Lênin khi nêu lên quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc, đã chỉ ra rằng, trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cách mạng vô sản chỉ có thể nổ ra thắng lợi ở một số nước, thậm c
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I 5
I NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA CÁCH MẠNG CUỘC CÁCH MẠNG DÂN CHỦ TƯ SẢN THÁNG 2-1917 5
1 Những tiền đề của cách mạng 5
2 Cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai 7
3 Cách mạng chuyển từ dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa 8
4 Thắng lợi của cách mạng XHCN tháng mười 9
II CUỘC ĐẤU TRANH ĐỂ BẢO VỆ CÁCH MẠNG (1918 – 1920): XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN XÔ VIẾT VÀ CHỐNG THÙ TRONG GIẶC NGOÀI 10
1 Nhiệm vụ thứ 1 11
2 Nhiệm vụ thứ 2 12
3 Nhiệm vụ thứ 3 12
III Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRỌNG ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI 13
CHƯƠNG II 14
I CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI (NEP) VÀ CÔNG CUỘC KHÔI PHỤC KINH TẾ (1921 – 1925) 14
II BƯỚC ĐẦU CÔNG NGHIỆP HÓA XHCN (1926 –1929) 16
III CÔNG CUỘC TẬP THỂ HÓA NÔNG NGHIỆP VÀ HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1928 –1933) 17
IV HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ 2 (1933-1937) LIÊN XÔ BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG ĐƯỢC NHỮNG NỀN MÓNG CỦA CNXH HIẾN PHÁP 1936 19
CHƯƠNG III 21
Phần A 21
I HỘI NGHỊ HOÀ BÌNH VECÙXAI 21
1 Hoàn cảnh triệu tập Hội nghị 21
2 Hệ thống hoà ước Vécxai 22
II HỘI NGHỊ OASINHTƠN VÀ NHỮNG HÒA ƯỚC ĐƯỢC KÍ KẾT 24
Phần B 26
I TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ CỦA CÁC NƯỚC TƯ BẢN SAU CHIẾN TRANH (1918 –1923) 26
II CÁC NƯỚC TƯ BẢN TRONG GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH (1924 –1929) 27
1 Ổn định về kinh tế 27
2 Ổn định tương đối về chính trị 28
III CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ YẾU TRONG GIAI ĐOẠN 1929-1939 31
1 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 31
2 Chủ nghĩa phát xít Đức, Italia và chủ nghĩa quân phiệt Nhật 32
3 Các đế quốc “dân chủ” Mĩ, Anh và Pháp 36
IV Kết luận 39
Trang 3I CAO TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC GIAI ĐOẠN 1918-1923 40
1 Cao trào giải phóng dân tộc ở Châu Á 40
2 Phong trào cách mạng ở Châu Phi 40
3 Phong trào cách mạng ở châu Mĩ latinh 41
II Phong trào giải phóng dân tộc trong những năm 1924-1929 41
III Phong trào giải phóng dân tộc và phong trào mặt trận nhân dân chống phát xít trong những năm1929-1939 41
IV Phong trào giải phóng dân tộc trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) 42
V Phong trào cách mạng tiêu biểu – Cuộc cách mạng dân tộc dân tộc dân chủ ở Trung Quốc (1919 – 1945) 42
1 Cách mạng Trung Quốc chuyển từ dân chủ tư sản kiểu cũ sang dân chủ tư sản kiểu mới 42
2 Cuộc cách mạng nội chiến ở Trung Quốc (1924-1927) 43
3 Cuộc nội chiến cách mạng lần II ở Trung Quốc và cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật (1927-1937) 43
4 Cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc (1937-1945) 45
Chương V 46
I QUỐC TẾ CỘNG SẢN THÀNH LẬP – HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC TẾ CỘNG SẢN (QTCS) (1919-1943) 46
1 Sự thành lập Quốc tế Cộng sản 46
2 Những hoạt động của Quốc tế Cộng sản 47
II PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA 48
III SỰ THÀNH LẬP QUỐC TẾ CÔNG NHÂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 49
Chương VI 50
I GIAI ĐOẠN I (TỪ 1929-1936): SỰ TAN VỠ VỀ CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG VEC XAI - OA SINH TƠN VÀ SỰ HÌNH THÀNH BA LÒ LỬA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 50
1 Sự hình thành “lò lửa chiến tranh” ở Viễn Đông 50
2 Sự hình thành “lò lửa thứ hai” ở Châu Aâu 50
3 Sự xuất hiện “lò lửa chiến tranh thứ ba” ở Nam Châu Aâu 51
II GIAI ĐOẠN II (TỪ 1936 ĐẾN 1939): SỰ HÌNH THÀNH HAI KHỐI ĐẾ QUỐC ĐỐI LẬP VÀ CON ĐƯỜNG DẪN TỚI CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI 52
1 Chiến tranh Tây Ban Nha Nhật phát động chiến tranh Trung Quốc 52
2 Sự hình thành hai khối đế quốc đối lập và con đường dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ II 52
3 Phát xít Đức thôn tính Aùo và âm mưu xâm lược Tiệp Khắc 53
4 Cuộc đàm phán Anh – Pháp –Xô để bảo vệ an ninh châu Âu 53
5 Cuộc tấn công của Nhật ở hồ Khaxan và sông Khakhingôn Vụ “Muynich phương Đông” 54
6 Hiệp định Xô – Đức không xâm lược nhau 54
Trang 4CHƯƠNG VII 56
I NGUYÊN NHÂN CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI 56
II DIỄN BIẾN 56
1 Giai đoạn I: Phát xít Đức đánh chiếm châu Âu tu bản (1-9-1939 Ỉ 22-6-1941) 56
2 Giai đoạn 2: Phe phát xít tấn công Liên Xô mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn thế giới 58
3 Giai đoạn thứ 3: chiến thắng Xtalingrát và bước chuyển biến căn bản trong tiến trình chiến tranh thế giới thứ hai 62
4 Giai đoạn thứ 4 (24-12-1943Ỉ9-5-1945): Những thắng lợi quyết định của phe đồng minh chống phát xít –chủ nghĩa phát xít Hitle bị tiêu diệt 63
5 Giai đoạn 5: Nhật đầu hàng chiến tranh thế giới thứ hai thống nhất (9-5-1945Ỉ14-8-1945) 65
SƠ KẾT LỊCH SỬ HIỆN ĐẠI TỪ 1917 ĐẾN 1945 68
1 Nội dung chủ yếu của lịch sử thế giới hiện đại từ 1917 đến 1945 68
2 Những vấn đề chính của lịch sử thế giới hiện đại thời kì 1917-1945 68
3 Chủ nghĩa tư bản không còn là hệ thống duy nhất trên thế giới 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 5
CHƯƠNG I CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THÁNG MƯỜI NGA VÀ CUỘC ĐẤU TRANH ĐỂ BẢO VỆ CÁCH MẠNG
(1917 – 1920 )
I NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA CÁCH MẠNG CUỘC CÁCH MẠNG DÂN CHỦ TƯ SẢN THÁNG 2-1917
1 Những tiền đề của cách mạng
Như chúng ta đã biết, nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, K Mác và F Ăng - ghen đã chỉ ra sự tất yếu diệt vong của nó và sự thắng lợi của cách mạng vô sản Nhưng trong tình hình cụ thể cuối thế kỷ XIX, Mác và Ăng – ghen đã đi đến kết luận là cách mạng vô sản chỉ có thể nổ ra thắng lợi, nếu nó đồng thời diễn ra ở một loạt các nước tư bản tiên tiến
Sang đầu thế kỷ XX, tiếp tục phát triển sáng tạo học thuyết của K Mác và F Ăng – ghen, V Lênin khi nêu lên quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc, đã chỉ ra rằng, trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cách mạng vô sản chỉ có thể nổ
ra thắng lợi ở một số nước, thậm chí ở một nước riêng lẻ, khi những mâu thuẩn giai cấp ở nước đó đã cực kỳ gay gắt
Đó chính là tiền đề lý luận tư tưởng cho cuộc cách mạng mở đầu của một thới đại mới
Vậy đầu thế kỷ XX, ở đâu là nơi tập trung những mâu thuẩn gay gắt nhất, là khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc đòi hỏi phải được giải quyết bằng một cuộc cách mạng vô sản?
Thực tế lịch sử lúc bấy giờ cho thấy rằng, nuớc Nga chính là khâu yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc lúc bấy giờ và cũng là nơi có các tiền dề khách quan và chủ quan cho sự bùng nổ thắng lợi của cách mạng vô sản
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản Nga cũng như các đế quốc phương Tây đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đạt trình độ phát triển cao về tổ chức sản xuất công nghiệp và tốc độ phát trển nhanh của nền kinh tế quốc dân Năm 1914, Nga có khoảng 30.000 nhà máy, 80.000 km đường sắt, đứng thứ 5 thế giới về tổng sản lượng công nghiệp Nước Nga cóhơn 150 công ti độc quyền lớn, hàng nghìn ngân hàng ,trong đó có 5 ngân hàng lớn nhất tập trung một nửa số vốn của các ngân hàng, các tập đoàn tài chính công nghiệp ra đời trên cơ sở cấu kết giữa tư bản công nghiệp và tư bản ngân hàng, ví dụ như tập đoàn ngân hàng Nga – Á khống chế nhiều ngành công nghiệp và 1/3 số vốn các ngân hàng ở Nga
Trang 6Đặc thù của nứơc Nga khác với các đế quốc phương Tây là tuy đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa nhưng vẫn còn tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế
Sa hoàng kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Nga, do đó nước Nga chỉ là TBCN trung bình, lạc hậu so với các nước Tây Âu Nga phải vay vốn và đầu tư của nước ngoài nên phụ thuộc chặt chẽ vào tư bản phương Tây Các ngành kinh tế then chốt đều nằm trong tay tư bản nước ngoài, nhất là Anh và Pháp Đa số các xí nghiệp công nghiệp lớn chỉ tập trung ở 5 –6 vùng thuộc khu vực Châu Âu của đất nước, còn những vùng rộng lớn khác rất lạc hậu vẫn duy trì nền nông nghiệp trung cổ Đầu thế kỷ XX, 28000 đại địa chủ vẫn chiếm tới 70 triệu ha ruộng đất, bằng số ruộng của 10 triệu gia đình nông dân, 4/5 nông dân sống trong tình trạng đói kém, nông dân Nga phải chịu hai tầng áp bức bóc lột, địa chủ và tư sản
Chế độ quân chủ Nga hoàng tồn tại đã cấu kết chặt chẽ với giai cấp tư sản, thẳng tay bóc lột áp bức tàn bạo các tầng lớp nhân dân lao động tước đoạt các quyền tự do dân chủ, đàn áp đẫm máu các cuộc đấu tranh của nhân dân Nga Lênin gọi chủ nghĩa đế quốc Nga là chủ nghĩa đế quốc phong kiến quân phiệt
Đế quốc Nga còn là nhà tù của các dân tộc, chính quyền Nga hoàng thi hành chính sách kỳ thị chủng tộc, phá hoại văn hoá các dân tộc, khiến cho hơn 100 dân tộc không phải Nga phải sống rên xiết dưới nhiều tầng áp bức bóc lột
Như vậy, nứơc Nga đầu thế kỷ XX trở thành nơi hội tụ cao độ các mâu thuẫn gay gắt của thời đại Có mâu thuẫn thuộc về chủ nghĩa tư bản, có mâu thuẫn của chế độ phong kiến vẫn chưa được giải quyết Các mâu thuẫn đó tồn tại chồng chéo lên nhau và phát triển gay gắt
Tháng 8-1914, Sa hoàng lôi kéo nước Nga vào cuộc chiến tranh đế quốc gây bao đau thương cho đất nước, đẩy nước Nga vào khủng hoảng về mọi mặt : kinh tế suy sụp, quân đội thiếu vũ khí đạn dược (3 người lính Nga dùng chung 1 khẩu súng trường)
…bị thất bại liên tiếp trên chiến trường … quần chúng nhân dân Nga liên tục nổi dậy đấu tranh chống lại chế độ, chống chiến tranh Triều đình Nga hoàng bất lực (các bộ trưởng, tướng tá ăn hối lộ, bán bí mật quân sự cho Đức)
Nước Nga lúc bấy giờ trở thành mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa, có đủ các điều kiện khách quan cho một cuộc cách mạng xã hội bùng nổ
Về mặt xã hội, giai cấp công nhân Nga tuy số lượng ít chỉ chiếm 10% dân số nhưng có tinh thần và khả năng cách mạng cao, và được rèn luyện thử thách qua cuộc cách mạng 1905 và đã xậy dựng được chính đảng tiền phong cách mạng chân chính của mình Đó là Đảng Bônsêvích Nga do lãnh tụ V.I Lênin đứng đầu, Đảng được vũ trang bằng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác, có khả năng tập hợp, tổ chức và lãnh đạo cuộc cách mạng Giai cấp công nhân Nga có mối liên hệ chặt chẽ với nông dân và các dân tộc bị áp bức Như vậy giai cấp công nhân Nga là giai cấp đi tiên phong và có khả năng lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội trong nước
Trang 7Giai cấp nông dân là lực lượng cách mạng to lớn, là bạn đồng minh tin cậy của giai cấp công nhân
Các dân tộc bị áp bức là lực lượng cách mạng quan trọng và là bạn đồng minh của giai cấp công nhân Nga
Tóm lại, những tiền đề kinh tế – xã hội khách quan và những điều kiện chủ quan đã có đủ cho sự bùng nổ và thắng lợi của một cuộc cách mạng xã hội ở nước Nga Nhưng cách mạng chỉ nổ ra khi có tình thế cách mạng xuất hiện Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) đã làm xuất hiện tình thế cách mạng đó ở nước Nga Đảng Bônsêvích đứng đấu là Lenin đã vạch rõ tính chất phi nghĩa của chiến tranh đế quốc, kêu gọi biến “chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, và lãnh đạo nhân dân lãnh đạo cách mang lật đổ chế độ phong kiến Nga hoàng
2 Cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai
Đầu năm 1917, nước Nga lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng Quần chúng nhân dân tin rằng lúc này chỉ có một lối thoát: lật đổ chế độ Sa hoàng Tình thế cách mạng đã chín muồi
Ngày 18-2 (3-3), 30000 công nhân đình công ở nhà máy Putilốp, nhà máy lớn nhất nước Nga lúc này Chủ xưởng quyết định đóng cửa nhà máy, đình công lan rộng Tình hình thủ đô Pêtơgrát căng thẳng
Ngày 23-2(8-3), nhân ngày Phụ nữ quốc tế, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Bônsêvích, 9 vạn nữ cônh nhân ở 50xí nghiệp ở thủ đô đã xuống đường biểu tình và chuyển thành cuộc bãi công Hôm sau, cuộc đấu tranh lôi cuốn thêm 20000 công nhân tham gia Sang ngày thứ 3, công nhân toàn thành phố bãi công chuyển thành tổng bãi công chính trị chống chế độ Nga hoàng
Ngày 26-2(11-3), dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích công nhân tiến hành khởi nghĩa vũ trang Hôm sau cuộc khởi nghĩa vũ trang lan ra khắp thành phố Chính phủ huy động 60000 lính và cảnh sát đàn áp phong trào Binh lính được nhân dân vận động, lôi kéo, đã bắn vào cảnh sát, đi theo cách mạng Công nhân, binh lính khởi nghĩa chiếm các công sở, bắt các bộ trưởng và tướng tá của triều đình Sa hoàng Chế độ quân chủ chuyên chế Sa hoàng đến đây sụp đổ
Trong hai ngày 26 và 27, theo lời kêu gọi của Đảng Bônsêvích, tại các nhà máy, công xưởng và các đơn vị quân đội, các Xô viết đại biểu công nhân và binh lính đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Chiều 27, hội nghị các Xô viết nói trên họp và bầu ra một cơ quan lãnh đạo thống nhất: Xô viết đại biểu công nhân và binh lính Pêtơrôgrát Những ngày đầu sau khi Nga hoàng sụp đổ, Xô viết đại biểu công nhân và binh lính Pêtơrôgrát đứng ra điều hành mọi công việc đúng như chức năng của một chính quyền nhà nước Nhưng thời kì này, các cán bộ lãnh đạo của Đảng Bônsêvích còn ở nước ngoài; hoặc bị tù và đi đày, nên đại diện các đảng tiểu tư sản (Đảng Mensevích và
Trang 8Đảng Xã hội – cách mạng) đã nắm quyền lãnh đạo các Xô viết Đường lối của họ là: Chống phong kiến, thay thế chế độ Sa hoàng phải là chính quyền tư sản
Cùng lúc đó, giai cấp tư sản cũng ra sức vận động để nắm chính quyền Được những người Mensêvích và Xã hội - cách mạng trong Xô viết Pêtơrôgrát ủng hộ, ngày 2-3 (15-3), họ đứng ra thành lập chính phủ lâm thời gồm những nhà đại tư sản và đại địa chủ tư sản hóa, do huân tước Lơvốp làm thủ tướng Do đó xuất hiện cục diện hai chính quyền song song tồn tại: Chính quyền giai cấp tư sản (Chính phủ lâm thời), và chính quyền của giai cấp công nhân và nông dân (các Xô viết)
Cách mạng tháng Hai do giai cấp vô sản và Đảng Bônsêvích lãnh đạo, động lực của nó là quần chúng công nhân và nông dân (binh lính và nông dân mặc áo lính) Cuộc cách mạng này đã đánh đổ chế độ phong kiến quân chủ và thực hiện những cải cách dân chủ, nhưng vượt quá khuôn khổ của một cuộc cách mạng dân chủ tư sản thông thường và là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới
Song do sự thoả hiệp của những người Mensevích và Xã hội – cách mạng cầm đầu các Xô viết, cách mạng “vẫn chưa đạt đến chuyên chính “thuần túy” của giai cấp vô sản và nông dân” (Lênin) Nhiệm vụ của Đảng Bônsêvích là phải đẩy mạnh cách mạng chuyển sang giai đoạn mới
3 Cách mạng chuyển từ dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa
Tối 3-4 (16-4), Lênin từ Thụy Sĩ trở về Pêtơrôgrát Hôm sau, trong cuộc họp những người Bônsêvích, Người đã trình bày bản “Luận cương tháng Tư” Người vạch rõ nhiệm vụ chủ yếu lúc này là chuyển cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng XHCN”, chủ trương “tuyệt đối không ủng hộ Chính phủ lâm thời” và thực hiện “Tất cả chính quyền về tay Xô Viết”
Lênin cho rằng có khả năng chuyển toàn bộ chính quyền vào tay các Xô viết một cách hòa bình, vì lúc này quần chúng công nông đã có trong tay chính quyền của mình là các Xô viết, giai cấp tư sản chưa dám dùng bạo lực đối với quần chúng, vũ khí nằm trong tay nhân dân mà nhân dân ủng hộ các Xô viết vàĐảng Bônsêvích có quyền hoạt động tự do trong quần chúng
Quần chúnh lúc này còn tạm thời tin ở Chính phủ lâm thời và bọn thỏa hiệp Mensêvích và Xã hội – cách mạng, vì những luận điệu mị dân của chúng, nhưng ngày càng thấy rõ rằng Chính phủ lâm thời, do bản chất giai cấp của nó không thể nào giải quyết được những yêu cầu bức xúc của nhân dân là hoà bình, ruộng đất và bánh mì
Ngày 18-4 (11-5), Chính phủ lâm thời gửi công hàm cho Đồng minh cam kết sẽ tiếp tục “đưa chiến tranh đến thắng lợi cuối cùng” Công hàm này đã thổi bùng lên ngọn lửa căm phẫn, dẫn đến những cuộc biểu tình của hàng chục vạn quần chúng
Trang 9trong hai ngày 20 và 21-4, dẫn đến Chính phủ lâm thời bị đổ, chính quyền của giai cấp
tư sản bước đầu lâm vào cuộc khủng hoảng và phải cải tổ
Đầu tháng 6, Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ nhất được triệu tập Những người Mensêvích và Xã hội cách mạng chiếm đa số tại hội nghị đã thông qua nghị quyết ủng hộ Chính phủ lâm thời và tán thành chính sách tiếp tục chiến tranh của chính phủ này Ngày 18-6, chúng địng tổ chức một cuộc biểu tình với quy mô lớn nhằm lôi kéo quần chúng ủng hộ nghị quyết sai lầm của chúng Nhưng Đảng Bônsêvích đã lãnh đạo quần chúng biến cuộc biểu tình do Mensêvích và Xã hội – cách mạng tổ chức thành cuộc biểu tình chống lại nghị quyết sai lầm của Đại hội, chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa, 50 vạn quần chúng diễu hành, hô to các khẩu hiệu “Tất cả chính quyền về tay Xô viết”, “Đả đảo chiến tranh!”, “Hòa bình, ruộng đất, bánh mỳ!”
Qua hai cuộc biểu tình tháng 4 và 6, Đảng Bônsêvích đã giáo dục quần chúng, từng bước xây dựng đội quân chính trị của Đảng
4 Thắng lợi của cách mạng XHCN tháng mười
Ngày 18-6 (1-7), bộ trưởng chiến tranh Kêrenxki ra lệnh cho quân đội mở cuộc tấn công vùng Lembe Quân đội Nga bị thất bại lớn, 6 vạn quân bị tiêu diệt Tin thất trận truyền về Pêtơrôgrát gây ra sự phẫn nộ sục sôi trong công nhân và binh lính Ngày 3-7 (16-7), dưới sự lãnh đạo của Đảng, 50 vạn nhân dân Pêtơrôgrát xuống đường biểu tình một cách hòa bình và có tổ chức, đòi Xô viết toàn Nga và Xô viết Pêtơrêgrát phải nắm toàn bộ chính quyền và phải thực hiện hòa bình Được sự đồng tình của những người Mensêvích và Xã hội – cách mạng, Chính phủ lâm thời đã ra lệnh xả súng vào quần chúng, Pêtơrôgrát đẫm máu công nhân và binh lính Sau đó, chúng đàn áp Đảng Bônsêvích và lùng bắt Lênin
Sự kiện tháng Bảy đánh dấu bước ngoặt phát triển của cách mạng Nga Đại hội Đảng lần thứ VI (họp bí mật và phải di chuyển qua nhiều địa điểm) quyết định tiến hành giành chính quyền bằng khởi nghĩa vũ trang
Tuy tiến hành đàn áp quần chúng nhưng chính phủ lâm thời một lần nữa bị lật đổ Sau gần một tháng khủng hoảng, ngày 23-7 (5-8), giai cấp tư sản mới lập được Chính phủ lâm thời thứ ba do Kêrenxki, lãnh tụ Xã hội – cách mạng đứng đầu
Nhưng không yên tâm với chính phủ Kêrenxki, ngày 27-8 (9-9), giai cấp tư sản lại đưa tên tướng phản động Cocnilốp đứng ra tổ chức cuộc đảo chính nhằm thiết lập chế độ độc tài quân sự để đàn áp cách mạng Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, nhân dân Pêtôrôgrát đã nhanh chóng đập tan âm mưu bạo động phản cách mạng của Coocnilốp
Sau vụ Coocnilốp, uy tín của Đảng Bônsêvích ngày càng lên cao Quần chúng đã thấy rõ chân tướng của những người Mensevích và Xã hội – cách mạng, nên đuổi họ ra khỏi các Xô viết Một quá trình Bônsêvích hóa các Xô viết diễn ra nhanh chóng trong cả nuớc, các Xô viết được chuyển sang tay những người Bônsêvích Khẩu hiệu
Trang 10“Tất cả chính quyền về tay Xô viết!” tạm gác lại sau sự kiện tháng Bảy vì sự phản bội của Mensevích và Xã hội – cách mạng lúc đó, nay lại được đưa ra, nhưng với nội dung mới: giành chính quyền về tay các Xô viết băng khởi nghĩa vũ trang Điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi
Ngày 7-10 (20-10), Lênin bí mật từ Phần lan trở về Pêtơrôgrát Ngày 10-10, hội nghị Trung ương Đảng Bônsêvích họp, quyết định sẽ tiến hành khởi nghĩa vũ trang ngày 25-10, tức ngày khai mạc Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ II Trong hội nghị, một số người không tán thành chủ trương khởi nghĩa vũ trang vì cho rằng nước Nga chưa có điều kiện chín muồi để làm cách mạng XHCN Sau đó họ đã đăng lên báo
“Đời sống mới” bản tuyên bố của họ chống lại nghị quyết về khởi nghĩa vũ trang của hội nghị Trung ương Đảng Do đó, kẻ thù đã biết rõ kế hoạch và thời gian của cuộc khởi nghĩa vũ trang Chúng điều những đơn vị đặc biệt về thủ đô, trấn giữ các địa điểm xung yếu và chuẩn bị đàn áp cách mạng
Tình hình Pêtơrêgrát trở nên hết sức căng thẳng Trước tình thế khẩn cấp, Lênin đã quyết định khởi nghĩa ngay ngày 24-10 Đêm 24-10, Lênin đến viện Xmônnưi trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa Theo kế hoạch của Lênin đã vạch ra từ trước, các đơn vị Cận vệ đỏ của công nhân và binh lính cách mạng đã đánh chiếm các khu vực đầu mối, trụ sở các bộ, tổng đài điện thoại, các nhà ga, các cầu bắc qua sông Nêva … Lực lượng hầu như không bị tổn thất, quân khởi nghĩa đã chiếm được toàn bộ Pêtơrêgrát và bao vây Cung điện Mùa Đông, nơi ẩn náu cuối cùng của chính phủ tư sản Tối 25-10, chiếm hạm Rạng Đông nổ hàng loạt súng lệnh báo hiệu cuộc tấn công Cung điện Mùa Đông bắt đầu Cuộc chiến đấu diễn ra đến 2 giờ sáng ngày 26-10 thì chấm dứt Toàn bộ Chính phủ lâm thời tư sản (trừ tướng Kêrenxki) bị bắt Ngày 25-10 (7-11) trở thành ngày thắng lợi của cuộc Cách mạng XHCN tháng Mười Nga vĩ đại
Tiếp đó, khởi nghĩa thắng lợi ở Matxcơva (2-11) và đến đầu 1918, cách mạng đã giành được thắng lợi hoàn toàn trên đất nước Nga
II CUỘC ĐẤU TRANH ĐỂ BẢO VỆ CÁCH MẠNG (1918 – 1920): XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN XÔ VIẾT VÀ CHỐNG THÙ TRONG GIẶC NGOÀI
Ngay trong đêm 25-10, Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ II đã khai mạc trọng thể tại viện Xmônưi Đại hội long trọng tuyên bố nước Nga là nước Cộng hòa xô viết của công nhân và nông dân, thành lập Chính phủ Xô viết do Lênin làm Chủ tịch và thông qua hai sắc lệnh lịch sử: Sắc lệnh hòa bình và Sắc lệnh về ruộng đất
Sắc lệnh hoà bình coi “chiến tranh là một tội ác lớn nhất đối với loài người”, kêu gọi các nước chấm dứt chiến tranh, kí một hòa ước công bằng dân chủ, không thôn tính, không có bồi thường Sắc lệnh về ruộng đất quyết địng tịch thu toàn bộ ruộng đất của địa chủ giao cho nông dân có quyền sử dụng không phải trả tiền
Trang 11Ngày 2-11 (15-11), chính phủ Xô viết ra bản “Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc trong nước Nga”, khẳng định quyền tự do, bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, có quyền tách ra khỏi nước Nga nếu họ muốn, xóa bỏ mọi ách áp bức dân tộc của chế độ cũ Thực hiện Tuyên bố này, Chính phủ Xô viết công nhận nền độc lập quốc gia của Phần lan và Ba lan
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, giai cấp công nhân Nga đã giành được chính quyền Nhưng việc giữ chính quyền còn khó khăn hơn nhiều Các lực lượng thù địch bên trong và đế quốc bên ngoài vẫn tìm mọi cách lật đổ Nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới Chính quyền cách mạng đứng trước tình thế vô cùng khó khăn, tưởng chừng không thể đứng vững được Nó phải giải quyết ba nhiệm vụ quan trọng và cấp bách:
- Xây dựng một nhà nước kiểu mới, chưa có tiền lệ trong lịch sử
- Bằng mọi cách ra khỏi chiến tranh đế quốc để củng cố chính quyền mới còn non yếu và xây dựng lại nền kinh tế bị đổ nát
- Đấu tranh chống các lực lượng phản cách mạng bên trong và bên ngoài
1 Nhiệm vụ thứ 1
Đây là một sự nghiệp đầy khó khăn và phức tạp Phải đập tan bộ máy nhà nước cũ của
tư sản và địa chủ, thiết lập một bộ máy nhà nước vô sản mới: Nhà nước Xô viết Công nhân và nông dân, những người còn thiếu văn hóa và kinh nghiệm quản lý, được cử ra đảm nhiệm những chức vụ chủ chốt trong chính quyền mới Trong hệ thống chính quyền mới này, tòa án nhân dân thay cho tòa án của Nga hoàng; công an nhân dân thay cho cảnh sát, mật vụ cũ; giải thể quân đội cũ và tổ chức quân đội cách mạng – Hồng quân (thành lập 1 –1918)
Chính phủ Xô viết tuyên bố xóa bỏ các đẳng cấp xã hội, các tước vị phong kiến, những đặc quyền của nhà thờ, và tách nhà thờ ra khỏi Nhà nước, trường học Chính quyền Xô viết còn công bố nam nữ bình quyền, thực hiện rộng rãi các quyền tự
do dân chủ với mọi công dân Xô viết
Thực hiện sắc lệnh về ruộng đất, Chính phủ đã tiến hành những cải tạo nông nghiệp cơ bản; nông dân đã được nhận hơn 150 triệu ha ruộng đất của địa chủ; những món nợ của nông dân với tổng số khoảng 1,5 tỷ rúp vàng bị xóa bỏ; một số nông trường quốc doanh đầu tiên được thành lập
Từ cuối năm 1917, chính quyền Xô viết bắt đầu tiến hành quốc hữu hóa các xí nghiệp lớn, giao thông vận tải, các ngân hàng và nắm nắm độc quyền về ngoại thương Người ta gọi là “cuộc tấn công của Đội cận vệ đỏ ở thành thị” Nhà nước Xô viết đã nắm lấy những vị trí chỉ huy của nền kinh tế quốc dân
Trang 122 Nhiệm vụ thứ 2
Lúc này phải rút nước Nga ra khỏi cuộc chiến tranh đế quốc, 3-3-1918, sau những cuộc thương lượng gay go (Đức gây áp lực nặng nề bằng những cuộc tấn côn quân sự), Chính phủ Xô viết đã ký với Đức hòa ước Bơrét Litốp Tuy phải chịu những điều kiện nặng nề, song hòa ước đã tạo cho nước Nga một thời gian hòa hoãn để củng cố chính quyền và xây dựng lực lượng về mọi mặt Để tránh sự uy hiếp của Đức, chính quyền Xô viết dời thủ đô về Mátxcơva
Tháng 7-1918, bản Hiến pháp Xô viết đầu tiên ra đời
3 Nhiệm vụ thứ 3
Từ năm 1918, chính quyền Xô viết đã phải đương đầu với cuộc nội chiến khốc liệt do bọn phản cách mạng trong nước gây ra Cuối năm 1918, sau khi chiến tranh thế giới chấm dứt, quân đội các nước đế quốc (Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ…) đã câu kết với bọn bạch vệ trong nước mở cuộc tấn công can thiệt vũ trang vào nước Nga Xô viết
Nước Nga Xô viết bị chia cắt, phong tỏa, lâm vào tình thế hết sức nguy ngập về mọi mặt, đặc biệt là về kinh tế Trước tình thế đó, Chính phủ Xô viết buộc phải thực hiện “chính sách Cộng sản thời chiến”:
- Trưng thu lương thực thừa của nông dân
- Quốc hữu hóa hết thảy các xí nghiệp
- Nhà nước năm độc quyền về kinh tế, quản lí và phân phối lương thực, thực phầm và hàng tiêu dùng
- Thực hiện chế độ lao động cưỡng bức (ai không làm thì không ăn)
Nhờ áp dụng chính sách này, chính phủ Xô viết đã huy động của cải và nhân lực để xây dựng Hồng quân đông tới 3 triệu người, đủ sức đánh bại quân thù
Hồng quân lần lượt đánh tan các cuộc tấn công của các đế quốc và bọn bạch vệ Năm 1919, đánh bại quân của đô đốc Cônsắc ở mặt trận phía đông; năm 1920, đánh tan đạo quân của tướng Đênikin ở phía nam và tướng Iuđêních ở phía bắc; tiếp đó đánh tan đạo quân của chính phủ tư sản Ba lan và đạo quân của tướng Vơrăngghen Năm 1920, Hồng quân đã đánh tan được các cuộc tấn công của 14 nước đế quốc và các cuộc nổi loạn của bọn tướng tá bạch vệ Nhà nước Xô viết đã được bảo vệ và giữ vững
Như thế trải qua ba năm chiến đấu gian khổ và khốc liệt, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Xô viết đã bảo vệ thành công Nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới Chính quyền Xô viết được giữ vững, nền độc lập và tự chủ của đất nước được khẳng định Đó là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và quốc tế sâu sắc, cổ vũ mạnh mẽ giai
Trang 13cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản thế giới
Nguyên nhân có có tính chất quyết định làm cho nước Nga Xô viết đánh bại thù trong giặc ngoài là sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích do Lênin đứng đầu Là người tổ chức vàlãnh đạo cuộc chiến đấu, Đảng Cộng sản đã động viên, lôi cuốn và tổ chức giai cấp công nhân, nông dân lao động và các nhân dân các dân tộc thiểu số đứng lên đấu tranh với kẻ thù Đảng có đường lối lãnh đạo đúng đắn , khai thác và phát huy cao nhất mọi sức mạnh, mọi nguồn của cải của nhân dân và đất nước để giành chiến thắng
Sức mạnh của khối liên minh công nông, tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc Xô viết, cuộc chiến đấu vô cùng ngoan cường của Hồng quân và các đội du kích, sự đoàn kết và ủng hộ mạnh mẽ của giai cấp công nhân quốc tế và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới là những nhân tố quan trọng, không thể thiếu được đã đưa tới thắng lợi vẻ vang của Chính quyền Xô viết
III Ý NGHĨA LỊCH SỬ TRỌNG ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI
Lần đầu tiên trong lịch sử, trên một đất nước rộn lớn chiếm 1/6 diện tích thế giới làm cách mạng thắng lợi, đưa công nhân và nông dân lên nắm chính quyền, xây dựng chế độ mới XHCN, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, thực hiện ước mơ ngàn đời của các dân tộc
Chính vì vậy, Cách mạng tháng Mười đã thức tỉnh nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp và dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế!” Ngày nay, mặc dù tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng những tư tuởng của Cách mạng tháng Mười và những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Nga vẫn là ngôi sao dẫn đường cho các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội – là những mục tiêu cơ bản của thời đại chúng ta Vớí ý nghĩa đó, Cách mạng tháng Mười là sự kiện trọng đại trong lịch sử nhân loại, mở đầu một thời đại mới – thời kỳ lịch sử thế giới hiện đại
Trang 14CHƯƠNG II CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở LIÊN XÔ (1921-1941)
I CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI (NEP) VÀ CÔNG CUỘC KHÔI PHỤC KINH TẾ (1921 – 1925)
Năm 1921, sau khi nội chiến chấm dứt, nước Nga Xô viết bước vào thời kỳ hòa bình xây dựng chế độ mới Nước Nga Xô viết bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một hoàn cảnh khó khăn đặc biệt:
Nước Nga là nước đầu tiên xây dựng CNXH, khai phá con đường hoàn toàn mới vào lịch sử
Nước Nga xây dựng CNXH trong vòng vây thù địch của chủ nghĩa đế quốc, chúng luôn bao vây về kinh tế và đe dọa tấn công về quân sự
Điểm xuất phát về kinh tế của nước Nga rất thấp – một nước tư bản lạc hậu hơn nhiều
so với Tây Âu , lại bị bảy năm chiến tranh tàn phá đến kiệt quệ
Hoàn cảnh đó đã quyết định đường lối, biện pháp,hình thức và nhịp độ xây dựng CNXH ở Liên Xô
V.I Lênin đã đề ra công thức nổi tiếng: “Chủ nghĩa Cộng sản là chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa toàn quốc, cộng với trật tự đường sắt Phổ, cộng với quản
lí của các tơrớt Mĩ…”, có nghĩa là một nền chuyên chính vô sản (về chế độ chính trị), cộng với một cơ sở vật chất kỹ thuật cao, tiên tiến, khoa học Để thực hiện công thức này, ngay từ năm 1920, tức là khi nội chiến còn chưa kết thúc, Lênin đã đề ra kế hoạch GOELRO Đây không những là một kế hoạch vĩ đại, điện khí hóa nước Nga mà còn là một dự án “kết hợp hài hòa” nông nghiệp, công nghiệp và giao thông vận tải Lênin đã gọi kế hoạch này là cương lĩnh thứ hai của Đảng
Nhưng những năm 1921-1925, việc đầu tiên phải làm là khôi phục lại nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề Năm 1920, sản xuất nông nghiệp chỉ bằng ½ mức chiến tranh, 20 triệu ha đất bị bỏ hoang, mùa màng nhiều nơi bị mất, vấn đề lương thực trở nên căng thẳng Công nghiệp còn ở tình trạng suy sụp, khó khăn hơn cả nông nghiệp, sản lượng chỉ còn bằng 1/7 mức trước chiến tranh Nhiều sản phẩm chủ yếu còn giảm sút nhiều hơn: sắt chỉ còn 2,25%, điện 15%, than 23%… Bọn đế quốc và bạch vệ đã phá hoại ngành giao thông vận tải đường sắt, đường bộ, tàn phá phần lớn hầm mỏ ở Đônbát, vùng dầu lửa ở Bacu, phá nhiều nhà máy Các xí nghiệp ngừng hoạt động vì thiếu nguyên, nhiên liệu Điện không đủ, thành phố tối tăm, Những hàng hóa cần thiết cho đời sống hằng ngày hết sức thiếu thốn: bánh mì, thịt muối, dầu hỏa, xà phòng… Những người cộng sản đã kế thừa kế một nước Nga trung cổ, với những
Trang 15đồng ruộng hoang tàn, những nhà máy bị phá hủy, vận tải bị ngừng trệ, nhân dân mù chữ, một đất nước bị phá hủy vì nạn đói và bệnh tật
Kẻ thù lợi dụng tình thế kinh tế bi đát đó, kích động sự bất mãn, gây rối loạn về chính trị Ở một số vùng đã nổ ra những cuộc nổi loạn của nông dân chống lại chính sách trưng thu lương thực thừa Không chỉ nông dân, mà cả công nhân và binh lính – là
cơ sở xã hội của chính quyền Xô viết – cũng bất mãn Những cuộc bãi công nổ ra ở Pêtơrôgrát đều xuất phát từ những yêu sách của công nhân nhiều khi rất chính đáng nhưng khó có thể giải quyết vì đất nước quá nghèo
Nghiêm trọng nhất là cuộc nổi loạn ở Crôngxtát, một quân cảng của Pêtơrôgrát, ngày 28-2-1921 Thủy thủ ở đây là một trong những đội ngũ quan trọng thời Cách mạng tháng Mười, nhưng sau nội chiến, một số lớn đã chuyển đi nơi khác
Bị bọn phản cách mạng kích động, thủy thủ Crôngxtát đã nội dậy chiếm giữ pháo đài, giết hại những người Bônsêvích Sau 10 ngày cuộc nổi loạn bị dập tắt
Nước Nga lúc này lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị hết sức nghiêm trọng, Trong bối cảnh đó, tháng 3-1921, Đại hội X Đảng Cộng Sản (Bônsêvích) Nga họp, quyết định chuyển từ chính sách Cộng sản thời chiến sang chính sách Kinh tế mới (NEP)
Chính sách kinh tế mới là chính sách của cả thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH, nhằm tạo điều kiện cho thành phần kinh tế XHCN chiến thắng các thành phần kinh tế khác, bắc những “chiếc cầu” đưa các thành phần kinh tế khác dần dần từng bước đi lên CNXH (đối với sản xuất nhỏ đó là con đường hợp tác hóa; đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân là thông qua con đường tư bản Nhà nước) Nhưng trong thời kì đầu, để khôi phục kinh tế và kích thích sản xuất phát triển, chính quyền Xô viết cho phép các thành phần kinh tế đó tồn tại và phát triển trong một chừng mực nhất định
Vì vậy, những biện pháp đề ra ở Đại hội của Đảng là: bãi bỏ trưng thu lương thực thừa và thay thế bằng thuế lương thực cố định (thuế được quy địng trước vụ gieo hạt mùa xuân, người nông dân sau khi nộp đủ thuế được tự do bán số lương thực thừa để mua hàng công nghiệp), cho tự do buôn bán trong nước, mở ra các chợ; những xí nghiệp không quá 20 công nhân được trả lại cho tư nhân, tư nhân được phép thuê xí nghiệp, thuê ruộng đất à tự do mua nguyên liệu, bán hàng hóa; cho tư bản nước ngoài thuê xí nghiệp, khai thác hầm mỏ (dưới hình thức tô nhượng) để lợi dụng vốn, kĩ thuật của họ; nhà nước nắm các mạch máu kinh tế: công nghịêp, ngân hàng, giao thông vận tải, nội và ngoại thương…
Thực chất của những biện pháp này là chuyển từ kinh tế nhà nước nắm độc quyền về mọi mặt, dựa trên cơ sở cưỡng bức lao động, trưng thu và cung cấp theo kiểu
“cộng sản thời chiến” sang nền kinh tế hàng hóa có sự điều tiết của nhà nước, công nhận sự cùng tồn tại và phát triển trong một thời gian nhất định của nhiều thành phần kinh tế khác nhau, và sử dụng vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm của tư bản trong và ngoài nước để thúc đẩy linh tế phát triển
Trang 16Trong thời kỳ khôi phục kinh tế, chính sách kinh tế mới lấy việc khôi phục và phát triển nông nghiệp làm căn bản, qua đó thúc đẩy công nghiệp và các ngành kinh tế khác phát triển Chính sách thuế nông nghiệp đã kích thích mạnh mẽ người tiểu nông trong việc làm ăn của họ; thực chất của chính sách này là sự liên minh giữa công nhân và nông dân trên cơ sở mới về kinh tế
Cuối năm 1922, toàn thể lãnh thổ Xô viết được giải phóng Lúc này, công cuộc xây dựng CNXH và củng cố quốc phòng đòi hỏi các dân tộc trong đất nước Xô viết phải liên minh khăng khít hơn nữa, về mọi mặt Ngày 20-12-1922, việc thống nhất các dân tộc tự nguyện sáp nhập thành một quốc gia duy nhất đã được thực hiện Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết (gọi tắt là Liên Xô) chính thức được thành lập Lúc đầu gồm bốn nước: Ucraina, Bêlarút, Nga, Ngoại Capcadơ Đầu năm 1924, hiến pháp của Liên Xô được ban hành
Nhờ có đường lối đúng đắn, đến cuối năm 1925, chỉ trong một thời gian ngắn, công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh đã hoàn thành về cơ bản Nông nghiệp đạt 87% mức sản xuất trước chiến tranh, đại công nghiệp đạt 75%; đời sống công nhân, nông dân và nhân dân lao động được cải thiện rõ rệt Nhân dân lao động Liên Xô bắt đầu bước vào thời kì xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của CNXH
II BƯỚC ĐẦU CÔNG NGHIỆP HÓA XHCN (1926 –1929)
Theo kế hoạch của Lênin, việc xây dựng CNXH ở Liên Xô bắt đầu bằng công nghiệp hóa đất nước Năm 1925, mặc dù kinh tế đã khôi phục lại mức xấp xỉ mức trước chiến tranh, nhưng Liên Xô vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu so với các nước
tư bản phương Tây Nông nghiệp chiếm trên 2/3 tổng sản phẩm quốc dân Công nghiệp vẫn dựa trên cơ sở cũ, kĩ thuật lạc hậu, thiếu công nghiệp nặng Nằm trong vòng vây của chủ nghĩa tư bản, Liên Xô luôn luôn bị bao vây về kinh tế độc lập, tự sản xuất lấy những thiết bị cần thiết và là vấn đề sống còn đối với nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới
Trước tình hình ấy, Đại hội XIV Đảng Cộng Sản (B) Liên Xô họp cuối năm
1925 đã đề ra nhiệm vụ công nghiệp hóa XHCN nhằm biến Liên Xô từ một nước nônh nghiệp thành một nước công nghiệp, có thể tự sản xuất lấy những máy móc và trang thiết bị cần thiết cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân Căn cứ vào tình hình đất nước, Đại hội Đảng cũng đã chỉ rõ nền công nghiệp XHCN Liên Xô chủ yếu phải gồm: công nghiệp năng lượng (điện, than, dầu hỏa…) để cung cấp năng lượng cho nền kinh tế quốc dân và đời sống của nhân dân; công nghiệp chế tạo máy móc ; công nghiệp giao thông vạn tải; công nghiệp hóa chất; công nghiệp quốc phòng… Việc công nghiệp hóa trong điều kiện của Liên Xô lúc này phải tiến hành với tốc độ nhanh “Đuổi kịp và vượt” các nước tư bản tiên tiến nếu không muốn bị “nghiền nát”, đó là tư tưởng chỉ đạo của các nhà lãnh đạo Xô viết lúc đó Do đó, đường lối công nghiệp hóa XHCN là ưu
Trang 17tiên phát triển công nghiệp nặng, sản xuất ra các tư liệu sản xuất Công nghiệp nặng sẽ là đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, củng cố quốc phòng, và là điều kiện cơ bản để thực hiện tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động
Việc phát triển công nghiệp nặng đã ít lợi nhuận, vòng quay chậm, lại đòi hỏi vốn đầu tư lớn, kĩ thuật cao Hơn nữa không thể giải quyết vấn đề vốn giống như các nước tư bản bằng cách bóc lột quần chúng lao động, cướp bóc thuộc địa bằng chiến lợi phẩm và tiền bồi thường chiến tranh, hoặc bằng vay mượn nước ngoài (vòng vây phong tỏa của CNTB khiến Liên Xô không thể vay mượn ai, trông mong vào ai được), nên Liên Xô chỉ có thể dựa vào chính bản thân mình Nhân dân Liên Xô đã lấy phương châm tự lực cánh sinh, phấn đấu gian khổ, “thắt lưng buộc bụng”, để tiến hành công nghiệp hóa đất nước Cả đất nước như một công trường lớn Nhiều nhà máy mới mọc lên, các nhà máy cũ được khôi phục lại trên cơ sở kĩ thuật mới Nhờ lao động nhiệt tình, đầy hi sinh của nhân dân lao động Liên Xô, công cuộc hóa tiến triển nhanh chóng
Năm 1928, tỉ trọng công nghiệp chiếm 54,5% tổng sản lượng công nông nghiệp Năm 1929, công cuộc công nghiệp hóa XHCN ở Liên Xô đã thu được những thành tựu quan trọng và bước ngoặt quan trọng và bước đầu giải quyết được ba vấn đề cơ bản: vấn đề tích lũy vốn; vấn đề xây dựng một nền công nghiệp nặng có thể tự sản xuất lấy những máy móc và thiết bị cần thiết; vấn đề nâng cao năng suất lao động (vượt mức chiến tranh hơn 1,3 lần) Những công trình khổng lồ đã được xây dựng: nhà máy thủy điện Đơnhiép, nhà máy ô tô Matxcơva, nhà máy kéo Xtalingrat, tuyến đường sắt Tuyêckextan – Xibia
III CÔNG CUỘC TẬP THỂ HÓA NÔNG NGHIỆP VÀ HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1928 –1933)
Đến năm 1929 công nghiệp đã có những bước tiến cơ bản và mang tính chất XHCN, nhưng nông nghiệp vẫn dựa trên cơ sở sản xuất cá thể phân tán với kĩ thuật canh tác thô sơ Lạc hậu nên phát triển rất chậm chạp, có nhiều mặt hạn chế và không đáp ứng được yêu cầu xây dựng CNXH
Trước tình hình này, cuối 1927, Đại hội XV của Đảng Cộng sản (B) Liên Xô, đề ra nhiệm vụ tập thể hóa nông nghiệp Năm 1928 và 1929, Chính phủ Xô viết thực hiện những biện pháp nhằm hạn chế kinh tế phú nông Năm 1930, Chính phủ Xô viết quyết định chuyển từ chính sách hạn chế sang chính sách tiêu diệt giai cấp phú nông (về mặt giai cấp), đồng thời mở rộng việc tập thể hóa toàn bộ nền nông nghiệp
Đại hội Đảng đã chỉ ra rằng hình thức hợp tác thích hợp nhất lúc đó là ácten nông nghiệp, trong đó chỉ tập thể hóa các tư liệu sản xuất chủ yếu và thu nhập được phân phối theo lao động Trong ácten, bên cạnh kinh tế tập thể (chủ yếu) vẫn có kinh
Trang 18tế phụ gia đình (nguồn sản phẩm và thu nhập phụ của nông nông trang viên) Đó là hình thức dễ tiếp thu nhất đối với nông dâ, những người bao đời nay vẫn quen với lối làm ăn cá thể với đầu óc tư hữu Về nhịp độ tập thể hóa nông nghiệp, Đảng Cộng sản (b) tính đến những điều kiện chín muồi khác nhau của các vùng trong nước, đã chia đất nước làm 3 vùng với thời hạn tập thể hóa khác nhau, dự tính sẽ hoàn thành cơ bản tập thể hóa nông nghiệp vào năm 1933 (cuối kế hoạch 5 năm)
Khi tiến hành tập thể hóa nông nghiệp, nông dân được phép tịch thu ruộng đất, súc vật, nông cụ và tài sản của phú nông (culắc) để chuyển thành sở hữu của nông trang tập thể Phú nông bị đuổi ra khỏi các khu vực tập thể hóa và đưa đi khai khẩn, cải tạo tại các vùng xa xôi Những tên ngoan cố chống phá bị trừng trị Phú nông là giai cấp bóc lột cuối cùng và đông đảo nhất và cũng hung hãn nhất ở Liên Xô Do đó, đã diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt ở nông thôn Xô viết Phú nông đốt phá mùa màng, nhà cửa, đầu độc gia súc, giết cán bộ, gây ra những vụ rối loạn ở nông thôn
Mặt khác, nhiều địa phương đã mắc một số sai lầm khuyết điểm: để chạy theo tốc độ, người ta đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tự nguyện của Lênin, dùng phương pháp cưỡng bức, mệnh lệnh bắt nông dân phải gia nhập nông tranh tập thể; đánh tràn lan cả vào đông đảo tầng lớp trung nông; vi phạm hình thức ácten, nhảy sang hình thức công xã, có nơi tập thể hóa cà nhà cửa, gia súc nhỏ, gà vịt…Cũng vì thế, nông dân bị kích động, giết hết cả gia súc để ăn trước khi vào nông trang tập thể, Riêng năm 1929-1930, nông dân đã giết 14 triệu 60 vạn súc vật lớn có sừng, làm cho ngành chăn nuôi bị thiệt hại nặng nề Tháng 3-1930, Đảng và Nhà nước Xô viết đã có những biện pháp sửa chữa, uốn nắn những sai lầm, khuyết điểm này Nhờ đó, công cuộc tập thể hóa dần dần đi vào quỹ đạo đúng
Năm 1931, nông trang tập thể và nông trường đã chiếm 2/3 diện tích trồng trọt và gần 53% tổng số nông hộ toàn quốc Tới cuối năm 1932, công cuộc tâp thể hóa nông nghiệp căn bản hoàn thành
Đại hội Đảng năm 1927 cũng thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1932), với nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN, hoàn thành tập thể hóa nông nghiệp, đẩy mạnh công cuộc cách mạng văn hóa, đẩy lùi và tiến tới tiêu diệt hoàn toàn thành phần kinh tế TBCN ở thành thị và nông thôn
(1928-Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất hoàn thành trước thời hạn (4 năm 3 tháng) Từ một nước nông nghiệp, Liên Xô đã trở thành một nước công nghiệp Sản lượng công nghiệp chiếm 70% tổng sản lượng kinh tế quốc dân Trong hơn 4 năm đã xây dựng mới
1500 xí nghiệp Nền công nghiệp Liên Xô lúc này đã có khả năng trang bị kĩ thuật mới không chỉ trong công nghiệp mà cả trong các ngành giao thông vận tải, xây dựng và nông nghiệp
Cuộc cách mạng văn hóa đã được tiến hành sâu rộng trong toàn quốc Năm
1930, chính phủ Liên Xô đã thực hiện chế độ giáo dục phổ thông cơ sở bắt buộc Trong thời gian kế hoạch 5 năm, số trường cao đẳng công nghiệp đã tăng 10 lần, số
Trang 19trường kĩ thuật trung cấp tăng 4 lần, ngành đại học đã cung cấp 10 vạn kĩ sư và cán bộ đại học
Như vậy, trong khi các nước tư bản lâm vào cuộc khủng hoảng king tế
1929-1930 trầm trọng nhất trong lịch sử, nhân dân Liên Xô vẫn tiếp tục giữ vững và phát triển kinh tế một cách vững chắc
IV HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ 2 (1933-1937) LIÊN XÔ BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG ĐƯỢC NHỮNG NỀN MÓNG CỦA CNXH HIẾN PHÁP 1936
Năm 1933, nhân dân Liên Xô thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 1937) Nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch này là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN để thực hiện đổi mới kĩ thuật toàn bộ nền kinh tế quốc dân, xóa bỏ những tàn
hai(1933-dư của CNTB trong xã hội Liên Xô, nâng cao hơn một bước đời sống nhân dân Liên Xô Kế hoạch quy định sản lượng công nghiệp sẽ tăng lên gần 8 lần mức trước chiến tranh, năng suất lao động tăng lên 63%, xây dựng thêm 4500 xí nghiệp công nghiệp lớn, tức là gấp 3 lần kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
Những kế hoạch này thật to lớn và không dễ thực hiện Đảng đưa ra khẩu hiệu
“Tất cả phụ thuộc vào cán bộ!” Phong trào học tập và cải tiến kĩ thuật của công nhân phát triển mạnh mẽ Thi đua XHCN đạt tới một trình độ cao hơn, trở thành phong trào phát minh sáng chế và vượt mức kế hoạch : “Phong trào Xtakhanốp” Kế hoạch 5 năm lần thứ hai hoàn thành trước thời hạn
Mùa hè năm 1937, sản xuất công nghiệp của Liên Xô vượt 42% so với năm
1929 và bằng 8 lần năm 1913, năm cao nhất của chế độ Nga hoàng Lúc này tổng sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã vượt qua Pháp, Anh, Đức, vươn lên đứng đầu Châu Aâu và thứ hai thế giới (sau Mĩ), chiếm 14% sản lượng công nghiệp toàn thế giới Từ một nước nông nghiệp, Liên Xô đã trở thành một cường quốc công nghiệp trên thế giới
Việc tập thể hóa nông nghiệp đã hoàn thành trong cả nước Trên 90% đất đai trồng trọt được cày cấy bằng máy móc nông nghiệp
Qua cuộc cách mạng văn hóa, Liên Xô đã thanh toán được nạn mù chữ (trước cách mạng 76% dân số mù chữ), thực hiện xong nền giáo dục cấp I bắt buộc cho tất cả mọi người và phổ cập giáo dục phổ thông cấp II ở các thành phố Số học sinh từ 8 triệu năm 1913 tăng lên 23 triệu năm 1937, số sinh viên cũng tăng từ 112.000 lên 542.000 người; đội ngũ trí thức Xô viết đông tới 10 triệu người Về mặt xã hội, các giai cấp bóc lột đã bị thủ tiêu, lúc này chỉ còn lại hai giai cấp lao động là công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức mới XHCN Mối quan hệ giữa các dân tộc gắn bó hơn trước
Trang 20Những thành tựu to lớn về mọi mặt trên đã chứng tỏ nhân dân Liên Xô đã hoàn thành hai nhiệm vụ cơ bản của thời kì quá độ từ CNTB lên CNXH là :
- Xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của CNXH
- Thực hiện những cải tạo XHCN có nghĩa là đã bước đầu xây dựng được những nền móng kinh tế, chính trị và xã hội của XHCN
- Trên cơ sở đó, sự nghiệp xây dựng CNXH còn phải trải qua một quá trình lâu dài, phải tiếp tục không ngừng củng cố, phát triển và hoàn thiện nó
Để phán ánh những thành quả đó, cuối năm 1936, Hiến pháp mới được thông
qu atahy cho Hiến pháp 1924 Đảng Cộng Sản(B) Liên Xô gọi hiến pháp mới là “Hiến pháp của CNXH thắng lợi”, đánh dấu sự kết thúc của thời kì quá độ từ CNTB lên CNXH ở Liên Xô
Sự phát triển nhanh chóng phi thường của Liên Xô, trong một thời gian rất ngắn từ một nước nông nghiệp lạc hậu vươn lên đuổi kịp và vượt các nước tư bản tiên tiến trở thành một đại cường quốc công nghiệp đứng đầu Châu Âu, có một sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự to lớn đè bẹp được bộ máy chiến tranh khổng lồ của Phát xít Đức sau này, đó là sự thật lịch sử không ai có thể phủ nhận được, đó là tính ưu việt của CNXH
Nhưng mặt khác, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũng chứa đựng một số sai lầm thiếu sót Sau khi Lênin qua đời (1924), những tư tưởng và nguyên tắc mà Lênin vạch ra trong công cuộc xây dựng CNXH bị vi phạm Chính sách kinh tế mới (NEP) sớm bị xóa bỏ Nhả nước nắm độc quyền về kinh tế và hình thành chế độ nhà nước bao cấp về kinh tế, xóa bỏ sớm nền kinh tế thụ trường nhiều thành phần trong khi chúng còn có tác dụng phát triển kinh tế Những sai lầm và nóng vội trong việc tập thể hóa nông nghiệp đã để lại những hậu quả tai hại cho nền nông nghiệp Liên Xô Nghiêm trọng hơn cả là nguyên tắc tập trung dân chủ và nền pháp chế XHCN đã bị coi thường, thay vào đó là tệ sùng bái cá nhân và nạn quan liêu độc đoán mà sinh thời Lênin đã kịch liệt phê phán
Những sai lầm và thiếu sót trên đây không phải do bản thân chế độ XHCN gây nên, mà do Liên Xô là nước đầu tiên khai phá con đường xây dựng CNXH, nên khó tránh khỏi những sai lầm thiếu sót Nó còn do hoàn cảnh đặc biệt của Liên Xô xây dựng CNXH trong vòng vây thù địch của CNĐQ, chúng phong tỏa về kinh tế và luôn
đe dọa tấn công về quân sự, nên nhiều chính sách, biện pháp của Liên Xô bị bắt buộc phải áp dụng (rất cần thiết lúc đó), nếu không sẽ bị tiêu diệt
Năm 1938, nhân dân Liên Xô thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1938-1942) Nhưng kế hoạch đang hoàn thành tốt đẹp thì tháng 6-1941, Phát xít Đức tấn công xâm lược Liên Xô Nhân dân Liên Xô buộc phải ngừng công cuộc hòa bình xây dựng đất nước để tiến hành cuộc “Chiến tranh giữ nước vĩ đại”,
Trang 21CHƯƠNG III HỆ THỐNG VÉC XAI- OA SINH TƠN VÀ
CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ YẾU THỜI KỲ GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI
PHẦN A
HỆ THỐNG VÉCXAI –OASINHTƠN VÀ VIỆC CHIA LẠI THẾ GIỚI CỦA CÁC NƯỚC ĐẾ QUỐC THẮNG TRẬN SAU CHIẾN
TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT
I HỘI NGHỊ HOÀ BÌNH VECÙXAI
1 Hoàn cảnh triệu tập Hội nghị
Chiến tranh thế giới kết thúc, các nước thắng trận họp hội nghị ở Vécxai để chia lại thế giới Hội nghị khai mạc ngày 18-1- 1919, trong tình hình thế giới có sự thay đổi lớn, đó là:
- Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga làm cho CNTB không còn là một hệ thống duy nhất trên thế giới, thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát triển đe doạ đến sự tồn tại của CNTB Vì thế các nước đế quốc tìm mọi cách để tiêu diệt nước Nga Xô viết
- Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất đã tàn phá nghiêm trọng các nước tham chiến, làm thay đổi tương quan lực lượng giữa các nứoc tư bản sau chiến tranh, Mỹ vươn lên hàng đầu vè kinh tế, thành chủ nợ của các nước châu Âu, các nước đế quốc còn lại dù thắng trận hay thất bại cũng đều bị suy yếu
Hội nghị gồm đại biểu của 27 nuớc tham dự, nắm quyền quyết định của hội nghị là 3 cường quốc Mỹ, Anh, Pháp
Mỗi nước đế quốc tham gia hội nghị đều có tham vọng mục đích riêng, mâu thuẫn với nhau, do đó hội nghị diễn ra hết sức gay go quyết liệt
- Pháp muốn dựa vào ưu thế lục quân của mình để giữ vai trò bá chủ lục địa, nhân cơ hội này làm cho Đức suy yếu hết kình địch với Pháp Pháp đòi lại vùng Angiátloren và muốn chiếm vùng Xarơ của Đức, muốn cắt lãnh thổ của Đức nhập voà Đồng minh Pháp, muốn bắt Đức phải bồi thường chiến tranh lớn và chịu sự kiểm soát về kinh tế quân sự
Trang 22- Anh vàMỹ cũng muốn kiềm chế Đức phụ thuộc vào mình vừa muốn níu giữ Đức cân bằng với Pháp đồng thời lại vừa muốn phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức như là một công cụ để tấn công nước Nga Xô viết
- Nhật Bản không những muốn củng cố địa vị ở trung Quốc mà còn muốn chiếm cả vùng Viễn Đông của Nga, mở rộng ảnh hưởng ra cả vùng Châu Á - Thái Bình Dương
- Ý hy vọng sẽ mở rộng lãnh thổ của mình xuống xuống vùng Địa Trung Hải và Ban Căng
Như vậy các nước đế quốc thăng trận đều tuỳ theo lực lượng và yêu cầu của mình để tổ chức lại thế giới sao cho phù hợp quyền lợi của mình nhất và muốn giành lấy những lợi lộc béo bở nhất Vì thế chúng tranh cãi quyết liệt kéo dài hội nghị nữa năm Lênin đã bình luận châm biếm rằng: Chúng cãi cọ nhau từ 5 tháng nay và bầy thú dữ đó cắn cấu nhau loạn xạ đến nỗi chỉ còn lại cái đuôi…
2 Hệ thống hoà ước Vécxai
Mặc dù không một nước đế quốc nào thỏa mãn kết quả của hội nghị nhưng cuối cùng chúng cũng cố gắng thoả hiệp với nhau và kí vào các văn kiện của hội nghị, thường được gọi là hệ thống hoà ước Vécxai
a) Hội Quốc liên
Quy ước thành lập hội Quốc liên (kí ngày 25-1-1919) được sáp nhập vào hòa ước Vécxai với Đức và coi như đoạn mở đầu
Mục đích thành lập hội Quốc liên: phát triển hợp tác đảm bảo hòa bình và an ninh cho các dân tộc
Về mặt tổ chức gồm những nước sáng lập và những nước kí vào quy ước sáng lập
Cơ quan lãnh đạo gồm – cơ quan chung có đại hội đồng thường trực và ban thư
kí thường trực
Cơ quan chuyên môn gồm có tòa án quốc tế và các cục quốc tế
Nội dung hoạt động của hội là giám sát việc tái giảm quân bị, tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị tạm thời, giải quyết những vấn đế tranh cha61p quốc tế Nhưng quan hệ quốc tế trước trái với quy ước đều bị hủy bỏ Nước nào vi phạm bằng biện pháp kinh tế và tài chính
Như vậy Hội Quốc liên được thành lập trước hết nhằm giữ gìn trật tự của thế giới tư bản do các ĐQ chiến thắng sắp đặt tại hội nghị Vécxai Nó là kết quả sự dung
Trang 23hòa mâu thuẫn trong phe ĐQ về việc phân chia lại thế giới chủ yếu là bốn cường quốc Mỹ, Anh, Pháp, Nhật
Hội Quốc liên chỉ là một công cụ của chủ nghĩa ĐQ nhằm dung hòa và bảo vệ những quyền lợi giữa các nước ĐQ với nhau, nhưng lại được che đậy bằng những danh từ đẹp đẽ trang trọng
b) Hòa ước Vécxai với Đức
Ngày 28-6-1919, phái đoàn nước Đức do Muyle và Ben đại diện nhận Hòa ước Vécxai, xác nhận sự thất bại của Đức trong chiến tranh thế giới thứ nhất
Theo hòa ước Đức phải trả cho Pháp hai tỉnh Andát và Loren, nhường cho Bỉ khu Open và Manmơri, cho Đan Mạch vùng Bắc Sơlétíc, cho ban làn vùng Pốtxnami và một hành lang chạy ra biển Còn vùng Xarơ giao cho Hội Quốc liên quản trị Tách miền Đông Phổ ra khỏi nước Đức Các thuộc địa Đức giao cho các cường quốc khác quản lí
Nước Đức bị hạn chế tối đa về vũ trang: được giữ lại 100000 bộ binh, không có không quân, hải quân Vùng tả ngạn sông Ranh do quân đội Đồng minh đóng trong vòng 15 năm, vùng hữu ngạn thành vùng phi quân sự Đức phải bồi thường chiến phi
do một Uûy ban bồi khoản của Đồng minh quy định trước ngày 1-5-1921
Tóm lại, theo hòa ước Vécxai, Đức mất 1/8 đất đai, 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt 2/5 sản luợn gang, 1/3 sản lượng thép, và gần 1/7 diện tích trồng trọt Tuy nhiên gánh nặng của Hòa ước chủ yếu đè nặng lên vai nhân dân lao động
Hòa ước Vecxai đã không thủ tiêu được tiềm lực chiến tranh của Đức do âm mưu của các nước đế quốc đặc biệt Anh, Mỹ muốn biến Đức để trở thành bàn đạp để xâm nhập châu Âu về kinh tế và mưu đồ chống lại Liên Xô do đó chỉ một thời gian ngắn sau chiến tranh CNĐQ Đức không những phục hồi mà còn tăng cường tiềm lực kinh tế chiến tranh, trở thành thủ phạm gây chiến tranh thế giới mới
c) Các hòa ước khác
Sau khi kí hòa ước với Đức, các nước bại trận thuộc phe Đức cũng lần lượt kí kết trong hai năm 1919-1920:
- Hòa ước Xanhgiécmanh với Áo (10-9-1919)
- Hòa ước Nơiy với Bungari (27-11-1919)
- Hòa ước Trianông với Hungari (4-6-1920)
- Hòa ước Xebrơ với Thổ Nhĩ Kì (11-8-1920)
Những hòa ước này chú trọng giải quyết vấn đề Áo – Hung và vấn đề Thổ Nhĩ
Kì
Đế quốc Áo, Hung trước kia bị tách ra thành hai nước, Áo chỉ còn 6 triệu dân với 80000 km2 và không được sáp nhập vào Đức Hungary chỉ còn giữ được 1/3 lãnh
Trang 24thổ trước kia Một số nước khác được thành lập đó là Tiệp Khắc và Nam Tư Một số đất đai khác cho Rumani và Ý Ba Lan ra đời với vùng Galixia thuộc Áo và vùng khác thuộc Đức, Nga
Những hòa ước trên mang tính chất nô dịch, Lênin đã bình luận: đó là một thứ hòa ước kì quái, ăn cướp, đẩy hàng chục triệu con người trong đó có những con người văn minh nhất rơi vào cảnh bị nô dịch Đó là những điều kiện mà bọn ăn cướp tay cầm dao buộc nạn nhân không có gì tự vệ phải chấp nhận
Những hòa ước kí kết đó hợp thành hệ thống hòa ước Vécxai Đó là văn bản chính thức đầu tiên sau chiến tranh thế giới thứ nhất xác định việc phân chia thế giới và tổ chức lại trật tự thế giới giữa các nước đế quốc thắng trận với nhau
Tóm lại, hệ thống hòa ước Vécxai là kết quả của một quá trình vừa đấu tranh vừa thỏa hiệp, xâu xé lẫn nhau giữa các nước đế quốc chiến thắng và chiến bại Nó không đảm bảo được hòa bình cho các dân tộc, trái lại làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn của CNĐQ như Uyliam Bulít (cộng tác viên đắc lực của Uynxơn) đã nhận xét hội nghị hòa bình chỉ làm một việc là chuẩn bị những xung đột quốc tế trong tương lai
II HỘI NGHỊ OASINHTƠN VÀ NHỮNG HÒA ƯỚC ĐƯỢC KÍ KẾT
Hội nghị Véc xai kết thúc không một nước nào thỏa mãn với kết quả của hội nghị đặc biệt là Mĩ, thượng nghị viện Mĩ không thông qua hòa ước Vecxai Mâu thuẫn
Mĩ – Anh, Mĩ – Nhật càng gay gắt hơn do đo tháng 11-1921, Mĩ triệu tập hội nghị Oasinh tơn gồm Anh, Pháp, Ý, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Quốc
Mục đích của Mĩ là tìm cách củng cố vị trí trên thế giới và khu vực Thái Bình Dương trên cơ sở làm thiệt hại quyền lợi của các địch thủ khác trước hết là Anh và Nhật
Hội nghị đã kí được ba bản hiệp ước quan trọng:
- Hiệp ước 4 nước (Mĩ, Anh, Nhật, Pháp) kí ngày 3-12-1921 xác nhận lại về mặt pháp lí việc phân chia thuộc địa ở Hội nghị Vécxai Nhân dịp đó Mĩ gây áp lực buộc Anh không gia hạn thêm hiệp ước Liên minh Anh – Nhật (kí từ 1902) để cô lập Nhật
- Hiệp ước 9 nước (6-2-1922) nhằm mở rộng cửa Trung Quốc chống lại lợi ích dân tộc của Trung Quốc,biến Trung Quốc trở thành thị trường chung của các nước đế quốc
- Hiệp ước 5 nước (6-6-1922) Mỹ,Anh , Nhật, Pháp, Ý quy định tỉ lệ hải quân cho mỗi nước: Mỹ, Anh bằng nhau; Pháp, Ý bằng nhau; Nhật xếp sau Mĩ (theo tỉ lệ mới 5:5:3:1,75:1,75 theo thứ tự các nuớc là Anh:Mỹ:Nhật:Pháp:Ý) Như vậy từ đây Anh mất quyền bá chủ trước đây trên mặt biển
Trang 25Tóm lại, hội nghị Oasinhtơn hoàn toàn có lợi cho Mĩ, Nhật phải từ bỏ một phần
ưu thế đã giành được trong chiến tranh thế giới thứ nhất ở Trung Quốc Anh phải nhượng bộ Mĩ, như thế Mĩ nắm được thị trường Viễn Đông và Trung Quốc, nâng cao địa vị hải quân của mình lên hàng đầu thế giới
Kết quả của hội nghị đã làm trực tiếp thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho Mĩ,
Mĩ đã lập thêm một “khuôn khổ” mới do Mĩ chi phối chống lại khuôn khổ cũ của hoà ước Vécxai, đồng thời bổ sung hoàn chỉnh hơn về việc tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh Đó là hệ thống Vécxai – Oasinhtơn
Trang 26PHẦN B CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ YẾU TRONG NHỮNG NĂM
Hai cường quốc tư bản lâu đời Anh và Pháp tuy chiến thắng, nhưng nền kinh tế
bị kiệt quệ nhiều sau chiến tranh Anh bị mất 70% tàu buôn nên nền ngoại thương – một ngành quan trọng của đế quốc Anh – giảm sút, chỉ còn bằng nửa chiến tranh Nợ nhà nước tăng lên gấp 12 lần so với năm 1914 Từ vị trí chủ nợ, Anh trở thành con nợ của Mĩ với 5,6 tỉ đôla Năm 1920, sản lượng công nghiệp giảm sút 32,5% so với năm
1913
Sau chiến tranh, Pháp lấy lại được vùng Anđát và Loren, quyền khai thác than vùng than Xarơ, một phần thuộc địa của Đức ở châu Phi, tiền bồi thường chiến tranh… nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn Mười tỉnh có nền nông nghiệp phát triển nhất bị phá hoại hoàn toàn Tổng số thiệt hại của Pháp lên tới gần 200 tỉ phơrăng Nước Pháp có 1,5 triệu người chết Do cách mạng Nga thành công , nước Pháp mất nguồn nguyên liệu quan trọng do nước Nga cung cấp (55% sắt, 74,3% than, 18,5% dầu lửa), mất vốn đấu tư ở Nga tương đương với 13 tỉ phơrăng Trong khi đó những món nợ khổng lồ Pháp vay của Mĩ đã vượt quá 4 tỉ đôla
Italia tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất về phía phe “Hiệp ước”nên cũng là nước chiến thắng Nhưng là một đồng minh lép vế, Italia không được gì trong cuộc chia phần ở Hội nghị Vécxai Trong khi đó, chiến tranh đã làm cho đất nước kiệt quệ, tiêu mất 65 tỉ lia vàng, gần 60% tàu buôn bị hủy hoại, 63,4 vạn người bị giết, vay của Mĩ, Anh 4 tỉ đôla
Tình cảnh các nước thất trận như Đức, Áo – Hung còn bi đát hơn nhiều Chiến tranh đã tàn phá nặng nề đất nước Sau chiến tranh, hai đế quốc này lại bị các nuớc thắng trận trừng phạt, bắt bối thường nặng nề, tước hết thuộc địa, xâu xé đấu nước (Đức mất 1/8 lãnh thổ, đế quốc Áo – Hung, bị chia làm nhiều quốc gia tư sản độc lập)
Tóm lại, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các cường quốc châu Âu đều lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, đặc biệt trong những năm 1920 –1921 Trong khi
Trang 27đó, các cường quốc ngoài châu Âu như Mĩ và Nhật không bị tàn phá bởi chiến tranh lại được hưởng nhiều quyền lợi do chiến tranh đem lại, đã vượt nhiều nước TBCN ở châu Âu về kinh tế và tài chính Làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng giữa các cường quốc tư bản châu Âu vốn chiếm vị trí trung tâm của chủ nghĩa tư bản thế giới trước đây
Nước Mĩ trở thành nước giàu mạnh nhất và là trung tâm công nghiệp, thương mại và tài chính quốc tế (châu Âu nợ Mĩ trên 10 tỉ đôla, Mĩ có dự trữ vàng lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 1.3 số vàng thế giới) Cũng từ đó đánh dấu giai đoạn mới trong cố gắng vươn lên chiếm vị trí bá quyền thế giới của Mĩ Tuy nhiên, khủng hoảng kinh tế 1920-1921 ở châu Âu cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế của Mĩ Nhu cầu hàng hóa Mĩ ở châu Âu giảm đi, trong khi sức mua của nhân dân Mĩ giảm sút Tháng 7-1920, cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra ở Mĩ Đến tháng 3-1921, sản lượng công nghiệp giảm sút 1/3 Số xí nghiệp bị phá sản ngày càng nhiều Cuộc khủng hoảng nông nghiệp cũng diễn ra cùng lúc với khủng hoảng công nghiệp
Cũng giống như Mĩ, Nhật bản đã phát triển kinh tế mạnh mẽ nhờ lợi dụng chiến tranh thế giới Trong thời gian 1914 – 1919, sản lượng công nghiệp Nhật tăng gấp 5 lần Nhiều công ti mới của Nhật ra đời Thanh toán mậu dịch từ 1915 đến 1920
dư thừa 1.207 triệu yên Sự bột phát của kinh tế Nhật còn tiếp tục 18 tháng sau chiến tranh kết thúc Sau đó, Nhật cũng lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế 1920 – 1921 Nền kinh tế bị sa sút nhiều công ti bị thua lỗ hoặc phá sản Số người thất nghiệp lên tới 12 vạn
Như vậy, sau chiến tranh thế giới thứ 2, tất cả các nước TBCN đã lần lượt lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, làm cho đời sống của nhân dân, nhất là những người lao động, cực khổ Tình hình ấy cùng vớ ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga đã dẫn đến một cao trào cách mạng hết sức mạnh mẽ làm lay CNTB đến tận gốc rễ
II CÁC NƯỚC TƯ BẢN TRONG GIAI ĐOẠN ỔN ĐỊNH (1924 – 1929)
1 Ổn định về kinh tế
Sau khi khắc phục được khủng hoảng kinh tế các nước tư bản bước vào giai đoạn ổn định Nước Mỹ ổn định sớm (năm 1922), và đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng nhờ buôn bán vũ khí làm giàu trong chiến tranh thế giới lần một Mỹ trở thành chủ nợ của các nước tư bản Châu Âu, từ năm 1925đến 1928 Mỹ chi 10 tỉ đô la cho việc xây dựng nhà máy và công xưởng mới ,thiết bị lại kỹ thuật mới Quá trình tích tụ tập trung sản xuất và tư bản diễn ra đặc biệt mạnh mẽ, đã có 5400 trường hợp “hợp nhất”
xí nghiệp vừa và nhỏ, sản xuất theo dây chuyền, năng suất lao động tăng mạnh
Trang 28Từ năm 1923-1929, sản lượng công nghiệp Mỹ tăng 69%, chiếm 48% tổng sản lượng công nghiệp của thế giới tư bản, vượt quá 9% so với sản lượng của 5 cuờng quốc Đức, Pháp, Anh, Nhật, Ý cộng lại
Nước Đức, cầm đầu phe bại trận, bị khủng hoảng kinh tế và chính trị nặng nề nhất sau chiến tranh, nhưng nhờ sự giúp đỡ của Mỹ và Anh, Đức đã phục hồi và phát triển khá nhanh Anh, Mỹ muốn giúp Đức phục hồi tiềm lực công nghiệp và quân sự để biến Đức thành nước chống Liên Xô Vì vậy ,mới có kế hoạch Dawes năm 1924 và sau đó được điều chỉnh bởi kế hoạch Young năm 1929, quy định số tiền bồi thường chiến tranh lúc đầu của Đức là 130 tỉ mác vàng, sau giảm xuống 113,9 tỉ mác trả trong thới gian kéo dài 60 năm Trong những năm đầu sau chiến tranh Mỹ, Anh đã cho Đức vay những số tiền rất lớn Năm 1933, Hitle lên nắm chính quyền đã xoá luôn khoản tiền bồi thường
Nhờ số tiền đầu tư khổng lồ của nước ngoài, tạo điều kiện trang bị cho Đức những kỹ thuật hiện đại, nâng cao năng lực sản xuất Năm 1929, tổng sản lựơng công nghiệp Đức đạt 113% mức trước chiến tranh, vượt qua Anh và Pháp
Nước Pháp sau chiến tranh có một số điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp như đựơc thu hồi vùng Lo ren có nhiều quặng sắt, ca li, than, và được quyền khai thác hạt xarơ có nhiều than Năm1925, công nghiệp Pháp đãphát triển hơn trứơc chiến tranh: sản lượng than đạt 107%, thép đạt 102%, đến năm 1930 sản lượng công nghiệp Pháp là 140% so với trứơc chiến tranh, đứng thứ 4 thế giới Tuy vậy cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu nhiều so các nước TBCN khác như Mỹ, Đức, Nhật
Nước Anh phục hồi kinh tế diễn ra chậm chạp do thiết bị sản xuất lạc hậu, tổ chức sản xuất lỗi thời nên đến năm 1929 mới chỉ đạt mức xấp xỉ trước chiến tranh Nền kinh tế Ý vàNhật Bản ổn định tương đối sớm (1923), nhưng kinh tế chỉ phát triển một chiều, ưu tiên cho những ngành công nghiệp chiến tranh nên xuất hiện khủng hoảng sớm (1926-1927)
Tóm lại, sự ổn định về kinh tế của các nước tư bản diễn ra không đều, có tính chất tương đối và cục bộ Sự ổn định của các nuớc TBCN châu Âu phần quan trọng là nhờ vào vốn đấu tư và tín dụng của Mĩ Đây là thời kì chuyển đổi trung tâm kinh tế – tài chính của TBCN từ châu Âu sang châu Mĩ
2 Ổn định tương đối về chính trị
Cùng với sự ổn định về kinh tế, các chế độ tư sản cũng dần dần được củng cố Phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống Ở các nước tư bản chủ yếu, các đảng tư sản bảo thủ và phản động nắm chính quyền Ở một vài nước, có lúc các lực lượng gọi là “phái tả” theo đường lối cải lương nắm chính quyền để mê hoặc quần chúng lao động
Ở Mĩ, từ năm 1921 đến 1933, Đảng Cộng hòa liên tục nắm chính quyền Đảng này đã thi hành chính sách thiên hữu nhằm bảo vệ quyền lợi của giới chủ kinh doanh
Trang 29Tháng 11-1924, Culitgiơ trúng cử Tổng thống Trong 4 năm cầm quyền, chính phủ Culitgiơ thi hành chính sách đàn áp phong trào công nhân, đàn áp những tư tưởng “cấp tiến” Điển hình là vụ xử hai công dân gốc Italia là Xăccô và Vanxetti bị tuyên án tử hình vì công khai bày tỏ những tư tưởng “tiến bộ” Chính quyền Mĩ cũng thi hành những chính sách, những biện pháp chống bãi công của công nhân
Về mặt đối ngoại, chính quyền Culitgiơ thông qua các kế hoạch Đaúyt và Yơng, khống chế châu Âu theo quỹ đạo của Mĩ, tiếp tục chính sách thù địch với Liên Xô, tìm cách bành trướng thế lực ra Thái Bình Dương và Viễn Đông Đối với Mĩ Latinh, chính phủ Mĩ vẫn tiếp tục chính sách bành trướng của họ, thậm chí can thiệp quân sự khi cần thiết
Dù sao trong những năm cầm quyền của Culitgiơ, kinh tế Mĩ phát triển tốt đẹp, nên trong lĩnh vực chính trị – xã hội cũng phát triển tương đối ổn định Đảng Cộng hòa được coi là đảng của sự phồn vinh , vì thế trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1928, người của Đảng Cộng hòa Huvơ đã thắng cử Nhưng Huvơ vừa bước chân vào Nhà trắng thì khủng hoảng kinh tế bùng nổ tháng 10 –1929
Ở Anh, Đảng Bảo thủ lên nắm chính quyền từ năm 1924 Chính phủ đã thi hành nhiều chính sách có lợi cho giới chủ kinh doanh, làm cho nhân dân lao động bị bóc lột nặng nề hơn Điều đó đã dẫn đến cuộc tổng bãi công tháng 5 – 1926, bắt đầu từ công nhân mỏ, sau lôi kéo hầu hết công nhân các ngành và thu hút đến 5 triệu người tham gia, làm tê liệt tất cả các khu công nghiệp lớn ở Anh Nhưng khi bãi công biến thành cuộc đấu tranh quyết liệt và mang tính chất chính trị thì những người lãnh đạo Liên hiệp công đoàn Anh đã kêu gọi công nhân ngừng đấu tranh và thỏa hiệp với chính phủ Nhờ vậy, chính phủ đã dập tắt được phong trào bãi công và sau đó chuyển sang tấn công vào giai cấp công nhân Cuộc tổng bãi công năm 1926 của công nhân Anh cho ta thấy sự ổn định của chủ nghĩa tư bản chỉ là tương đối
Ở Pháp, năm 1923, “Liên minh phái tả” bao gồm những người cấp tiến của giai cấp tư sản và Đảng Xã hội lên năm quyền Chính phủ “khối tả” do Eriô cầm đầu, ban hành một số chính sách tiến bộ hơn trước như thi hành đạo luật ân xá đối với những người tham gia đấu tranh chính trị, luật cho phép viên chức thành lập tổ chức công đoàn… Về đối ngoại, Chính phủ Eriô cũng thi hành chính sách ôn hòa hơn, đặt quan hệ ngoại giao với Liên Xô (25-10-1924) Nhưng mặt khác, chính phủ “khối tả” cũng tiến hành cuộc chiến tranh đàn áp các dân tộc thuộc địa Marốc và Xiri, đàn áp cuộc tổng bãi công tháng 10 – 1925, bắt giam nhiều người cộng sản Mâu thuẫn trong “khối tả” ngày càng gay gắt và “khối tả” tan rã sau khi những người Xã hội rút ra khỏi liên minh Từ tháng 10-1925 đến tháng 7-1926, 7 lần thay đổi nội các đến 21-7-1926, chính phủ phái tả bị đổ Chính phủ phái hữu do Poăngcarê cầm đầu cố gắng chấm dứt những hoạt động chống đối và tấn công vào đời sống của nhân dân lao động
Ở Đức, giai đoạn ổn định cũng là giai đoạn mà các lực lượng phát xít chuẩn bị lực lượng để nắm chính quyền Dưới chiếc ô bảo vệ của nền “Cộng hòa Vâyma”, chủ nghĩa quân phiệt Đức dần dần được phục hồi với sự tích cực giúp đỡ của bọn tư bản
Trang 30lũng đoạn và bọn Iuncơ Đức Người ta thường gọi nền Cộng hòa Vâyma là “nền cộng hòa không có những người cộng hòa” vì tất cả các quan chức của nền Cộng hòa này đều là những người của Đế chế cũ được giữ nguyên, mang nặng đầu óc bảo hoàng và quân phiệt, tinh thần dân tộc cực đoan và chủ nghĩa phục thù Rất nhiều tổ chức quân phiệt mọc ra như nấm ở Đức sau chiến tranh như đội “Mũ thép”, “Cônxun”, “Orơghết”,
“Vikinh”… Trong số các tổ chức này, chính đảng phản động nhất là Đảng công nhân quốc gia XHCN (hay Quốc xã) xuất hiện từ năm 1919 Từ năm 1920, khi Hitle làm lãnh tụ của đảng này, cương lĩnh của đảng được công bố với những nội dung hết sức
mị dân và lừa bịp nhằm mở rộng ảnh hưởng của nó trong quần chúng Tháng 11-1923, Hitle tổ chức “cuộc phiến động tiệm bia” ở Munkhen, định lôi kéo quân đội tái diễn lại
“cuộc tiến công vào Roma của Mutcôlini” trên đất Đức, nhưng Hitle đã thất bại Bọn
tư bản lũng đoạn Đức thấy việc thiết lập ngay chế độ độc tài phát xít ở Đức là quá sớm nên Hitle bị bắt giam Trong tù, y viết cuốn Mein Kamf (Cuộc chiến đấu của tôi), được coi như thánh thư của chủ nghĩa phát xít, nêu lên những cơ sở tư tưởng của chủ nghĩa Quốc xã
Năm 1925, Hinđenbuốc được bầu làm Tổng thống Cựu nguyên soái của đế quốc Đức, tên bảo hoàng quân phiệt số 1 đứng đấu nền “Cộng hòa” được bầu chứng tỏ thế lực của giới quân phiệt đã tăng cường khá nhiều Điều đó gây lo ngại cho lực lượng dân chủ ở Đức, đồng thời cũng gây lo ngại trong dư luận thế giới Giai cấp thống trị của Đức phải chống đỡ bằng cách tuyên truyền cho “thiện chí hòa bình” của Hinđenbuốc và sự gắn bó của của tên bảo hoàng này đối với chế độ cộng hòa Chúng còn dựa vào những luận điệu mị dân của các lãnh tụ Đảng XHDC nằm trong chính phủ và Quốc hội để “bảo vệ”, ủng hộ Hinđenbuốc Sự phục hồi chủ nghĩa quân phiệt là nét nổi bật của lịch sử nước Đức trong thời kì ổn định của chủ nghĩa tư bản
Cũng giống như Đức, thời kì này, ở Nhật bản cũng là thời kì tăng cường các lực lượng quân phiệt Nhật Đầu 1927, tướng Tanaca, một phần tử quân phiệt phản động đã thành lập chính phủ mới Mở đầu cho mội giai đoạn mới của chính sách đối nội và đối ngoại của Nhật Chính phủ của giới quân phiệt chủ trương dùng vũ lực để bành trướng
ra bên ngoài Tanaca đã hai lần phái quân xâm lược Sơn Đông, Trung Quốc, nhưng cả hai lần đều thất bại do phong trào đấu tranh mạnh mẽ của Trung Quốc Mĩ , Anh cũng phản đối cuộc xâm lược này Ở trong nước, Tanaca ra sức quân sự hóa đất nước, đàn áp phong trào dân chủ và hòa bình, giải tán các đoàn thể dân chủ
Còn Italia, thời kì này là thời kì củng cố từng bước chính thể phát xít Chính phủ Mutxôlini trong thời kì đầu mới cầm quyền, tuy đã áp dụn chính sách khủng bố chống lại các phong trào cách mạng vô sản, nhưng vẫn để cho các đảng tư sản tham gia chính phủ, giữ nguyên các tổ chức công đoàn, nghị viện Đến đầu 1926, tình hình chính trị trong nước gặp nhiều khó khăn Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Đảng Thiên chúa giáo và nhiều đảng khác lập thành phe đối lập chống chính phủ Mútxôlini nhiều lần bị áp sát hụt Nhân dịp này, chính phủ ban bố hàng loạt đạo luật “đặc biệt” giải tán tất cả các đảng (trừ đảng phátxít), đóng cửa các cơ quan báo chí của họ Chính phủ còn tổ chức ra cơ quan đặc vụ và tòa án đặc biệt để bắt bớ và xử tử những người chống phát
Trang 31xít Cuối cùng, đạo luật ban hành tháng 3 – 1928 trao cho lãnh tụ đảng phát xít quyền chọn đại biểu quốc hội Mutxôlini trở thành kẻ độc tài chuyên chế, là kẻ “nhân danh quyền lợi quốc gia” để cai trị Bọn phát xít buộc nhân dân gọi y là Duce (Người dẫn đường)
Tóm lại, trong giai đoạn 1924 – 1929, giai cấp thống trị các nước TBCN đã ổn định được tương đối nền kinh tế và chế độ chính trị của mình Một số nuớc đã đạt tới mức độ phồn vinh cao như Mĩ Trên cơ sở đó, những nhà tư tưởng và chính trị tư sản đã tô vẽ cho CNTB, cho rằng thời kì “thịnh vượng vĩnh viễn” của CNTB đã đến Những nhà lí luận XHDC truyền bá tư tưởng cải lương Họ hứa hẹn với quần chúng sẽ đạt được CNXH và hạnh phúc không cần làm cách mạng mà bằng cách hợp tác với giai cấp tư sản, theo con đường CNTB hòa nhập vào CNXH một cách hòa bình Trong thời
kì ổn định, tư tưởng XHDC cải lương đã chiếm ưu thế trong phong trào công nhân
Nhưng sự ổn định của CNTB trong những năm 1924-1929 trên thực tế đã không bãi bỏ được những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản Đại hội VI của QTCS họp năm
1928, trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc khoa học những mâu thuẫn đó, đã báo hiệu thời kì ổn định tạm thời của CNTB đag đi tới chấm dứt và một cuộc khủng hoảng kinh tế mới nghiêm trọng đang hiện ra trước mắt và cùng với nó một cao trào cách mạng mới sẽ xuất hiện Một năm sau, điều dự báo đó đã thành sự thật Cuộc đại khủng hoảng kinh tế nổ ra ở nuớc Mĩ tháng 10 –1929, nhanh chóng lan ra toàn bộ thế giới, chấm dứt thời kì “thăng bằng” và “ổn định” của CNTB
III CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ YẾU TRONG GIAI ĐOẠN 1929-1939
1 Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933
Tháng 10-1929, một cuộc khủng hoảng kinh tế dữ dội chưa từng có đã bùng nổ
ở Mĩ, sau đó lan ra cả thế giới tư bản và kéo dài mãi đến năm 1933 Đây là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới có quy mô lớn nhất với mức độ nghiêm trọng nhất trong lịch sử nền kinh tế tư bản thế giới Nguyên nhân chủ yếu là do sản xuất của CNTB trăng lên quá nhanh chóng trong một thời gian ổn định, nhưng nhu cầu và sức mua của quần chúng lại không tăng lên tương ứng, thậm chí giảm sút, hàng hóa ế thừa Khủng hoảng thể hiện trước tiên trên lĩnh vực tài chính tín dụng như sự sụt giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mĩ
Khủng hoảng đã đánh vào tất cả các ngành kinh tế tư bản không trừ ngành nào Sản xuất trước đây đạt tới những chỉ số cao nay sụt xuống rất nhanh chóng, kinh tế xuống tới mức thấp nhất là vào năm 1932 So với mức trước khủng hoảng, sản xuất công nghiệp giảm 46% ở Mĩ, 47% ở Đức, 16,5% ở Anh, 31% ở Pháp, 33% ở Italia, mức giảm chung của cả thế giới TBCN là 42%
Trang 32Khủng hoảng công nghiệp gắn chặt với khủng hoảng nông nghiệp, làm cho khủng hoảng công nghiệp phức tạp thêm, trầm trọng thêm Khủng hoảng công nghiệp và nông nghiệp lại làm cho hệ thống tài chính và tín dụng hoàn toàn rối loạn Hàng nghìn ngân hàng bị phá sản, đồng tiền của 56 nước bị mất giá Mậu dịch quốc tế giảm 2/3
Khủng hoảng kinh tế bao trùm tất cả các nước tư bản công nghiệp không trừ nước nào và cả nước thuộc địa của chúng, các nuớc nông nghiệp, đó là những lí do khiến cho khủng hoảng kinh tế kéo dài dai dẳng
Cuộc khủng hoảng 1929-1933, chẳng những tàn phá nền kinh tế mà còn gây ra những hệu quả tai hại về mặt chính trị và xã hội cho CNTB Số người thất nghiệp lên tới mức chưa từng thấy Hơn 35 triệu người lao động bị vứt ra hè phố, biến thành những người thất nghiệp hoàn toàn (16 triệu ở Mĩ, 5,5 triệu ở Đức, 3 triệu ở Anh, 2,8 triệu ở Nhật…) Con số người bán thất nghiệp còn lớn hơn nhiều Hàng triệu người lang thang tên các đường phố để tìm việc làm và bánh mì Nông dân phá sản bỏ đồng quê lên thành thị làm tăng thêm đội quân không có việc làm ở thành thị Nhân dân đói khổ thiếu thốn, trong khi người ta phá hủy các kho hàng hóa, đốt lúa gạo, chặt phá các cây trồng, giết các gia súc, đổ xuống biển hàng triệu lít sữa… để giữ hàng hóa khỏi sụt, cứu lợi nhuận, Tất cả những ảo tưởng về “CNTB có tổ chức”, về sự “phồn vinh vĩnh viễn” của CNTB đã sụp đổ
Tình hình đó đã làm cho mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp trở nên gắt gắt Một cao trào cách mạng mới lại dần dần xuất hiện Trong điều kiện đó, giai cấp tư sản thống trị tất cả các nước đều phải tăng cường chuyên chính giai cấp, hạn chế hoặc xóa bỏ các quyền tự do dân chủ mà quần chúng giành được trong giai đoạn trước Tuy nhiên, do điều kiện cụ thể của mỗi nước, mức độ và các hình thức tăng cường nền chuyên chính giai cấp của các nước có khác nhau Đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị nghiêm trọng, các nước tư bản có hai lối thoát:
- Một là của các nước Mĩ, Anh, Pháp củng cố nền chuyên chính giai cấp nhưng không đi tới chủ nghĩa phátxít, hoặc nửa phátxít
- Hai là của các nước Đức, Italia, Nhật là thiết lập ngay nền độc tài phátxít ở các nước họ
Hai chế độ chính trị khác nhau, nhưng đều là hai hình thức của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn Nhà nước, tức là tăng cường vai trò của Nhà nuớc trong đời sống kinh tế và chính trị nhằm phục vụ lợi ích của tư bản lũng đoạn
2 Chủ nghĩa phát xít Đức, Italia và chủ nghĩa quân phiệt Nhật
Ba nước Đức, Italia và Nhật có những đặc điểm giống nhau:
Về phương diện kinh tế, ba nước này đều là những nước công nghiệp phát triển nhưng nghèo, thiếu vốn, thiếu nguyên liệu và thiếu thị trường, không có hoặc có ít
Trang 33thuộc địa Người ta thường gọi họ là những nước “không có” Khi khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra dẫn đến khủng hoảng mậu dịch quốc tế, các đế quốc giàu, có nhiều thuộc địa đóng cửa thị trường quốc gia và thị trường đế quốc của họ bằng các hàng rào thuế quan cao hoặc bằng cấm nhập khẩu để bảo vệ hàng nội địa của họ Trong những điều kiện đó, những nước “không có” ở trong tình hình kinh tế cực kì khó khăn, phải áp dụng những biện pháp kinh tế cực đoan, mà có người gọi là “chủ nghĩa tân tư bản quốc gia, độc đoán, tự túc” Đó chính là chính sách kinh tế của chủ nghĩa phát xít
Về phương diện chính trị, ở những nước này, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản diễn ra muộn và không hoàn thành, do đó vẫn tồn tại nhiều tàn tích phong kiến và truyền thống quân phiệt, Giai cấp quý tộc phong kiến hợp tác chặt chẽ với tư bản lũng đoạn, tạo nên một liên minh phản động rất vững chắc, đồng thời tiến hành chia rẽ các lực lượng dân chủ Đó là mảnh đất tốt cho sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa phátxít
Về quan hệ quốc tế, đây là những nước thù địch với hệ thống Vécxai – Oasinhtơn, muốn đạp đổ hệ thống này và phát động một cuộc chiến tranh để phân chia lại thế giới
Với những đặc điểm trên, các nước này đã lần lượt đi vào con đường phát xít Chủ nghĩa phátxít, theo địng nghĩa của Đimitơrốp, là “nền chuyên chính khủng bố công khai của những phần tử phản động nhất, hiếu chiến nhất, sô vanh nhất của tư bản tài chính” Khác với Đức và Italia, chủ nghĩa phát xít có một chính đảng duy nhất, một thủ lĩnh tối cao, một học thuyết chính trị có tính giai cấp rõ nét, chủ nghĩa phát xít Nhật lại núp dưới hình thức của nhiều tổ chức quân phiệt khác nhau khoác áo phong kiến
Vì vậy, nhiều khi người ta gọi nó là chủ nghĩa quân phiệt Nhật
a) Nước Đức 1929-1939
a1) Quá trình phát xít hóa ở Đức:
Tiếp sau Mĩ, nước Đức là nước bị khủng hoảng kinh tế nặng nề nhất vì nước Đức phụ thuộc nhiều vào Mĩ Khủng hoảng kinh tế đã làm cho đời sống nhân dân lao động Đức càng thêm cơ cực Nạn thất nghiệp lan tràn khắp nước, năm 1932 có tới 9 triệu người thất nghiệp Mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Đức do đó lại bùng nổ gay gắt và gây ra cuộc khủng hoảng chính trị ở Đức Trong bối cảnh đó, các giai cấp thống trị Đức ngày càng ngả sang xu hướng phát xít hóa chế độ theo con đường của Hítle và Đảng Quốc xã…
Hệ tư tưởng của Đức Quốc xã không phải được hình thành ngay một lúc, mà trải qua một quá trình tự biến hóa, xuất phát từ những luận điểm ban đầu hết sức mị dân, “chống chủ nghĩa tư bản”, để lôi kéo quần chúng, nhưng càng về sau càng tiến gần đến các luận điểm của tư bản lũng đoạn Dần dần ba bộ phận của hệ tư tưởng phát xít được hình thành:
Trang 34Thuyết địa lí – chính trị phát xít: coi các yếu tố địa lí, nhất là yếu tố lãnh thổ quyết định sự hùng mạnh của một nước, từ đó đề ra lý thuyết “không gian sinh tồn”
Thuyết chủng tộc phát xít: coi chủng tộc Giécman là “chủng tộc thượng đẳng” có sứ mệnh thống trị các “chủng tộc hạ đẳng” khác
Thuyết “chủ nghĩa xã hội quốc gia”: đây là luận điệu mị dân để lừa gạt quần chúng, đối lập với CNXH khoa học Chúng tự coi là kẻ thù tử thù của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Mác
Hệ tư tưởng đó phù hợp với tham vọng bành trướng xâm lược của giai cấp thống trị Đức và tinh thần chống Cộng, chống Liên xô của các giai cấp tư sản phản động quốc tế, nên Hitle dần dần được tất cả các lực lượng phản động trong nước và quốc tế ủng hộ
Trên vũ đài chính trị, trong bối cảnh của một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng chưa từng có, đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các lực lượng công nhân, dân chủ và các lực lượng phát xít Hai đảng công nhân là Đảng XHDC và Đảng Cộng sản có ảnh hưởng lớn trong quần chúng Đảng XHDC chiếm đa số và những vị trí quyết định trong bộ máy nhà nước ở trung ương cũng như địa phương, trong Quốc hội, trong quân đội, cảnh sát và có những tổ chức quần chúng lớn mạnh (tổ chức Cờ đế quốc “Reichbanner” gồm hàng triệu thành viên có vũ trang) Đảng Cộng sản do E.Tenlơman lãnh đạo cũng lớn lên nhanh chóng và cũng có những tổ chức vũ tranh của mình (“Liên đoàn các chiến sĩ đỏ”) Đảng Cộng sản đã công bố “Cương lĩnh giải phóng nhân dân Đức về mặt xã hội và chính trị” vào năm 1930 Do đó uy tín của Đảng ngày càng được nâng cao Nhưng ảnh hưởng của Đảng XHDC trong quần chúng vẫn lớn hơn và đảng này lại không chịu hợp tác với Đảng Cộng sản, khiến cho giai cấp công nhân Đức bị chia rẽ trầm trọng
Đảng Quốc xã lợi dụng sự chia rẽ của các Đảng công nhân dùng chính sách mị dân về “quốc gia” và “xã hội” để lừa bịp quần chúng, nhờ đó Đảng này đã lớn mạnh lên Quá trình phát xít hóa ở Đức trải qua 3 chính phủ quá độ:
Chính phủ Bruning (từ 3-1930 Ỉ 5-1932) đây là chính phủ nửa phát xít
Chính phủ Phôn Papen (5-1932 Ỉ 12-1932) là chính phủ của bá tước và quý tộc Iuncơ Chính phủ Hôn Xlâykhơ (12-1932 Ỉ1-1933) là chính phủ của các tướng lĩnh quân đội Giới phản động nhất của tư bản tài chính quyết định đưa Đảng Quốc xã lên nắm chính quyền 29-1-1933, Hitle được cử làm thủ tướng
a2) Nước Đức dưới ách phát xít Hitle (1933 – 1939):
Hitle và Đảng Quốc xã lên nắm chính quyền mở đầu thời kì đen tối nhất trong lịch sử nước Đức Hitle thủ tiêu nền dân chủ tư sản thiết lập nền chuyên chính khủng bố công khai, truy nã các lượng lượng tiến bộ cách mạng, xây dựng nền kinh tế chỉ huy và ráo riết chuẩn bị chiến tranh