Trong đó, tài sản cố định là những tài sản có giá trị kinh tế lớn trên 10,000,000 VNĐ và được sử dụng trong thời gian dài trên một năm bởi vậy việc sử dụng tài sản cố định có ảnh hưởng l
Trang 1lêi Më §Çu
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, trong quá trình tham gia vào hoạt
động sản xuất kinh doanh đều phải sử dụng một hệ thống các tài sản sao cho phù hợp nhất với chu trình sản xuất kinh doanh và mang lại hiệu quả tối ưu nhất cho doanh nghiệp Nhưng để có thể xác định được nhu cầu mua thêm tài sản mới và sử dụng tối ưu những tài sản này thật không đơn giản? Mặt khác,
để có thể đưa ra quyết định nên mua tài sản nào, giá trị bao nhiêu, có phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp, có đáp ứng được kỳ vọng của doanh nghiệp không? Đó đều là những vấn đề đặt ra đòi hỏi các nhà quản trị trong doanh nghiệp cần phải đưa ra những quyết định sao cho hữu hiệu nhất
Tài sản trong doanh nghiệp được phân chia làm hai loại: tài sản cố định
và tài sản lưu động Trong đó, tài sản cố định là những tài sản có giá trị kinh
tế lớn (trên 10,000,000 VNĐ) và được sử dụng trong thời gian dài (trên một năm) bởi vậy việc sử dụng tài sản cố định có ảnh hưởng lâu dài đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để có thể hạn chế được những rủi ro đối với khoản vốn đầu tư phải bỏ ra cho những tài sản đó, đòi hỏi nhà quản trị phải thiết lập những dự án đầu tư cho từng tài sản trong đó phân tích rõ chi phí, thu nhập nhằm dự đoán được một cách tương đối về kết quả mang lại của
dự án, lợi ích thu được từ việc sử dụng tài sản
Xuất phát từ việc xác định được vai trò và tầm quan trọng của công tác xây dựng các dự án đầu tư tài sản cố định trong mỗi doanh nghiệp, bởi vậy trong thời gian nghiên cứu môn học quản trị dự án đầu tư, với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn: T.S Vò ThÕ B×nh, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “
Ph©n tÝch dự án đầu tư cầu trục bốc xếp hàng bách hoá ở Cảng Hải Phòng”
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CẦU TRỤC BỐC XẾP HÀNG BÁCH HOÁ Ở CẢNG HẢI PHÒNG
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.1 KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ
Hoạt động đầu tư có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau Đầu tư theo nghĩa hẹp bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế- xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó Còn theo nghĩa rộng, đầu tư được hiểu là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực
Ở góc độ quản lý vĩ mô, hoạt động đầu tư vốn là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng để tạo ra các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, của địa phương, của ngành, của
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng
Còn theo khoản 1 điều 3 luật đầu tư: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành lên các tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật
Như vậy về bản chất, hoạt động đầu tư là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu tố cơ bản nhằm tiến hành sản xuất kinh doanh Do đó đối với nền kinh tế, hoạt động đầu tư là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất kĩ thuật của nền kinh tế Đối với chủ đầu tư, hoạt động đầu tư là một bộ phận trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật mới, duy trì hoạt động của cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có và là điều kiện
Trang 3để phát triển sản xuất kinh doanh.
1.1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐẦU TƯ
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực của nền kinh tế để tiến hành các hoạt động nào đó, với mục đích thu về một kết quả lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra
Ba là, tăng thêm về nguồn lực con người có đủ điều kiện làm việc với năng suất và chất lượng cao
Trong các kết quả nêu trên, việc tăng thêm tài sản trí tuệ, nhân lực có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi đối với các chủ đầu tư cũng như đối với nền kinh tế bởi vì:
*Đối với các tổ chức, các cá nhân thì kết quả của việc đầu tư sẽ quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh
*Đối với nền kinh tế thì kết quả của việc đầu tư sẽ quyết định sự phát triể của nền kinh tế xã hội và nó cũng là chìa khoá cho sự tăng trưởng
Nói chung, mục tiêu của công cuộc đầu tư là phải đạt kết quả lớn hơn so với sự hy sinh mà nhà đầu tư phải gánh chịu để thực hiện nó Do đó đối với từng cá nhân, từng doanh nghiệp, đầu tư là yếu tố quyết định sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là chìa khoá của sự tăng trưởng
1.1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VỐN
-Thời gian thực hiện đầu tư thường kéo dài trong nhiều năm
-Số tiền cần cho đầu tư là khá lớn nhưng không vận động trong suốt quá trình thực hiện đầu tư
-Thành quả đem lại được sử dụng trong nhiều năm và lợi ích thu được
Trang 4phải bằng hoặc lớn hơn chi phí đã bỏ ra thì việc đầu tư mới có hiệu quả.
-Nhiều thành quả của đầu tư có thể được sử dụng hàng trăm năm, hàng nghìn năm Ví dụ như những kim tự tháp Ai Cập cổ đại đã tồn tại trên hàng nghìn năm, hay Vạn lý trường thành của Trung Quốc cũng đã được sử dụng qua nhiều thế kỷ và đến nay nó vẫn là một trong những kỳ quan của thế giới.-Các kết quả của hoạt động đầu tư chủ yếu sẽ được thực hiện ngay tại nơi
mà nó được hoàn thành
-Quá trình thực hiện của công cuộc đầu tư có rất nhiều công việc phải làm, đòi hỏi phải sử dụng kiến thức kinh tế- kĩ thuật của nhiều ngành, đòi hỏi phải sử dụng phối hợp hoạt động của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực và toàn bộ công cuộc đầu tư cùng với các nguồn lực phải hy sinh rất lớn Thời gian thực hiện đầu tư dài, thời gian cần để cho các kết quả đầu tư hoạt động đảm bảo thu hồi đủ vốn đầu tư đã bỏ ra hay để các lợi ích thu được từ các kết quả đầu tư tương xứng hoặc lớn hơn những hy sinh mà nền kinh tế đã bỏ ra
1.1.4 KHÁI NIỆM DỰ ÁN ĐẦU TƯ
-Theo hình thức, dự án đầu tư là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một
cách chi tiết có hệ thống các hoạt động về chi phí theo kế hoạch nhằm đạt được kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
-Theo góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng
vốn, vật tư, lao động để tạo ra những kết quả về tài chính, kinh tế- xã hội trong thời gian dài
-Ở góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi
tiết, một công cuộc đầu tư cho sản xuất kinh doanh đồng thời làm tiền đề để cho việc ra quyết định đầu tư và tài trợ cho dự án
-Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan
với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra bằng việc tạo ra các kết quả đầu tư trong một thời gian nhất định
-Theo luật đầu tư, dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn chung và
dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian xác định
Trang 51.1.5 ĐẶC ĐIỂM CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Hoạt động đầu tư rất đa dạng về hình thức, bởi vậy có nhiều kiểu dự án đầu tư khác nhau, mỗi một loại dự án đầu tư lại mang những đặc điểm riêng Nhưng nhìn chung một dự án đầu tư đều có những đặc điểm sau đây:
-Một dự án kinh doanh không phải là những nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng mà nó phải cấu trúc lên một thực thể mới mà thực thể mới này trước đây chưa có hoặc không sao chép một cách nguyên bản những cái đã
có Dự án khác dự báo ở chỗ người làm công tác dự báo không có ý định can thiệp khi có những biến cố xảy ra Đối với dự án đòi hỏi phải có sự tác động tích cực của các bên tham gia, dự án được xây dựng trên cơ sở dự báo khoa học
-Hoạt động của dự án là những hoạt động trong tương lai mà theo thời gian có nhiều yếu tố xảy ra không xét đến hoặc xét đến chưa đầy đủ và vì vậy tất cả các dự án đều ở trạng thái không ổn định và luôn luôn tiềm ẩn những rủi ro có thể xảy ra
1.1.6 VAI TRÒ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
-Góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội của Nhà nước, đóng góp vào sản phẩm xã hội vào mức tăng trưởng của nền kinh tế
-Do mở ra các hoạt động kinh doanh mới nên tạo ra nhiều việc làm mới, thu hút được nhiều lao động và như vậy giảm được tỷ lệ thất nghiệp góp phần bảo đảm an ninh xã hội
-Công cụ để thực hiện mục tiêu phân phối qua những tác động của dự án đến quá trình điều tiết thu nhập theo nhóm dân cư và thu nhập
-Có tác dụng tích cực đến môi trường đó là đã tạo ra một môi trường kinh
tế năng động, đẩy mạnh giao lưu kinh tế giữa các vùng, các địa phương
-Góp phần thực hiện các mục tiêu khác của nền kinh tế như việc hình thành nâng cấp kết cấu cơ sở hạ tầng, làm thay đổi cơ cấu theo hướng tích cực
Trang 61.2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN
DỰ ÁN ĐẦU TƯ CẦU TRỤC BỐC XẾP HÀNG BÁCH HOÁ Ở CẢNG HẢI PHÒNG
Dự án đầu tư cầu trục bốc xếp hàng bách hoá ở Cảng Hải Phòng chịu nhiều yếu tố tác động khác nhau của môi trường
Thứ nhất xét về môi trường thiên nhiên, do cầu trục được lắp đặt ở gần cầu cảng nên sẽ không tránh khỏi những tác động không tốt từ môi trường thiên nhiên như nắng, mưa thất thường làm giảm khả năng sản xuất của cầu trục Do đó đòi hỏi Cảng phải bố trí công nhân hoặc thuê dịch vụ bên ngoài
để bảo dưỡng cầu trục hàng năm nhằm duy trì khả năng hoạt động của cầu trục hạn chế được những tác động không tốt từ môi trường thiên nhiên bên ngoài
Thứ hai xét về môi trường khoa học- kĩ thuật, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật nên càng ngày các cầu thiết bị bốc xếp ngày càng được thiết kế hiện đại tăng khả năng bốc xếp hàng hoá Điều này được thể hiện ở khối lượng nâng hàng trong mỗi chu kỳ ngày càng nhiều, thời gian để thực hiện một chu kỳ bốc xếp hàng ngày càng ngắn lại do đó làm tăng năng suất hoạt động của cầu trục đáp ứng được nhu cầu bốc xếp hàng hoá thông cảng ngày càng gia tăng Mặt khác cầu trục được sử dụng trong một thời gian dài thường là từ 7 đến 10 năm, bởi vậy không tránh khỏi rủi ro hao mòn vô hình làm giảm giá trị của cầu trục khi mới sử dụng được 1- 2 năm
Thứ ba xét về môi trường kinh tế, do Việt Nam đã gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam trở thành một bộ phận của nền kinh tế thế giới, các rào cản
về thuế quan được dỡ bỏ bởi vậy hàng hoá thông Cảng sẽ ngày càng tăng điều này đòi hỏi các thiết bị xếp dỡ sẽ phải hoạt động hết công suất để nhanh chóng chuyển tải hàng hoá, tránh tình trạng quá tải ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Cảng Hải Phòng Mặt khác, do lĩnh vực khai thác cảng đang
là một trong những sách phát triển nền kinh tế đất nước, bởi vậy trong nước ngày càng có nhiều cảng biển được xây dựng và đi vào hoạt động với quy mô tương đối lớn Do đó, Cảng Hải Phòng sẽ phải nâng cao chất lượng dịch vụ
Trang 7bốc xếp hàng hoá nhằm khẳng định uy tín hiện có, tiếp tục cạnh tranh với các cảng biển trong nước cũng như trong khu vực Vì vậy đầu tư các thiết bị bốc xếp hàng hoá hiện đại là một trong những chủ trương phát triển Cảng Hải Phòng.
1.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HÀNG HOÁ ĐƯỢC BỐC XẾP HÀNG HOÁ TẠI CẢNG HẢI PHÒNG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
kể đến như: Công ty TNHH VTB Phượng Hoàng, Công ty Vận Tải Biển Đông, Công ty TNHH giao nhận vận chuyển container quốc tế, Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty Vật tư nông sản Hà Nội, Công ty TMDV Xuất nhập khẩu Hải Phòng, Công ty CP Thương mại và vận tải Thái Hà, Công ty phân bón Miền nam, Công ty Vận tải biển Việt Nam…
Trang 81.3.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CẠNH TRANH
Vì hoạt động trong lĩnh vực khai thác cảng- một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu ở những nước có đường bờ biển dài, bởi vậy hoạt động kinh doanh của Cảng Hải Phòng luôn luôn phải cạnh tranh không ngừng với các cảng biển trong nước cũng như trong khu vực Đông Nam Á Trong những năm gần đây, do chính sách ưu tiên phát triển lĩnh vực khai thác cảng của nhà nước nên có nhiều cảng biển trong nước được xây dựng và đi vào hoạt động với quy mô tương đối lớn Bởi vậy để có thể nối tiếp những thành công trong quá khứ, duy trì vị thế cảng biển hàng đầu của miền Bắc nói riêng và của Việt Nam nói chung, Cảng Hải Phòng phải không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng đang ngày một tăng cao Tuy nhiên, trong thời gian gần đây do sự gia tăng quá cao của lượng hàng thông cảng đã tạo nên một số hình ảnh tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín của Cảng Hải Phòng Điều này thể hiện ở chỗ, thủ tục xuất nhập hàng hoá qua Cảng tương đối rườm rà, các doanh nghiệp nếu muốn hàng được mong chóng chuyển tải phải mất thêm những khoản “phí đen” cho các cán bộ, nhân viên phụ trách cho các khâu thủ tục Bởi vậy mà đã có nhiều phản hồi không tốt từ phía khách hàng về vấn đề trên “không tiền xâu hàng còn nằm lâu” Điều này
có thể cho thấy Cảng Hải Phòng đang hình thành một bộ phận không nhỏ các cán bộ chuyên trách thiếu đạo đức nghề nghiệp, và nếu tình trạng này không được xử lý triệt để trong tương lai thì rất có thể Cảng Hải Phòng sẽ không thể cạnh tranh được với các cảng khác ở trong nước Tuy nhiên cũng phải nói rằng để khắc phục tình trạng quá tải hiện nay, Cảng Hải Phòng đã không ngừng đổi mới, thay thế tài sản (mà đặc biệt là các thiết bị bốc xếp, phương tiện vân chuyển hàng hoá) để từng bước tăng khả năng bốc xếp hàng hoá thông cảng Đồng thời, Cảng Hải Phòng đang gấp rút hoàn thiện khu Cảng tổng hợp Đình Vũ và dự án khu chuyển tải Bến Gót- Lạch Huyện nhằm đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá qua cảng, giải quyết triệt để tình trạng quá tải hiện nay Hiện nay, Cảng Hải Phòng đang phải cạnh tranh với một số cảng biển như: cảng Cẩm Phả, Cảng Quảng Ninh, Cảng Nghi Sơn-
Trang 9Thanh Hóa, Cảng Nghệ Tĩnh, Cảng Hà Tĩnh, Cảng Đà Nẵng…
1.3.3 PHÂN TÍCH CÁC ĐỊNH CHẾ PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN
Một trong những vấn đề “nổi cộm” trong các định chế pháp luật Việt Nam hiện nay đó là việc quy định các cước phí cảng biển của Nhà nước do
Bộ Tài Chính ban hành Biểu phí, lệ phí hàng hải và giá dịch vụ cảng biển do
Bộ Tài Chính ban hành kèm theo Quyết định số 61/2003/QĐ/BTC ngày 25/4/2003 có nhiều thiếu xót và hiện nay không còn phù hợp
Thứ nhất, hầu hết các cảng trong khu vực và trên thế giới chỉ thu một loại phí duy nhất (Port dues) tính theo tải đăng ký (GRT) của tàu Còn ở ta lại đang lưu hành tới 7 loại phí khác nhau, trong đó có những phí không phù hợp hoặc dùng từ không chính xác như phí “neo đậu hàng hoá”- hàng hoá sao có thể neo đậu được??? Hay như phí kẹp chì cũng vậy, 5.000 đồng/lượt, thử hỏi tiền chì, công cụ nhân công là bao nhiêu mà tồn tại chi phí này, tại sao không tính gộp vào một khoản nào đó???
Hai là, bản chất của giá cước là giá dịch vụ do người cung cấp dịch vụ chào bán và sử dụng trả sau khi hai bên đã thoả thuận Các cảng biển Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ về số lượng nên đã và đang xuất hiện sự cạnh tranh bằng giảm giá cước với tốc độ ngày càng nhanh, nguy cơ “phá giá” đang tiềm ẩn Vấn đề này đã dẫn đến việc các cảng giảm chất lượng dịch vụ, giảm sức đầu tư và không còn khả năng để gánh nợ vốn vay trong và ngoài nước Có thể lấy ví dụ như sau: trong lúc giá vận tải hàng Container tăng lên
từ 20%-30% so với mặt bằng trước đây mà giá cước xếp dỡ container cứ giảm như hiện nay thì chỉ có chủ tàu nước ngoài là có lợi Đơn giản là vì cước xếp dỡ container là do hãng tàu nước ngoài trả trực tiếp cho cảng Như vậy cũng có nghĩa là dù có tăng cước xếp dỡ container cũng chẳng ảnh hưởng
gì đến sự cạnh tranh của hàng hoá xuất nhâp khẩu của nước ta
Ba là, lạm phát đã tăng cao so với trước đây, trong khi giá cước cứ đua nhau giảm như vậy có thể sống xót ở hiện tại nhưng lấy đâu ra vốn để phát triển trong tương lai? Để đầu tư một bến container với công suất 50.000-70.000 TEU/NĂM, cần phải có khoảng 40-50 triệu USD Với mặt bằng giá
Trang 10hiện nay thì các doanh nghiệp cảng của chúng ta không thể nào đủ sức để tham gia đầu tư được, do vậy phải trông chờ vào vốn ngân sách hoặc vay vốn
ưu đãi ODA
Như vậy, một điều bức thiết cần đặt ra với các chính sách pháp luật của nước ta hiện nay đó là, Nhà nước và các bộ ban ngành phải điều chỉnh lại giá xếp dỡ các cảng nước ta, khắc phục tình trạng phá giá cước như hiện nay vừa không kích thích phát triển lại gây thiệt hại kinh doanh cho các cảng trong nước Ngoài ra, Nhà nước nên tiếp tục ban hành chế độ một giá có sự điều tiết tăng từ 10-15% tuỳ theo từng khu vực để tránh tình trạng “thi đua” giảm giá như hiện nay Điều này là hoàn toàn hợp lý với điều kiện kinh tế hiện nay bởi các cảng biển cùng với khách hàng sẽ tự ký kết hợp đồng thoả thuận về giá cước sao cho phù hợp với điều kiện nền kinh tế Nhà nước nên nới rộng biên độ giao động giá cước phí, không nên áp đặt cước phí như thời điểm hiện tại nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể chủ động trong việc thoả thuận về giá cước với khách hàng qua đó tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho
sự phát triển lâu dài của lĩnh vực khai thác cảng biển của nước ta
1.3.4 DỰ BÁO NHU CẦU XẾP DỠ HÀNG HOÁ Ở CẢNG HẢI PHÒNG 1.3.4.1 TỔNG NHU CẦU
Như đã đề cập ở trên, do nhiều tác động tốt từ môi trường kinh doanh, đồng thời với những thành công đã đạt được trong quá khứ cùng những nỗ lực, cố gắng không ngừng của Cảng Hải Phòng mà trong những năm qua nhu cầu bốc xếp hàng hoá không ngừng tăng, không những thế tính đến thời điểm hiện tải hàng hoá thông cảng đã tới mức “quá tải”, hàng hoá phải “nằm chờ” đợi tới lượt mới được bốc xếp Thực tế cho thấy suốt nhiều năm nay, sản lượng hàng hoá thông Cảng Hải Phòng đều có mức tăng rất mạnh Dù cảng
đã đầu tư rất lớn để nâng cao năng lực xếp dỡ nhưng sản lượng hàng thông qua năm nào cũng tăng vượt kế hoạch đề ra dẫn tới sự quá tải cho cảng Đặc biệt từ giữa năm 2007 đến nay, tình trạng này càng trầm trọng hơn Chưa hết tính đến tháng 6/2008, tổng lượng hàng hoá thông qua Cảng Hải Phòng đã là
Trang 11trên 13,7 triệu tấn, tăng gần 60% so với cùng kỳ năm 2007 Trong đó, riêng hàng nhập khẩu hết tháng 5/2008 đã là 6,5 triệu tấn hàng hoá, vượt 22% mức
dự kiến và tăng 25% so với cùng kỳ năm 2007 Hiện trên khu vực cảng chính của Cảng Hải Phòng luôn tồn đọng từ 160.000- 200.000 tấn hàng, riêng khu vực cảng container Chùa Vẽ, hàng container cũng tồn đọng tới 18.000 TEUS Qua những phân tích ở trên có thể thấy tổng nhu cầu bốc xếp ở Cảng Hải Phòng đang là rất lớn cho dù Cảng có cố gắng phát huy hết năng lực sản xuất của các thiết bị bốc xếp, phương tiện vận tải truyền dẫn hiện tại thì vẫn không thể đáp ứng được mức nhu cầu bốc xếp hàng hoá liên tục tăng như hiện nay Theo phân tích, dự báo của các chuyên gia thì trong những năm sắp tới, tổng nhu cầu bốc xếp hàng bách hóa tại Cảng Hải Phòng là 20 triệu tấn mỗi năm
Bảng tính dưới đây thể hiện các thông số cơ bản về 2 cầu trục A và cầu trục
B
CẦU TRỤC A
CẦU TRỤC B
Trang 125 GIÁ TRỊ CỦA CẦU TRỤC TỶ ĐỒNG 45 46
Trang 13CHƯƠNG 2: LẬP PHƯƠNG ÁN SẢN XUẤT KINH DOANH
2.1 LẬP SƠ ĐỒ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
Hiện nay, ở Cảng Hải Phòng mỗi phải ngày có tới một khối lượng lớn hàng hoá được thông cảng, các hàng hoá được bốc xếp qua cảng thường rất
đa dạng Cầu trục có thể bốc xếp hàng rời (tính theo đơn vị Tấn) và hàng container (tính theo đơn vị TEU) Nhìn một cách tổng quát hàng hoá qua cảng được bốc xếp theo sơ đồ công nghệ sản xuất như sau:
Quy trình công nghệ sản xuất bao gồm các bước sau:
Bước 1: Hàng từ tàu sẽ được cầu trục móc và chuyển tới bãi để hàng hoặc cho trực tiếp lên xe ô tô
Bước 2: Sau khi hàng được bốc lên xe ô tô sẽ được chuyển vào kho hoặc được vận chuyển trực tiếp đến địa điểm giao hàng đã thoả thuận với khách hàng
Quy trình trên cũng sẽ được thực hiện ngược lại trong trường hợp chuyển hàng từ kho lên tàu
2.2 TÍNH KHẢ NĂNG THÔNG QUA CỦA CẦU TRỤC
Khả năng thông qua của cầu trục sẽ được tính theo công thức sau:
Trang 141 Năng suất giờ của cầu trục
h ck
T
Trong đó:
P h: là ký hiệu năng suất giờ của cầu trục (TẤN/GIỜ)
G h: lả trọng lượng một lần nâng của cầu trục (TẤN/LẦN NÂNG)
T ck: là thời gian một chu kỳ của cầu trục (PHÚT/CHU KỲ)
*Áp dụng công thức trên ta có năng suất giờ của cầu trục A là:
33 , 33 5
* 9
P ca: là ký hiệu năng suất ca của cầu trục (TẤN/CA)
P h: Năng suất giờ làm việc của cầu trục (TẤN/GIỜ)
T ca: Thời gian làm việc của một ca (GIỜ)
T ng: Thời gian ngưng hoạt động và hoạt động không có ích của cầu trục tính trung bình trong một ca bao gồm các thành phần thời gian như thời gian nghỉ giữa ca, thời gian chạy thử, thời gian bảo dưỡng cầu trục
Theo quy định của Cảng Hải Phòng thì T ca= 8 TIẾNG/CA
Còn thời gian ngừng việc tối đa trong một ca là: T ng= 1 TIẾNG/CA
*Áp dụng công thức trên ta có năng suất ca của cầu trục A là:
33 , 233 ) 1 8 ( 33 ,
*33,
=
ng
Trang 154 Năng suất năm của cầu trục
P năm = P ngày * T kt
Trong đó:
T kt: là số ngày khai thác trong năm (NGÀY/NĂM)
Theo dự kiến của Cảng Hải Phòng thì mỗi năm cầu trục sẽ được khai thác
315 ngày có nghĩa là T kt = 315 NGÀY/NĂM
*Áp dụng công thức trên ta có năng suất năm của cầu trục A là:
P năm=700*315=220.500 (TẤN/NĂM)Tính toán tương tự đối với cầu trục B ta có bảng tính năng suất của 2 cầu trục như sau:
TRỤC A
CẦU TRỤC B
Trang 162.3 TÍNH NHU CẦU CẦU TRỤC VÀ TỔNG VỐN ĐẦU TƯ BAN ĐẦU
Như đã phân tích ở phần 1.3.4.2 nhu cầu bốc xếp hàng hoá ở Cảng Hải Phòng theo tính toán là 400,000 tấn mỗi năm Trong khi đó khả năng thông qua của cầu trục (được trình bày ở phần trên) chỉ là hơn 200,000 tấn mỗi năm, như vậy vẫn chưa đủ để đáp ứng được tổng nhu cầu của dự án Như vậy, để đáp ứng được tổng nhu cầu bốc xếp hàng hóa hiện nay cần phải có số lượng cầu trục là:
tt
nc Q
Q
n =
Trong công thức trên:
n là số lượng cầu trục cần có
Qnc là khối lượng hàng hóa cần bốc xếp trong năm
Qtt là khối lượng hàng hóa mà một cầu trục có thể bốc xếp trong năm
o Đối với dự án cầu trục A cần có số lượng cầu trục là:
814 1 220500
1 VỀ VỐN CỐ ĐỊNH
-Đây là số vốn mà Cảng Hải Phòng phải bỏ ra để có quyền sở hữu cũng như sử dụng cầu trục trong thời gian dự án hoạt động gồm toàn bộ các khoản
Trang 17*Giá mua của cầu trục (tính theo giá CIF tại Cảng Hải Phòng)
Đối với việc mua mới cầu trục A thì giá mua một chiếc cầu trục A là: 45.000.000.000 VNĐ, còn đối với cầu trục B là 46.000.000.000 VNĐ
*Chi phí lắp đặt chạy thử
Chi phí lắp đặt chạy thử của một cầu trục A được ước tính là: 1.100.000.000 VNĐ, còn đối với cầu trục B là 1.500.000.000 VNĐ
*Các khoản thuế, phí có liên quan khác
Các khoản thuế, phí được tính cho một cầu trục A là: 400.000.000 VNĐ.Còn đối với cầu trục B các khoản này được tính là: 500.000.000 VNĐ.-Vậy tổng vốn cố định đầu tư cho dự án cầu trục A là:
000 000 500 46 000 000 400 000 000 100 1 000 000
3 TỔNG VỐN ĐẦU TƯ BAN ĐẦU
Tổng vốn đầu tư ban đầu = Vốn cố định + Vốn lưu động
-Đối với cầu trục A:
46.500.000.000+800.000.000=47.300.000.000(VNĐ)
-Đối với cầu trục B là:
Tổng vốn đầu tư ban đầu = 48 000 000 000 + 1 000 000 000 = 49 000 000 000
(VNĐ)
Trang 182.4 TÍNH CHI PHÍ KHAI THÁC
Các khoản chi phí phải chi ra để khai thác cầu trục mỗi năm gồm có:
1 CHI PHÍ ĐIỆN NĂNG: đây là số tiền phải chi để thanh toán tiền điện
để khai thác cầu trục Chi phí này được tính như sau:
C dn = Q dn *Đ*T
Trong đó:
Q dn: là mức tiêu hao điện năng trong một giờ của cầu trục (KW/GIỜ)
Đ: là đơn giá một số điện (ĐỒNG/KWh).
Theo quy định của công ty Điện lực Hải Phòng thì Đ= 2000
ĐỒNG/KWh
T: là tổng thời gian làm việc thực tế trong năm của cầu trục.
-Áp dụng công thức trên ta có chi phí điện năng hàng năm của cầu trục A là:
000 280 476 315
* 3
* 7
* 2000
* 100 / 5
4 BẢO HIỂM XÃ HỘI: đây là khoản trích nộp theo lương bắt buộc theo quy đinh của Nhà nước và được tính bằng 19% lương công nhân
5 CHI PHÍ BẢO HIỂM TÀI SẢN: chi phí này phải chi ra mỗi năm nhằm tránh những rủi ro có thể xảy ra cho dự án trong thời gian hoạt động Chi phí này được dự tính cho dự án cầu trục A là 100,500,000 VNĐ và cho cầu trục B 102,700,000 VNĐ
6 CHI PHÍ BẢO DƯỠNG: là chi phí nhằm duy trì khả năng làm việc của cầu trục mỗi năm, chi phí này được lấy bằng 0.15% nguyên giá mỗi năm
Trang 19Tính cho cầu trục A ta có chi phí bảo dưỡng hàng năm là:
000 750 69 100 / 15 0
* 000 000 500
Như vậy chi phí này được tính theo công thức sau:
n
G NG
C kh = −
Trong đó:
NG: là nguyên giá của cầu trục (bao gồm giá mua, chi phí lắp đặt, chạy
thử, chi phí vận chuyển và các khoản liên quan khác) (VNĐ)
G: là giá trị còn lại ước tính của cầu trục sau thời gian khai thác (9 năm),
giá trị này dự tính là 10% nguyên giá (VNĐ)
n: là số năm sử dụng cầu trục (NĂM).
Áp dụng công thức trên ta có chi phí khấu hao hàng năm của cầu trục A là:
000 000 650 4 9
000 000 500 46
* 0 000 000 500
=
kh
Tính toán tương tự từng khoản mục chi phí trên đối với cầu trục B ta thu
được các kết quả trình bày chi tiết ở Bảng
Trang 20CHI PHÍ KHAI THÁC HÀNG NĂM CỦA MỖI DỰ ÁN
Đơn vị tính:
VNĐ
TỔNG CỘNG 6,289,530,000 6,498,510,000