1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận Án Tiến Sĩ) Đặc Điểm Sinh Học Và Nuôi Dưỡng Cá Tỳ Bà Bướm (Sewellia Spp.) Phân Bố Tại Thừa Thiên Huế.pdf

142 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm sinh học và nuôi dưỡng cá tỳ bà bướm (Sewellia spp.) phân bố tại Thừa Thiên Huế
Người hướng dẫn Ts. Trần Văn Việt, PGs.Ts. Trần Đắc Định, PGs.Ts. Trương Quốc Phỳ, PGs.Ts. Phạm Thanh Liờm, PGs.Ts. Vũ Ngọc Út
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 G iới thiê ̣u (15)
    • 1.1 Đă ̣t vấn đề (15)
    • 1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu (16)
      • 1.2.1 Mục tiêu (16)
      • 1.2.2 Pha ̣m vi nghiên cứu (16)
    • 1.3 Nội dung nghiên cứu (16)
      • 1.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học hai loài cá tỳ bà bướm ( Sewellia spp.) (16)
      • 1.3.2 Thử nghiệm sinh s ản và nuôi dưỡng hai loài cá tỳ bà bướm ( Sewellia spp.) (16)
    • 1.4 Thời gian thực hiện (16)
    • 1.5 Ý nghĩa luậ n án (16)
    • 1.6 Điểm mới của luận án (17)
    • 2.1 Một số đặc điểm gi ống cá tỳ bà bướ m (18)
      • 2.1.1 Vi ̣ trí phân loại (18)
      • 2.1.2 Thành phần loài, phân bố và môi trườ ng sống (18)
    • 2.2 Lược khảo một số phương pháp phân loại cá (20)
    • 2.3 Đặc điểm dinh dưỡng (21)
      • 2.3.1 Hệ tiêu hóa (21)
      • 2.3.2 Các phương pháp phân tích thức ăn trong ruột cá (28)
      • 2.3.3 Một số chỉ số thường sử dụng trong nghiên cứu tập tính dinh dưỡng (32)
      • 2.3.4 Một số nghiên cứu xác đi ̣nh tập tính dinh dưỡng của cá (34)
    • 2.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và biến động quần thể (35)
      • 2.4.1 Đặc điểm sinh trưởng (35)
      • 2.4.2 Biến động quần thể (36)
    • 2.5 Đặc điể m sinh s ả n cá (37)
    • 2.6 Tình hình nghiên cứ u sinh s ản và nuôi thuần dưỡng cá nước ngọt (40)
      • 2.6.1 Nghiên cứu sinh sản cá nước ngọt những năm gần đây (2010-2019) (40)
      • 2.6.2 Nuôi thuần dưỡng cá cảnh nước ngọt (41)
    • 2.7 Sơ lược điều kiện tự nhiên và sinh vật tỉnh Thừa Thiên Huế (42)
      • 2.7.1 Vị trí địa lý và địa hình (42)
      • 2.7.2 Đơn vị hành chính (43)
      • 2.7.3 Chế độ thủy văn, khí hậu (43)
    • 2.8 Tiềm năng đa dạng cá nước ngọt ở tỉnh Thừa Thiên Huế (43)
  • Chương 3 V â ̣t liê ̣u và phương pháp nghiên cứu (18)
    • 3.1 Th ời gian và địa điể m nghiên c ứ u (45)
    • 3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu (46)
      • 3.2.1 Xác định thành phần loài, phân bố và môi trường sống các loài thuộc giống cá tỳ bà bướm phân bố ở tỉnh Thừa Thiên Huế (46)
      • 3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng (50)
      • 3.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và biến động quần thể (53)
      • 3.2.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản (54)
      • 3.2.5 Nghiên cứu thử nghiệm sinh sản (59)
      • 3.2.6 Nghiên cứu nuôi dưỡng (62)
    • 3.3 Khung nghiên cứu và phương pháp x ử lý số liê ̣u (66)
      • 3.3.1 Khung nghiên c ứ u (66)
      • 3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu (67)
  • Chương 4 K ế t qu ả nghiên c ứ u và th ả o lu ậ n (45)
    • 4.1 Xác định thành phần loài, đặc điểm phân loại, phân bố và môi trường sống các loài cá tỳ bà bướm tại tỉnh Thừa Thiên Huế (68)
      • 4.1.1 Thành phần loài thuộc giống cá tỳ bà bướm phân bố tại Thừa Thiên Huế (68)
      • 4.1.2 Đặc điểm hình thái phân loại hai loài cá tỳ bà bướm phân bố ở Thừa Thiên Huế (69)
      • 4.1.3 Định danh loài bằng DNA mã vạch (73)
      • 4.1.4 Môi trường sống và phân bố (77)
    • 4.2 Đặc điểm dinh dưỡng (79)
      • 4.2.1 Đặc điểm cấu trúc hệ tiêu hóa (79)
      • 4.2.2 Tương quan chiều dài ruột và chiều dài thân (RLG) (82)
      • 4.2.3 Độ no (83)
      • 4.2.4 H ệ s ố sinh tr ắ c d ạ dày (Gastro-somatic index - Ga.SI) (87)
    • 4.3. Sinh trưởng và biến động quần thể (90)
      • 4.3.1 Biến động kích thước và mùa vụ xuất hiện (90)
      • 4.3.2 Mức chết tổng (Z) của quần đàn và kích thước cá khai thác đầu tiên tại (92)
      • 4.3.3 Khả năng phục hồi quần đàn tại khu vực nghiên cứu (93)
      • 4.3.4 Tương quan chiều dài và khối lượng (94)
    • 4.4 Đặc điểm sinh sản (96)
      • 4.4.1 Phân biệt giới tính và tỷ lệ đực:cái (96)
      • 4.4.2 Độ béo (99)
      • 4.4.3 Đặc điểm các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục (101)
      • 4.4.4 Biến động các giai đoạn tuyến sinh dục theo thời gian (108)
      • 4.4.5 Sức sinh sản (111)
      • 4.4.6 Hệ số thành thục sinh dục (112)
      • 4.4.7 Kích thước thành thục (L m ) (113)
      • 4.4.8 Mùa vụ sinh sản (114)
    • 4.5 Th ử nghi ệ m sinh s ả n (115)
      • 4.5.1 Kích thích sinh sản bằng LH-RHA3 + DOM (10 mg) (115)
      • 4.5.2 Kích thích sinh sản bằng kích thích nhiệt độ (117)
      • 4.5.3 Đặc điểm phát triển phôi cá tỳ bà bướm hổ (118)
      • 4.5.4 Thử nghiệm nuôi cá con từ 10-60 ngày tuổi (120)
    • 4.6 Thử nghiệm nuôi dưỡng (122)
      • 4.6.1 Thử nghiệm ảnh hưởng của thức ăn (122)
      • 4.6.2 Thử nghiệm ảnh hưởng nhiệt độ (123)
      • 4.6.3 Thử nghiệm hình thức nuôi (125)
    • 5.1 Kết luận (128)
    • 5.2 Đề xuất (128)
    • 5.3 Khuyến cáo (128)

Nội dung

Untitled i LỜI CẢM TẠ Trong quá trình học tập và thực hiện luận án tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên của nhiều tổ chức, cá nhân, qua đây cho tôi gửi lời chân thành cám ơn tới tất cả sự giúp đỡ và[.]

G iới thiê ̣u

Đă ̣t vấn đề

Việt Nam là một trong những quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á có nhiều tiềm năng về phát triển cá cảnh như khí hậu thuận lợi, nguồn lợi thủy sinh vật tự nhiên phong phú,… Nhiều loài cá phân bố ở Việt Nam đang được ưa chuộng trong nuôi cảnh như cá thanh ngọc (Ctenops pumilus), cá lòng tong

(Rasbora spp.), cá chọi hay cá xiêm (Betta splendens),… trong đó nổi bật là các loài cá tỳ bà bướm Sewellia (giống cá đép/tỳ bà bướm)

Các loài cá tỳ bà bướm (Sewellia) là tên gọi địa phương của giống cá nước ngọt có kích thước nhỏ, phân bố nhiều ở một số tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam như Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Kon Tum và Thừa Thiên Huế Ở Thừa Thiên Huế, các loài thuộc giống cá này phân bố ở các khe suối đầu nguồn thuộc các huyện Nam Đông, Phú Lộc, Hương Trà, A Lưới,… Đến nay, các loài cá tỳ bà bướm ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đang được khai thác từ tự nhiên để phục vụ nhu cầu nuôi cảnh trong nước và xuất khẩu (Vũ Cẩm Lương, 2008) Nhu cầu tiêu thụ của nhóm cá này khá lớn, chủ yếu phục vụ xuất khẩu, nhưng số lượng cá khai thác hàng năm cung cấp cho thị trường rất hạn chế Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự suy giảm này như địa bàn khai thác khó khăn, số lượng cá tự nhiên giảm do các tác động của khai thác và sản xuất nông lâm nghiệp,… đặc biệt là tỷ lệ chết cao trong quá trình khai thác, vận chuyển và thuần dưỡng từ môi trường tự nhiên sang điều kiện nuôi nhân tạo

Tuy rất được ưa chuộng trong nuôi cảnh nhưng đến nay các loài cá tỳ bà bướm vẫn chưa được sinh sản, thuần dưỡng và ít được nghiên cứu Các nghiên cứu về những loài thuộc giống cá này mới chỉ dừng lại ở mức độ phân loại và phân bố Các nghiên cứu đầy đủ vềđặc điểm sinh học các loài thuộc giống cá tỳ bà bướm chưa được ghi nhận ở Thừa Thiên Huế, Việt Nam và trên thế giới

Vì vậy, nghiên cứu “ Đă ̣c điểm sinh ho ̣c và nuôi dưỡng cá tỳ bà bướm ( Sewellia spp.) phân bố ta ̣i Thừa Thiên Huế” mang tính cấp thiết nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu sinh học, góp phần thuần dưỡng và hoàn thiện quy trình nuôi một số loài thuộc giống cá này trong thời gian tới

Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu nhằm xác đi ̣nh đă ̣c điểm sinh học hai loài thuộc giống cá tỳ bà bướm (Sewellia) phân bố ở Thừa Thiên Huế

- Bước đầu thử nghiệm sinh sản và nuôi dưỡng hai loài cá tỳ bà bướm

Nghiên cứu triển khai trên hai loài thuộc giống cá tỳ bà bướm (Sewellia) phân bố ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Viê ̣t Nam.

Nội dung nghiên cứu

1.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học hai loài cá tỳ bà bướm ( Sewellia spp.)

- Xác định thành phần loài, đă ̣c điểm hình thái phân loại, đặc điểm di truyền, phân bố và môi trường sống tự nhiên

- Đă ̣c điểm dinh dưỡng

- Đă ̣c điểm sinh trưởng

1.3.2 Thử nghiệm sinh sản và nuôi dưỡng hai loài cá tỳ bà bướm ( Sewellia spp.)

- Thử nghiệm sinh sản: thử nghiệm ảnh hưởng của chất kích thích sinh sản LH-RHA3 và nhiệt độ đến sinh sản của hai loài cá nghiên cứu

- Thử nghiệm nuôi dưỡng: thử nghiệm nuôi dưỡng cá con giai đoạn 10-60 ngày tuổi và giai đoạn cá trưởng thành.

Thời gian thực hiện

Ý nghĩa luậ n án

- Giảng da ̣y: Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tư liê ̣u tham khảo cho giảng viên và sinh viên ngành thủy sản.

- Nghiên cứu khoa học: Góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học về đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản cá tỳ bà bướm hổ và cá tỳ bà bướm đốm phân bố ở tỉnh Thừa Thiên Huế Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cung cấp những thông tin góp phần xây dựng quy trình sinh sản, nuôi hai loài cá tỳ bà bướm đã nghiên cứu

- Trong sản xuất: Phương pháp khai thác, thuần dưỡng, đặc điểm sinh học, sinh sản và nuôi dưỡng của đề tài nghiên cứu này có thể áp dụng trong khai thác, thu gom, sản xuất giống cá tỳ bà bướm hổ và cá tỳ bà bướm đốm.

Điểm mới của luận án

Luận án nghiên cứu đă ̣c điểm sinh ho ̣c và nuôi dưỡng cá tỳ bà bướm (Sewellia spp.) phân bố ta ̣i Thừa Thiên Huế đã đạt được một số kết quả nổi trội như sau: i Định danh hai loài cá tỳ bà bướm hổ (Sewellia lineolata) và tỳ bà bướm đốm (Sewellia albisuera) ở Việt Nam bằng DNA mã vạch Thống nhất và xác định rõ tên khoa học của cá tỳ bà bướm đốm (Sewellia albisuera) ii Là nghiên cứu đầy đủ đầu tiên về đặc điểm sinh học của cá tỳ bà bướm đốm và cá tỳ bà bướm hổ, bao gồm: đặc điểm hình thái phân loại, môi trường sống, đặc điểm dinh dưỡng, sinh sản, sinh trưởng và biến động quần thể v Thử nghiệm kích thích sinh sản thành công cá tỳ bà bướm hổ và cá tỳ bà bướm đốm bằng kích dục tố LH-RHA3 Kích thích sinh sản thành công bằng sốc nhiệt độ đối với cá tỳ bà bướm hổ vi Xác định được tốc độ tăng trưởng hai loài cá tỳ bà bướm nghiên cứu giai đoạn 10-60 ngày tuổi Bước đầu xác định được một số điều kiện nuôi thích hợp với cá tỳ bà bướm đốm và cá tỳ bà bướm hổ trong điều kiện nuôi nhân tạo

Một số đặc điểm gi ống cá tỳ bà bướ m

Theo Kottelat (2012), giống cá đép (cá tỳ bà bướm) có vị trí phân loại như sau:

Ngành động vật có dây sống: Chordata

Lớp phụ cá tia vây: Actinopterygii

Họ cá bám đá: Gastromyzotidae Giống cá đép (cá tỳ bà bướm): Sewellia

Theo Nguyễn Văn Hảo (2005), họ cá chạch vây bằng có 3 phụ họ là Nemacheilinae, Gastromyzolinae và Balitorinae Trong khi đó, Kottelat (2012) đã xác lập hệ thống phân loại của họ cá này thành 3 họ riêng biệt là Nemacheilidae, Gastromyzotidae và Balitoridae, theo đó giống cá tỳ bà bướm

2.1.2 Thành phần loài, phân bố và môi trường sống

Số lượng và thành phần loài của giống cá tỳ bà bướm (cá đép) trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có sự thống nhất Theo thống kê của Kottelat

(2012) và Fishbase (2019), trên thế giới giống cá tỳ bà bướm Sewellia có 13 loài Các loài trong họ cá này phân bố chủ yếu ở các sông suối miền núi của Viê ̣t Nam và Lào Tuy nhiên, thành phần loài cụ thể và tên gọi của các loài thuộc giống cá này có sự khác nhau Theo Kottelat (2012) trong danh mục 13 loài thuộc giống Sewellia không có loài Sewellia songboensis Nguyen &

Nguyen, 2005, nhưng có thêm loài Sewellia monolobata (Nguyen & Nguyen, in Nguyen, 2005) Trong khi đó, Fishbase (2019) công nhận có loài Sewellia songboensis Nguyen & Nguyen, 2005 nhưng không có loài Sewellia monolobata (Nguyen & Nguyen, in Nguyen, 2005) Bên cạnh đó, còn những quan điểm chưa thống nhất về gọi tên một số loài thuộc giống cá này giữa các tác giả của Việt Nam và một số tác giả khác trên thế giới như loài có tên

Sewellia medius Nguyen & Nguyen, 2005 (Nguyễn Văn Hảo, 2005) được Kottelat ghi nhận và hiệu chỉnh thành Sewellia media Nguyen & Nguyen,

2005 (Kottelat, 2012); loài Parasewellia tetralobata Dực & Hảo (Nguyễn Văn Hảo, 2005) được Freyhof ghi nhận và định danh với tên Sewellia albisuera

Freyhof, 2003 (Kottelat, 2012),… Do vậy, việc định danh chính xác nhằm

5 thống nhất tên gọi các loài thuộc giống cá tỳ bà bướm Sewellia rất cần được thực hiện trong thời gian tới

Hình 2.1: Một số loài thuộc giống tỳ bà bướm phân bố ở Việt Nam

A, B - Lần lượt là loài Sewellia albisuera và Sewellia lineolata (Võ Điều và ctv, 2017)

C, D - Lần lượt là loài Sewellia breviventralis và Sewellia marmorata (Fishbase) Đến nay, hầu hết các loài trong giống cá tỳ bà bướm đã được tìm thấy ở Viê ̣t Nam Theo nghiên cứu của Freyhof (2003), Viê ̣t Nam có 8 trên tổng số

13 loài cá tỳ bà bướm đã được phát hiê ̣n trên thế giới Tuy nhiên, từ tổng hợp nghiên cứu và công bố của Nguyễn Văn Hảo (2005), Kottelat (2012), và Fishbase (2019), Việt Nam có 13 trên tổng số 14 loài thuộc giống Sewellia đã được định danh trên thế giới hiện nay (Bảng 2.1)

Bảng 2.1: Thành phần loài thuộc giống tỳ bà bướm Sewellia trên thế giới

Tên loài Phân bố ở Việt Nam

14 Sewellia monolobata (Nguyen & Nguyen, in Nguyen, 2005) x

Nguồn: Nguyễn Văn Hảo (2005), Kottelat (2012), Fishbase (2019)

Vùng phân bố chủ yếu của các loài thuộc giống Sewellia ở Việt Nam là Bình Đi ̣nh, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Kon Tum và Gia Lai (Freyhof, 2003).

Hình 2.2: Phân bố của các loài cá tỳ bà bướm thuộc giống Sewellia ở Miền Trung, Viê ̣t Nam (Freyhof, 2003).

Cũng giống như nhiều loài khác thuộc họ cá bám đá (Gastromyzotidae), hầu hết các loài thuộc giống Sewellia thích nghi với những vùng nước chảy ma ̣nh (thượng nguồn các con sông); nền đáy cát, sỏi, đá; và có nhu cầu oxy cao Tuy nhiên, mỗi loài có sự thích nghi với những môi trường sống riêng như loài Sewellia albisuera thích sống ở môi trường nước chảy, nơi có nền đáy cát sỏi (Freyhof, 2003); loài Sewellia lineolata thích sống ở những vùng nước cạn, đáy cát sỏi gần các vực nước sâu của các khe suối nhỏ (Freyhof and Serov, 2000); loài Sewellia elongata Roberts, 1998 sống ở các khe suối trong rừng, nơi có nền đáy cát, sỏi đá và tốc độ dòng chảy từ trung bình đến rất cao (Roberts, 1998).

Lược khảo một số phương pháp phân loại cá

Hiện nay phân loại cá có hai phương pháp chính là so sánh hình thái và di truyền phân tử Phân loại cá bằng so sánh hình thái là phương pháp truyền thống đã và đang được áp dụng ở Việt Nam và trên thế giới Nhiều nghiên cứu phân loại cá của các tác giả trong và ngoài nước đã áp dụng phương pháp phân loại này như Nelson (1984), Kottelat (1988; 1990; 2012), Rainboth (1996),

Roberts (1998), Nguyễn Văn Hảo (2005),…Với mục đích tạo thuận lợi cho phân loại cá bằng phương pháp này, các đặc điểm hình thái phân loại của nhiều họ, giống cá đã được các nhà nghiên cứu mô tả bổ sung và hoàn thiện Roberts (1998) đã sửa đổi hoàn thiện đặc điểm phân loại các loài cá thuộc giống Sewellia phân bố ở Lào và Việt Nam Theo tác giả này, giống cá

Sewellia Hora, 1932 có các đặc điểm hình thái phân loại chính như, phần thân trước dẹp bằng, phần sau dẹp bên; chiều cao thân nhỏ hơn chiều rộng thân; đầu ngắn, mõm ngắn, mắt nhỏ; miệng dưới nhỏ hình vòng cung; vây chẵn phát triển, có một tia phân nhánh, phía ngoài các vây chẵn xòe bằng, phía trong bám vào thân cùng với vây ngực tạo thành giác bám; vây ngực có 1 tia đơn và 19-26 tia phân nhánh; vây bụng có có 1 tia đơn và 18-21 tia phân nhánh; vây lưng có 3 tia vây đơn và 8 tia phân nhánh; vây hậu môn có 2 tia đơn và 4 tia phân nhánh; vây đuôi có 9-10 tia phân nhánh; cá có 50-75 vảy đường bên

Cùng với phương pháp phân loại cá dựa vào so sánh hình thái, phương pháp phân loại dựa vào di truyền phân tử đang có có xu hướng ngày càng phổ biến (Fabrice, 2009) Có nhiều gen được sử dụng trong phân loại cá, trong đó gen COI (Cytochrome c oxidase subunit I) trên DNA ti thể được xem là DNA mã vạch đáng tin cậy trong phân loại cá và thường được các nghiên cứu lựa chọn và áp dụng (Nguyễn Phương Thảo và Dương Thúy Yên, 2015; Esmaeili et al., 2015; Dương Thúy Yên và ctv., 2016; Stoeckle et al., 2019) Nguyễn Phương Thảo và Dương Thúy Yên (2015) sử dụng gen COI để định danh hai loài cá bống trân B butis và B humeralis ở khu vực tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng, kết quả cho thấy, tuy có một vài đặc điểm hình thái khác nhau nhưng chúng là cùng một loài (trình tự gene COI tương đồng giữa hai loài đạt đến 99-100%) Bên cạnh gen COI, gen 16S rDNA cũng được sử dụng trong định danh loài, một số nghiên cứu đã sử dụng giải trình tự gen này trong phân loại cá (Horreo et al, 2013) Nhìn chung, với ưu điểm về độ chính xác cao, phương pháp định loại cá bằng di truyền phân tử đang ngày càng áp dụng phổ biến trong các nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới.

Đặc điểm dinh dưỡng

Hê ̣ tiêu hóa và con mồi của cá có sự liên quan chă ̣t chẽ, vì vậy nghiên cứu cấu trúc của hệ tiêu hóa cá như vị trí miệng, răng, kích cỡ miệng,… sẽ giúp hiểu rõ hơn về loại thức ăn tự nhiên và tập tính bắt mồi của cá (Pillay, 1952) Với những loài cá ăn đáy thường có miệng dưới hay miệng nằm ở mặt bụng, những loài cá ăn thi ̣t thường có răng nhọn ở hàm,… (Alikunhi, 1952) Nhìn chung, hình thái và cấu trúc của hê ̣ tiêu hóa có liên quan mâ ̣t thiết đến tâ ̣p tính dinh

8 dưỡng của cá Sự thích nghi và tương quan này được thể hiê ̣n qua một số bộ phâ ̣n chính của hê ̣ tiêu hóa, cụ thể là miê ̣ng, hầu, răng, mang, ruột và da ̣ dày.

Miê ̣ng là bộ phâ ̣n quan trọng trong hê ̣ tiêu hóa của cá Hình dạng của miệng có liên quan rất mâ ̣t thiết đến tính ăn của cá (Castro and Huber, 2003)

Căn cứ vào sự khác nhau về cấu ta ̣o và chức năng, Nikolsky (1963) đã chia miê ̣ng cá thành 6 loại cơ bản

Miê ̣ng vồ bắt: Miệng của nhóm cá vồ bắt rô ̣ng, răng sắc và nằm trên xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái Lược mang ngắn, thưa và dùng để che chở cho lá mang tránh các tác động của thức ăn (không dùng để lọc thức ăn) Ruột ngắn, da ̣ dày thường có da ̣ng đă ̣c biê ̣t Ví dụ, các loài cá ăn thi ̣t như Silurus glanis, Esox lucius,…

Miê ̣ng da ̣ng giác bám: Miệng nhóm cá này không có hàm, răng có da ̣ng mấu sừng, trên lưỡi cũng có răng nhỏ, chủ yếu để gă ̣m Những loài cá có miệng dạng giác thường bám ký sinh như Petromyzones và Myxini

Miê ̣ng hút: Miệng nhóm cá dạng hút có hình ống nhỏ dài hoă ̣c ngắn, đôi khi lồi ra được, không có răng Những loài cá có da ̣ng miê ̣ng này thường dùng bắt mồi đô ̣ng vâ ̣t không xương sống ở đáy, hoă ̣c ở trong tầng nước Ví dụ, các loài thuộc họ Mormiridae, Abramis brama, giống Syngathus,…

Miê ̣ng nghiền: Những loài cá có miệng này ăn đô ̣ng vâ ̣t không xương sống có vỏ cứng (như nhuyễn thể, san hô, ) Miê ̣ng của nhóm cá này có nhiều dạng, đôi khi là da ̣ng mỏ (Ostracion) có răng chắc, có trường hợp da ̣ng tấm (Baloidei, Myliobalidei) hoă ̣c da ̣ng gai (Anarhichadidae)

Miê ̣ng ăn sinh vâ ̣t phù du: Nhóm cá ăn sinh vâ ̣t phù du thường có miê ̣ng lớn hoă ̣c trung bình, không kéo ra được, răng nhỏ hoă ̣c hoàn toàn không có Lược mang dài có tác dụng như một cái rây Ví dụ, giống Clupea, Coregonus, mô ̣t số loài thuộc họ cá chép,…

Miê ̣ng ăn tảo bám (periphyton): Những loài cá ăn tảo bám có miê ̣ng nằm dưới đầu, có hình da ̣ng một cái khe ngang, môi dưới thường có mép sắc, đôi khi ngăn cách bởi một cái bao bằng sừng, không có răng Ví dụ, các loài

Ngoài cấu ta ̣o, vị trí của miê ̣ng cũng liên quan đến đă ̣c điểm dinh dưỡng của cá Căn cứ vào vi ̣ trí miê ̣ng, Nikolsky (1963) đã chia miệng cá thành 3 kiểu chính: miệng trên, miệng giữa (miệng cuối) và miệng dưới Miê ̣ng trên là kiểu miê ̣ng có vi ̣ trí nằm trên trục thân do có xương hàm dưới dài hơn xương hàm trên Những loài cá này thường ăn tầng mặt, bắt những con mồi đi ngang qua đầu Ví dụ, các loài cá trèn (họ Siluridae), cá mang rổ (Toxotes chatareus),

9 cá lìm kìm (họ Hemirhamphidae), Pelecus culiratus,… Miê ̣ng giữa là kiểu miê ̣ng nằm ngay trục thân Một số loài cá có miệng giữa như cá trích, cá tra (Pangasianodon hypophthalmus),… Kiểu miệng dưới là dạng miê ̣ng nằm dưới trục thân do xương hàm trên phát triển hơn xương hàm dưới Một số loài thuộc nhóm này như cá đuối, cá tầm, cá trê,… (Nikolsky, 1963; Lagler et al., 1977; Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Bạch Loan, 1999)

Hình 2.3: Các kiểu miê ̣ng cá phân chia theo vi ̣ trí

A - Miệng trên; B - Miệng giữa; C - Miệng nữa dưới; D - Miệng dưới

Ngoài cấu ta ̣o và vi ̣ trí, kích thước miê ̣ng cá cũng ảnh hưởng lớn đến tâ ̣p tính bắt mồi của chúng Những loài cá ăn thịt (cá mâ ̣p, cá lóc,…) thường có miê ̣ng rô ̣ng để có thể bắt được mồi Cá ăn thực vật hay ăn tạp nghiêng về thực vật có miệng nhỏ như các loài thuộc giống cá sặc (Trichogaster), cá mè trắng, cá trích (Sardinella), cá đối (Liza) (Mai Đình Yên và ctv., 1979; Nguyễn Bạch

Tùy thuộc vào tâ ̣p tính bắt mồi và loa ̣i thức ăn mà mỗi nhóm cá có các kiểu răng khác nhau Ở các loài thuộc lớp cá xương (Osteichthyes) thường có ba loại răng chính là răng hàm (hàm trên và hàm dưới), răng vòm miệng (răng lá mía, răng khẩu cái) và răng hầu (Nikolsky, 1963)

Hình 2.4: Các da ̣ng răng của cá

A - Răng của cá mút đá (Lamprey); F - Răng ho ̣ cá Sparidae; C - Răng của cá Odontaspis taurus;

D - Răng của cá đuối ( Myliobatis); E - Răng của cá Pseudoscarus; B - Răng của cá mâ ̣p hổ (Galeocerdo cuveri); G - Răng giống cá Serrasalmus; H - Răng ho ̣ cá chép ( Cyprinidae)

Ngoài ra, căn cứ vào kiểu dáng, răng cá cũng có thể chia thành nhiều loại khác nhau Một số loài cá như cá hỏa tiễn, cá nhói, cá mối có răng rất nhỏ, không xếp thành hàng và rất nhiều tạo thành từng dải phân bố nhiều nơi trong vòm miệng (răng da ̣ng viliform) Một dạng răng khác với các răng có kích thước nhỏ, ngắn nhưng chắc, có nhiều răng sắc nhọn và sắp xếp thành hàng riêng biệt (răng da ̣ng cardiform) đã được phát hiện ở các loài thuộc họ cá da trơn (Ictaluridae), ho ̣ cá vược (Percidae) và họ cá mú (Serranidae) Đối với những loài cá ăn thịt có miệng lớn thuộc họ cá chó (Esocidae) hay bộ cá mập (Squaliformes) răng có hình phiến tam giác (blade-like, triangular) Loa ̣i răng này thường sắc nhọn giúp cắn và nuốt nguyên con mồi có kích thước lớn Ngoài răng phiến tam giác, ở một số loài cá thuộc họ cá hồng (Lutjanidae) còn có thêm răng nanh, dạng răng này cũng thường nhọn và dài hơn những răng khác trong hàm Đối với những loài cá tập tính nghiền thức ăn còn có các răng dạng thấp, rộng và tròn Loại răng này được tìm thấy ở hầu hết các loài cá chép, cá đuối,… chúng được dùng để nghiền các con mồi như giáp xác, nhuyễn thể (NOAA, 2001; Kotrschal and Goldschmid, 2006; Bone and Moore, 2008)

Cấu ta ̣o của hầu cũng có liên hê ̣ chă ̣t chẽ đến đă ̣c điểm dinh dưỡng của cá Ở cá đối, hầu có những bó cơ phát triển mạnh thích nghi với viê ̣c ép thức ăn Thực quản là cơ quan tiêu hóa có dạng ống nối tiếp với xoang miệng và da ̣ dày cá Thành thực quản được cấu tạo bởi cơ vòng và cơ dọc tham gia vào việc nuốt thức ăn Mặt trong thực quản có biểu mô phân tầng, biểu mô trụ với nhiều tế bào hoặc tuyến nhầy và các chồi vị giác Ở mô ̣t số loài cá như cá rô phi, cá chình, cá bơn,… thực quản cũng đóng một vai trò quan trọng trong duy trì sự cân bằng nước Tùy theo tính ăn của từng loài mà thực quản phát triển theo chiều dài hay chiều rộng Những loài cá ăn thực vật phù du như họ cá trích (Clupeidae), ăn thực vật hay ăn tạp nghiêng về thực vật như các loài cá thuộc họ cá chép (Cyprinidae) có thực quản nhỏ, dài và vách mỏng Cá ăn động vật kích thước lớn như cá chẽm (Lates calcarifer), các loài thuộc họ cá thu (Scomberidae), họ cá lóc (Channidae) có thực quản ngắn nhưng phát triển theo chiều ngang, vách cơ dày và mặt trong có nhiều nếp gấp nên có thể giãn ra để nuốt những con mồi có kích thước lớn Ở các loài cá bướm cơ thực quản phát triển thành vách rất dày Một số loài cá chim thuộc giống Pampus,

Nomeus (họ Stromateidae) còn có nhiều răng được gắn kết vào lớp xương mỏng bên trong của vách thực quản (Lagler et al., 1977)

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và biến động quần thể

Một trong những chỉ số thường sử dụng trong nghiên cứu sinh trưởng là chỉ số tương quan giữa chiều dài và khối lượng được xác đi ̣nh bằng phương trình hồi quy Berverton và Holt (Berverton and Holt, 1957 trích dẫn của Nguyễn Đình Mão và Vũ Trung Ta ̣ng, 2016) Phương trình này được áp dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu về sinh trưởng cá như nghiên cứu về mối quan hệ giữa khối lượng và chiều dài của 39 loài cá vùng biển Đi ̣a Trung Hải thuô ̣c Thổ Nhĩ Kỳ (Sangun et al., 2007), nghiên cứu sinh học cá ngát (Nguyễn

Ba ̣ch Loan, 2012),… Trong 39 loài cá đã nghiên cứu ở Đại Trung Hải, có 14 loài hệ số sinh trưởng b < 3; 16 loài có hệ số sinh trưởng b = 3; và 9 loài có hệ số sinh trưởng b > 3 (Sangun et al., 2007) Đối với sinh trưởng của cá ngát, hệ số sinh trưởng b của cá đực nhỏ hơn cá cái và đều nhỏ hơn 3 Điều này cho thấy tốc độ tăng trưởng khối lượng của loài cá này nhỏ hơn tăng trưởng chiều dài và tốc độ tăng trưởng khối lượng của cá đực chậm hơn cá cái (Nguyễn Bạch Loan, 2012)

Cùng các nghiên cứu xác đi ̣nh phương trình sinh trưởng, nghiên cứu khảo sát hê ̣ số điều kiê ̣n (CF) đã được Fuadi et al (2016) thực hiê ̣n trên loài

Homaloptera sp Hê ̣ số điều kiê ̣n cao nhất và thấp nhất đối với cá đực lần lượt là 1,04 (ở nhóm cá có kích thước 6,81 cm) và 0,98 (ở nhóm kích thước 7,53 cm) Trong khi đó, ở cá cái hê ̣ số điều kiện cao nhất là 1,0 ở nhóm kích thước 5,37 cm và thấp nhất là 0,80 ở nhóm kích thước 9,68 cm (Fuadi et al., 2016)

Nghiên cứu biến động quần thể cá là một trong những nội dung được nhiều nhà khoa học, quản lý quan tâm Kết quả của các nghiên cứu trong lĩnh vực này cung cấp những thông tin về đặc điểm của quần thể như sinh trưởng, kích thước khai thác, sinh khối, sản lượng,… giúp các nhà nghiên cứu, quản lý tìm ra hướng quản lý tốt hơn Nghiên cứu biến động quần thể đã được Kharat and Dahanukar (2013) thực hiện trên một loài cá chạch suối tại khu vực phía

Bắc Ghats của Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy chiều dài tối đa (L ∞ )bằng 6,04 cm, hằng số tăng trưởng (K) bằng 0,79/năm, mức chết tổng bằng 2,05/năm Các cá thể còn non dễ bị tử vong cao hơn cá thể trưởng thành Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ tử vong ở cá thể có kích thước nhỏ cũng cao hơn

Các nghiên cứu về biến động quần thể cá thường dựa vào tần suất chiều dài và sự hỗ trợ của phần mềm FISAT II Khi nghiên cứu xác định các tham số biến động quần đàn của cá lưỡi trâu (Cynoglossus microlepis) ở địa bàn sông Hậu, Nguyễn Thế Nghiệp và ctv (2014) đã dựa vào tần suất chiều dài cá và phân tích số liệu bằng phần mềm FISAT II Kết quả cho thấy, loài cá này xuất hiện quanh năm tại địa bàn nghiên cứu Nhiều cá thể khai thác có kích thước nhỏ, cỡ cá khai thác chủ yếu từ 0,5-22,5 cm, chiều dài tối đa mà cá có thể đạt được là L ∞ = 44,33 cm, hệ số tăng trưởng K = 1,02/năm, tuổi cá tại thời điểm chiều dài cá bằng 0 (t 0 ) bằng 0,01 năm (Nguyễn Thế Nghiệp và ctv., 2014)

Tương tự, Nguyễn Thị Vàng và Trần Đắc Định (2014) thực hiện nghiên cứu đối với quần thể cá lau kính (P disjunctivus) tại thành phố Cần Thơ, kết quả đã xác định các tham số biến động quần đàn gồm L ∞ = 45 cm, K = 0,89/năm, t 0 = 0,20/năm; mức chết tổng (Z), mức chết tự nhiên (M), và mức chết do khai thác (F) lần lượt là 1,86/năm, 1,49/năm, và 0,37/năm Cá bổ sung vào quần đàn 2 lần trong năm và các lần bổ sung cách nhau 5 tháng (Nguyễn Thị Vàng và Trần Đắc Định, 2014) Camargo et al.(2015) đã thực hiện nghiên cứu đánh giá biến động quần thể mang tính tổng quát tại sông Xingu, thuộc lưu vực sông Amazon Nghiên cứu đã ước tính các thông số sinh học chính bao gồm tốc độ tăng trưởng, chiều dài tối đa, mức chết, năng suất sinh học, sinh khối,… đối với các loài cá phổ biến trên sông Xingu trong thời gian xây dựng đập Belo Monte Nghiên cứu phân tích các chỉ số biến động quần thể dựa vào tần suất chiều dài bằng các phương trình thực nghiệm với sự hỗ trợ của mềm FISAT Kết quả cho thấy 63 loài cá được nghiên cứu có mức chết tự nhiên cao, tuổi thành thục sinh dục sớm và tuổi thọ thấp Các loài có vòng đời ngắn chiếm ưu thế tại khu vực nghiên cứu (Camargo et al., 2015) Một nghiên cứu gần đây về biến động quần thể cá Pseudotolithus senegalensis và

Pseudotolithus typus được thực hiện bởi Wehye et al (2017) Nghiên cứu đã

23 xác định các tham số biến động quần thể của loài Pseudotolithus senegalensis gồm K = 0,13/năm, L ∞ = 66,68 cm, Z = 0,93/năm, M = 0,37, F = 0,56, chiều dài tại điểm có 50% cá thể bị khai thác L m50 = 33,84 cm, và tuổi tối đa của loài 21,49 năm Đối với loài Pseudotolithus typus, nghiên cứu đã ghi nhận K =

0,14/năm; L ∞ = 66,68 cm; Z = 0,70; M = 0,39; F = 0,3; L m50 = 30,23 cm; và tuổi tối đa bằng 19,63 năm Mỗi loài cá nghiên cứu đều có hai thời điểm bổ sung quần đàn chính trong năm, kích thước bổ sung quần đàn đối với

Pseudotolithus senegalensis là 8,52 cm và loài Pseudotolithus typus là 9,53 cm

Đặc điể m sinh s ả n cá

Thành thục và sinh sản của cá là một quá trình có liên quan đến nhiều yếu tố như tuổi, kích thước thành thục, yếu tố mùa vụ, sự biến đổi của độ béo, hệ số thành thục, và sự phát triển của tuyến sinh dục Độ béo là chỉ số được xác định thông qua mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng của cá, thường được dùng để dự đoán mùa vụ sinh sản Theo Espino-Barr et al (2015), độ béo của cá được tính theo Fulton là Q = W x 100/L 3 và độ béo Clark là Q 0 W 0 x 100/L 3 (trong đó: W: Khối lượng tổng của cá (g), W 0 : Khối lượng thân cá không có nội quan, L: Chiều dài tổng) (Fulton, 1902 và Clark, 1928 trích dẫn của Espino-Barr et al., 2015) Chỉ số độ béo này được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu sinh học cá, nhằm đánh giá sự tích lũy dinh dưỡng và dự đoán mùa vụ sinh sản (Hồ Mỹ Hạnh và Bùi Minh Tâm, 2014; Espino-Barr et al.,

2015; Hashim et al., 2017) Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy độ béo của cá biến động lớn theo các tháng trong năm Ở cá chành đục Channa gachua, độ béo Fulton biến động trong khoảng từ 1,65-1,96%; độ béo Clark trong khoảng 1,49-1,87% Độ béo loài cá này đạt giá trị cao nhất từ tháng 2-5 và giảm đến giá trị thấp nhất vào tháng 8 (Hồ Mỹ Hạnh và Bùi Minh Tâm, 2014) Độ béo Fulton của cá ngạnh dao động từ 2,1-3,01% và độ béo Clark là 1,87-2,74% Độ béo cá ngạnh cao nhất vào tháng 1 và thấp nhất vào tháng 6 (Nguyễn Đình Vinh, 2017) Ở cá nâu (Scatophagus argus), độ béo Fulton dao động từ 2,73-

3,65%, và đạt giá trị cao vào tháng 2, 6 và 12 Trong đó, ở tháng 12 độ béo của cá nâu đạt giá trị cao nhất là 3,65% (Hashim et al., 2017) Sự gia tăng độ béo thường có liên quan đến sự tích lũy dinh dưỡng và thành thục sinh dục Ở cá chành đục, độ béo tăng cao từ tháng 2-5 và giảm vào tháng 6-9, trong khi đó hệ số thành thục loài cá này tăng cao từ tháng 5-9 (Hồ Mỹ Hạnh và Bùi

Sự thay đổi theo mùa của khối lượng tuyến sinh dục cá có thể thấy rõ ràng ở trên cá cái do khối lượng của trứng tăng nhanh trong mùa sinh sản Khối lượng tuyến sinh dục là chỉ tiêu về số lượng để đánh giá tình trạng thành

24 thục của cá (Nikolsky, 1963) Theo Pravdin (1973), hệ số thành thục sinh dục (GSI) là tỉ lệ phần trăm của khối lượng tuyến sinh dục trên khối lượng thân cá

Hệ số này thường được tính riêng cho từng tháng, giới tính (cá đực, cá cái) với thời gian ít nhất là một năm Hệ số GSI thường có sự biến đổi qua các tháng trong năm (Ghanbahadur and Ghanbahadur, 2012; Ghanbahadur et al., 2013;

Hồ Mỹ Hạnh và Bùi Minh Tâm, 2014) Hệ số thành thục sinh dục của cá chép cái ở lưu vực sông Godavari (Ấn Độ) có sự biến động rõ rệt qua 12 tháng, hệ số này đạt giá trị thấp nhất vào tháng 9 (5%) và cao nhất vào tháng 6 (14,8%) (Ghanbahadur and Ghanbahadur, 2012) Ở cá chành đục (Chana gachua), hệ số GSI cũng thay đổi rõ rệt, hệ số này đạt giá trị thấp nhất vào tháng 9 (5%) và cao nhất vào tháng 5 (47,29%), điều này cho thấy khoảng thời gian sinh sản của loài có thể từ tháng 6 (Ghanbahadur et al., 2013) Như vậy, sự gia tăng hệ số thành thục sinh dục là sự gia tăng về khối lượng của tuyến sinh dục Khi tuyến sinh dục cá phát triển đến giai đoạn thành thục, hệ số này sẽ đạt cực đại

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân chia các giai đoạn phát triển và thành thục tuyến sinh dục cá Dựa vào đặc điểm phát triển mô học của buồng trứng cỏ, cỏc tỏc giả Hunter and Macewicz (1985), Gonỗalves and

Morgado (2006), Vitale et al (2006), Branco et al (2013) đã chia quá trình phát triển của buồng trứng cá cơm Melichthys niger, Merluccius merluccius và Gadus morhua thành 4 giai đoạn là giai đoạn phát triển sớm, giai đoạn đoạn phát triển muộn, giai đoạn thành thục và giai đoạn phục hồi Trong khi đó, căn cứ vào cấu trúc tế bào của nhiều loài cá, các tác giả Nikolsky (1963), Xakun and Buskaia (1968), Brulé and Colás-Marrufo (2006), Ferreri et al (2009) đã chia sự phát triển buồng trứng cá thành 6 giai đoạn Một quan điểm khác về thang phân chia các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục cá được Farley et al

(2013) sử dụng khi xác định đặc điểm sinh sản của cá ngừ (Thunnus alalunga) ở khu vực Nam Thái Bình Dương Theo nhóm tác giả này, phát triển của buồng trứng cá ngừ được chia thành 7 giai đoạn là giai đoa ̣n non (immature), giai đoa ̣n phát triển (developing), giai đoạn trước sinh sản (spawning capable), giai đoạn sinh sản (spawning), giai đoạn trước thoái hóa (regressing- potentially - reproductive), giai đoa ̣n thoái hóa (regressed), và giai đoa ̣n phục hồi (regenerating) Ngoài ra, trên cơ sở kế thừa và tổng hợp các nghiên cứu về tuyến sinh dục cá, Barbieri et al (2006), đã đề xuất hệ thống phân chia tiêu chuẩn cho cá xương gồm 8 giai đoạn Tương tự như buồng trứng, các giai đoạn thành thục của buồng tinh cá cũng có nhiều thang phân chia với số bậc thay đổi khác nhau Sự phát triển của buồng tinh cá có thể chia thành 4 giai đoạn (Hunter and Macewicz, 1985; Vitale et al., 2006; Gonỗalves and

Morgado, 2006; Chakrabarti and Banerjee, 2015) hoặc 6 giai đoạn (Xakun and Buskia, 1968; Meister et al., 2006 ; Brown-Peterson, 2006; Brulé and

Colás-Marrufo, 2006) Ngoài ra, Brown-Peterson and Wyanski (2006) đã đề xuất hệ thống phân loại tiêu chuẩn cho phát triển buồng tinh cá xương gồm 7 giai đoạn Ở Viê ̣t Nam, cách phân chia quá trình phát triển của tuyến sinh dục cá thành 6 giai đoa ̣n của Nikolsky (1963) và Xakun and Buskaia (1968) được các nhà nghiên cứu áp dụng phổ biến như Nguyễn Bạch Loan (2012), Nguyễn Minh Tuấn (2016), Võ Thành Toàn (2016), Theo Nguyễn Ba ̣ch Loan

(2012), thang phân chia phát triển của buồng trứng thành 6 giai đoạn này có nhiều ưu điểm nổi bật như có tính tổng hợp cao, có thể áp dụng khi nghiên cứu tuyến sinh dục cá đẻ một lần lẫn cá đẻ nhiều lần trong năm, đặc biệt dễ sử dụng khi khảo sát số lượng mẫu lớn ngoài hiện trường

Sức sinh sản tuyệt đối là tổng số lượng trứng của một cá cái thành thục (trước khi sinh sản), sức sinh sản tương đối là số lượng trứng trên một đơn vị khối lượng của cá cái (Kingdom and Allison, 2011) Sức sinh sản ở mỗi loài cá khác nhau thường có sự thay đổi khác nhau Sức sinh sản tuyệt đối của cá chạch lấu được xác định từ 11.209-45.631 trứng/cá cái (Nguyễn Văn Triều,

2010), cá kết (M bleekeri) đạt 1.107-18.270 trứng/cá cái (Nguyễn Văn Triều và ctv., 2006), cá chạch sông (M Siamensis) đạt 1.587-3.112 trứng/cá cái (Nguyễn Quốc Đạt, 2007), cá Paracobitis malapterura (một loài thuộc họ cá bám đá) là 353,3±132,7 trứng/cá cái (Jamali et al., 2016)

Kích thước thành thục của cá (L m ) là chiều dài trung bình mà tại đó trong quần đàn cá có 50% cá thể có tuyến sinh dục đã phát triển đến giai đoạn thành thục Kích thước thành thục của cá được tính theo công thức P =1/(1+e -r*(L-Lm) )

(trong đó: P: Tỷ lệ cá thành thục; L: Chiều dài tổng của cá; L m : Chiều dài trung bình 50% quần đàn cá thành thục (King, 1995) Việc xác định kích thước thành thục lần đầu của cá có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nguồn lợi cá (Fontoura et al., 2009) Vì vậy, giá trị này được các nhà nghiên cứu sử dụng phổ biến trong nghiên cứu đặc điểm sinh sản cá Karna and Panda (2011) đã xác định kích thước thành thục lần đầu của cá Dayscieaena albida cái đạt 308 mm Ở cá

Tình hình nghiên cứ u sinh s ản và nuôi thuần dưỡng cá nước ngọt

Trong nghiên cứu sinh sản cá, nhiều loại chất kích thích, kích dục tố đã được sử dụng Tùy vào từng loài cá, các loại chất kích thích sinh sản như LHRHa, HCG, các hormon steroid đã được sử dụng (Nguyễn Tường Anh,

1999) Thực hiện nghiên cứu kích thích sinh sản cá chốt trắng (Mystus planiceps), Lý Văn Khánh và ctv (2013) ghi nhận LHRHa+DOM có hiệu quả kích thích loài cá này sinh sản cao hơn HCG Với liều tiêm LHRHa+DOM

100 àg/kg cỏ cỏi cho hiệu quả sinh sản cao nhất với tỷ lệ cỏ cỏi sinh sản đạt 83,3% (Lý Văn Khánh và ctv., 2013) Đối với cá mè hôi (Osteochilus melanopleura), việc kớch thớch sinh sản bằng 80 àg LHRHa +10 DOM kết hợp với 2 mg não thùy cho tỷ lệ cá sinh sản cao nhất (66,67%), cao hơn khi sử dụng HCG kết hợp với não thùy và LHRHa +DOM ( Nguyễn Văn Kiểm và Đặng Văn Trường, 2014) Cũng sử dụng HCG và LRHa kết hợp với DOM, Nguyễn Đình Vinh và ctv (2016) đã kích thích sinh sản cá ngạnh (Cranoglanis bouderius) với liều tiờm 30, 40 và 50 àg LRHa/kg cỏ cỏi + 9 mg DOM; và liều tiêm 2.500, 3.000 và 3.500 IU HCG/kg cá cái Kết quả nghiên cứu cho thấy, liều tiờm 30 àg LRHa + 9 mg DOM/ kg cỏ cỏi và 2.500 IU HCG/kg cá cái có hiệu quả cá sinh sản cao hơn các liều còn lại

Ngoài HCG và LRHa, Ovaprim cũng được sử dụng trong kích thích sinh sản cá nước ngọt Khi kích thích sinh sản cá trê Phú Quốc, Phạm Thanh Liêm và ctv (2015) đã sử dụng Ovaprim, HCG, LHRHa và não thùy cá chép Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các liều tiêm đều có tác dụng kích thích chín và rụng trứng, trong đó liều 2 mg não thùy (liều sơ bộ) kết hợp 4.000 IU HCG/kg cá cái (liều quyết định) cho kết quả cao nhất về tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở Cũng sử dụng Ovaprim, Malik et al (2014) đã kích thích sinh sản cá chép

Nhật với liều 0,5 mg/kg cá cái và 0,2 mg/kg cá đực Kết quả cho tỷ lệ rụng trứng, thụ tinh và nở lần lượt 100%, 75,2% và 83,3% Một loại chất kích thích sinh sản khác đã được Maradun et al (2018) sử dụng trong nghiên cứu kích thích sinh sản cá trê phi (Clarias gariepinus) là Ovulin Nghiên cứu này đã sử dụng Ovulin với liều 0,3 mL/kg cá, 0,5 mL/kg cá và 0,7 mL/kg cá Kết quả cho thấy, ở liều 0,7 mL/kg cá cho tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao nhất với lần lượt là 88,12% và 82,07% nhưng tỷ lệ sống của cá bột là thấp nhất (83,60%)

Bên cạnh sử dụng các chất kích thích, kích dục tố trong sinh sản cá, một số nghiên cứu còn sử dụng các yếu tố môi trường nước, nhất là nhiệt độ để kích thích cá sinh sản Một trong những nghiên cứu về nội dung này được thực hiện bởi Arantes et al (2011) trên cá Pampus argenteus Nghiên cứu đã thử

27 nghiệm ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh sản của cá Pampus argenteus ở hai mức nhiệt độ là 23 o C và 26 o C Kết quả cho thấy ở nhiệt độ 23 o C cá sinh sản chậm hơn 2 giờ so với ở nhiệt độ 26 o C Tỷ lệ cá cái tham gia sinh sản ở mức nhiệt 26 o C là 100%, trong khi đó ở mức nhiệt 23 o C tỷ lệ cá cái tham gia sinh sản chỉ đạt 67% Tương tự cá Pampus argenteus, ở cá chép khi nuôi ở điều kiện nhiệt độ từ 26-30 o C và pH = 5,5-8,5 đã cho thấy, điều kiện thuận lợi nhất cho cá chép sinh sản là nhiệt độ 26 o C và pH = 7,5 (Sapkale et al., 2011) Một nghiên cứu gần đây về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh sản của cá được thực hiện bởi Luo et al (2017) Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các mức nhiệt độ 18 o C, 24 o C, 27 o C và 30 o C đến sinh sản của cá Gobiocypris rarus Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, ở nhiệt độ từ 24-27 o C cho kết quả sinh sản tốt nhất Ở các nhiệt độ thấp (18-21 o C) làm chậm quá trình phát triển của trứng, trong khi đó ở nhiệt độ cao (30 o C) làm ức chế quá trình chín và rụng trứng của cá Gobiocypris rarus Từ các nghiên cứu trên có thể thấy, nhiệt độ là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trứng và sinh sản của cá

2.6.2 Nuôi thuần dưỡng cá cảnh nước ngọt

Cá tự nhiên sau khi được khai thác cần phải qua quá trình thuần dưỡng để thích nghi với điều kiện và môi trường nuôi nhân tạo Quá trình thuần dưỡng làm cá cảnh từ tự nhiên trải qua rất nhiều công đoạn Cá tự nhiên sau khi đánh bắt cần được trữ dưỡng và vận chuyển với nước có chất lượng gần giống hay bằng chính nguồn nước tự nhiên nơi khai thác nhằm tránh gây sốc cá và tăng cơ hội cá sống sót sau quá trình thuần dưỡng Cá được tắm khử trùng nhằm hạn chế mầm bệnh từ môi trường và trầy xước do đánh bắt Sau khi cá đã ổn định tỷ lệ sống và phục hồi màu sắc tự nhiên, tiến hành nuôi cá làm quen với các điều kiện nhân tạo và ánh sáng đèn Dùng máy lọc và máy sục khí để ổn định chất lượng nước theo đặc điểm sinh học của mỗi loài Đối với cá sống ở nước lợ cần có các bước giảm dần độ mặn xuống còn 1-2 ‰ với thang độ mặn mỗi lần giảm từ 2-4 ‰ và thời gian 4-7 ngày/lần Cần tạo sinh cảnh hồ nuôi cho cá có nơi trú ẩn và giảm sốc giúp cá ổn định màu sắc và tập tính sống Tùy theo tập tính ăn của mỗi loài để bố trí các bước thăm dò, xác định loại thức ăn bắt buộc và thức ăn thay thế Đồng thời, kết hợp theo dõi các chỉ tiêu về cường độ bắt mồi, hoạt động bơi lội, màu sắc và tăng trưởng Bước cuối cùng là thuần dưỡng nuôi nâng cấp nhằm cải thiện màu sắc và tập tính sống của cá trong điều kiện nuôi nhân tạo Chọn các loại thức ăn cho cá lên màu đẹp như tôm, tép hoặc thức ăn bổ sung astaxanthin Đồng thời, chọn các đối tượng nuôi ghép phù hợp và bố trí điều kiện chất lượng nước và sinh cảnh

28 tối ưu (Lê Thị Thanh Muốn và Nguyễn Khoa Diệu Thu, 1997 trích dẫn bởi Vũ Cẩm Lương, 2008)

Các loài cá cảnh nước ngọt như cá vàng, cá xiêm, cá bảy màu, cá dĩa, cá rồng,… đang nuôi phổ biến hiện nay là được lai tạo và thuần dưỡng từ tự nhiờn (Fossồ, 2004; NADA, 2012; Betta fish center, 2013; Bella, 2015) Cỏ vàng được xem là loài đầu tiên được thuần dưỡng nuôi cảnh trên thế giới (nuôi cảnh đầu tiờn ở Trung Quốc vào năm 960 sau cụng nguyờn) (Fossồ, 2004) Ở Thái Lan, cá xiêm (Betta) cũng là loài cá cảnh được thuần dưỡng từ cá tự nhiên hoang dã với tên gọi ban đầu Macropodus Pugnax Năm 1090, Tate Regan đã đổi tên cá xiêm thành Betta splendens và trở thành loài cá cảnh phổ biến (Betta fish center, 2013) Cá bảy màu được phát hiện và chính thức được công nhâ ̣n vào năm 1866 bởi John Guppy Qua quá trình thuần dưỡng và lai tạo, đến nay loài cá này đã trở thành dòng cá cảnh đe ̣p và hấp dẫn người nuôi khắp thế giới (Bella, 2015) Tương tự, cá dĩa cũng là loài cá cảnh nước ngọt được thuần dưỡng từ tự nhiên của khu vực sông Amazon Từ những loài cá dĩa hoang dã ban đầu, đến nay loài cá này đã trở thành loài cá cảnh có giá trị và được người nuôi ưa chuộng (NADA, 2012) Ở Việt Nam, việc nghiên cứu thuần dưỡng cá cảnh từ cá tự nhiên chưa được công bố nhiều Các công trình nghiên cứu cá cảnh do Viện Hải Dương thực hiện những năm 1999 và 2000-2001 ghi nhận ở vùng biển Nha Trang có

5 loài cá khoang cổ, 8 loài hải quỳ và bước đầu đã sản xuất được giống cá khoang cổ (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2012) Nhìn chung, các công bố về nghiên cứu thuần dưỡng cá cảnh ở Việt Nam chưa nhiều, đặc biệt là thuần dưỡng các loài cá bản địa từ tự nhiên vào nuôi cảnh.

Sơ lược điều kiện tự nhiên và sinh vật tỉnh Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế là một tỉnh nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải Phần đất liền tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích 5.053,99 km 2 , tọa độ địa lý như sau: Điểm cực Bắc: 16°44'30'' vĩ Bắc và 107°23'48'' kinh Đông Điểm cực Nam: 15°59'30'' vĩ Bắc và 107°41'52'' kinh Đông Điểm cực Tây: 16°22'45'' vĩ Bắc và 107°00'56'' kinh Đông Điểm cực Đông: 16°13'18'' vĩ Bắc và 108°12'57'' kinh Đông

Về địa hình, Thừa Thiên Huế được xem như là điểm tận cùng phía Nam của dãy núi trung bình Trường Sơn Bắc Đặc trưng chung về địa hình của dãy Trường Sơn Bắc là sườn phía Tây thoải, thấp dần về phía sông Mêkông; sườn phía Đông khá dốc, bị chia cắt mạnh thành các dãy núi trung bình, núi thấp, gò

29 đồi và tiếp nối là đồng bằng duyên hải, đầm phá, cồn đụn cát chắn bờ và biển Đông Địa hình Thừa Thiên Huế được chia thành 4 loại: (i) Địa hình khu vực núi trung bình; (ii) địa hình khu vực núi thấp và gò đồi; (iii) địa hình khu vực đồng bằng duyên hải; và (iv) địa hình khu vực đầm phá và biển ven bờ (Nguyễn Thanh và ctv., 2005)

Tỉnh Thừa Thiên Huế gồm có một thành phố loại I trực thuộc tỉnh (thành phố Huế), 2 thị xã (Hương Thủy, Hương Trà) và 6 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, A Lưới và Nam Đông) với 105 xã, 47 phường, thị trấn Trong đó, có 6 thị trấn huyện lỵ là Phong Điền (huyện Phong Điền), Sịa (huyện Quảng Điền), Phú Lộc (huyện Phú Lộc), Khe Tre (huyện Nam Đông),

A Lưới (huyện A Lưới), Phú Đa (Phú Vang) và 2 thị trấn trực thuộc huyện là Thuận An (huyện Phú Vang) và Lăng Cô (huyện Phú Lộc) (Nguyễn Thanh và ctv., 2005)

2.7.3 Chếđộ thủy văn, khí hậu

Hệ thống thuỷ văn ở Thừa Thiên Huế hết sức phức tạp và độc đáo Các con sông đan nối vào nhau thành một mạng lưới chằng chịt: sông Ô Lâu - phá Tam Giang - sông Hương - sông Lợi Nông - sông Đại Giang - sông Hà Tạ - sông Cống Quan - sông Truồi - sông Nong - đầm Cầu Hai Hệ thống đầm phá Tam Giang Cầu Hai là điểm hội tụ của hầu hết các con sông trước khi ra đổ ra biển, đây là khu hệ đầm phá có diện tích lớn nhất Đông Nam Á

Về khí hậu, Thừa Thiên Huế nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình cả năm của tỉnh là 25,1 °C Trong đó, ở một số khu vực vùng cao như huyện A Lưới, nhiệt độ trung bình năm là 21,6 o C Nhiệt độ có sự thay đổi lớn theo mùa Mùa đông nhiệt độ thấp, tháng lạnh nhất có thể đạt

20 o C ở khu vực đồng bằng và 17-18 o C ở khu vực miền núi Mùa hè nhiệt độ tăng cao, nhiệt độ trung bình trong một tháng có thể đạt 28-29 o C ở khu vực duyên hải và 24-25 o C ở khu vực gò đồi, thung lũng Số giờ nắng trung bình từ 1.700-2.000 giờ /năm (Nguyễn Thanh và ctv., 2005).

V â ̣t liê ̣u và phương pháp nghiên cứu

K ế t qu ả nghiên c ứ u và th ả o lu ậ n

Ngày đăng: 09/04/2023, 11:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abujam, S.S., R.K. Shah, S.J. Singh, and S.P. Biswas, 2013. Food and feeding habit of spiny eel Macrognathus aral (Bloch and Schneider) from upper assam. Journal of FisheriesSciences, 7(4): 360-373 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macrognathus aral" (Bloch and Schneider) from upper assam. "Journal of FisheriesSciences
2. Al-Akel, A.S., F. Al-Misned, H.F. Al-Kahem-Al-Balawi, K.A. Al-Ghanim, Z. Ahmad and H. Annazri, 2010. Reproductive Biology of Sailfin Molly, Poecilia latipinna (Lesueur, 1821) in Wadi Haneefah Stream, Riyadh, Saudi Arabia. Pakistan Journal of Zoology, 42(2): 169-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poecilia latipinna
3. Al-Hussaini, A.H., 1949. On the functional morphology of the alimentary tract of some fishes in relation to differences in their feeding habits: Anatomy and histology. Quarterly Journal of Microscopical Science, 90(2): 109-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quarterly Journal of Microscopical Science
5. Arantes, F.P., H.B. Santos, E. Rizzo, Y. Sato, and N. Bazzoli, 2011. Influence of water temperature on induced reproduction by hypophysation, sex steroids concentrations and final oocyte maturation of the ‘‘curimatã-pacu’’Prochilodus argenteus (Pisces: Prochilodontidae). General and Comparative Endocrinology, 172(3): 400-408 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prochilodus argenteus" (Pisces: Prochilodontidae). "General and Comparative Endocrinology
7. Barbieri, L.R., N.J. Brown-Peterson, M.W. Jackson, S.K. Lowerre- Barbieri, D.L. Nieland and D.M. Wyanski, 2006. A Proposal for a standardized classification of ovarian development classes in Teleost fishes. In: 3rd Workshop on Gonadal histology of fishes, 11-12 July 2006. New Orleans, Louisiana. 1-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In
8. Bella, 2015. The history of the Guppy. http://guppyfishcare.com/the- history-of-the-guppy, accessed on 12/12/2016 Link
9. Bellinger, E.G. and D.C. Sigee, 2010. Freshwater algae identification and use as bioindicators. A John Wiley &amp; Sons. 271 pp.10. Betta fish center, 2013. Betta Origins.http://www.bettafishcenter.com/Betta-Origins.shtml, accessed on 13/10/2016 Link
6. Baird, R.B., A.D. Eaton and E.W. Rice (Editors), 2017. Standard methods for the examination of water and wastewater, 23rd edition. American Public Health Association, American Water Works Association, and Water Environment Federation. Washington DC. 1545 pp Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w