ngày hội văn hóa, thể dục thể thao mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Qua hoạt động phong trào văn hóa, văn nghệ ở cơ sở đã có nhiều nghệ nhân, hạt nhân văn nghệ của huyện tham gia các kỳ hội diễn nghệ thuật quần chúng của tỉnh, giành được nhiều huy chương vàng, bạc Nhiều tập thể, cá nhân được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch tặng

Trang 28

bằng khen, giấy khen đạt thành tích xuất sắc trong phong trào văn hóa, văn nghệ

Huyện Yên Sơn có di tích cách mạng Lào nằm tại tại thôn Làng Ngòi -

Đá Bàn, xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Từ trung tâm thành phố Tuyên Quang theo quốc lộ 2 (Tuyên Quang - Hà Nội) khoảng 3 km đến ngã ba Bình Thuận, rẽ phải đi theo đường Hiên khoảng 15 km đến Ủy ban nhân dân xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, từ Ủy ban nhân dân xã Mỹ Bằng đi tiếp 2

km, rẽ phải 1km đến khu đồi Gò Tre là đến khu di tích Làng Ngòi, đi tiếp 7 km theo đường liên thôn là đến khu di tích Đá Bàn

Huyện Yên Sơn hiện có 99 di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, trong đó có 20 di tích được xếp hạng cấp tỉnh và 14 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia.Trong đó có 7 xã khu ATK Yên Sơn có 64 di tích lịch sử văn hoá, trong đó riêng xã Kim Quan có 16 di tích Nơi đây, Bác Hồ và hầu hết các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ đã ở và làm việc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Ngoài ra, Yên Sơn còn nổi tiếng với di tích đình làng Giếng Tanh, thôn Giếng Tanh, xã Kim Phú được công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh Với truyền thống yêu nước, cần cù, lao động sáng tạo và đấu tranh cách mạng cùng với những giá trị văn hoá, di tích lịch sử là cơ

sở quan trọng để huyện Yên Sơn chú trọng giữ gìn và phát huy những bản sắc văn hoá các dân tộc trong xây dựng NTM

1.4 TÌNH HÌNH NÔNG THÔN HUYỆN YÊN SƠN TRƯỚC NĂM 2008

Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ, chính quyền và

nhân dân các dân tộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả khá toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2007 đạt 12,81%, năm 2008 đạt 13,8%) GDP bình quân đầu người năm 2008 đạt 8,7 triệu đồng, năm 2009 ước đạt 9,9 triệu đồng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và đúng hướng (năm 2009 dự kiến công nghiệp, xây dựng chiếm 24%; các ngành dịch vụ chiếm 36,6%; ngành

Trang 29

nônglâm nghiệp chiếm 39,4%) Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm đáng kể (bình quân 5%/năm từ 35,64% năm 2006 xuống còn 18,58% năm 2008) [33, tr.3-4]; cải cách hành chính và công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục được đẩy mạnh và đạt kết quả bước đầu; hệ thống chính trị được củng cố và tăng cường; quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; bước đầu đã phát huy được những lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội

Tuy nhiên, những kết quả trên chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện Yên Sơn Yên Sơn vẫn là một huyện nghèo so với các huyện khác trong tỉnh Tuyên Quang; quy mô kinh tế nhỏ, thu hút đầu tư còn hạn chế, thu ngân sách trên địa bàn thấp; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đứng trước những khó khăn, thách thức trên đòi hỏi Huyện uỷ phải khảo sát thực tiễn để từ đó có đánh giá khách quan, phản ánh đúng thực trạng tình hình thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội Để phát triển nhanh kinh tế - xã hội trên địa bàn, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Yên Sơn đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/HU ngày 03/10/2001 và Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 16/01/2002 xác định những mục tiêu, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm là: Phát triển cây chè, cây mía là cây trồng mũi nhọn của huyện; vận động, hướng dẫn nhân dân nuôi bò nhốt tại chuồng; phát triển các doanh nghiệp và trang trại; xây dựng thị tứ khu thương mại và thị trấn huyện lỵ; phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục; đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo

Thực hiện các Nghị quyết trên, Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; khai thác tiềm năng thế mạnh về đất đai, khí hậu, lao động, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Thực hiện các chính sách sản xuất nông nghiệp của UBND tỉnh như giao đất trồng chè cho các hộ cá nhân thời gian 50 năm; miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích chè trồng mới trong 3 năm đầu; tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân vay vốn với lãi suất ưu đãi để phát triển cây chè

Trang 30

và chăn nuôi bò Từ năm 2001 đến năm 2005, huyện Yên Sơn huy động mọi nguồn lực đầu tư xây mới 25 công trình thủy lợi, cải tạo, nâng cấp 71 công trình, quản lý và sử dụng có hiệu quả 266 công trình thủy lợi Với phương châm

“Nhà nước và nhân dân cùng làm” đã cung ứng xi măng, hỗ trợ kỹ thuật cùng sự đóng góp của nhân dân để kiên cố hoá 163,6 km kênh mương, nâng tổng chiều dài kênh mương được kiên cố hoá lên 300,47 km, đảm bảo tưới tiêu chủ động cho 3.504 ha lúa, hoa màu Năm 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đạt 347,6 tỷ đồng, tỷ trọng chiếm 42,8%, giảm 34,47% so với năm 2000; diện tích lúa lai đạt 6.298,8 ha, chiếm 54,8% diện tích canh tác Khai thác tối

đa diện tích đất soi bãi, đồi thấp, ruộng không chủ động nước để trồng ngô, trong đó 95% diện tích ngô được trồng bằng các giống lai có năng suất cao Sản lượng lương thực năm 2005 đạt 76.000 tấn, tăng 20.030 tấn so với năm 2000; bình quân lương thực đạt 405 kg/người/năm [32, tr.4]

Huyện tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng để từng bước hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn qủa, gắn với xây dựng môi trường sinh thái Quy hoạch vùng trồng chè, tiến hành cải tạo, thanh lý các nương chè kém phát triển, năng suất thấp để trồng lại bằng các giống có năng suất cao theo quy trình kỹ thuật mới Năm 2005, diện tích chè đang thu hoạch có 3.075 ha, sản lượng chè búp tươi đạt 21.663 tấn, năng suất bình quân đạt 70,45 tạ/ha Ổn định thâm canh 1.620 ha mía trong vùng quy hoạch cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy đường Tuyên Quang; năng suất mía cây đạt 60 tấn/ha, sản lượng năm

2005, đạt 97.200 tấn Chương trình phát triển cây ăn quả tiếp tục được đẩy mạnh Toàn huyện trồng mới 926,7 ha cây ăn quả, nâng diện tích cây ăn quả (nhãn, vải, na…) lên 2.488,8 ha, bước đầu hình thành vùng trồng cây ăn quả tập trung tại các xã Thái Bình, Lực Hành, Xuân Vân…góp phần xoá đói, giảm nghèo, tăng thu nhập cho nhân dân

Chăn nuôi có bước phát triển mới, nâng dần tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp Tiếp tục đẩy mạnh phương thức chăn nuôi công nghiệp với

Trang 31

các giống vật nuôi có năng suất cao, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu thị trường Việc kiểm soát, phòng, chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm được thực hiện thường xuyên và kịp thời Đến năm 2005, đàn bò địa phương đạt 7.600 con, đàn trâu 28.600 con, đàn lợn 93.595 con và đàn gia cầm 1.125.800 con Tập trung đầu tư, khai thác ổn định trên 500 ha diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản Năm 2005, sản lượng thủy sản đạt 850 tấn

Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 20/11/2001 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, từ năm 2002, Yên Sơn tiếp nhận nuôi dưỡng 2.477 con bò sữa giống HF,106 con bò thịt giống Brahman Từ giữa năm 2002, phục vụ chương trình chăn nuôi bò sữa, bò thịt cao sản, huyện tiến hành quy hoạch, chuyển đổi một phần diện tích đất đồi, soi bãi, ruộng một vụ sang trồng chuyên canh cỏ và ngô làm thức ăn cho bò Đến 31/8/2005, tổng đàn bò sữa HF có 3.315 con, năng suất sữa bình quân đạt 15 kg/con/ngày; tổng sản lượng sữa năm 2005 đạt 13.500 tấn Đàn bò thịt giống Brahman có 137 con Hệ thống cơ

sở chuồng trại được đầu tư xây dựng đảm bảo cho việc chăm sóc nuôi dưỡng; bước đầu chuyển đổi phương thức quản lý các Trại chăn nuôi bò sữa thành các công ty trách nhiệm hữu hạn, nhằm nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả chăn nuôi

Trong lâm nghiệp, huyện chỉ đạo đẩy mạnh công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng Trong 5 năm (2001 - 2005), toàn huyện trồng rừng tập trung 4.978

ha, nâng độ che phủ của rừng lên 61,3%, tăng 10,52% so với năm 2000 Chú trọng các biện pháp quản lý bảo vệ rừng

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về đổi mới doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân và Luật Doanh nghiệp, với chủ trương tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế đầu

Trang 32

tư phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Huyện uỷ chỉ đạo các ngành, các địa phương tiến hành sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào địa bàn phát triển công nghiệp; đầu tư xây dựng một số cơ sở sản xuất mới

Nhờ có giải pháp phù hợp và sự chỉ đạo, đôn đốc tích cực, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh Trong giai đoạn (2001 - 2005), giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 25,5%/ năm Tiếp tục đầu tư mở rộng thêm dây chuyền sản xuất gạch Tuynel Năm 2005, sản lượng gạch Tuynel đạt 35 triệu viên Lắp đặt và đưa dây chuyền cán thép vào hoạt động, sản lượng thép năm 2005 đạt 16.000 tấn Đầu tư lắp đặt dây chuyền chế biến chè túi lọc tại Công ty chè Mỹ Lâm Đồng thời, đổi mới quy trình công nghệ chế biến chè, đưa ra thị trường nhiều sản phẩm chè có chất lượng cao, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước và xuất khẩu; sản lượng chè thành phẩm đạt 3.200 tấn Để phục vụ cho chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trên địa bàn Yên Sơn, Đảng bộ và chính quyền huyện tập trung thực hiện việc quy hoạch, thu hồi, đền bù, sắp xếp lại dân cư đảm bảo giải phóng mặt bằng đáp ứng kịp thời yêu cầu tiến độ thi công các công trình Cải tạo nâng cấp Quốc lộ 2, Quốc lộ 37, khu du lịch Suối khoáng

Mỹ Lâm, đường dẫn cầu Tân Hà, cầu An Hoà; các cơ sở sản xuất trong các cụm khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị Long Bình An Đẩy mạnh xây dựng hệ thống đường dây, trạm biến áp, cung ứng điện lưới quốc gia phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân Đến năm 2005, 100% xã, thị trấn và trên 90% hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia, tăng 56,8% so với năm 2000

Để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, Yên Sơn huy động mọi nguồn lực tập trung xây dựng cơ bản và phát triển giao thông nông thôn Thực hiện chương trình đá hoá và bê tông hoá các tuyến đường thôn bản theo phương thức

“Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ”, với nguồn vốn của Nhà nước và đóng góp của nhân dân, trong 5 năm (2001 - 2005), huyện Yên Sơn đã đầu tư 208,250 tỷ

Trang 33

đồng xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội (trường học, trạm

xá, nhà văn hoá…) Huyện tiến hành mở mới 80,5 km đường liên xã và thôn, bản; xây dựng mới 46,5 km đường bê tông, 26 công trình cầu nhỏ, đường ngầm tràn; đến năm 2005, toàn huyện có 36/36 xã, thị trấn và 511/533 thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm, tạo ra sự thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn Yên Sơn

Hoạt động thương mại - dịch vụ, du lịch tiếp được đầu tư phát triển Giá trị các ngành dịch vụ đạt 145,42 tỷ đồng, chiếm 18,3% trong GDP, tăng 10,04%

so với năm 2000 Huyện tập trung mở rộng các hoạt động dịch vụ, nâng cấp các chợ đã có, mở mới chợ nông thôn với quy mô phù hợp; đã cải tạo, nâng cấp

20 chợ nông thôn, nâng số chợ toàn huyện lên 36 chợ, đáp ứng nhu cầu giao lưu hàng hoá, phục vụ đời sống nhân dân Số hộ gia đình hoạt động kinh doanh lên tới 1.620 hộ, tăng 5,18% Tổng giá trị bán lẻ hàng hoá năm 2005 đạt 270 tỷ đồng Củng cố, nâng cao chất lượng phục vụ của 90 điểm bán hàng chính sách xã hội, đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời các mặt hàng trợ giá, trợ cước vận chuyển, các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất cho nhân dân Tiếp tục đầu tư xây dựng các điểm bưu điện văn hoá xã, mở rộng mạng lưới điện thoại đến các xã Đến năm 2005, toàn huyện có 36/36 xã, thị trấn có máy điện thoại, đạt 3,12 máy/100 dân, đảm bảo thông tin, liên lạc thông suốt

Hưởng ứng Chương trình du lịch quốc gia “Việt Nam điểm đến của thiên niên kỷ” do Bộ Văn hoá - Thông tin và Tổng cục Du lịch phát động, huyện Yên Sơn chuyển đổi hình thức quản lý, củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ tại khu điều dưỡng Suối khoáng Mỹ Lâm Duy trì và phát triển các lễ hội truyền thống như lễ hội đình làng Giếng Tanh (Kim Phú), đình Minh Cầm (Đội Bình) thu hút đông đảo khách du lịch

Sự tăng trưởng nhanh của các ngành kinh tế đã tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhờ thực hiện tốt việc bồi dưỡng và khai thác các nguồn thu, năm 2005,

thu ngân sách trên địa bàn đạt 29,9 tỷ đồng, tăng 37,2% so với năm 2000, tăng

Trang 34

bình quân 7,14%/năm Ngân hàng đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tổng dư nợ năm 2005 đạt 174,8 tỷ đồng, bằng 826,8% so với năm 2000 Các dịch vụ tài chính, bảo hiểm có bước phát triển khá Tiếp tục thực hiện công tác khoán thu, khoán chi, điều hành ngân sách theo định mức kế hoạch

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, Huyện chú trọng củng cố, đổi mới hoạt động của các hợp tác xã nông, lâm nghiệp; phát triển các hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, tổ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm sản…khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng Đến năm 2005, toàn huyện có 172 doanh nghiệp và hợp tác xã, tăng 75 doanh nghiệp và hợp tác xã so với năm 2000; giải quyết việc làm mới cho 2.230 lao động trên địa bàn Doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã phi nông nghiệp góp phần quan trọng phát triển kinh tế của địa phương Các hợp tác xã nông, lâm nghiệp được quan tâm củng cố, kiện toàn và hoạt động khá hiệu quả Kinh tế hộ phát triển nhanh, ngày càng nhiều gia đình làm kinh tế giỏi, thu nhập từ 50 triệu đến 150 triệu đồng/năm

Kinh tế tăng trưởng tạo điều kiện cho văn hoá-xã hội phát triển Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được quan tâm chỉ đạo Thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 12/3/2001 của Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục-đào tạo; Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 25/4/2002 của Tỉnh ủy về củng cố phát huy thành quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, tiến tới phổ cập giáo dục bậc trung học, hệ thống trường học trong huyện tiếp tục được củng cố và mở rộng, đặc biệt là giáo dục mầm non, 100% thôn, bản tổ chức được nhóm, lớp học mầm non Năm 2005,

Trang 35

toàn huyện có 124 trường học, tăng 48 trường so với năm 2000 Năm học 2004

- 2005, tỷ lệ trẻ trong độ tuổi đi nhà trẻ đạt 44,3%, trẻ trong độ tuổi đi học mẫu giáo đạt 95,8%, tỷ lệ huy động học sinh 6 tuổi vào lớp 1 và học sinh tốt nghiệp lớp 5 vào học lớp 6 đạt 100%

Phong trào xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh Với nguồn vốn đầu tư của Nhà nước và sự đóng góp của nhân dân, 5 năm 2001 - 2005, Yên Sơn đầu tư xây mới 511 phòng học, 82 phòng chức năng; sửa chữa 300 phòng học và 98 phòng chức năng cho các trường học, tổng giá trị 67,451 tỷ đồng; đáp ứng cơ bản yêu cầu cơ sở vật chất phục vụ dạy và học; tổ chức thành công đại hội giáo dục, đại hội Hội khuyến học và đến năm 2005, 100% xã, thị trấn có hội khuyến học

Với phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, chất lượng giáo dục toàn diện ngày một nâng lên, nhất là giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 100%, tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 96,7%, tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 25,7% Đến năm 2005, toàn huyện Yên Sơn có

6 trường tiểu học và 1 trường mầm non được công nhận đạt chuẩn Quốc gia Đặc biệt Trường tiểu học Trần Phú được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Năm 2001, huyệnYên Sơn đạt phổ cập giáo dục trung học cơ

sở và năm 2003 đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Các lớp bổ túc văn hoá tiếp tục mở để mọi người đều được học tập, nâng cao trình độ dân

trí, từng bước thực hiện phổ cập giáo dục bậc trung học Năm học 2004 - 2005, toàn huyện mở được 95 lớp bổ túc trung học phổ thông, với 4.368 học viên, trong đó, độ tuổi từ 17 đến 20 là 3.058 học viên, tỷ lệ huy động người trong độ tuổi đi học bậc trung học phổ thông đạt 87,3% Đội ngũ giáo viên được bổ sung

về số lượng và từng bước nâng cao về chất lượng, với 61,3% giáo viên mầm non, 99,6% giáo viên tiểu học, 96,5% giáo viên trung học cơ sở và 98% giáo viên trung học phổ thông đạt chuẩn

Trước sự phát triển của khoa học, công nghệ và nền kinh tế tri thức, những năm đầu thế kỷ XXI, Đảng bộ, chính quyền huyện quan tâm đầu tư phát

Trang 36

triển khoa học, công nghệ để phục vụ sản xuất và đời sống Các địa phương tích cực đưa giống cây, con có chất lượng và năng suất cao vào trồng trọt, chăn nuôi Đưa vào sử dụng hệ thống máy vắt sữa hiện đại và hệ thống quản lý đàn ALPRO tại Trung tâm giống bò sữa, bò thịt cao sản Phú Lâm Công ty chè Mỹ Lâm, Mỏ sắt và cán thép Tuyên Quang được cấp chứng chỉ hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 Các lâm trường tích cực thực hiện chương trình nhân giống cây lâm nghiệp bằng phương pháp giâm hom, đảm bảo cung ứng đủ giống cây lâm nghiệp chất lượng tốt để thực hiện chương trình trồng rừng

Các cơ quan, đơn vị chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác; đến năm 2005, có 10/36 xã, thị trấn nối mạng Intenét Văn phòng Huyện uỷ và Văn phòng UBND huyện được trang bị máy tính nội bộ, góp phần nâng cao hiệu quả công tác và chất lượng phục vụ nhân dân

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá phát triển rộng khắp Đến năm

2005, có 81% gia đình đạt gia đình văn hoá, 75% thôn, bản đạt tiêu chuẩn làng văn hoá Các thiết chế văn hoá được tăng cường một bước, toàn huyện xây dựng 20 nhà văn hoá xã, 380 nhà văn hoá thôn, bản; 100% xã, thị trấn có tủ sách Đời sống văn hoá cơ sở có nhiều khởi sắc Hoạt động văn hoá thông tin

có bước phát triển mới Với tinh thần hướng về cơ sở, phục vụ tận thôn, bản, đã tổ chức 1.193 buổi chiếu phim, 10.040 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ nhân dân trong huyện Phong trào văn hoá, văn nghệ ở cơ sở phát triển mạnh mẽ, toàn huyện có 665 đội văn nghệ quần chúng, thu hút hàng ngàn người tham gia Tỷ lệ dân số được nghe đài phát thanh đạt 95%, được xem truyền hình đạt 90%

Thực hiện Nghị quyết 30-NQ/TU của Tỉnh uỷ về củng cố, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đặc biệt tuyến y tế cơ sở, sự nghiệp y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân có những chuyển biến tích cực Mạng lưới y tế cơ sở ngày

Trang 37

càng được củng cố cả về số lượng và chất lượng 100 xã, thị trấn có cơ sở y tế xây dựng bán kiên cố; 98% thôn, bản có cán bộ y tế, 35 trạm y tế xã có bác sỹ trực khám và chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Kết hợp các phương pháp điều trị Tây y với Đông y, nhất là chú ý khai thác kinh nghiệm, khả năng chữa bệnh bằng các bài thuốc Đông y cổ truyền đạt kết quả tốt Kết thúc năm

2004 toàn huyện có 20 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Chất lượng khám, chữa bệnh từng bước nâng lên Các chương trình y tế quốc gia triển khai sâu rộng và đạt kết quả khá Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đủ 6 loại vắc xin đạt 99% Công tác vệ sinh, phòng dịch được các cấp, các ngành, các địa phương và ngành y tế quan tâm chỉ đạo nên trong 5 năm (2001 - 2005) trên địa bàn không có dịch bệnh xảy ra

Đảng bộ huyện Yên Sơn đặc biệt quan tâm chỉ đạo công tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống nhân dân Trong5 năm (2001 - 2005), huyện tạo việc làm mới cho 10.107 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 18%, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 80% và đưa 356 lượt lao động đi lao động ở nước ngoài, góp phần tạo việc làm cho nhân dân Đời sống của nhân dân từng bước được nâng cao Thu nhập bình quân đầu người năm 2005, đạt 420.000 đồng/người/tháng Số hộ giàu không ngừng tăng, số hộ nghèo giảm từ 13,8% năm 2000 xuống còn 2% năm

2005 Phong trào “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Quỹ vì

người nghèo” được đông đảo nhân dân hưởng ứng tham gia Chính sách xã hội

đối với bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, thân nhân liệt sỹ, người già cô đơn, người nghèo, người tàn tật, người nhiễm chất độc da cam điôxin được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành, các xã, các đoàn thể nhân dân quan tâm thực hiện tốt Toàn huyện xây dựng và sửa chữa 71 nhà tình nghĩa, trị giá 274 triệu đồng; đời sống của các hộ gia đình chính sách được bảo đảm, không còn

hộ chính sách đói nghèo, 36/36 xã, thị trấn được công nhận là đơn vị làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ và người có công Huyện Yên Sơn huy động các

Trang 38

nguồn vốn làm mới và sửa chữa nhà ở cho 1.083 hộ nghèo, với tổng giá trị trên

5 tỷ đồng, hoàn thành cơ bản việc xoá nhà tranh, dột nát cho hộ nghèo [32, tr.8]

Thực hiện di dân tái định cư thuỷ điện Tuyên Quang Huyện Yên Sơn quy hoạch 34 điểm tái định cư tại 16 xã để tiếp nhận nhân dân tái định cư Tiến hành chuyển nhượng 304,74 ha đất nông nghiệp; thu hồi đền bù, giải phóng 94,24 ha đất làm đất ở; triển khai xây dựng mặt bằng, đường, điện, cấp thoát nước Đến năm 2005, huyện Yên Sơn tiếp nhận 1.232 hộ với 5.868 khẩu về tái định cư tại các xã: Đội Bình, Kim Phú, Chân Sơn, Hoàng Khai, Lang Quán, Phú Lâm, An Khang, Tân Long, Nhữ Hán, Mỹ Bằng

Có thể nhận thấy, bộ mặt nông thôn huyện Yên Sơn trước năm 2008 có những thuận lợi đến quá trình xây dựng NTM như: Dưới sự lãnh đạo của Đảng

bộ huyện Yên Sơn, tình hình kinh tế - xã hội đã đạt được nhiều kết quả to lớn (tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm đều tăng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại; tỷ lệ hộ nghèo giảm; bước đầu hình thành vùng kinh tế phù hợp với điều kiện tự nhiên; đời sống văn hoá tinh thần và vật chất của người dân được nâng cao ) Tuy nhiên, huyện Yên Sơn vẫn là một huyện nghèo so với các huyện khác trong tỉnh; kinh tế - xã hội chưa thực sự phát triển bền vững; mức đầu tư vào phát triển kinh tế huyện chưa cao đó là những hạn chế cơ bản có ảnh hưởng lớn đến quá trình xây dựng NTM

Tiểu kết chương 1

Huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang) có những lợi thế nhất định trong tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong hoàn thành các tiêu chítrong xây dựng NTM Vùng trung, vùng hạ của huyện Yên Sơn có địa hình đất đai bằng phẳng, màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, là nơi tập trung đông dân cư gần với thành phố Tuyên Quang, trình độ dân trí khá cao Vùng

Trang 39

ATK và thượng huyện Yên Sơn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả

Bên cạnh vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi thì đặc điểm văn hoá

- xã hội của huyện Yên Sơn cũng có tác động to lớn đến quá trình thực hiện chủ trương xây dựng NTM Những yếu tố như truyền thống yêu nước, tính thần đấu tranh cách mạng; tinh thần hăng say, cần cù lao động, không ngại khó, ngại khổ của người dân; những di tích lịch sử cách mạng, danh lam thắng cảnh có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình thực hiện chủ trương xây dựng NTM Những yếu tố đó đòi hỏi trong quá trình xây dựng NTM, Đảng bộ huyện Yên Sơn phải phát huy và tận dụng được những thế mạnh sẵn có để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phải bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Yên Sơn Tuy nhiên, huyện Yên Sơn có những khó khăn nhất định như do địa hình nhiều thác ghềnh, nên khi vào mùa mưa hay xảy ra lũ lụt, gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội Về đặc điểm kinh tế, huyện Yên Sơn có điểm xuất phát thấp do là một huyện nghèo; quy mô kinh tế nhỏ, thu hút đầu tư còn hạn chế, thu ngân sách trên địa bàn thấp; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Những khó khăn trên đòi hỏi đảng bộ huyện Yên Sơn tập trung lãnh đạo thực hiện các tiêu chí, nhất là tiêu chí kinh tế, văn hoá - xã hội trong thực hiện xây dựng NTM

C hương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN SƠN LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2019

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1.1 Khái n iệm nông thôn mới

Trước hết, để hiểu rõ thế nào là NTM chúng ta phải hiểu khái niệm nông

thôn Theo T ừ điển bách khoa Việt Nam, khái niệm “nông thôn” được diễn giải

Trang 40

là lãnh thổ của một quốc gia hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, đời sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu là làm nông nghiệp Nông thôn Việt Nam là danh

từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp

Theo Từ điển tiếng Việt thì “Nông thôn là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông; phân biệt với thành thị; sống ở nông thôn, người nông thôn,

từ nông thôn ra thành thị” [62, tr.917]

Trong Thông tư số 54/2009/TT-BNN&PTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã khẳng định: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã” [10] Điều đó có nghĩanông thôn là hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội nhỏ, trong đó có đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và thiết chế xã hội Nông thôn được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Theo đó, NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển NTM đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc dân tộc; môi trường sinh thái được bảo quản; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao

NTM trước tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với vùng nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng phát triển hàng hóa; Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của người dân

Ngày đăng: 09/04/2023, 11:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2009), Thông báo số 238 - TB/TW “Về đề án chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 238 - TB/TW “Về đề án chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Hà Nội
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2009
3. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Yên Sơn (2010), Lịch sử Đảng bộ huyện Yên Sơn 1940 - 2010,Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Yên Sơn 1940 - 2010
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Yên Sơn
Nhà XB: Tuyên Quang
Năm: 2010
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2006), Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2010), Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2010
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2011), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
7. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
8. Benedicttria Kerrkvliet, Jamesscott (2000), Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam, Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam
Tác giả: Benedicttria Kerrkvliet, Jamesscott
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2000
9. Nguyễn Văn Bích (2000),Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại
Tác giả: Nguyễn Văn Bích
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2009), Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
11. Trần Thị Minh Châu (Chủ biên) (2007), Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Trần Thị Minh Châu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
13. Lê Thế Cường (2013), Thực tiễn hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc và kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam, Học viện Kinh tế chính trị, Trường Đại học Nhân dân Trung Quốc, tại trang http://www.tapchicongsan.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn hiện đại hóa nông nghiệp đặc sắc Trung Quốc và kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Tác giả: Lê Thế Cường
Nhà XB: Học viện Kinh tế chính trị
Năm: 2013
14. Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện và Đỗ Trọng Hùng (2013), Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới , Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới
Tác giả: Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2013
16. Bùi Quang Dũng (2010), Một số vấn đề phát triển xã hội nông thôn năm 2009 (Lao động và việc làm nông thôn), Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học xãhội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển xã hội nông thôn năm 2009 (Lao động và việc làm nông thôn)
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Nhà XB: Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 2010
17. Đả ng b ộ t ỉ nh Tuyên Quang (2008), Chương trình hành động số 18- CTr/TU ngày 27/10/2008 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động số 18- CTr/TU ngày 27/10/2008 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Tác giả: Đả ng b ộ t ỉ nh Tuyên Quang
Nhà XB: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Năm: 2008
18. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Huyện uỷ Yên Sơn (2010), Báo cáo số 340- BC/HU ngày 6 tháng 8 năm 2010 Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên Sơn lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2010 - 2015, Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên Sơn lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2010 - 2015
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Huyện uỷ Yên Sơn
Năm: 2010
19. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Huyện uỷ Yên Sơn (2015), Báo cáo số 616- BC/HU ngày 22 tháng 7 năm 2015 Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên Sơn lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Tuyên Quang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên Sơn lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2015 - 2020
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Huyện uỷ Yên Sơn
Năm: 2015
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V , Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII , Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w