0 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật ĐỀ BÀI 07 Hà Nội, 2021 HỌ VÀ TÊN Hoàng Bảo Trâm MSSV 453510 LỚP 4535 TL A 1 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG[.]
Trang 10
BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
ĐỀ BÀI: 07
Hà Nội, 2021
Trang 21
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I Tóm tắt nội dung bài viết: “Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong hệ thống điều chỉnh xã hội” của tác giả Hoàng Thị Kim Quế (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/1999) 2
1.1 Vị trí, vai trò của pháp luật và đạo đức trong hệ thống các quy phạm điều chỉnh xã hội 2
1.2 Sự thống nhất, sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức 3
1.2.1 Sự thống nhất giữa pháp luật và đạo đức 3
1.2.2 Sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức 3
1.3 Sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức 4
II Điểm giống và khác nhau trong quan điểm về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức của tác giả Hoàng Thị Kim Quế trong bài viết: “Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong hệ thống điều chỉnh xã hội” (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/1999) và tác giả Nguyễn Văn Năm trong bài viết: “Nhận thức về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức” (Tạp chí Luật học, số 4/2006) 4
2.1 Sự giống nhau giữa pháp luật và đạo đức 5
2.2 Những điểm khác nhau giữa pháp luật và đạo đức 5
2.3 Sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức 5
III Nhận xét về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ở Việt Nam hiện nay 7 KẾT LUẬN 9
DANH LIỆU TÀI MỤC THAM KHẢO 10
Trang 32
MỞ ĐẦU
Hiện nay, pháp luật được xác định là công cụ quan trọng nhất để nhà nước quản lý xã hội và đồng thời vai trò của đạo đức cũng hết sức được chú trọng Giữa chúng thường xuyên có những mối quan hệ tác động qua lại, đan xen ảnh hưởng lẫn nhau dù bản thân chúng có những điểm riêng biệt Mối quan hệ ấy là một đề tài rất lớn, đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu ở nhiều góc độ
và phạm vi khác nhau Tuy nhiên, việc giải quyết về mặt lý luận của mối quan
hệ này ở thực tiễn Việt Nam là điều khá mới mẻ và ít được quan tâm, nghiên cứu Vì vậy, em chọn đề bài số 7 để đi sâu và làm rõ hơn về mối quan hệ cơ bản nhất giữa đạo đức và pháp luật, đồng thời qua đó đánh giá được thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số phương pháp để nâng cao vai trò của đạo đức và pháp luật trong đời sống
NỘI DUNG
I Tóm tắt nội dung bài viết: “Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong hệ thống điều chỉnh xã hội” của tác giả Hoàng Thị Kim Quế (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/1999)
Trong lý luận chung truyền thống về Nhà nước và pháp luật, mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật ít được quan tâm nghiên cứu Thời gian gần đây, mối quan hệ trên đã được đưa ra xem xét trên các phương diện khác nhau Trong phạm vi bài viết này, qua bước đầu tìm hiểu, tác giả đã đưa ra những ý kiến sau đây:
1.1 Vị trí, vai trò của pháp luật và đạo đức trong hệ thống các quy phạm điều chỉnh xã hội
Hệ thống thống các quy phạm xã hội ở nước ta hiện nay rất phong phú, bao gồm: quy phạm pháp luật, quy phạm đạo đức, tập quán, phong tục, luật tục, hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư, quy phạm của các tổ chức xã hội Quan điểm đánh giá tổng thể và có hệ thống về pháp luật là quan điểm mà theo
đó phải đặt pháp luật trong mối tương quan với các quy phạm xã hội khác
Tập quán là nhứng thói quen xử xự, những tác phong được lặp đi lặp lại
trong thời gian ở cá nhân hay ở một cộng đồng hoặc ở toàn xã hội Những hành
vi vi phạm tập quán sẽ bị áp dụng bởi chế tài là dư luận xã hội, có tính chất
Trang 43
không “nặng nề lắm” Phong tục là thói quen lan rộng, đã ăn sâu vào đời sống
xã hội từ lâu đời, được đa số chấp nhận và làm theo Luật tục là những tập quán,
phong tục tồn tại dưới dạng truyền khẩu và thành văn, chỉ bao gồm những phong tục, tập quán, quy lệ tác động đến những hành vi cá nhân trong cộng đồng hay giữa các cộng đồng với nhau như là những quy tắc xử xự mang tính bắt buộc, gắn với những hình thức xử phạt và khen thưởng
Trong hệ thống các quy phạm điều chỉnh xã hội, pháp luật và đạo đức giữ
vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng nhất Trong cuộc sống hằng ngày, hành vi
của mỗi cá nhân thường chịu sự điều chỉnh nhiều nhất của đạo đức và pháp luật
Dưới dạng phổ quát nhất, đạo đức là tổng thể những nguyên tắc, quan niệm,
chuẩn mực xã hội về điều thiện, điều ác, về danh dự, lương tâm, lẽ công bằng…
Xã hội càng phát triển thì vai trò của những yếu tố đạo đức càng được đề cao Mọi hành vi của con người đều phải được đánh giá từ tiêu chí pháp luật và đạo đức Bằng những thuộc tính, những sức mạnh riêng có của mình mà các loại quy phạm khác không có được, pháp luật có thể tác động mạnh mẽ đến các quy phạm xã hội khác ở những điều kiện nhất định Mỗi loại quy phạm xã hội đều có
vị trí, vai trò, đặc thù điều chỉnh, ưu thế và hạn chế riêng, song chúng đều nằm trong một thể thống nhất, có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ, bổ sung cho nhau Pháp luật không phải là công cụ vạn năng điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội nên cần sự trợ giúp từ các công cụ khác, do đó cũng không nên “cố gắng” thể chế hóa mọi quan hệ xã hội thành pháp luật
1.2 Sự thống nhất, sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức
1.2.1 Sự thống nhất giữa pháp luật và đạo đức
Thứ nhất, chúng đều có chức năng chung là điều chỉnh hành vi của con
người và các mối quan hệ xã hội Đạo đức và pháp luật đều có quy định về cái
thiện và cái ác thống nhất với nhau Chúng bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên sự điều chỉnh mạnh mẽ đối với hành vi con người
Thứ hai, tính thống nhất nằm ở thái độ, sự đánh giá, sự cảm nhận, cách
xử lí đối với những hành vi của con người, hay là pháp luật và đạo đức có sự
phù hợp với nhau Chính vì thế mà ta thấy được mối tương quan giữa các hành
Trang 54
vi vi phạm pháp luật và vi phạm đạo đức có liên hệ rất chặt chẽ với nhau, phải
có sự kết hợp các biện pháp để khắc phục và đấu tranh
1.2.2 Sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức
Sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức được thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau:
Về phạm vi điều chỉnh, dù có nhiều quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng
cả pháp luật và đạo đức nhưng phạm vi điều chỉnh của chúng không hoàn toàn trùng hợp nhau Pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng, cơ bản; đạo đức có thể điều chỉnh các quan hệ xã hội không thuộc phạm vi của pháp luật như lĩnh vực tình yêu, tình bạn… Mặt khác, đạo đức không thể hoặc rất khó đánh giá một số hành vi, mà ở pháp luật có những quy phạm liên quan đến pháp
lý – kĩ thuật
Về hình thức, mức độ thể hiện, pháp luật có mức độ thể hiện cụ thể, chi
tiết hơn Pháp luật dưới dạng văn bản được thể hiện thành những quyền và nghĩa
vụ cùng với biện pháp xử lý – những chế tài nhất định Đạo đức thường đề cập đến bổn phận nhiều hơn là quyền, chủ yếu tồn tại ở dạng bất thành văn thường là trong ca dao, tục ngữ…
Về phương pháp đảm bảo thực hiện, đạo đức được đảm bảo thực hiện bởi
yếu tố lương tâm, hoặc sức mạnh từ dư luận xã hội; pháp luật được đảm bảo thực hiện bởi quyền lực nhà nước, bằng cả sự tự giác của con người trên cơ sở nhận thức đứng đắn Chế tài của pháp luật được quy định cụ thể trong các điều luật; còn ở đạo đức, chế tài mạnh nhất là dư luận xã hội, tiếp đến là sự day dứt lương tâm khi không làm điều gì đó mà phù hợp với chuẩn mực đạo đức
Ngoài ra, pháp luật và đạo đức còn thể hiện sự khác biệt ở nhiều góc độ khác như: nguồn gốc ban đầu, sự hình thành trong đời sống xã hội…
1.3 Sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức
Pháp luật ghi nhận trực tiếp hoặc gián tiếp những nguyên tắc đạo đức phù hợp với xã hội Pháp luật là một trong những hình thức khẳng định, bảo vệ và phát huy chuẩn mực đạo đức, nhưng cũng hạn chế và loại bỏ các chuẩn mực đạo đức tiêu cực, phản tiến bộ Đồng thời, pháp luật hỗ trợ trong việc hình thành các
Trang 65
chuẩn mực đạo đức mới Pháp luật là phương tiện đảm bảo đạo đức được thực hiện trong cuộc sống thông qua các biện pháp tác động của Nhà nước
Đạo đức không chỉ là môi trường để tiếp thu, cảm nhận và thực hiện pháp luật mà còn là cơ sở cho việc xây dựng pháp luật Ngoài ra, đạo đức cũng là phương tiện bổ sung, hỗ trợ cho pháp luật trong điều chỉnh quan hệ xã hội
II Điểm giống và khác nhau trong quan điểm về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức của tác giả Hoàng Thị Kim Quế trong bài viết: “Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong hệ thống điều chỉnh
xã hội” (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/1999) và tác giả Nguyễn Văn Năm trong bài viết: “Nhận thức về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức” (Tạp chí Luật học, số 4/2006)
2.1 Sự giống nhau giữa pháp luật và đạo đức
Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Năm chỉ ra được năm điểm giống nhau giữa pháp luật và đạo đức, trong đó có hai điểm giống với bài viết của tác giả
Hoàng Thị Kim Quế Một là, pháp luật và đạo đức đều là phương tiện điều chỉnh hành vi quan trọng bậc nhất Hai là, pháp luật và đạo đức luôn có sự phù hợp
với nhau ở những mức độ cơ bản, cách đánh giá của chuẩn mực đạo đức được thừa nhận ở trong pháp luật, đạo đức lại có phạm vi điều chỉnh rộng hơn pháp luật
Ngoài ra, bài viết của tác giả Nguyễn Văn Năm còn bổ sung thêm một số
điểm giống nhau giữa pháp luật và đạo đức Một là, về tính chất, pháp luật và đạo đức đều mang tính quy phạm phổ biến Hai là, pháp luật và đạo đức đều
thuộc phạm trù ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn xã hội phát triển nhất định Pháp luật và đạo đức đều chịu sự chi phối của đời sống kinh tế xã hội, bởi vậy mỗi xã hội có những quan điểm, chuẩn mực đạo đức riêng, hệ thống pháp luật riêng phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn
hóa trong xã hội đó Ba là, cả pháp luật và đạo đức đều có tính giai cấp và tính
xã hội
2.2 Những điểm khác nhau giữa pháp luật và đạo đức
Trang 76
Hai bài viết đều chỉ ra một số điểm khác nhau giữa pháp luật và đạo đức
Một là, phạm vi điều chỉnh khác nhau Hai là, hình thức và hình thức thể hiện
của pháp luật và đạo đức khác nhau (ở bài viết của tác giả Nguyễn Văn Năm có
phân tích rõ hơn và tách ra làm hai điểm khác nhau) Ba là, phương pháp đảm
bảo thực hiện khác nhau
Ở bài viết của tác giả Nguyễn Văn Năm có bổ sung thêm một số ý kiến về
sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức mà bài viết trước đó không đề cập đến
Một là, về con đường hình thành của pháp luật khác con đường hình thành của
đạo đức Hai là, về cách thức điều chỉnh, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội bằng cách xác định các quyền, nghĩa vụ cho chủ thể còn đạo đức xác định
cho chủ thể hành vi nên làm và không nên làm Ba là, cơ chế điều chỉnh của
pháp luật khác với đạo đức
2.3 Sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức
Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Năm đã chia rõ ra hai phần để đi sâu, phân tích về tác động của đạo đức đến pháp luật và tác động của pháp luật đến đạo đức
Về sự tác động của đạo đức đến pháp luật
Cả hai bài viết đều chỉ ra rằng pháp luật được xây dựng trên một cơ sở
đạo đức nhất định Tuy nhiên, bài viết của tác giả Nguyễn Văn Năm còn có
thêm ý nhận xét là đạo đức của giai cấp thống trị có ảnh hưởng đến pháp luật mạnh mẽ nhất
Nếu như bài viết của tác giả Hoàng Thị Kim Quế có nhắc đến việc đạo
đức là công cụ bổ sung, hỗ trợ cho pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội (tuy
nhiên tác giả không đi sâu vào phân tích việc này) thì bài viết của tác giả
Nguyễn Văn Năm lại không chỉ ra điều đó mà lại đi sâu vào phân tích đạo đức
tác động đến việc thực hiện pháp luật của chủ thể Cụ thể là đạo đức cá nhân
quyết định môi trường nội tại mỗi người để tiếp thu, cảm nhận và thực hiện pháp luật như thế nào Người có đạo đức tốt thì thường là người có thái độ tôn trọng pháp luật và ngược lại Đặc biệt, nhà chức trách cần phải có đạo đức tốt thì pháp luật mới được áp dụng một cách “đạt lý, thấu tình” Bài viết của tác giả Hoàng
Thị Kim Quế có đề cập đến vấn đề này đó là đạo đức là môi trường để mọi
Trang 87
người tiếp thu, cảm nhận và thực hiện pháp luật, nhưng lại không nhấn mạnh
vào việc đi vào phân tích ở trong các trường hợp chủ thể khác nhau
Về sự tác động của pháp luật đến đạo đức
Cả hai bài viết đều chỉ ra rằng, pháp luật ghi nhận lại những nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức xã hội và hạn chế, loại bỏ một số nguyên tắc đạo đức Tuy
nhiên, bài viết của tác giả Nguyễn Văn Năm lại chú trọng đến tính giai cấp, có nghĩa là những nguyên tắc đạo đức được ghi nhận lại trong pháp luật phải ưu tiên phù hợp với giai cấp thống trị rồi mới phù hợp đến các giai cấp khác trong
xã hội Không chỉ những nguyên tắc đạo đức lạc hậu, phản tiến bộ mà cả trái với lợi ích của giai cấp thống trị cũng bị pháp luật loại trừ, hạn chế
Không chỉ hỗ trợ trong việc hình thành các chuẩn mực đạo đức mới, theo tác giả Nguyễn Văn Năm, pháp luật còn góp phần ngăn chặn sự thoái hóa đạo
đức, điều này có ý nghĩa tương tự với luận điểm pháp luật là phương tiện đảm bảo đạo đức được thực hiện trong cuộc sống thông qua các biện pháp tác động của Nhà nước trong bài viết của tác giả Hoàng Thị Kim Quế
Tóm lại, bài viết của tác giả Nguyễn Văn Năm có sự tiến bộ hơn, đã phát hiện ra được một số điểm mới trong việc phân tích về mối quan hệ giữa đạo đức
và pháp luật, đặc biệt phải kể đến tính giai cấp của đạo đức và pháp luật đã chi phối rất nhiều đến nội dung của chúng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Bên cạnh đó, bài viết này còn mang tính khái quát, tổng hợp cao hơn từ việc
đã rút kinh nhiệm từ bài viết trước và bài viết cũng đã đã chỉ rõ từng ý một với
hệ thống luận điểm được sắp xếp mạch lạc, có hệ thống
III Nhận xét về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ở Việt Nam hiện nay
Rút kinh nghiệm từ hạn chế về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức của
cơ chế nền kinh tế cũ, Đại hội toàn quốc lần thứ sáu của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra những nhận thức sai lầm trong hoặt động thực tiễn, đưa ra những chủ trương đường lối mới để chuyển biến đất nước, trong đó, vai trò của pháp luật và đạo đức trong quản lí xã hội cũng được khẳng định: “Quản lí xã hội bằng
Trang 98
pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”1 Tuy nhiên, hiện nay việc phối hợp nhịp nhàng giữa pháp luật và đạo đức để quản lí xã hội vẫn đang gặp khó khăn, bởi lẽ hiện nay, nhận thức về pháp luật có hai khuynh hướng, một
là quá đề cao pháp luật, coi pháp luật là công cụ vạn năng, có thể xác lập hay xóa bỏ một thành phần kinh tế nào đó một cách duy ý chí; hai là quá hạ thấp vai trò của pháp luật; và đặt các truyền thống đạo đức lên để quản lí xã hội
Có thể nói, do truyền thống làm Việt Nam chậm quan tâm tới pháp luật:
“Xã hội Việt Nam còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các trào lưu tư tưởng đạo đức lớn của đạo Phật và Nho giáo, do vậy, xã hội Việt Nam là xã hội coi trọng đạo đức, một xã hội duy tình”2 Giai đoạn hiện nay, chúng ta đang dần nhấn
mạnh vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội Pháp luật được xây dựng trên
cơ sở quan niệm đạo đức của nhân dân lao động, pháp luật Việt Nam hiện hành
đã thể hiện ý chí và vì lợi ích của nhân dân lao động Điều này được ghi nhận
trong Hiến pháp 2013 “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”
Pháp luật Việt Nam còn phản ánh rõ nét những tư tưởng nhân đạo, nhiều quy tắc đạo đức đã được “luật hóa”, ví dụ như hành vi không cứu giúp người trong một
số trường hợp có thể coi là tội phạm và bị trừng phạt nghiêm khắc (Điều 102 Bộ Luật hình sự năm 2015), hay những chính sách khoan hồng hành vi vi phạm pháp luật (Điều 29 Bộ Luật hình sự 2015) phù hợp với truyền thống đạo đức
“đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại” Chính pháp luật đã góp phần giữ gìn và phát huy những quan niệm, quy tắc đạo đức tiến bộ, tốt đẹp của dân tộc, ngăn chặn sự thoái hóa đạo đức, và góp phần hạn chế, loại trừ dần những quan niệm, quy tắc đạo đức lạc hậu, phản tiến bộ Đặc biệt, các luật quy định trong lĩnh vực hôn nhân gia đình phản ánh khá rõ các quan niệm, quan điểm đạo đức bởi “so với lĩnh vực pháp luật khác, luật hôn nhân gia đình là lĩnh vực có quan hệ mặn nồng nhất với đạo đức”3, ví dụ như Điều 5.2.c (Luật Hôn nhân và
1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
1996, tr 129
2 Nguyễn Minh Đoan (2008), Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, tr.168
3 Hoàng Thị Kim Quế, Báo cáo tóm tắt đề tài NCKH: Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức trong quản lí xã hội ở nước ta, Đại học quốc gia Hà Nội, tr.8
Trang 109
gia đình 2014) quy định: Cấm hành vi sau đây: “c) Người đang có vợ, có chồng
mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”
“Đạo đức là nguồn của pháp luật Đạo đức trong xã hội đã thực sự hỗ trợ,
bổ sung cho pháp luật, tạo điều kiện để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh
trong đời sống” 4 Điều 14 Bộ luật dân sự quy định: “Trong trường hợp pháp
luật không quy định và các bên không có thỏa thuận, thì có thể áp dụng tập quán hoặc quy định tương tự của pháp luật, nhưng không được trái với những nguyên tắc được quy định trong bộ luật này”, như vậy, nhà nước Việt Nam hiện
nay đã thừa nhận tập quán (bao gồm các nguyên tắc đạo đức) có thể dùng để xử
lí các tình huống mà pháp luật không quy định, miễn là nội dung không trái với
ý chí pháp luật
Mặc dù đang dần đề cao vai trò của pháp luật nhưng gần đây hiện tượng xuống cấp, thoái hóa đạo đức đang ngày phổ biến trong xã hội Nhiều cán bộ, công chức lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân, tham nhũng, vơ vét bòn rút của công để phục vụ lợi ích cá nhân Nhiều nhà sản xuất, gian thương bán đồ giả, kém chất lượng Chưa dừng lại ở đó, nhiều hành vi khác cũng phản ánh sự xuống cấp của đạo đức như người nhà bệnh nhân hành hung bác sĩ, người
mẹ bỏ rơi đứa con mới sinh tàn nhẫn, giết người chặt xác phi tang… diễn ra ngày càng phổ biến, gây bức xúc cho dư luận xã hội Hiện tượng đạo đức xuống cấp như vậy là do sự can thiệp của nhà nước qua pháp luật vẫn còn chưa hiệu quả, chưa có tính răn đe mạnh nên sự suy thoái đạo đức đang diễn ra và lại càng trở nên trầm trọng hơn
Để nâng cao vai trò, tác dụng của pháp luật và đạo đức, đặc biệt là khắc phục tình trạng suy thoái đạo đức, cần phải có sự kết hợp của nhiều biện pháp Đầu tiên, chúng ta cần phải nâng cao nhận thức đúng đắn về bản chất, vị trí và vai trò của pháp luật, đạo đức và sự tác động qua lại giữa chúng trong xã hội hiện nay Chính vì vậy, công tác giáo dục đạo đức và pháp luật cần phải thực hiện đẩy mạnh, phù hợp với đối tượng tác động Phải nhấn mạnh vị thế của pháp
4 Nguyễn Văn Năm, Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam hiện nay, Luận văn
thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003, tr.58