1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số vấn đề cơ bản về văn minh thế giới cận, hiện đại bài giảng nguyễn công chất

33 3,1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề cơ bản về văn minh thế giới cận, hiện đại
Tác giả Nguyễn Công Chất
Trường học Trường Đại Học Đà Lạt
Thể loại Đề cương bài giảng
Thành phố Đà Lạt
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 366,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trong lòng xã hội phong kiến, sức sản xuất phát triển nhanh chóng, công nghiệp tiến bộ vượt bậc, sự phân công lao động giữa các ngành nghề và các vùng sản xuất đã thúc đẩy sự phát tri

Trang 1

NGUYỄN CÔNG CHẤT

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG I:VĂN MINH CÔNG NGHIỆP 2

1 ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA NỀN VĂN MINH CƠNG NGHIỆP 2

1.1 Những phát kiến địa lý và hệ quả của nó 2

1.1.1.Nguyên nhân và điều kiện chín muồi của những phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI 2

1.1.2 Những kết quả của công cuộc phát kiến địa lí 3

1.2 “Cách mạng tri thức” và trào lưu triết học “Ánh sáng” 4

1.2.1 Những thành tựu cơ bản của “cách mạng tri thức” 4

1.2.2 Thời đại lí trí và trào lưu triết học Ánh sáng 6

1.2.3 Trào lưu tư tưởng Khai sáng 6

1.2.4 Thắng lợi của phong trào cách mạng tư sản 9

2 CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP – CUỘC DIỄU BINH, DIỄU HÀNH GIÀNH TOÀN THẮNG CHO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN 10

2 1 Cách mạng công nghiệp: hiện tượng chung mang tính chất lịch sử .11

2 2 Cách mạng công nghiệp ở Anh – bước khởi đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp trên toàn thế giới .11

2.2.1 Tiền đề của cuộc cách mạng công nghiệp .11

2.2.2 Tiến trình của cuộc cách mạng .12

2 3 Hệ quả xã hội của sự ra đời văn minh công nghiệp 13

3 TỔNG QUAN VỀ NHỮNG PHÁT MINHY KHOA HOC – KỸ THUẬT VÀ NHỮNG HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XĨ 14

3.1 Những phát minh khoa học và tiến bộ kỹ thuật .14

3.2 Những học thuyết xã hội .15

3.2.1 Học thuyết về quyền tự do cá nhân và quốc gia dân tộc 15

3.2.2 Chủ nghĩa xã hội không tưởng .16

3.2.3 Chủ nghĩa Marx và phong trào công nhân 18

CHƯƠNG II:VĂN MINH THẾ KỶ XX 21

1 NỀN VĂN MINH CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA 21

1.1 Có hay không “Nền văn minh cộng sản chủ nghĩa”? 21

1.2 Đặc trưng của nền văn minh cộng sản chủ nghĩa 22

2 CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THÁNG MƯỜI NGA – CƠ SỞ XUẤT HIỆN NỀN VĂN MINH XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 23

3 TIẾN BỘ CỦA KHOA HỌC KỸ THUẬT 24

3.1 Vài nét khái quát 24

3.2 Một số thành tựu nổi bật của khoa học công nghệ .25

4 CHIẾN TRANH THẾ GIỚI VÀ SỰ PHÁ HOẠI VĂNMINH NHÂN LOẠI 28

TẠM KẾT 30

Trang 3

CHƯƠNG I:VĂN MINH CÔNG NGHIỆP

Châu Âu thời hậu kỳ Trung đại đã có những biến đổi lớn về mọi mặt Từ trong lòng xã hội phong kiến, sức sản xuất phát triển nhanh chóng, công nghiệp tiến bộ vượt bậc, sự phân công lao động giữa các ngành nghề và các vùng sản xuất đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế hàng hoá - sự phục hưng và xuất hiện của các thành thị - điều kiện cơ bản cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản

Có thể nói: châu Âu từ thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XVII sôi động và quyết liệt với những phong trào văn hoá Phục hưng, cải cách tôn giáo và những hoạt động thương mại xuyên đại dương…… mà những thành quả của các phong trào trên đã đặt nền móng vững chắc cho nền văn minh Âu – Mỹ cận - hiện đại

1 ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA NỀN VĂN MINH CƠNG NGHIỆP

1.1 Những phát kiến địa lý và hệ quả của nó

1.1.1.Nguyên nhân và điều kiện chín muồi của những phát kiến địa lý cuối thế kỷ

XV đầu thế kỷ XVI

- Vào thế kỷ XV-XVI, với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế sản xuất hàng hoá, các nước Tây Âu đòi hỏi phải mở rộng thị trường để trao đổi buôn bán với các vùng trên thế giới (quốc tế hoá thị trường) nhất là đối với phương Đông, nơi màhọ cho rằng “xứ sở” này không chỉ có nhiều vàng bạc mà còn là xứ sở của tơ liệu, hương liệu và gia vị……

Vàng và nguồn hàng hoá đó là động cơ chủ yếu của việc tìm đường sang phương Đông, khám phá những vùng đất mới Marx cho rằng: vàng là từ mầu nhiệm đã xua người Tây

Ban Nha vượt Đại Tây Dương Vàng là thứ người da trắng đòi hỏi trước tiên khi vừa mới đặt chân lên một bến bờ mới tìm ra

- Tuy nhiên, con đường đi về phương Đông đã hoàn toàn bế tắc Con đường cũ “con đường tơ lụa” đi qua Địa Trung Hải không thể thực hiện được vì đã bị người Ý, và Thổ Nhĩ

Kì độc chiếm Người Arập đã lập nên một “hàng rào kín” giữa Ấn Độ và châu Âu.Người Thổ Nhĩ Kì chiếm các vùng Tiểu Á, Balkans, Constantinople, Krum… khiến cho các thương nhân châu Âu không thể nào vượt qua được Con đường xuyên qua đại lục châu Á đến Trung Quốc đã từng là con đường bộ vượt qua các sa mạc, núi đồi và thảo nguyên vận chuyển hàng hoá từ Trung Quốc sang thị trường châu Âu đã bị những kẻ “cướp cạn”

Trang 4

Afganistan chiếm giữ Vì vậy việc tìm ra con đường biển sang phương Đông là nhu cầu cấp bách của các thương nhân châu Âu

- Trong sự thôi thúc đó, lịch sử cũng đem lại những điều kiện chín muồi cho những cuộc phát kiến địa lý vĩ đại Sự tiến bộ về kiến thức địa lí, thiên văn và kỹ thuật hàng hải đã tạo

ra những điều kiện tốt cho những chuyến đi dài ngày trên biển “hành trình về phương Đông và khám phá những vùng đất mới” Những điều kiện này đã được người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha tiếp thu để tiến hành những chuyến đi tiên phong vượt đại dương tìm ra những con đường và vùng đất mới:

“Con đường tơ lụa xanh” trên biển cả trong một số nước khác ở Tây Âu còn bận rộn trong các cuộc nội chiến (Anh và Pháp đang khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh “Hai Hoa Hồng” và nội chiến tôn giáo Huguenots ……

1.1.2 Những kết quả của công cuộc phát kiến địa lí

- Cuộc hành trình của Vasco de gama men theo bờ biển châu Phi đến cực nam (Mũi Hy vọng) rồi vượt qua Ấn Độ Dương, cập bến Ấn Độ Sau đó tiến về phía Đông đến các quần đảo Đông Nam Á để vào biển Đông, tới các cảng Trung Hoa và Nhật Bản

- Những chuyến vượt Đại Tây Dương của Christopher Colombus và Amerigo Vespuci phát hiện ra lục địa châu Mỹ (Tân thế giới hoặc nhầm lẫn là “Tây Ấn Độ”)

- Cuộc thám hiểm của Fedinande Majenlan đi vòng trái đất, không những đến châu Mỹ mà còn vượt qua Thái Bình Dương để tới quần đảo vùng Đông Nam Á – được đặt tên là Philipin Từ đây hải trình trở về châu Âu theo đường đi của Vasco de gama khi trước Những chuyến vượt biển trên cùng nhiều cuộc thám hiểm tiếp theo của các nhà hàng hải châu Âu thời đó đã đem lại nhiều kết quả to lớn, có ý nghĩa trọng đại trong lịch sử văn minh nhân loại

- Tìm ra một lục địa mới là châu Mỹ, một đại dương mới là Thái Bình Dương, mở ra những con đường biển đến với các châu lục Đem lại những khả năng mới cho sự giao lưu kinh tế văn hoá, tạo điều kiện cho sự tiếp xúc giữa các nền văn minh thế giới

- Bác bỏ những lí lẽ sai trái của giáo hội Kitô, của chủ nghĩa “Triết học kinh viện” về vũ trụ và con người

- Sau những phát kiến địa lí, đã diễn ra những cuộc di chuyển cư dân trên quy mô lớn (thương nhân vội vã giành giật thị trường; dân di thực kéo nhau đến “lập nghiệp” ở những

Trang 5

vùng đất mới; các nhà truyền giáo “tích cực mở rộng nước Chúa” ra khắp mọi nơi) Và dĩ nhiên là xâm chiếm thuộc địa và thiết lập cai trị chế độ thực dân, cũng như chế độ nô lệ đồn điền được đẩy nhanh, đẩy mạnh chưa từng thấy

- Hoạt động thương mại trở nên nhộn nhịp “quốc tế hoá thị trường” được rộng mở Những hoạt động giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, các khu vực được đẩy mạnh Nhiều công ty thương mại lớn được thành lập (công ty Đông Ấn, Tây Ấn của các nước phương Tây) Nhiều thành phố và trung tâm thương mại xuất hiện… Nhờ đó kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển, tạo tiền đề cần thiết cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản

Nhìn chung, những cuộc phát kiến địa lí vĩ đại thế kỷ XV-XVI đã mở rộng thêm đường cho sự tiếp xúc và giao thoa giữa các nền văn minh thế giới, tạo tiền đề cho những biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế và xã hội, đẩy nhanh sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, và theo

ý kiến của Lênin: nó đã đặt nền móng cho nền văn minh Âu – Mĩ cận - hiện đại

Tuy nhiên, bên cạnh sự thúc đẩy lịch sử có những bước tiến dài, thì nó cũng để lại không ít hậu quả đau khổ cho nhân loại mà nhiều thế hệ sau vẫn không ngừng khắc phục

1.2 “Cách mạng tri thức” và trào lưu triết học “Ánh sáng”

Những biến cố to lớn diễn ra trong các thế kỷ XV và XVI đã làm lung lay tận gốc rễ chế độ phong kiến Trật tự và cấu trúc xã hội phong kiến bị tiến công trên nhiều mặt Thế kỷ XVII-XVIII chứng kiến những tiến bộ có tính chất cách mạng trong lĩnh vực tri thức khoa học và tư tưởng, góp phần không nhỏ vào việc làm bùng lên các cuộc cách mạng

tư sản, lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến và dựng lên thể chế chính trị mới: nhà nước tư sản

1.2.1 Những thành tựu cơ bản của “cách mạng tri thức”.

Trong hai thế kỷ XVII và XVIII, khoa học đã đạt được những thành tựu hết sức lớn lao, đặc biệt trong các ngành Thiên văn học, Vật lí, Hoá và Y học Chúng cho thấy sự hiểu biết của con người “thế giới và con người” Ví dụ học thuyết của nhà bác học Ba Lan Nikolau Copernicus (1473-1543) về trung tâm của Thái Dương hệ chính là Mặt trời còn Trái đất và những hành tinh khác chuyển động xung quanh với một vòng mất 24 giờ

Copernicus trình bày học thuyết “Nhật tâm” của ông trong quyển sách nhan đề “Về sự xoay vòng của các thiên thể” quan điểm của ông đã được nhà bác học xuất chúng người Đức Johan Kepler (1571-1630) bổ xung và khẳng định thêm bằng 3 định luật (sự chuyển

Trang 6

động, tốc độ chuyển động, thời gian và khoảng cách chuyển động của các hành tinh) Học thuyết “Nhật tâm” được củng cố thêm nữa bởi một nhà thiên văn học người Ý vĩ đại Galileo (1564-1642) Những gì mà Galileo quan sát được trên bầu trời đã khiến ông tin vào sự đúng đắn của thuyết “Nhật tâm” – Copernicus

Galileo đã bị truy tố trước toà án dị giáo năm 1633 và bị quở trách nặng nề Nhưng theo ông: phải để cho tự nhiên phán quyết mỗi khi con người có những cuộc tranh luận về tự nhiên Và trước khi chết ông vẫn thì thào “Nó (Trái đất) vẫn quay”

Cũng giống như Galileo, Kepler hay Copernicus, Newton đạt được những thành tựu lớn bằng con đường quan sát thực nghiệm và định luật Hấp dẫn vũ trụ Định luật Hấp dẫn vũ trụ giải thích tại sao vật thể rơi xuống mặt đất; cái gì đã giữ các hành tinh ở yên tại qũy đạo của chúng Định luật của Newton có một phạm vi ứng dụng rất rộng rãi, không chỉ trên mặt đất, mà còn ở bất cứ nơi nào trong hệ Mặt trời (chẳng hạn định luật Newton giúp phát hiênï ra quỹ đạo sao chổi Halley năm 1682, Hải vương tinh năm 1874….) Có thể nói rằng định luật Hấp dẫn vũ trụ đã tổng kết các phát hiện khoa học quan trọng trong suốt một thế kỷ rưỡi đó bằng cách liên kết chúng lại với nhau trong một công thức toán học chính xác

- Công việc nghiên cứu của các nhà khoa học trong thế kỷ XVII đã được tiến hành thuận lợi hơn nhờ các phát minh trong lĩnh vực toán học và sự ra đời của những công cụ mới

Toán học hiện đại bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XIII với việc sử dụng các con số A rập ở châu Âu Những bước phát triển quan trọng là việc hoàn thiện hệ thống thập phân và sự phát triển của các kí hiệu toán học như +, -, x, và √

Đến thế kỷ XVII, công việc nghiên cứu khoa học diễn ra với tiến độ nhanh hơn và chính xác hơn nhờ có nhiều dụng cụ đo lường chính xác và quan sát rõ hơn, như kính viễn vọng được Newton cải tiến vào năm 1668, phong vũ biểu thuỷ ngândo Torricelli sáng chế năm 1645, nhiệt kế của Gabriel Fahrenheit, hay nhiệt kế bách phân qui ước nước sôi ở

100o và đông đặc ở 00 của Anders Celcius

Tương tự như các thành tựu khoa học kể trên, các ngành hoá học; điện và điện từ; y học trong các thế kỉ XVII-XVIII đã có những bước tiến dài Các phương pháp nghiên cứu và thực hành mang tính chất khoa học đã thay thế dần nhiều tín điều xưa cũ thừa hưởng từ thời cổ trung đại

Trang 7

1.2.2 Thời đại lí trí và trào lưu triết học Ánh sáng

- Các phát minh và khám phá khoa học tự nhiên nói trên đã góp phần ảnh hưởng lớn đến cách nghĩ suy của một số nhà tư tưởng và óc “Một Thời đại Lý trì” – kéo dài từ khoảng năm 1687 đến năm 1789, tức là từ lúc học thuyết về Hấp dẫn vũ trụ của Newton được công bố đến khi cách mạng Pháp bùng nổ Đây được coi là thời đại mà nhiều nhà tư tưởng lớn khảo sát và phân tích những vấn đề chính trị- xã hội để bước đầu đưa ra “cách nhìn mới” theo quan điểm quy luật xã hội:có phù hợp với qui luật tự nhiên hay không?

Thời đại lí trí được chế ngự bởi ba nhà tư tưởng lớn đó là: René Descarts (1596-1650), John Loke (1632-1704) và Newton (1642-1727) (Đóng góp của Newton đã được trình bày ở phần trên)

Descarts là một nhà toán học, vật lí học, triết học người Đức Ông là người ủng hộ nhiệt tình thuyết duy lí trong triết học, và cũng là người tấn công mạnh mẽ vào “chủ nghĩa kinh viện” Ông cho rằng phát xuất từ những chân lí đơn giản và hiển nhiên – các tiền đề, nhà tư tưởng sẽ dùng lí luận để đi đến những kết luận riêng biệt Ông là tác giả câu nói nổi tiếng “Tôi tư duy do đó tôi tồn tại”

Trong tác phẩm “khảo luận thứ hai về chính quyền dân sự” Công bố vào năm 1690, John Locke phát triển học thuyết về thể chế chính trị, để biện minh cho chế độ đại nghị được thiết lập ở Anh, như là kết quả của cuộc “cách mạng vinh quang” năm 1688 Ông cho rằng con người phải tự thoả thuận với nhau để thiết lập một chính phủ dân sự Sự thoả thuận này được gọi là khế ước xã hội Theo đó, họ phải giao cho chính phủ một số quyền lực nhất định để giúp họ bảo vệ những quyền tự nhiên đã nêu Nếu chính phủ đó lạm dụng quyền lực để trở thành một bộ máy bạo quyền độc đoán, hay bất đắc, không hoàn thành nổi nhiệm vụ của mình, người dân có quyền giải tán hay lật đổ nó

1.2.3 Trào lưu tư tưởng Khai sáng

Đỉnh cao của cách mạng tri thức trong các thế kỉ XVII và XVIII là trào lưu tư tưởng Khai sáng xuất hiện nhiều nơi trên thế giới như ở Mĩ có J.Locke, B.Franklin, T.Jefferson, Herder, Shiller, Goethe đại diện cho tư tưởng Khai sáng ở Đức A.N.Radishev và N.I.Novikov ở nước Nga.v v… nhưng ở chính nước Pháp, trào lưu này mới đạt được những thành tựu rực rỡ nhất và được xây dựng trên cơ sở các quan điểm cơ bản như sau:

1- Lí trí là công cụ duy nhất mang lại chân lí

Trang 8

2- Vũ trụ là một cỗ máy được vận hành theo “nguyên tắc cứng nhắc” Cấu trúc của tự nhiên là tuyệt đối đồng nhất và hoàn toàn không chịu tác động của phép màu hay sự can thiệp huyền bí nào

3- Cấu trúc xã hội tốt đẹp nhất là kiểu cấu trúc đơn giản nhất và tự nhiên nhất Một xã hội văn minh với những qui ước rắc rối chỉ có tác dụng là nhằm kéo dài những độc đoán của giới tu sĩ và những kẻ cai trị Tôn giáo, chính phủ và các thiết chế kinh tế phải được thanh trừ khỏi mọi thứ giả tạo và được đơn giản hoá sao cho phù hợp với lí trí và tự nhiên

Các đại diện xuất sắc của tư tưởng Khai sáng:

- Charles Alouis de Montesquie (1689-1755), xuất thân quí tộc áo dài, là luật gia nổi tiếng và là nhà khai sáng lỗi lạc Quan điểm của ông là phê phán sâu cay chế độ chuyên chế Pháp thời Louis XIV Trong tác phẩm chính “Tinh thần pháp luật” ông hoàn thiện học thuyết về sự “phân chia quyền lực” của J.Locke Ông đề ra nguyên tắc tự do “tam quyền phân lập” - quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp Ba quyền này tuy độc lập với nhau nhưng vẫn kiểm soát lẫn nhau Qua việc khảo sát ba hình thức tổ chức chính phủ: Chuyên chế, quân chủ lập hiến và cộng hoà, ông cho rằng nền quân chủ lập hiến ở Anh là hình thức tốt nhất cho nhà nước tương lai ở Pháp – (Một nhà nước liên minh giữa hai giai cấp quý tộc phong kiến và giai cấp tư sản)

- Fransois Maire Arouet (Voltaire) –1694-1778 – được xem là bộ óc bách khoa của thế

kỉ XVIII, ông đã viết cả thảy 99 pho sách Tác phẩm của ông bao gồm nhiều lĩnh vực: triết học, sử học, vật lí… Trong tác phẩm của mình, ông công kích gay gắt chế độ chuyên chế và giáo hội Pháp; đồng thời ca ngợi thể chế quân chủ lập hiến ở Anh

Tư tưởng của Voltaire có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng cách mạng tư sản thế kỉ XVIII ở châu Âu và đóng góp phần quan trọng vào kho tàng văn minh nhân loại Victor Huygô từng nói “Nhắc đến Voltaire tức là nhắc đến toàn thế kỉ XVIII”

- So với các nhà tư tưởng Khai sáng J.J.Rouseau (1712-1788) là người được coi “dân chủ và gần gũi với nhân dân hơn cả” Tư tưởng của ông được thể hiện trong tác phẩm

Ducontrat social (bàn về khế ước xã hội)

Rouseau cho rằng, khi thoát khỏi trạng thái sống tự nhiên như các động vật khác để sống quần tụ thành xã hội, con người cần phải tìm ra hình thức chung có thể liên kết họ lại

Trang 9

với nhau, sao cho quyền lợi riêng sao cho quyền lợi riêng của họ trong cảnh sống tập thể vẫn được bảo vệ Hình thức liên kết đó được J.J.Rouseau gọi là “khế ước xã hội” thành lập một nền cộng hoà với những nguyên tắc bình đẳng về mặt chính trị và xã hội “có sự cần thiết phải điều chỉnh chế độ tư hữu” Bên cạnh đó Rouseau còn khẳng định tính chất tuyệt đối chủ quyền của nhân dân, ông nhấn mạnh đến quyền của nhân dân nổi dậy chống ách áp bức

Tư tưởng của Rouseau có những vấn đề chỉ là mơ ước không tưởng Nhưng trong điều kiện của một cuộc cách mạng tư sản đang đến gần, ước mơ này chứa đựng nhiều tiềm năng cách mạng Những ý tưởng của ông đã tác động mạnh đến các nhà hoạt động cách mạng Pháp, đặc biệt là phái Jacobins

- Nhóm Bách khoa toàn thư bao gồm 30 nhà khoa học và tư tưởng do Diderot 1784) đứng đầu Tiền đề cơ bản cho tư tưởng của nhóm này đó chính là nguyên tắc định luật tự nhiên Họ cho rằng xã hội cũng được tổ chức và vận hành theo những qui luật bất di bất dịch của tự nhiên Họ bác bỏ kinh thánh, họ thách đố các tín điều của các nhà thần học, họ gạt bỏ vai trò phép màu khô khan, cững nhắc của “chủ nghĩa kinh viện” Theo họ vũ trụ là một sản phẩm lôgíc được trí tuệ nhận thức và cái gì không có lí trí thì không có thực Trong một xã hội, mà trong đó tôn giáo chính thống được qui định bởi pháp luật và tội phạm Thánh bị trừng phạt nặng nề, luật pháp và hình phạt còn tuỳ tiện và phi lí… chế độ chuyên chế còn ngự trị, thì Bách khoa toàn thư quả là một lời kêu gọi cách mạng Tinh thần phê phán trong nhiều bài viết của nó đã khiến nó trở thành một vũ khí tư tưởng đắc dụng cho những người muốn cải tạo xã hội

(1713-Ngoài ra, thời kì này còn xuất hiện một trào lưu cộng sản chủ nghĩa không tưởng, phản ánh tư tưởng của đa số nhân dân nghèo khổ Đại biểu chính của trào lưu tư tưởng này là Jean Méslier (1664-1729), Mably (1709-1785) Họ là những người chủ trương xoá bỏ chế độ tư hữu vì đó là nguồn gốc gây ra áp bức và bóc lột, để thiết lập một xã hôi công bằng trong đó của cải là tài sản chung được phân phối, công bằng cho mọi người dân Mỗi người đều có quyền và nghĩa vụ lao động như nhau Tư tưởng này sau đã trở thành vũ khí đấu tranh của những người nghèo khổ bị bần cùng hoá trong cách mạng

- Niềm tin vào những gì tốt đẹp và tự do mà tự nhiên mang lại cho con người đã là nền tảng cho sự ra đời của một trường phái kinh tế mới: phái Trọng nông Đại diện cho phái

Trang 10

này là Quesnay, Adam Smith, David, Ricardo Với ý tưởng tự do kinh doanh và thiết lập chế độ kinh tế tự do, lý luận của họ đã đặt cơ sở cho học thuyết kinh tế chính trị tư sản ra đời và phát triển vào thế kỉ XVIII-XIX

Có thể nói rằng, các nhà tư tưởng Pháp, mặc dù có những quan điểm khác nhau, phản ánh quyền lợi của những giai cấp khác nhau, nhưng trong thời kì khủng hoảng của chế độ phong kiến, họ đều chĩa mũi nhọn vào chính quyền quân chủ chuyên chế và đòi hỏi thay thế bằng một chế độ xã hội mới Chính vì thế mà trào lưu tư tưởng tiến bộ và cách mạng đó đã vượt ra khỏi Pháp, có ảnh hưởng khắp châu Âu

1.2.4 Thắng lợi của phong trào cách mạng tư sản

Sự hình thành thị trường trên quy mô thế giới và những biến đổi quan trọng về mọi mặt diễn ra từ hậu kỳ trung đại đã ngày càng khẳng định vị thế của phương thức sản xuất mới – phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Không chỉ có thế lực lớn về kinh tế, giai cấp tư sản còn có tri thức và vũ khí tư tưởng tiến bộ để nhằm vươn lên thâu tóm, chiếm đoạt quyền lực Nhưng quyền lực chính trị bây giờ lại hoàn toàn tập trung trong tay giai cấp phong kiến Để duy trì quyền thống trị của mình các thế lực phong kiến tìm mọi cách hạn chế

“mọi quyền lực” của giai cấp tư sản Nhưng ngay từ thế kỷ XVI trở đi, quá trình tan rã của chế độ phong kiến (nhất là ở khu vực Tây Âu) đã diễn ra nhanh chóng và sự phát triển của lực lượng sản xuất đã mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất lỗi thời Giai cấp tư sản từ chỗ nắm được “quyền lực kinh tế” từng bước vươn lên giành quyền lực về chính trị”.Đây là thời kỳ cách mạng tư sản liên tiếp bùng nổ và giành được thắng lợi

- Năm 1572, tại các tỉnh miền Bắc Hà Lan cư dân thành thị đồng loạt nổi dậy chống lại ách thống trị của Tây Ban Nha lập ra nền cộng hoà của “Bẩy tỉnh liên hiệp” là nước cộng hoà tư sản đầu tiên ở châu Âu Đây là tiếng súng mở màn báo hiệu sự cáo chung của chế độ phong kiến, sự thắng thế của chế độ tư sản

- Bảy chục năm sau, năm 1642 cách mạng tư sản Anh bùng nổ và thắng lợi của nó đã toả rộng ảnh hưởng vượt ra ngoài nước Anh, trở thành cuộc cách mạng có phạm vi toàn châu Âu, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của giai cấp tư sản

- Ngày 14-7-1789, với sự kiện phá ngục Bastille, Đại cách mạng tư sản Pháp đã thực sự trở thành cột mốc lịch sử (Les Jallon de L’histoire) đánh dấu sự “thiết lập ra xã hội tư sản hiện đại”

Trang 11

Các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ trên nền tảng sự phát triển của sức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản đó lại mở đường cho sức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang trên đà phát triển được tiếp thêm “chất đốt – lực đẩy” phát triển mạnh mẽ hơn

Điều đáng lưu ý ở phương Đông, quá trình tan rã của chế độ phong kiến và quá trình phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư nghĩa diễn ra chậm hơn phương Tây và phức tạp hơn nhiều so với phương Tây Nhưng đến thế kỷ XVIII-XIX cũng đã trở thành một xu thế mang

“tính thời đại” Tuy nhiên chế độ phong kiến ở phương Đông mặc dù đang trong quá trình tan rã nhưng lại tỏ ra hết sức bền vững nên quá trình “tự giải thể” của nó diễn ra đặc biệt, lâu dài và ngăn cản sự phát triển của nhân tố kinh tế mới đang nảy sinh trong xã hội phương Đông, trong khi các nước phương Tây đang ào ạt tiến lên phía trước với tốc độ của nền sản xuất đại công nghiệp thì các nước phương Đông vẫn bị giam hãm trong phương thức sản xuất phong kiến được dựa trên nền kinh tế tiểu nông Có lẽ theo tôi đây cũng là một trong những căn nguyên phương Đông chậm tiến và tạo ra sự phát triển khác biệt giữa khu vực phương Đông và phương Tây, mặc dù tất cả đã bị kéo vào trong guồng máy phát

triển của chủ nghĩa tư bản

2 CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP – CUỘC DIỄU BINH, DIỄU HÀNH GIÀNH TOÀN THẮNG CHO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

- Cách mạng công nghiệp được coi là sự kiện cơ bản đánh dấu sự chuyển biến của xã hội loài người từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp Theo đánh giá của Marx và Engels trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” thì việc phát minh và sử dụng máy hơi nước vào sản xuất ở nước Anh cuối thế kỷ XVIII, đã tạo ra một quá trình công nghiệp hoá diễn ra rầm rộ ở châu Âu, đã làm thay đổi cách thức lao động bằng tay, sang sử dụng máy móc và từng bước hình thành một cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh; từ sản xuất qui mô nhỏ lên qui mô lớn với sự ra đời của các nhà máy và các khu công nghiệp, khiến cho loài người chưa đầy 100 năm, có thể sáng tạo nên một lực lượng vật chất to lớn hơn, đồ sộ hơn tất cả các thế hệ trước cộng lại Chính những thành tựu kinh tế và kĩ thuật ấy đã khẳng định ưu thế của chế độ tư bản đối với chế độ phong kiến, đã tạo nên một bước ngoặt cơ bản “từ làn sóng văn minh nông nghiệp sang làn sóng văn minh công nghiệp”- như nhà tương lai học A.Toffler đã nhận xét

Trang 12

2 1 Cách mạng công nghiệp: hiện tượng chung mang tính chất lịch sử

- Thuật ngữ “Cách mạng công nghiệp” được dùng lần đầu tiên trong tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh” của Engels viết vào năm 1845 Từ đó các nhà Kinh tế học, các nhà Sử học trên lập trường của chủ nghĩa Marx đều dùng nó như là một khái niệm để chỉ bước quá độ của chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên một bước cao hơn – giai đoạn công nghiệp tư bản chủ nghĩa

Thực chất của cuộc cách mạng công nghiệp không phải là hiện tượng kỹ thuật thuần tuý, mà cuộc cách mạng đó mang nội dung, tính chất kinh tế – xã hội Hệ quả của nó không chỉ đến với nước Anh mà còn được lan toả ra phạm vi toàn thế giới

- Do điều kiện kinh tế, chính trị ở các nước khác nhau, thậm chí ở các ngành kinh tế khác nhau trong một quốc gia mà tiến trình của cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra không đều (không gian và thời gian) cũng có những đặc điểmkhác nhau Nhưng có một điều cách mạng công nghiệp không chỉ tạo ra “lực đẩy” đối với lực lượng sản xuất, mà còn tạo nên những điều kiện cơ bản cho sự thay đổi của cơ cấu tổ chức xã hội, quan hệ giai cấp để tạo nên những điều kiện quan trọng cho cuộc “diễu binh – diễu hành và giành toàn thắng cho chủ nghĩa tư bản”

- Cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở nước Anh vào khoảng giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX Cách mạng công nghiệp ở nước Anh (quê hương cua công xưởng thế giới) có ảnh hưởng rất to lớn đến hệ thống tư bản chủ nghĩa là sự kiện cơ bản đánh dấu việc chuyển biến của xã hội sang giai đoạn văn minh công nghiệp

2 2 Cách mạng công nghiệp ở Anh – bước khởi đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp trên toàn thế giới

2.2.1 Tiền đề của cuộc cách mạng công nghiệp

- Để xây dựng một nền công nghiệp công xưởng, ít nhất cần phải hội tụ được một số tiền đề quan trọng sau:

1-

2-

3-

4-

Giai cấp tư sản cần phải có số vốn tự do khổng lồ đề kinh doanh

Có một nguồn lao động tự do dồi dào

Hệ thống công trường thủ công tập trung

Thể chế chính trị “thông thoáng” tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản phát triển

Trang 13

- Nước Anh vào giữa thế kỷ XVIII, đã có đủ điều kiện cho việc tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp Những điều kiện đó là:

1 Tạo nên nguồn vốn tự do khổng lồ và nguồn lao động tự do dồi dào bằng việc

+ Bóc lột bằng thương mại các vùng nông nghiệp, các nước châu Âu lạc hậu về kinh tế dựa trên “nguyên tắc trao đổi không ngang giá”

+ Đẩy mạnh hoạt động thương mại “hình tam giác”

+ Cướp bóc thuộc địa và thương mại hoá thuộc địa

+ Sự phát triển của CNTB trong nông nghiệp: từ “đạo luật về ruộng đất”,đến “đất bỏ ngỏ” và “sự củng cố trang trại” – giai cấp nông dân Anh “hoàn toànbiến mất

+ Sự phát triển về công nghiệp “chỉ có công nhân công nghiệp và côngnhân nông nghiệp”

2 Hệ thống công trường thủ công tập trung – chú trọng vào ngành công nghiệp nhẹ (trọng tâm phát triển là công nghiệp dệt)

3 Thể chế chính trị quân chủ lập hiến – quyền lực nắm trong tay giai cấp tư sản – (thực quyền là thủ tướng)

4 Ngoài những tiền đề trên, tiền đề cho cuộc cách mạng Anh quốc còn là: sự cạnh tranh với nước ngoài sự cạnh tranh giữa các ngành khác nhau, sự mất cân đối trong công đoạn sản xuất, ưu thế về địa lí và nguồn tài nguyên, và tất nhiên những yếu tố địa lí – tự nó không quyết định đến tiến trình phát triển lịch sử song có một ý nghĩa không kém phần quan trọng trong thay đổi hoàn cảnh lịch sử và góp phần không nhỏ cho cuộc cách mạng công nghiệp Anh

2.2.2 Tiến trình của cuộc cách mạng

- Sự bùng nổ “dây chuyền” các phát minh kỹ thuật trong ngành dệt

THOI BAY Ỉ MÁY KÉO SỢI Ỉ MÁY KÉO SỢI SỨC NƯỚC Ỉ (Jonh Keys –1739) (Jems Hacreve-1764) (Richar Acreite – 1769)

- Bước khởi đầu của cuộc cách mạng công nghiệp

Trang 14

+ Việc hoàn thiện và sử dụng máy hơi của Jems Watt được coi là sự mở đầu của quá trình cơ giới hoá, mang ý nghĩa của cuộc cách mạng công nghiệp.

2 3 Hệ quả xã hội của sự ra đời văn minh công nghiệp

- Ngoài sự xuất hiện của hai giai cấp tư sản và vô sản có quyền lợi đối kháng nhưng cùng tồn tại trong một cấu trúc kinh tế tư bản chủ nghĩa nền sản xuất công nghiệp còn gây nên nhiều biến đổi quan trọng về mặt xã hội

Trước hết là khả năng lao động và sáng tạo của con người được phát huy cao độ Trong tuyên ngôn của Đảng Cộng sản – K.Marx và F.Engels đã đánh giá giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị một giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc… và theo Enggels: Hơi nước và máy công cụ mới đã biến công trường thủ công thành đại công nghiệp hiện đại và

do đó đã cách mạng hoá toàn bộ nền móng của chủ nghĩa tư bản

Hai là, những quy tắc của sản xuất công nghiệp chi phối tất cả các mặt hoạt động của kinh tế và xã hội, tất cả đều phải tiêu chuẩn hoá

Ba là, sự thay đổi về dân số (Malthus và quan điểm của ông về lời cảnh báo sự tăng trưởng dân số không kiềm chế, nhất là đối với những xứ sở lạc hậu, chưa vượt qua thời kỳ văn minh nông nghiệp)

Bốn là, “nền tảng gia đình lớn bị tan rã dần do các cuộc di dân đến các trung tâm công nghiệp” (quan điểm của Engels)

Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực như đã trình bày ở trên, nền văn minh công nghiệp cũng gây ra nhiều mặt tiêu cực khác như sự ngăn cách giàu nghèo; nguyên tắc tự do bình đẳng (dân tộc – dân tộc, con người – con người) không được bảo đảm Quan hệ xã hội cùng nền tảng đạo lý truyền thống bị vi phạm … Nhưng dẫu sao, những thành tựu của quá trình công nghiệp hoá ở châu Âu và Bắc Mỹ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX đã tạo nên cơ sở vật chất và kỹ thuật mới, tạo nên ưu thế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với nền sản xuất phong kiến và nhờ vậy mà hoàn thành về cơ bản trào lưu cách mạng tư sản ở các nước phương Tây

Trang 15

3 TỔNG QUAN VỀ NHỮNG PHÁT MINHY KHOA HOC – KỸ THUẬT VÀ NHỮNG HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XĨ

3.1 Những phát minh khoa học và tiến bộ kỹ thuật

- Cùng với quá trình công nghiệp hoá, khoa học và kỹ thuật trong thời kỳ này (nhất là vào thế kỷ XIX) đã có nhiều bước tiến vượt bực, tiêu biểu như:

+ Một loạt các phát minh về điện của các nhà bác học như Ohom (1789-1854), Maxwel (1831-1879)… đã đặt cơ sở cho một chuyên ngành của khoa Vật lí và mở ra khả năng ứng dụng một nguồn năng lượng mới Năm 1895, nhà bác học Đức, Roentgen (1845 – 1925) đã tìm ra tia X quang

+ Những phát minh về thành phần cấu trúc cũ nguyên tử làm đảo lộn các khái niệm trước đó về vật chất; như những kết quả nghiên cứu của Mendeleev (1834 - 1907) với Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học, hay về hiện tượng phóng xạ và các chất phóng xạ của ông bà Curie (Pierre Curie và Marie Curie)… Đặt cơ sở về lý thuyết hạt nhân

+ Thuyết tương đối của Albert Einntein (1879 – 1955) đánh dấu một bước chuyển quan trọng lớn, được coi là: không có một phát minh khoa học nào lại gây ra cơn bão táp như vậy trong trí tuệ nhân loại

+ Sinh vật học cũng có những cống hiến lớn Nửa sau thế kỷ XIX là thời kỳ khẳng định và phát triển học thuyết Darwin (Nội dung cơ bản của quy luật tự nhiên là cạnh tranh để sinh tồn) đã gây ra một cuộc cách mạng trong ngành sinh học và có ảnh hưởng sang cả lĩnh vực xã hội Hay những công trình nghiên cứu về di truyền học của Meldel; phát hiện

ra Váccin của Pasteur…

- Về mặt kỹ thuật, nét nổi bật là những phát minh về điện của Thomas Edison về điện báo của Samuel Morse; về phương pháp luyện gang thành thép (lò Besmer và lò Martin) và nhất là việc phát hiện ra dầu mỏ và sử dụng động cơ đốt trong của kỹ sư người Đức, R.Diesel năm 1897…

- Có thể nói rằng sự phát triển của những phát minh khoa học và tiến bộ kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất và làm thay đổi căn bản của sản xuất và cơ cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa, đưa chủ nghĩa tư bản phát triển lên giai đoạn chủ nghĩa đế quốc

Trang 16

- Cùng với sự phát triển của những phát minh khoa học và tiến bộ kỹ thuật, văn học nghệ thuật trong thời kỳ này – nhất là vào thế kỷ XIX đã gặt hái được nhiều thành tựu lớn đó là lớn đó là các tác phẩm văn học của Victor Hugo, của Honoré de Balsac, của L.Tolstoi… hay âm nhạc của Bach, Mozart, Beethoven đã phản ánh khá rõ nét khía cạnh của cuộc sống trong thời kỳ đầy biến động của cách mạng tư sản và của quá trình công nghiệp hoá

3.2 Những học thuyết xã hội

3.2.1 Học thuyết về quyền tự do cá nhân và quốc gia dân tộc

Những cuộc cách mạng tư sản diễn ra trong suốt 3 thế kỉ đã giải phóng con người về mặt ý thức và thân phận thoát khỏi sự kiềmchế của chế độ độc đoán Tuyên ngôn độc lập của Mĩ (1776), Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789) đã tuyên bố về quyền con người, các quyền tự do dân chủ của các cá nhân và hình thành các quốc gia dân tộc Trong điều kiện lịch sử đó đã xuất hiện những học thuyết về quyền tự do cá nhân, về quyền của các quốc gia dân tộc

- John Stuart Mill (người Anh) trong cuốn “Luận về tự do” đã nêu lên nguyên tắc là cá nhân có thể làm bất cứ điều gì không hại đến người khác, không vi phạm quyền tự do của người khác Trong thực tế, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí và sự nghiêm ngặt của pháp luật

- Alexis de Jocqueville (người Pháp) cho rằng trào lưu dân chủ thế kỉ XIX là không thể nào dập tắt được Trong tác phẩm “Nền dân chủ của Hoa Kì” ông ca ngợi tinh thần dân chủ, sức mạnh vật chất và thành công của nước Mĩ, nhưng ông cũng phê phán tính cách thiếu tế nhị, ngạo mạn và thực dụng của người Mĩ

- Những người cấp tiến thuộc phái Hiến chương Anh đòi hỏi chế độ dân chủ hoàn toàn về chính trị với quyền tuyển cử phổ thông cho nam giới, quyền tham gia nghị viện của công nhân, thu hẹp quyền hạn của chính quyền đối với công dân Họ quan niệm rằng một khi có dân chủ hoàn toàn về chính trị thì sẽ có bình đẳng về giáo dục, sẽ giảm bớt sự khác biệt lớn về tài sản và địa vị của mọi người

- Về chủ nghĩa quốc gia có hai xu hướng Những người dân chủ cho rằng mỗi quốc gia có quyền độc lập, quyền tự do của mỗi cá nhân, không ai được xâm phạm Nhà ái quốc và chính trị người Ý – Mazzini (1805-1872) bênh vực quan điểm này, kiên trì đấu tranh cho

Ngày đăng: 08/05/2014, 18:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w