Untitled VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VŨ MẠNH HÀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ V[.]
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI - -
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI - -
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật
Tác giả luận văn: Vũ Mạnh Hà
Trang 4Lời tri ân
Luận văn này được hoàn thành chính là nhờ sự hướng dẫn rất tận tâm của Người hướng dẫn khoa học, cô Đinh Thị Mai - người đã được Học Viện khoa học
Xã hội phân công hướng dẫn tác giả làm luận văn Đồng thời, trong thời gian khóa học, với tư cách là giảng viên trực tiếp giảng dạy, Cô Mai thực sự ấn tượng với học viên và với riêng bản thân tôi với kiến thức và phương pháp giảng dạy, hướng dẫn hiệu quả Vì vậy, từ tận đáy lòng, tác giả xin gửi lời tri ân chân thành đến Cô Đinh Thị Mai, một nữ Phó Giáo sư – Tiến sĩ luật trẻ tâm huyết với nghề
Tác giả cũng xin gửi lời tri ân đến Khoa Luật Học viện Khoa học Xã hội và Quý Thầy, Quý Cô đã trực tiếp tham gia giảng dạy và hướng dẫn học viên trong khóa học thạc sĩ luật này
Trân trọng
Tác giả luận văn: Vũ Mạnh Hà
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO 7
1.1 Khái niệm các hình phạt chính không tước tự do 7
1.2 Đặc điểm của các hình phạt chính không tước tự do 10
1.3 Chức năng, ý nghĩa của các hình phạt chính không tước tự do 14
1.4 Các hình phạt chính không tước tự do và phân biệt các hình phạt chính không tước tự do với các hình phạt khác 16
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 21
2.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các các hình phạt chính không tước tự do 21
2.2 Thực trạng áp dụng các hình phạt chính không tước tự do trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2015-2019 44
2.3 Một số hạn chế và nhận định nguyên nhân 50
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 65
3.1 Nâng cao ý thức của các chủ thể tiến hành tố tụng ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về vai trò và ý nghĩa tác động tích cực của các hình phạt chính không tước tự do, tránh “định kiến” chỉ ưu tiên áp dụng hình phạt tù 65
3.2 Đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ có thẩm quyền chứng minh trong điều tra trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 66
Trang 63.3 Đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và ý thức tuân thủ pháp luật của đội ngũ thẩm phán tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 66 3.4 Hướng dẫn thi hành và tập huấn quy định của Bộ luật hình sự 2015 về các hình phạt chính không tước tự do và thống nhất cách thức áp dụng hình phạt không tước
tự do 68 3.5 Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về các hình phạt chính không tước
tự do 69 3.6 Tăng cường công tác giám đốc xét xử, thanh tra, kiểm sát hoạt động xét xử của tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 69
KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu thống kê hình phạt cảnh cáo từ năm 2015 đến năm 2019 44 Bảng 2.2 Số liệu thống kê hình phạt tiền từ năm 2015 đến năm 2019 46 Bảng 2.3 Số liệu thống kê hình phạt cải tạo không giam giữ từ năm 2015 đến năm
2019 47 Bảng 2.4 Tỉ lệ áp dụng các hình phạt chính không tước tự do tại Thành phố Biên Hòa trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 50
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hình phạt là một chế tài quan trọng của luật hình, nó có mức độ trừng phạt nghiêm khắc nhất đối với người phạm tội Thế nhưng, hình phạt không chỉ có ý nghĩa trừng trị đơn thuần mà còn có một ý nghĩa quan trọng khác là nhằm giáo dục, ngăn ngừa họ phạm tội mới; đó mới chính là mục đích tối cao, mang tính nhân văn của hình phạt
Trong hệ thống hình phạt của bộ luật hình sự Việt Nam có quy định nhiều loại hình phạt khác nhau, trong đó có một số hình phạt nhưng không tước tự do đối với người bị kết án, như hình phạt cảnh cáo, hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ Các hình phạt kiểu này thể hiện rất rõ nguyên tắc nhân đạo trong việc xử
lý tội phạm; thể hiện được chính sách hình sự của Nhà nước ta là theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa, giáo dục tính hướng thiện trong việc xử lý tội phạm; qua đó thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013; đúng với tinh thần và yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX đã đề ra là “Coi trọng việc
hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm” (trích Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa
IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020) [2, tr 3]
Việc quy định các hình phạt không tước tự do vừa có mục đích phòng chống tội phạm, nhưng qua đó, một phần cũng là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, việc áp dụng các hình phạt chính không tước tự do đối với người phạm tội có tỷ lệ rất thấp so với các hình phạt chính khác như là hình phạt tù có thời hạn Về nguyên nhân, là do các quy định của pháp luật hình sự về các hình phạt không tước tự do chưa có cơ chế quy định đảm bảo việc áp dụng thống nhất Bộ luật hình sự năm 2015 tuy đã có những sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa thật cụ thể để có một cơ chế thống nhất áp dụng đối với loại hình phạt này
Trang 9mà còn rất tùy nghi áp dụng do cán bộ áp dụng pháp luật nói chung hay cụ thể hơn
là do thẩm phán ra quyết định áp dụng pháp luật nói riêng phần nào chưa nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ mục đích của các hình phạt không tước tự do trong việc thực hiện chính sách hình sự hiện nay, một phần cũng vì lý do tế nhị khác mà chúng
ta thường e ngại khi đề cập đến Như tại Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của
Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 có kết luận:
“Vẫn còn một số cán bộ tư pháp phẩm chất chính trị, ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu Tình trạng một bộ phận cán bộ tư pháp nhũng nhiễu, tiêu cực chưa giảm, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào chất lượng hoạt động tư pháp” [3, tr 2]
Riêng cá nhân tôi nhận thấy, tại Thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai nói riêng trong giai đoạn hiện nay, việc áp dụng “hình phạt chính” không tước tự do trong các vụ án hình sự là còn rất hạn chế Vì thế, việc tôi tiếp tục nghiên cứu về hình phạt chính không tước tự do của pháp luật hình sự và đánh giá việc áp dụng hình phạt chính không tước tự do trên thực tiễn địa bàn Thành phố Biên Hòa tôi thấy là rất cần thiết, để qua đó, đề nghị các giải pháp hoàn thiện hơn, nâng cao về nhận thức đối với đội ngũ thẩm phán, làm tăng hiệu quả trong việc áp dụng các hình phạt chính không tước tự do, góp phần nâng cao tính minh bạch, công bằng của luật pháp nước nhà và qua đó, tạo được niềm tin của người dân vào công lý Và đây chính là lý do tôi chọn đề tài này để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trước tôi, đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu về các hình phạt
không tước tự do như: Phạm Ngọc Ánh, “Thi hành hình phạt cảnh cáo thực hiện
như thế nào”, tạp chí Tòa án số 13 (2013); Doãn Trung Đoàn, “Hoàn Thiện các quy định về hình phạt tiền của BLHS Việt Nam”, tạp chí Tòa án số 18 (2013); Đỗ Thanh
Xuân, “Về hình phạt trục xuất”, tạp chí Tòa án số 02 (2015); Phạm Đức Trung,
“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ”, luận văn thạc sĩ luật học năm 2014; Phan Thị Minh Thái,
Trang 10“Hình phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng”, luận văn thạc sĩ luật học năm 2018; Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam – Chương 15 Khái niệm hình phạt, hệ thống hình phạt và các biện pháp
tư pháp”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội (2005); Đào Trí Úc, “Tội phạm học, Luật hình sự và Tố tụng hình sự”, NXB Chính trị Quốc gia (1995); Võ Khánh Vinh,
“Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)”, NXB Công an nhân dân (2008)
Các bài viết, công trình trên đây nói chung phần nào đã làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt chính không tước tự do, đồng thời đã chỉ ra được một số vướng mắc, bất cập của việc áp dụng các quy định về hình phạt chính không tước tự do trong thực tiễn Từ đó gợi mở cho tôi – tác giả luận văn – nhiều ý tưởng khoa học hết sức bổ ích, giá trị cho việc hoàn thành luận văn này Trong luận văn, tác giả đã mạnh dạn đưa ra các quan điểm, nhận thức của riêng mình trong việc đánh giá việc áp dụng các hình phạt chính không tước tự do tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trong những năm gần đây; chỉ ra một số vướng mắc, bất cập và đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các chính sách hình sự của Đảng và
Nhà nước, theo hướng mà nghị quyết Bộ Chính trị đã yêu cầu là “Coi trọng việc
hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm” [2, tr 3]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích để nghiên cứu đề tài này của tác giả luận văn là trên cơ sở làm rõ quy định của pháp luật về các hình phạt chính không tước tự do, đánh giá những bất cập, những hạn chế (khách quan và chủ quan) trong quá trình áp dụng pháp luật, từ
đó đưa ra những kiến nghị đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước có liên quan trên địa bàn TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai với mong muốn nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt chính không tước tự do, từ đó đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam có liên quan, bảo đảm hiệu quả áp
Trang 11dụng các hình phạt chính không tước tự do, góp phần đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp
Để đạt được mong muốn, tác giả đã phải phân tích, làm rõ lý luận về các hình phạt không tước tự do và qua đó so sánh quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trong các thời kỳ để thấy được những ưu điểm và hạn chế cần khắc phục của pháp luật hình sự Việt Nam về các quy định về hình phạt chính không tước tự do; đánh giá thực tiễn về việc áp dụng hình phạt chính không tước tự do trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, nêu ra các vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn áp dụng; đưa
ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định về các hình phạt chính không tước tự do áp dụng riêng cho địa bàn thành phố Đồng Nai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu:
Để đạt được mục đích đồng thời với việc hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu trên đây thì kết quả luận văn đã thể hiện được như sau:
+ Những vấn đề lý luận về các hình phạt chính không tước tự do;
+ Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các hình phạt chính không tước tự do;
+ Thực tiễn áp dụng các hình phạt chính không tước tự do trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Về phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học về đề tài như đã nêu trên, tác giả tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý
về các hình phạt chính không tước tự do; đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định
về hình phạt chính không tước tự do từ thực tiễn Thành phố Biên Hòa;
Do Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 hiện hành có quy định về trách nhiệm hình sự không những đối với cá nhân người phạm tội mà còn quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội Tuy nhiên, trong phạm vi
Trang 12nghiên cứu của đề tài này thì tác giả chỉ đề cập đến hình phạt chính không tước tự
do đối với người phạm tội chứ không bao gồm cả pháp nhân thương mại phạm tội
+ Phạm vi về không gian và thời gian: Luận văn thạc sĩ luật học này đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về các hình phạt chính không tước tự do trong khoảng thời gian 05 (năm) năm, từ năm 2015 đến năm 2019 trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Về phương pháp luận: Tác giả nghiên cứu đề tài đã dựa trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị, đồng thời tham khảo có chọn lọc quan điểm của một số tác giải có công trình nghiên cứu, bài viết liên quan để từ đó đưa ra quan điểm, nhận thức của chính mình về các hình phạt chính không tước tự do
Về các phương pháp nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự sau đây:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử;
- Phương pháp luật học so sánh;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp diễn dịch, quy nạp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về các hình phạt chính không tước
tự do theo pháp luật hình sự Việt Nam; đồng thời, đánh giá từ thực tiễn áp dụng để thấy được những vướng mắc, hạn chế còn tồn tại, đưa ra kiến nghị, giải pháp khắc phục nhằm áp dụng đúng quy định về các hình phạt chính không tước tự do
- Góp phần nâng cao nhận thức của những người làm công tác áp dụng pháp luật nói chung và về áp dụng các hình phạt chính không tước tự do nói riêng
Trang 13- Giúp cho tác giả luận văn hiểu sâu hơn đối với các quy định về hình phạt, hình phạt không tước tự do để từ đó thấu hiểu hơn đối với các quyết định, phán quyết của những người áp dụng pháp luật đối với người phạm tội; đồng thời qua đó cũng giúp ích rất nhiều cho tác giả trong quá trình hành nghề luật sư của mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 (ba) chương gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về các hình phạt chính không tước tự do Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự về các hình phạt chính không tước tự do và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các hình phạt chính không tước tự do trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO
1.1 Khái niệm các hình phạt chính không tước tự do
Tội phạm và hình phạt có mối quan hệ mật thiết với nhau, là những chế định trọng tâm của luật hình Hay nói cách khác, mối quan hệ giữa tội phạm và hình phạt nhìn dưới góc độ triết học chính là mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả, tức là người phạm tội phải chịu hậu quả nhất định do hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện; đó chính là trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Chế định về hình phạt chính là công cụ pháp lý hữu hiệu nhất của một nhà nước, hay một quốc gia trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm Về khái niệm pháp lý của hình phạt, lần đầu tiên đã được định nghĩa và quy định tại Bộ luật hình
sự năm 1999, được quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 tại kỳ họp thứ 6, khóa X có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 Điều 26 Bộ luật hình sự 1999 quy định:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định” [19, tr 60]
Sau đó, tại Điều 30 của Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đã kế thừa và quy định hình phạt như sau:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Toà án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [20, tr 24]
Như vậy, hình phạt đã được nhà nước ta xem là một trong những công cụ pháp lý hiệu quả nhất để đấu tranh phòng chống tội phạm Theo Bộ luật hình sự hiện hành, người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội thì phải chịu một hoặc một
số hình phạt nhất định trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà người hoặc pháp nhân thương mại đó đã thực hiện Tuy nhiên, như từng đề cập
Trang 15trên, việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội không chỉ đơn thuần mang tính trừng trị mà còn mang tính giáo dục với mục đích cao nhất là giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội và không tái vi phạm pháp luật hình sự Đối với từng người phạm tội khác nhau sẽ có hình phạt khác nhau, với nội dung hạn chế hoặc tước bỏ những quyền và lợi ích khác nhau, sẽ có khuynh hướng tác động khác nhau Đó chính là mục đích của hình phạt
Bộ luật hình sự 1985 tuy chưa đưa ra được khái niệm về hình phạt, nhưng mục đích của hình phạt thì đã được thể hiện tại Điều 20 Trong Bộ luật hình sự
1999 thì cũng có quan điểm về mục đích như Bộ luật hình sự 1985, thể hiện tại Điều 27 Tại Bộ luật hình sự năm 2015 hiện hành thì mục đích của hình phạt cũng
tiếp tục được kế thừa, được quy định tại Điều 31 là: “Hình phạt không chỉ nhằm
trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” [20, tr 25] Tuy nhiên, về nhận thức của một số nhà nghiên cứu
thì mục đích của hình phạt vẫn chưa có sự thống nhất Có nhận thức cho rằng “giáo dục, phòng ngừa mới là mục đích của hình phạt; trừng trị chỉ là tiền đề để đạt được mục đích đó mà thôi” Trong khi đó, trong một số giáo trình của một số trường đại học thì lại nhận định hình phạt trong luật hình sự có mục đích trừng trị Trong Giáo trình Luật hình sự phần chung của Trường Đại học Luật Hà Nội nhận định hình phạt có hai mục đích là phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng: “Trong mục đích
phòng ngừa riêng, trừng trị và cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới là hai mục đích song song tồn tại và có mối quan hệ chặt chẽ, chỉ có thể đạt được mục đích cuối cùng và chủ yếu là cải tạo giáo dục người phạm tội nếu hình phạt áp dụng với họ là tương xứng với hành vi phạm tội mà họ gây ra.” Theo
nhận định này, trừng trị được xem là mục đích phòng ngừa riêng còn mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phong ngừa và chống tội phạm chính
là mục đích phòng ngừa chung Nhưng luật hình sự Việt Nam không lấy sự trừng trị
để nhằm răn đe mà chủ yếu là nhằm làm cho mọi người tin vào sự công minh của
Trang 16pháp luật, khuyến khích họ cùng tham gia vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đó mới là nội dung chủ yếu của mục đích phòng ngừa chung của hình phạt
Do hành vi phạm tội là rất đa dạng, cùng với nhiều hoàn cảnh, điều kiện, mức độ phạm tội rất khác nhau nên cần phải có các hình phạt khác nhau nhằm đảm bảo tính hiệu quả cao nhất của hình phạt Từ cơ sở này, Bộ luật hình sự đã quy định
hệ thống hình phạt gồm các hình phạt đối với người phạm tội và các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội; phân chia thành hình phạt chính, hình phạt bổ sung để Tòa án xem xét, cân nhắc áp dụng đối với từng trường hợp cụ thể Hình phạt chính là loại hình phạt được áp dụng chính thức cho người phạm tội và được Tòa án tuyên một cách độc lập; đối với một trường hợp phạm tội cụ thể thì chỉ được
áp dụng một hình phạt chính Hình phạt bổ sung là loại hình phạt không được tuyên độc lập mà chỉ được tuyên kèm với hình phạt chính, đối với một trường hợp cụ thể
và có thể không áp dụng, hoặc có thể áp dụng một hoặc nhiều hình phạt bổ sung Điều 32 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định đối với người phạm tội thì hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình Hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính
Mặc dù trong Bộ luật hình sự 2015 không quy định khái niệm về “hình phạt tước tự do” và “hình phạt không tước tự do” nhưng có thể căn cứ vào tính chất tước
bỏ về tự do thân thể của người phạm tội thì hình phạt còn được chia thành hai nhóm là: hình phạt tước tự do và hình phạt không tước tự do Thuật ngữ “hình phạt tước
tự do” và “hình phạt không tước tự do” chưa được quy định chính thức trong Bộ luật hình sự nhưng đã được thừa nhận và được nhắc đến nhiều trong các tài liệu khoa học pháp lý khác và cũng được nhiều chuyên gia pháp lý và người làm công tác pháp luật sử dụng
Về khái niệm “các hình phạt không tước tự do”, lại có nhiều quan điểm khác nhau về như thế nào là “tước tự do” Tra cứu từ về “quyền tự do hoặc tự do” trên
Trang 17trang mạng bách khoa toàn thư mở wikipedia, thể hiện: “quyền tự do hoặc tự do là
một khái niệm dùng trong triết học chính trị mô tả tình trạng khi một cá nhân không
bị sự ép buộc, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí nguyện vọng của chính mình”, nên hình phạt không tước tự do được xem là hình phạt mà không
có sự ép buộc, hạn chế nào đối với người phạm tội Theo định nghĩa này, các hình phạt cải tạo không giam giữ cũng như hình phạt trục xuất không phải là hình phạt không tước tự do bởi các hình phạt này đã hạn chế quyền tự do cư trú của người phạm tội Tuy nhiên, quan điểm của một số chuyên gia pháp lý khác lại cho rằng hình phạt không tước tự do là hình phạt không buộc người phạm tội “phải cách ly hoàn toàn khỏi môi trường sống bình thường”; hay nói cách khác, là người phạm tội không phải sống tập trung trong môi trường giam giữ, nhưng họ phải bị tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền và lợi ích nhất định
Xuất phát từ quan điểm này và trên cơ sở khái niệm chung về hình phạt được quy định tại Điều 30 Bộ luật hình sự năm 2015 có thể khái niệm các hình phạt chính không tước tự do như sau: Các hình phạt chính không tước tự do là những hình
phạt chính nằm trong hệ thống hình phạt, được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người đó nhưng không cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội
Từ khái niệm này, đối chiếu với hệ thống hình phạt được quy định tại Điều
32 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì các hình phạt chính không tước tự do bao gồm các hình phạt sau:
1 Cảnh cáo
2 Phạt tiền
3 Cải tạo không giam giữ
4 Trục xuất
1.2 Đặc điểm của các hình phạt chính không tước tự do
Như trình bày trên, hình phạt tước tự do và hình phạt không tước tự do khác nhau cơ bản ở chỗ hình phạt có cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội hay
Trang 18không mà thôi Vì vậy có thể kể ra một số dấu hiệu cơ bản của hình phạt chính không tước tự do như sau:
- Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội
Cũng bởi bản chất hình phạt chính không tước tự do vẫn là hình phạt nên bản thân nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của hình phạt nói chung Ngoài ra nó còn mang một số đặc trưng riêng phản ánh nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam là người phạm tội không bị cách ly khỏi đời sống xã hội nhưng vẫn đảm bảo mục đích của hình phạt Hình phạt loại này không buộc người phạm tội phải cách ly khỏi môi trường sống bình thường mà tạo điều kiện cho người phạm tội được sống, lao động, học tập, cải tạo trong môi trường xã hội bình thường nhưng phải dưới sự giám sát, giúp đỡ của gia đình, cơ quan nhà nước, tổ chức nơi họ sinh sống, làm việc, với mục đích là nhằm tác động tích cực đến nhận thức của người phạm tội, giúp họ nhận ra được lỗi lầm của mình để tích cực cải tạo, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội
- Điều kiện áp dụng và hậu quả pháp lý của hình phạt chính không tước tự
do
Tòa án chỉ áp dụng các hình phạt chính không tước tự do khi pháp luật hình
sự có quy định Đồng thời, người phạm tội phải có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 Ngoài ra, tòa án còn phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội; đánh giá về vai trò, động cơ, mục đích phạm tội của người phạm tội trong vụ án để xác định người phạm tội có đủ khả năng để tự cải tạo trở thành người tốt và đồng thời không được ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Như vậy, chỉ có những trường hợp người phạm tội hội đủ các điều kiện nêu trên thì mới được áp dụng các hình phạt không tước tự do như đối với hình phạt cảnh cáo, phạt tiền chẳng hạn, chỉ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng; đối với hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng đối với người phạm tội
ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng…
Trang 19- Tính chất cưỡng chế của hình phạt chính không tước tự do thấp hơn hình phạt tù
Thể hiện rất rõ ở việc hình phạt chính không tước tự do người phạm tội không bị cách ly khỏi đời sống xã hội; yếu tố quyết định trong việc cải tạo là do chính người phạm tội tự ý thức trong quá trình cải tạo, không chịu sự giám sát, quản lý chặt chẽ như ở hình phạt tù giam mà chỉ chịu sự quản lý, giám sát ở mức độ nhất định như dưới sự giám sát của gia đình, cơ quan nhà nước, tổ chức nơi họ sinh sống, làm việc…
- Việc thi hành án đối với hình phạt chính không tước tự do được giao cho nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm, bản chất khác nhau của hình phạt
Như, Điều 257 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
“2 Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết
án cư trú hoặc làm việc có nhiệm vụ theo dõi, giáo dục, giám sát việc cải tạo của những người được hưởng án treo hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ
3 Việc thi hành hình phạt quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định do chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi thi hành án đảm nhiệm
4 Cơ sở chuyên khoa y tế thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh
5 Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giúp chấp hành viên trong việc thi hành án Nếu cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì cơ quan Công an và các cơ quan hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp.”
Đến khi có Luật thi hành án hình sự năm 2010, có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2011, thay thế Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993 và Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 2007, Điều 10 quy định:
Trang 20“3 Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự:
a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu (sau đây gọi là trại tạm giam);
b) Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã);”
Và kể từ ngày 01/01/2020 khi Luật Thi hành án hình sự năm 2019 có hiệu lực thi hành thì quy định trên đây tiếp tục được quy định với cùng nội dung tại Điều 11
Việc có quy định giao cho nhiều cơ quan khác nhau để phối hợp thi hành án hình sự là rất có ý nghĩa, vừa bảo đảm việc thi hành án đối với hình phạt không phải tù, vừa thể hiện bản chất nhân đạo của Nhà nước ta và xu thế xã hội hóa một
số công tác thi hành án hình sự hiện nay
- Việc thi hành án đối với hình phạt chính không tước tự do phát huy cao độ vai trò của cộng đồng trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội
Do người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội, được cải tạo dưới sự giám sát, giúp đỡ và giáo dục của các nhân tố gồm: cơ quan nhà nước, gia đình, tổ chức
xã hội, chính quyền địa phương, mục đích là nhằm cảm hóa người bị kết án hoàn lương Các nhân tố này đóng vai trò rất quan trọng Ngược lại, người bị kết án ngoài được hòa nhập với cộng đồng, hưởng các chế độ sinh hoạt bình thường thì phải tự giác cải tạo thật tốt, chấp hành nghiêm hình phạt đã tuyên, nếu không muốn
bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc hơn
Có nghiên cứu cho thấy, người mãn hạn tù (giam) trở về thường bị mặc cảm sâu sắc, tâm lý trầm trọng, tự ti; bị sức ép, định kiến xã hội nên thường khó hòa nhập với gia đình, xã hội và nếu không vượt qua thì rất dễ tái phạm Như vậy, hình phạt đã không đạt được mục đích giáo dục của nó Thế nên, việc thi hành án hình phạt chính không tước tự do có vai trò hết sức quan trọng của các nhân tố xã hội, cộng đồng
Trang 211.3 Chức năng, ý nghĩa của các hình phạt chính không tước tự do
- Về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội, điểm d Khoản 1 Điều 3 Bộ
luật hình sự năm 2015 quy định: “Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành
khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan
có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án,
ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;” [20, tr 9]
Từ nguyên tắc này cho thấy, việc đa dạng hóa hình phạt chính không tước tự do là cần thiết, là điều kiện đảm bảo cho việc xét xử công bằng; cũng bởi, như đã trình bày, mục đích của hình phạt là trừng trị nhưng cũng nhằm cải tạo giáo dục đối với người phạm tội Thế nên, về nguyên tắc xử lý, cũng đòi hỏi phải thực hiện chính sách khoan hồng đối với các trường hợp lần đầu phạm tội, phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng đã ăn năn, hối cải Việc đa dạng hóa hình phạt góp phần nào tạo nên cơ sở vững chắc cho việc thống nhất trong thực tiễn xét xử của tòa án, đảm bảo thực hiện nguyên tắc bình đẳng và công bằng trong xét xử Đa dạng hình phạt nói chung hay hình phạt chính không tước tự do nói riêng tạo ra khả năng linh hoạt, mềm dẻo trong việc quyết định hình phạt của hội đồng xét xử để áp dụng phù hợp, tương xứng với tính chất nguy hiểm của từng hành vi phạm tội Nguyên tắc này cho thấy có phân biệt và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội trong chính sách hình sự của Nhà nước ta Đó là chính sách kết hợp hài hòa giữa việc trừng trị nghiêm khắc và khoan hồng như điểm d, khoản 1 Điều 3 của Bộ luật hình
sự năm 2015 đã quy định Thêm nữa, do thực tế hiện nay tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, hành vi phạm tội đa dạng, tinh vi Vậy nên trong hệ thống hình phạt rất cần đa dạng hình phạt không những là những hình phạt nghiêm khắc chủ yếu mang tính chất trừng trị khi cần thiết mà cần phải có cả những hình phạt nhẹ để có thể khoan hồng đối với những trường hợp phạm tội với mức độ nghiêm trọng không lớn, đã hối cải nhưng chưa đến mức được miễn hình phạt Như quy
định tại Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn
cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
Trang 22hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [20, tr 35]
- Một hệ thống hình phạt càng có nhiều loại hình phạt có tính chất cưỡng chế khác nhau thì việc xử lý, áp dụng hình phạt càng chính xác, dẫn đến mục đích của hình phạt đó đạt được càng cao Như trình bày trên, có thêm các hình phạt chính không tước tự do, thể hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và phân hóa trách nhiệm hình sự, đồng thời cũng phù hợp được với tính đa dạng về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
- Nghiên cứu trên thực tế, người phạm tội sau khi chấp hành xong hình phạt cho thấy họ gặp vô vàn khó khăn trong việc tái hòa nhập cộng đồng Hình phạt chính không tước tự do đã hạn chế được những tác động tiêu cực này Đồng thời, theo nhận định của nhiều người, thì việc áp dụng các hình phạt chính không tước tự
do còn giúp cho người bị kết án tránh bị “lây điều xấu” từ những “bạn tù xấu hơn” Bởi thực tế đã có trường hợp sau khi ra tù, người phạm tội lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với thủ đoạn tinh vi hơn, manh động và nguy hiểm hơn
- Ở phạm vi nhất định nào đó, việc đa dạng hình phạt chính không tước tự
do làm tăng hiệu quả của hệ thống hình phạt Bởi vì bất kỳ một hình phạt nào không mang đủ tính công bằng và quá nghiêm khắc sẽ tác động tiêu cực đến người thụ án, dẫn đến tâm lý bất mãn, không còn tin công lý và làm mất đi động lực tự cải tạo, giáo dục của người phạm tội
- Xuất phát từ mục đích giáo dục của hình phạt, vì cho dù mục đích của hình phạt là trừng trị nhưng trừng trị cũng nhằm mục đích là cải tạo, giáo dục người phạm tội Do vậy, cùng với tính công bằng thì việc trừng trị chỉ ở mức cần thiết đủ
để giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người tốt và giáo dục, phòng ngừa chung
- Hình phạt chính không tước tự do còn có ưu điểm là hạn chế được những tác động tiêu cực của hình phạt đến gia đình của người phạm tội Như trình bày trên, khi người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù giam thì không chỉ tác động trực tiếp đến người phạm tội mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các thành viên gia
Trang 23đình của người đó vì bị kỳ thị, xa lánh Trong một số trường hợp, nếu người cha, người mẹ do phải chấp hành hình phạt tù giam sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý tiêu cực của con cái họ; đồng thời còn có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình của người phạm tội bởi không được gần gũi, quan tâm, chăm sóc thường xuyên cho nhau v.v
- Xét về lợi ích kinh tế, khi áp dụng hình phạt chính không tước tự do sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn so với áp dụng hình phạt chính tước tự do Bởi hình phạt chính không tước tự do sẽ tốn kém rất nhiều chi phí trong việc quản lý, cải tạo, giáo dục người phạm tội trong trại giam Đồng thời còn tốn kém các chi phí để thi hành các hình phạt chính tước tự do cho hệ thống các cơ quan thi hành án hình sự, rồi cả chi phí hỗ trợ người thi hành án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành hình phạt v.v… Trong khi ngược lại, một người bị áp dụng hình phạt chính không tước tự do do không bị cách ly khỏi môi trường xã hội nên họ vẫn có thể tiếp tục lao động, học tập, duy trì được công việc hàng ngày, đảm bảo không mất đi nguồn thu nhập hàng ngày mà còn tạo ra thu nhập cho kinh tế gia đình, đóng góp cho sự phát triển chung của cộng đồng
1.4 Các hình phạt chính không tước tự do và phân biệt các hình phạt chính không tước tự do với các hình phạt khác
1.4.1 Các hình ph ạt chính không tước tự do
Như trình bày phần trên, đối chiếu hệ thống hình phạt được quy định tại Điều
32 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì các hình phạt chính không tước tự do bao gồm các hình phạt sau:
1 Cảnh cáo
2 Phạt tiền
3 Cải tạo không giam giữ
4 Trục xuất
1.4.2 Phân bi ệt các hình phạt chính không tước tự do với các hình phạt khác
1.4.2.1 Phân bi ệt các hình phạt chính không tước tự do với hình phạt tước tự do (tù
có th ời hạn, tù chung thân)
Trang 24- Về phạm vi, điều kiện áp dụng:
* Đối với hình phạt tước tự do: Rất rộng, có thể áp dụng đối với tất cả các loại tội Theo quy định tại Bộ luật hình sự và các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thì chưa có quy định nào về trường hợp cụ thể nào thì không được xử phạt tù
* Đối với hình phạt chính không tước tự do: Rất hạn chế so với hình phạt tước tự do như đã trình bày trên về Nguyên tắc xử lý và quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015
- Cơ quan thi hành hình phạt:
* Đối với hình phạt tước tự do: Cơ quan công an, Đơn vị quân đội chịu trách nhiệm tổ chức thi hành các hình phạt này; người bị kết án tù không được hưởng án treo phải chấp hành án trong hệ thống trại giam thuộc Bộ công an, Bộ quốc phòng (các Điều 11, 12, 13 Luật thi hành án hình sự năm 2019)
* Đối với hình phạt chính không tước tự do: Nhiều cơ quan khác nhau cùng thực hiện, như đối với việc thi hành hình phạt tiền thì do Cơ quan thi hành án dân
sự thực hiện; đối với thi hành án phạt cải tạo không giam giữ thì giao cho ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị kết án cư trú, sinh sống (điểm b Khoản 3 Điều 11, Điều 19 Luật thi hành án hình sự 2019)
Trang 251.4.1.2 Phân bi ệt các hình phạt chính không tước tự do với hình phạt hạn chế tự do
Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 các hình phạt hạn chế tự do gồm có: Trục xuất, quản chế và cấm cư trú Hình phạt trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam; hình phạt quản chế là buộc người
bị kết án phạt tù phải cư trú, sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định; hình phạt cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất định Do đó, tiêu chí để phân biệt các hình phạt chính không tước tự do với các hình phạt hạn chế tự do là về mức độ hạn chế tự do, cụ thể:
* Đối với hình phạt chính không tước tự do: Được tự do đi lại, tự do về mặt thân thể và tự do lựa chọn nơi cư trú đối với người bị kết án
* Đối với hình phạt hạn chế tự do: Chủ yếu là các hình phạt bổ sung, trừ hình phạt trục xuất vì vừa có thể là hình phạt chính, vừa có thể là hình phạt bổ sung Tuy hình phạt hạn chế tự do không bị giam giữ, cách ly khỏi xã hội nhưng người bị kết án vẫn bị hạn chế quyền tự do Như hình phạt quản chế người bị kết án chỉ được cư trú ở một số địa phương nhất định, ngoài ra còn bị tước một số quyền công dân và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; ở hình phạt cấm cư trú người bị kết án bị tước bỏ quyền tự do cư trú ở một hoặc một số địa phương trong một khoảng thời gian nhất định v.v…
Trang 26Kết luận Chương 1
Các hình phạt chính không tước tự do chính là sự thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự của một nhà nước; chúng vừa đảm bảo được mục đích của hình phạt, vừa đem lại lợi ích cho xã hội do chúng là loại hình phạt không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống xã hội nên họ vẫn có thể sinh hoạt, làm việc và chăm lo cho gia đình v.v
Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các hình phạt không tước tự
do thì thấy, từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, các hình phạt chính không tước tự do được hình thành theo hướng tiến bộ hơn nhưng chỉ quy định riêng lẻ trong các sắc luật, sắc lệnh Đến năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên ra đời, thì hình phạt nói chung và hình phạt chính không tước tự do nói riêng mới được quy định cụ thể và khoa học trong bộ luật Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung thì các hình phạt chính không tước tự do ngày càng phát triển và được hoàn thiện hơn
Để đánh giá tính tiến bộ, hiệu quả của các hình phạt chính không tước tự do trong pháp luật hình sự của Việt Nam hiện nay chúng ta cần phải nghiên cứu, so sánh giữa các hình phạt chính không tước tự do trong từng thời kỳ khác nhau, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau của đất nước để thấy được tính đặc thù, ưu việt của chúng Tuy nhiên chính sự khác biệt này là những điểm mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tham khảo để góp phần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về hình phạt chính không tước tự do
Có một số quan điểm, luận cứ cần biện giải, như:
- Về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội: Có cần thiết đòi hỏi phải thực hiện chính sách khoan hồng đối với các trường hợp lần đầu phạm tội, phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng đã ăn năn, hối cải? Và như thế nào là ăn năn, hối cải? cần luật hóa về định lượng hay định tính? Việc đa dạng hóa hình phạt nhất là các hình phạt chính không tước tự do có góp phần tạo cơ sở vững chắc cho việc thống nhất trong thực tiễn xét xử của tòa án?
Trang 27- Một hệ thống hình phạt càng có nhiều loại hình phạt chính không tước tự
do có tính chất cưỡng chế khác nhau thì việc xử lý, áp dụng hình phạt có chính xác hơn không? Có làm tăng hiệu quả của hệ thống hình phạt?
- Việc áp dụng các hình phạt chính không tước tự do có giúp cho người bị kết án tránh bị “lây điều xấu” từ môi trường giam giữ không? Nếu có quan điểm như vậy, chẳng khác nào khẳng định hình phạt tước tự do là không tốt?
- Đặt giả thiết rằng một hình phạt mà không mang đủ tính công bằng và quá nghiêm khắc thì có tác động tiêu cực đến người chấp hành án? Đây là một vấn đề rất lớn, theo tác giả, bởi nếu vấn đề này được giải quyết thì việc xây dựng nhà nước pháp quyền là không khó !
- Có cần thiết đặt mục đích giáo dục của hình phạt cao hơn mục đích trừng trị hay không?
- Khi áp dụng hình phạt thì có cần thiết xem xét đến quyền lợi của những người thân thích của người bị kết án như là một tình tiết giảm nhẹ đặc biệt hay không?
Trang 28Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
2.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến trước năm 2015
2.1.1.1 Giai đoạn từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1954
Sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, mặc dù Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vừa ra đời còn non trẻ tuy vừa phải đối phó với rất nhiều khó khăn nhưng cũng đã kịp thời ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật hình
sự, thể hiện qua các sắc lệnh, như: Sắc lệnh số 50-SL ngày 09/10/1945 về việc Cấm xuất cảng thóc, gạo, ngô…; Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/02/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt nam dân chủ cộng hòa trừng trị nghiêm khắc những kẻ trộm cắp, phá hoại giao thông, đê điều, hệ thống thông tin liên lạc
Trong các sắc lệnh ban hành trong giai đoạn này thì có một số sắc lệnh có liên quan trực tiếp đến việc quy định về các hình phạt chính không tước tự do ở giai đoạn này, như: Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 về việc Ấn định thể lệ về việc trưng
dụng, trưng thu và trưng tập, được quy định ở Điều 12 như sau: “Người nào nhận
được lệnh thư thu, trưng dụng hoặc trưng tập mà không tuân thì có thể bị phạt tiền
từ một trăm đồng (100 đ) đến hai nghìn đồng (2.000 đ) và phạt tù từ sáu ngày đến
ba tháng hay bị một trong hai thứ trừng phạt ấy Tòa án có thể cho phạm nhân hưởng án treo”; Sắc lệnh số 205/SL ngày 18/8/1948 ấn định thể lệ trục xuất ngoại
kiều v.v…
Đồng thời, do không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội, nên Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945, cho tạm giữ các luật lệ cũ, trên nguyên tắc “Điều thứ 1: Cho đến
Trang 29khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật
lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này.”
Như vậy, các hình phạt chính không tước tự do ở giai đoạn này đã được quy định, áp dụng, đó là: hình phạt tiền và hình phạt trục xuất
2.1.1.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Trong giai đoạn này, các hình phạt chính không tước tự do tiếp tục được quy định trong pháp luật hình sự gồm có hình phạt cảnh cáo và hình phạt tiền, thể hiện
Báo chí nào vi phạm điều 9 hoặc điều 12 sẽ bị trừng phạt: tùy theo lỗi nặng nhẹ mà bị cảnh cáo, tịch thu ấn phẩm, đình bản tạm thời, đình bản vĩnh viễn, hoặc
bị truy tố trước tòa án…”
+ Quy định tại Pháp lệnh quy định về việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp đã được Ủy ban Thường vụ quốc hội thông qua ngày 18/01/1961; sau đó được Thông tư số 09-NV ngày 20/02/1961 hướng dẫn Thể hiện các Điều sau:
Trang 30mọi thủ đoạn khác để làm sai lạc kết quả cuộc bầu cử, thì tuỳ mức độ nặng nhẹ mà
có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tù, nặng nhất là ba năm
Điều 63
Mọi người đều có quyền và có bổn phận tố cáo các việc làm trái phép trong lúc bầu cử Ai cản trở hoặc trả thù người tố cáo, thì tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có thể
bị cảnh cáo hoặc bị phạt tù, nặng nhất là ba năm.”
+ Quy định tại Pháp lệnh về việc bảo vệ rừng được Ủy ban Thường vụ quốc hội ban hành ngày 06/09/1972, Điều 22 có quy định về hình phạt tiền
+ Ngoài ra còn có Pháp lệnh ngày 20-5-1981 trừng trị tội hối lộ (Điều 7), cũng có quy định về hình phạt tiền
2.1.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Sau khi đất nước được giải phóng và thống nhất, theo hướng dẫn của Hội đồng chính phủ thì những văn bản pháp luật hiện hành đều được áp dụng trong cả nước Về pháp luật hình sự, ngày 15/3/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam đã ban hành Sắc lệnh số 03-SL quy định tương đối đầy đủ
về tội phạm và hình phạt, trong đó quy định hệ thống hình phạt chính gồm có: cảnh cáo, quản chế, phạt tiền, tù có thời hạn, tù trung thân, tử hình Đối với hình phạt tiền thì chưa có quy định rõ ràng tách biệt là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung Như vậy, ở thời điểm này, các hình phạt chính không tước tự do bao gồm: hình phạt cảnh cáo, hình phạt tiền và hình phạt quản chế
Sau khi có Hiến pháp năm 1980, một số luật và Pháp lệnh mới được ban hành cũng có quy định hình phạt tiền, có thêm về hình phạt chính không tước tự do
là hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc
hội thông qua ngày 30-12-1981 Cụ thể Điều 69 luật này quy định: “Người nào
đang ở lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành đúng những quy định thì tuỳ mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính, bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm ” Hay tại Pháp lệnh trừng trị các
tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ban hành ngày 30/6/1982
Trang 31quy định ở Điều 6: “Người nào kinh doanh không có giấy phép hoặc… thì bị phạt
cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm…”
Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ ngày 20/05/1981 gồm 13 điều, trong đó có quy
định hình phạt tiền (Khoản 1 Điều 7) quy định: “…mức phạt tiền có thể từ 1 đến 3
lần giá trị của hối lộ”
2.1.1.4 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 về các quy định về các hình phạt chính không tước tự do
Ngày 27/06/1985 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VII, toàn văn Bộ luật hình
sự đầu tiên đã được quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1986 Bộ luật hình sự này thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, quy định thống nhất, hệ thống và đầy đủ về tội phạm và hình phạt
Tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định:
Như vậy hệ thống hình phạt khi đó quy định các hình phạt chính không tước
tự do bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam giữ
+ Về hình phạt cảnh cáo:
Cảnh cáo là các hình phạt chính không tước tự do nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt quy định tại Bộ luật hình sự năm 1985, bởi hình phạt này chỉ ảnh hưởng đến tinh thần của người phạm tội do bị công khai khiển trách, nhắc nhở, mà không ảnh hưởng đến các quyền lợi khác của người phạm tội Về điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo, được quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự năm 1985 Điều 22 quy
định như sau: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và
có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.” [18, tr 7]
Trang 32So với hình phạt cảnh cáo được quy định trước năm 1985 thì hình phạt cảnh cáo trong Bộ luật hình sự năm 1985 đã có sự tiến bộ hơn do đã quy định cụ thể về phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt này
Chỉ trong trường hợp có Điều luật quy định thì phạt tiền mới được áp dụng
là hình phạt chính.” [18, tr 8]
Nhận thấy, điều luật này không quy định mức tối thiểu và mức tối đa của
hình phạt tiền mà chỉ quy định: “mức phạt tiền được quyết định theo mức độ
nghiêm trọng của tội đã phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội” Đối với người chưa thành niên phạm tội thì không áp dụng hình phạt
tiền (Điều 59)
Như vậy, theo Bộ luật hình sự năm 1985, hình phạt tiền là hình phạt tước của người bị kết án một khoản tiền nhất định để sung công quỹ nhà nước; nó tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người phạm tội Đây là hình phạt chính nhưng cũng
là hình phạt bổ sung của một số tội
+ Hình phạt cải tạo không giam giữ:
Là hình phạt chính, lần đầu tiên được xuất hiện trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự nước ta, thể hiện quan điểm kết hợp giữa mục đích trừng trị của hình phạt và mục đích giáo dục Hình phạt này được chia làm hai phần khác nhau, gồm: Cải tạo không giam giữ theo Điều 24 và Cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội theo Điều 70 Bộ luật hình sự năm 1985 Hai loại hình phạt này khác nhau về đối tượng áp dụng và hình thức thi hành Về đối tượng áp dụng: Người phạm tội không phải là quân nhân tại ngũ thì áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo Điều
24, còn người phạm tội là quân nhân tại ngũ thì áp dụng hình phạt cải tạo ở đơn vị
Trang 33kỷ luật của quân đội được quy định tại Điều 70 Về hình thức thi hành hình phạt: Điều 24 quy định đối với người phạm tội bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam
giữ thì “2- Toà án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan nhà
nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục 3- Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để xung quỹ Nhà nước.” [18, tr 8] Đối với người phạm tội là quân nhân tại ngũ bị áp dụng
hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội sẽ được đưa đến đơn vị kỷ luật của quân đội thi hành (Khoản 4 Điều 24, Điều 70)
Qua nghiên cứu Bộ luật hình sự năm 1985, nhận thấy so với trước đó thì hình phạt không tước tự do nay đã được quy định trong cùng một văn bản, cùng với các hình phạt khác được quy định trong Bộ luật hình sự, tạo nên một hệ thống hình phạt có phương thức liên kết theo một trật tự thứ bậc có hệ thống từ thấp đến cao,
dễ tạo thuận lợi cho việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Có thể nhận thấy hầu hết các hình phạt chính không tước tự do trong Bộ luật hình sự năm 1985 đều đã được quy định trước đó trong một số văn bản pháp luật hình sự Quy định về các hình phạt chính không tước tự do trong Bộ luật hình sự hiện hành chính là sự kế thừa có chọn lọc, tiếp thu những ưu việt phù hợp với sự phát triển để phục vụ chính sách hình sự của nhà nước trong từng giai đoạn khác nhau Tuy nhiên, đã có sự quy định rõ ràng về các hình phạt chính không tước tự do; phân biệt các hình phạt chính
và hình phạt bổ sung; giữa hình phạt và biện pháp hành chính Có sự thu hẹp khoảng cách giữa các hình phạt chính không tước tự do và hình phạt tước tự do về tính cưỡng chế và hậu quả pháp lý; đồng thời cũng quy định rõ nội dung và điều kiện để áp dụng các hình phạt không tước tự do
2.1.1.5 B ộ luật hình sự năm 1999 và các quy định về các hình phạt chính không tước tự do
Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành đã thể chế hóa chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn mới với đặc trưng nổi bật là điều chỉnh về mặt lập pháp những chế định quan trọng, cơ bản của luật hình sự; phân hóa một cách tối
Trang 34đa, nhân đạo hơn; hình sự hóa và phi hình sự hóa, bãi bỏ hình phạt tử hình ở 8 điều luật, thể hiện chính sách nhân đạo và bảo đảm nhiều hơn về quyền con người, quyền công dân Tất cả các điều này nói lên khuynh hướng phát triển của pháp luật hình sự nước ta Riêng về các các hình phạt chính không tước tự do được thể hiện
cụ thể sau đây:
* Hình phạt cảnh cáo:
Cảnh cáo là hình phạt chính được quy định tại Điều 28
Về điều kiện áp dụng, Điều 29 quy định: “Cảnh cáo được áp dụng đối với
người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.” [19, tr 61] Như vậy có 3 điều kiện sau:
+ Điều kiện thứ nhất, phải là tội phạm ít nghiêm trọng - “là tội phạm gây
nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy
là đến ba năm tù” (Khoản 3 Điều 8); [19, tr 52]
+ Điều kiện thứ hai, về tình tiết giảm nhẹ thì phải có ít nhất từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 46
+ Điều kiện thứ ba, chưa đến mức miễn hình phạt Theo quy định tại Điều
54 Bộ luật hình sự 1999 thì “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong
trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của
Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự [19, tr 76]
Trên đây là ba điều kiện đối với hình phạt cảnh cáo Tòa án không được áp dụng hình phạt cảnh cáo với người phạm tội nếu thiếu một trong ba điều kiện này
Về hậu quả, hình phạt này khác với chế tài cảnh cáo trong hành chính, vì hậu quả pháp lý đối với người bị kết án là án tích, tức là người bị kết án sau này sẽ trở thành người có tiền án Theo quy định tại Điều 64 thì người bị kết án sẽ bị mang án tích trong thời hạn một năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, trừ quy định tại Điều 66
Cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất trong các hình phạt chính không tước tự do,
nó chỉ gây tổn thất về mặt tinh thần đối với người bị kết án Về bản chất, đây là hình phạt mang tính răn đe đối với người phạm tội
Trang 35* Hình phạt tiền:
Hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự năm 1999 vừa là hình phạt chính và vừa
là hình phạt bổ sung khi không áp dụng là hình phạt chính
Điều 30 quy định:
“1 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành c hính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định
2 Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội
về tham nhũng, ma tuý hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định
3 Mức phạt tiền được quyết định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng
4 Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Toà
án quyết định trong bản án.” [19, tr 61]
So với hình phạt tiền trong Bộ luật hình sự năm 1985 thì hình phạt tiền trong
Bộ luật hình sự năm 1999 đã có sửa đổi quan trọng, cụ thể, rõ ràng hơn về phạm vi
áp dụng, mức tiền phạt và cách thức thi hành Điểm đáng chú ý nhất là đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với người phạm tội và đã quy định mức tối thiểu của hình phạt tiền là một triệu đồng (1.000.0000 đ) cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội, và hình phạt này không thiết kế áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
* Hình phạt cải tạo không giam giữ:
Là hình phạt chính không tước tự do, được quy định tại Điều 31 Bộ luật hình
sự năm 1999, là “hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng
hoặc phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định” [19, tr 62]
Hình phạt này có vị trí quan trọng trong hệ thống hình phạt, thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước ta
Hình phạt này được quy định chi tiết về điều kiện áp dụng, hình thức thi hành như sau:
Trang 36+ Đối với người phạm tội đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội
+ Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó
+ Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án
Từ phân tích trên cho thấy, hình phạt cải tạo không giam giữ theo Bộ luật hình sự năm 1999 đã mở rộng phạm vi áp dụng không chỉ với người phạm tội ít nghiêm trọng mà còn được áp dụng cả đối với người phạm tội nghiêm trọng Bộ luật hình sự năm 1999 còn bổ sung gia đình của người bị kết án cùng có trách nhiệm vào việc giám sát, giáo dục người bị kết án; và trong trường hợp đặc biệt Tòa
án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập của người bị kết án
* Hình phạt trục xuất:
Là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể
được tòa án áp dụng Điều 32 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Trục xuất là
buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [19, tr 63] Hình phạt này được bổ sung vào hệ thống các hình
phạt của Bộ luật hình sự năm 1999 do thời điểm đó nhà nước ta có chủ trương mở rộng hợp tác quốc tế, đồng thời số lượng người nước ngoài vào Việt Nam du lịch, lưu trú, công tác ngày càng nhiều dẫn đến việc có tội phạm người nước ngoài ở Việt Nam là tất yếu Việc quy định hình phạt trục xuất vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung nhằm tạo điều kiện xử lý linh hoạt đối với người nước ngoài, vừa đảm bảo thượng tôn pháp luật, vừa đảm bảo quan hệ quốc tế
Nếu so sánh với Bộ luật hình sự năm 1985 thì quy định về các hình phạt chính không tước tự do trong Bộ luật hình sự năm 1999 có nhiều tiến bộ hơn Tuy
Trang 37nhiên, khi áp dụng pháp luật vào trong thực tiễn đã bọc lộ không ít bất cập và gặp khó khăn, vướng mắc Để khắc phục những hạn chế này nên rất cần thiết phải sớm
có Bộ luật hình sự mới được sửa đổi bổ sung cho hoàn thiện hơn
2.1.2 Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về các hình phạt chính không tước tự do
Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/06/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự
số 100/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự năm 2015), có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018 có quy định các hình phạt chính đối với người phạm tội như sau:
“Điều 32 Các hình phạt đối với người phạm tội
2.1.2.1 Hình ph ạt cảnh cáo trong Bộ luật hình sự năm 2015
* Khái niệm:
Như đã phân tích ở trên, hình phạt cảnh cáo là loại hình phạt nhẹ nhất trong các hình phạt chính không tước tự do nên được xếp đầu tiên trong số các hình phạt chính đối với người phạm tội Mặc dù Bộ luật hình sự năm 2015 đã không đưa ra khái niệm về hình phạt cảnh cáo, nhưng vẫn có thể hiểu được đây chính là “sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội”
Trang 38Tuy nhiên, về mặt pháp lý, để đưa ra một khái niệm đầy đủ và chính xác, đồng thời phù hợp với thực tiễn xét xử và chính sách nhân đạo của Nhà nước, theo tôi, khái niệm về hình phạt cảnh cáo phải bao gồm các nội dung như: Thứ nhất, bản chất pháp lý của hình phạt cảnh cáo; thứ hai, hình thức thể hiện; thứ ba, cơ quan có thẩm quyền nào áp dụng; thứ tư, đối tượng bị áp dụng; và, thứ năm, căn cứ pháp lý
và những điều kiện áp dụng Vì vậy, trên cơ sở xem xét các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với việc phân tích các quy định của pháp luật có liên quan, dưới góc
độ khoa học luật hình sự, theo cá nhân tác giả, khái niệm hình phạt cảnh cáo có thể
được hiểu như sau: “Hình phạt cảnh cáo trong Bộ luật hình sự năm 2015 là một
trong cá c biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, thể hiện sự khiển trách công khai của Tòa án nhân danh Nhà nước đối với người bị kết án phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.”
* Các đặc điểm cơ bản của hình phạt cảnh cáo:
Ngoài các đặc điểm chung của hình phạt, xuất phát từ khái niệm, bản chất pháp lý đã nêu và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự hiện hành có liên quan đến hình phạt cảnh cáo, tác giả rút ra một số đặc điểm riêng nổi bật của hình phạt cảnh cáo như sau:
Thứ nhất, hình phạt cảnh cáo là hình phạt chính trong hệ thống hình phạt
được quy định trong Bộ luật hình sự nước ta
Thứ hai, hình phạt cảnh cáo không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội Thứ ba, hình phạt cảnh cáo được áp dụng đối với người thực hiện tội phạm ít
Trang 39Thứ bảy, hình phạt cảnh cáo thể hiện nguyên tắc nhân đạo của chính sách
hình sự nói chung và luật hình sự Việt Nam nói riêng
So với các hình phạt chính khác, cảnh cáo là hình phạt nhẹ nhất vì nó không tước bỏ hoặc hạn chế bất cứ quyền lợi nào của người bị kết án mà chỉ ảnh hưởng về mặt tinh thần đối với họ Hậu quả pháp lý duy nhất mà cảnh cáo mang lại cho người
bị kết án là họ phải chịu án tích trong thời hạn nhất định do Bộ luật hình sự năm
2015 quy định
* Điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo:
Điều 34 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Cảnh cáo được áp dụng đối
với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt” [20, tr 26]
Theo quy định này thì điều kiện để được áp dụng hình phạt cảnh cáo là: + Tội phạm phải là tội ít nghiêm trọng
Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 9 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì
“Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến ba năm” [20, tr 14]
+ Có nhiều tình tiết giảm nhẹ
Theo quan điểm tác giả là chỉ cần có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 Bởi do điều luật không quy định rõ như thế nào là “nhiều tình tiết giảm nhẹ” trách nhiệm hình sự và được quy định ở khoản nào của Điều 51, có bắt buộc phải là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 hay không Nhưng theo “nguyên tắc suy đoán có lợi cho người phạm tội” thì trong các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này có thể có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51, thậm chí cả 2 tình tiết giảm nhẹ đều được qui định tại khoản 2 Điều 51
+ Về tội phạm mà người đó thực hiện chưa đến mức miễn hình phạt
Trang 40Theo Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015 thì: “Người phạm tội có thể được
miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của
Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” [20, tr 43]
“Điều 54 Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1 Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều
51 của Bộ luật này
2 Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.” [20, tr 39]
Như vậy, người bị áp dụng hình phạt cảnh cáo thì phải thuộc trường hợp không được khoan hồng đặc biệt (nếu không thì có thể họ đã được miễn hình phạt)
Ngoài ra, tại điểm a khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: Người bị phạt cảnh cáo từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn một năm thì đương nhiên được xóa án tích [20, tr 52] Còn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015 về xóa án tích có quy định như sau:
“1 Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này