Công ty đang có kế hoạch mở rộng hơn nữa hoạt động sảnxuất kinh doanh, cho nên việc quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn lưu độngđược coi là một vấn đề thời sự đặt ra cho các nhà quản trị d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH
Tiểu luận
Tài chính doanh nghiệp 1
ĐỀ TÀI: Vốn lưu động và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Giáo viên hướng dẫn: Trần Thị Phương Thảo
Trang 2Sinh viên thực hiện: Lương Đức Thành
Lớp Tài chính- Ngân hàng K10A
Hải Phòng, tháng 11 năm 2011
MỞ ĐẦU
VLĐ là điều kiện không thể thiếu khi tiến hành các hoạt động sản suất kinhdoanh của bất kỳ một doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế nào Ở bất kỳ doanhnghiệp nào, VLĐ được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm bảo đảmcho hoạt động sản suất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục.nhưng vấn đề chủ yếu là là doanh nghiệp phải làm như thế nào để tăng thêmhiệu quả sử dụng cho VLĐ Chính vì thế, việc quản lý VLĐ được xem xét dướigóc độ hiệu quả, tức là xem xét sự luân chuyển của VLĐ, sự ảnh hưởng của cácnhân tố khách quan và chủ quan đến hiệu quả sử dụng VLĐ Việc nâng caohiệu quả sử dụng VLĐ cũng là hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi
mà đất nước đang trong giai đoạn nền kinh tế thị trường rất cần vốn để hoạtđộng sản xuất kinh doanh không chỉ để tồn tại, thắng trong cạnh tranh mà cònđạt được sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu Một thực trạng nữa hiện nay ở cácdoanh nghiệp đó là chưa đảm bảo được nhu cầu VLĐ và tình trạng thiếu VLĐdiễn ra liên miên gây căng thẳng trong quá trình sản xuất
Cũng như các doanh nghiệp khác, công ty bánh kẹo Hải Hà là một doanhnghiệp sản xuất kinh doanh nhưng có tỷ lệ vốn lưu động trong vốn kinh doanhchiếm một tỷ lệ lớn Công ty đang có kế hoạch mở rộng hơn nữa hoạt động sảnxuất kinh doanh, cho nên việc quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn lưu độngđược coi là một vấn đề thời sự đặt ra cho các nhà quản trị doanh nghiệp Quaquá trình tìm hiểu và được sự chỉ bảo của cô giáo hướng dẫn em đã từng bướchọc hỏi được nhiều điều và biết vận dụng lý thuyết vào thực tế
Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình tại Công ty em xin mạnh dạn lựa
chọn đề tài: "Vốn lưu động và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động tại công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà" Ngoài phần mở đầu và kết
thúc, luận luận văn gồm ba chương:
Trang 3Chương I: Vốn lưu động và các chỉ tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng của doanh nghiệp
Chương II: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phầnbánh kẹo Hải Hà
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tạiCông ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Em xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô giáo Trần Thị Phương Thảo đãgiúp đỡ em hoàn thành bài tiểu luận này Trong quá trình nghiên cứu vấn đềtrên, do trình độ và khả năng có hạn nên bài viết này không thể tránh khỏinhững sai sót Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, các cô để hoànthành tốt bài tiểu luận này
CHƯƠNG I: VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC CHỈ TIÊU NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.
1.1 lý luận chung về VLĐ.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm.
Trong nền kinh tế thị trường, bất kì một doanh nghiệp nào cũng thực hiệnmột trong các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thương mại nhằm tạo ra cácsản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội với mục đích cuối cùng
là thu được lợi nhuận Doanh nghiệp có thể thực hiện một số hoặc tất cả cáccông đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận của mình
Và để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh này, doanh nghiệp cầnphải có các yếu tố sản suất như tư liệu sản xuất, đối tượng lao động, tư liệu laođộng và sức lao động Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp cácyếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ
Một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong quá trình sản suất đó là đốitượng lao động Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động là tàisản lưu động, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh TSLĐ luôn luônthay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ mộtlần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện.TSLĐ của doanh nghiệp gồm TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông
TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuấtđược liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư
Trang 4liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định Thuộc về TSLĐ sản xuấtgồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sảnphẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ
TSLĐ lưu thông gồm: sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốntrong thanh toán
Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lưuđộng sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vậnđộng không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục trongđiều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ Để hình thành nên TSLĐ, doanh nghiệpcần phải có một số vốn thích ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước
về những tài sản ấy được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Như vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất là số tiền ứng trước
về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo choquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động thường xuyên vận động chuyển hóa lần lượt qua nhiều hìnhthái Đối với doanh nghiệp sản xuất vốn lưu động từ hình thái ban đầu là tiền tệsang các hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dịch vụ,thành phẩm, hàng hoá vàcuối cùng quay trở lại hình thái tiền tệ ban đầu Đối với doanh nghiệp thươngmại sự vận động của vốn lưu động nhanh hơn, nó bắt đầu từ hình thái vốn bằngtiền chuyển sang hình thái hàng hóa và cuối cùng lại chuyển về hình thái tiền tệ.Quá trình đó gọi là sự tuần hoàn của vốn lưu động
Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại saumỗi chu kì kinh doanh
Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì kinh doanh vàvậy vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu trong quá trình sản xuấtkinh doanh
Vốn lưu động là công cụ phản ánh đánh giá quá trình vận động của vật tưcho nên thông qua tình hình luân chuyển vốn lưu động có thể kiểm tra đánh giámột cách kịp thời đối với các mặt dự trữ, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp
1.1.3 cách phân loại vốn lưu động.
* Phân loại theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán thể của vốn
Theo cách này vốn lưu động có thể chia thành hai loại:
Trang 5- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiềngửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoánngắn hạn
- Các khoản phải thu: thu từ khách hành là các khoản khách hàng nợ doanhnghiệp như bán hàng, cung ứng dịch vụ, bán trước, trả sau hoặc các trường hợpmua sắm vật tư khan hiếm doanh nghiệp ứng trước tiền mua cho người bán Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồnkho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
* Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành 3loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoảnnguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế,công cụ dụng cụ
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dởdang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thànhphẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý ); các khoản vốn đầu tư ngắnhạn(đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn ) các khoản thế chấp, kýcược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán(các khoản phải thu, cáckhoản tạm ứng )
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trongtừng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơcấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất
* Phân loại theo quan hệ sở hữu
Theo cách này người ta chia vốn lưu động thành 2 loại:
- Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt.Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau màvốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sách nhànước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty
cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổsung từ lợi nhuận doanh nghiệp
Trang 6- Các khoản nợ: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay cácnhân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua pháthành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán Doanh nghiệp chỉ cóquyền sử dụng trong một thời hạn nhất định
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp đượchình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay các khoản nợ Từ đó có cácquyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảmbảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp
* Phân loại theo nguồn hình thành
Nếu xét theo nguồn hình thành vốn lưu động có thể chia thành các nguồnnhư sau:
- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều
lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điêù lệ bổ sung trong quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữacác loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
- Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quátrình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết; là số vốn lưu động được hình thành từ vốngóp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh Vốn góp liêndoanh có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá theo thoảthuận của các bên liên doanh
- Nguồn vốn đi vay: vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tíndụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệpkhác
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, tráiphiếu
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệpthấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanhcủa mình Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụngcủa nó Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảmthấp chi phí sử dụng vốn của mình
* Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Theo cách này nguồn vốn lưu động được chia thành nguồn vốn lưu độngtạm thời và nguồn vốn lưu động thường xuyên
Trang 7- Nguồn vốn lưu động tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ yếu
để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trongquá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồmcác khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắnhạn khác
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằmhình thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết
Việc phân loại nguồn vốn lưu động như trên giúp cho người quản lý xem xéthuy động các nguồn vốn lưu động một cách phù hợp với thời gian sử dụng đểnâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp mình Ngoài ra
nó còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những
dự định về tổ chức nguồn vốn lưu động trong tương lai, trên cơ sở xác định quy
mô, số lượng VLĐ cần thiết để lựa chọn nguồn vốn lưu động này mang lại hiệuquả cao nhất cho doanh nghiệp
1.1.4 Kết cấu vốn lưu động.
Kết cấu vốn lưu động: là quan hệ tỷ lệ giữa các loại vốn lưu động cá biệttrong tổng số vốn lưu động Kết cấu vốn lưu động của các doanh nghiệp khácnhau sẽ khác nhau Vì vậy việc phân tích kết cấu vốn lưu động trong từngdoanh nghiệp cũng không giống nhau
Về cơ bản vốn lưu động của một doanh nghiệp có kết cấu như sau:
a) Vốn bằng tiền: gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tại quỹ, tiền đang
chuyển ở các nước phát triển thị trường chứng khoán thì chứng khoán ngắn hạncũng được xếp vào khoản mục này Vốn bằng tiền được sử dụng để trả lươngcho công nhân, mua sắm nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trảnợ…
Tiền mặt nếu không đưa vào trong lưu thông sẽ không tạo ra lợi nhuận Tuynhiên, trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việc giữ tiền mặt là cầnthiết Khi doanh nghiệp giữ đủ lượng tiền mặt cần thiết thì doanh nghiệp không
bị lãng phí vốn tiền mặt,vừa có được lợi thế trong kinh doanh lại đảm bảo đượcchi tiêu cho quá trình sản suất
b) Đầu tư ngắn hạn: doanh nghiệp có thể sử dụng một phần vốn của mình để
đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn, đầu tư ngắn hạn như góp vốn liên doanhngắn hạn… nhằm mục tiêu sinh lợi Đặc biệt các khoản đầu ta chứng khoánngắn hạn của doanh nghiệp còn có ý nghĩa là bước đệm quan trọng trong việcchuyển hóa giữa tiền mặt và các tài sản có tính lợi kém hơn Điều này giúpdoanh nghiệp sinh lợi tốt hơn và huy động được một lượng tiền đủ lớn đảm bảonhu cầu thanh khoản
Trang 8c) Các khoản phải thu: Cạnh tranh là cơ chế của nền kinh tế thị trường Các
doanh nghiệp muốn đứng vững trong cơ chế cạnh tranh cần phải nỗ lực vậndụng các chiến lược cạnh tranh đa dạng, từ cạnh tranh giá đến cạnh tranh phigiá cả như hình thức quảng cáo, các dịch vụ trước, trong và sau khâu bán hàng.Mua bán chịu cũng là hình thức cạnh tranh khá phổ biến và có ý nghĩa quantrọng với các doanh nghiệp
d) Hàng tồn kho: Trong quá trình sản xuất, việc tiêu hao đối tượng lao động
diễn ra thường xuyên liên tục, nhưng việc cung ứng nguyên vật liệu thì đòi hỏiphải cách quãng, mỗi lần chỉ mua vào một lượng nhất định Do đó, doanhnghiệp phải thường xuyên có một lượng lớn nguyên vật liệu, nhiên liệu… nằmtrong quá trình dự trữ, hình thành nên khoản mục vốn dự trữ Vốn dự trữ là biểuhiện bằng tiền của nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, bánthành phẩm, bao bì, vật liệu bao bì… Loại vốn này thường xuyên chiếm tỷtrọng tương đối trong vốn lưu động
1.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào
để tồn tại cũng phải đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu Chính vì thế khi quyếtđịnh đầu tư về vốn lưu động cho quá trình sản xuất, các doanh nghiệp đều phảiquan tâm đến một vấn đề đó là hiệu quả sử dụng vốn lưu động và nâng cao hiệuquả vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả đem lại cao nhất khi mà số vốnlưu động cần cho một đồng luân chuyển là ít nhất Quan niệm này thiên vềchiều hướng càng tiết kiệm được bao nhiêu vốn lưu động cho một đồng luânchuyển thì càng tốt
Hiệu quả sử dụng VLĐ được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
1.2.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh tốc độ quản lý, sửdụng vốn lưu động của doanh nghiệp Nó thể hiện tình hình tổ chức về mọi mặtnhư: mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
- Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng gópphần giải quyết nhu cầu về vốn lưu động cho doanh nghiệp, góp phần nâng caohiệu quả sử dụng vốn
- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động bao gồm hai chỉ tiêu quan trọng là:
+ Vòng quay vốn lưu động
+ Tốc độ chu chuyển vốn lưu động
Trang 9* Vòng quay VLĐ : là chỉ số tính bằng tỷ lệ giữa doanh thu tiêu thụ trong
một kì chia cho vốn lưu động bình quân trong kì của doanh nghiệp Chỉ tiêu nàyphản ánh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động nhanh hay chậm, trong một chu
kì kinh doanh vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng
Vòng quay VLĐ =
+ Nếu vòng quay lớn hơn so với tốc độ quay trung bình của ngành chứng tỏ
hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao Nếu chỉ số này tăng so với những kì trướcthì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động luân chuyển vốn có hiệu quả hơn vàngược lại.Về phương diện hiệu quả sử dụng vốn lưu động chỉ tiêu này càng caocàng tốt Điều đó có nghĩa là vòng quay vốn lưu động càng nhiều cho thấydoanh nghiệp cần ít vốn lưu động cần thiết cho kinh doanh do đó có thể làmgiảm vốn lưu động đi vay nếu doanh nghiệp phải đi vay vốn lưu động để tiếnhành sản xuất kinh doanh Ý nghĩa của việc tăng nhanh vòng quay vốn lưuđộng mà vẫn đảm bảo được mức luân chuyển hàng hoá như cũ thì chỉ cần vớimột mức vốn lưu động thấp hơn hoặc với mức vốn lưu động như cũ thì đảm bảoluân chuyển được một khối lượng hàng hoá lớn hơn
ở một khâu nào đó, cần tìm biện pháp khai thông kịp thời
Trang 101.2.2.Hệ số đảm nhiệm của VLĐ (hàm lượng VLĐ ).
Hệ số đảm nhiệm của VLĐ =
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh để được một đồng doanh thu tiêuthụ thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng vốn lưu động Hệ số này càng thấp thìchứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao, số vốn lưu động tiết kiệmđược càng lớn
1.2.3 Tỷ suất sinh lợi của VLĐ (hay còn gọi là mức doanh lợi VLĐ):
Tỷ suất lợi nhuận của VLĐ = 100%
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng VLĐ tham gia vào hoạt động sản xuấtkinh doanh trong kỳ thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ( có thể tính chỉtiêu trước thuế hoặc sau thuế) Chính vì được xây dựng trên cơ sở lợi nhuận củadoanh nghiệp, nên chỉ tiêu này càng cao cho biết doanh nghiệp đã sử dụng vốnlưu động có hiệu quả, ngược lại chỉ tiêu này thấp có nghĩa là lợi nhuận trên mộtđồng vốn là nhỏ Từ đó mà doanh nghiệp sẽ đánh giá được mức độ sử dụng vốnlưu động của mình kém hiệu quả hay không
1.2.4 Mức tiết kiệm vốn lưu động :
Chỉ tiêu này phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luânchuyển VLĐ ở kỳ so sánh (kỳ kế koạch) so với kỳ gốc Nếu thời gian luânchuyển vốn lưu động kỳ này ngắn hơn kỳ trước thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệmđược vốn lưu động Số vốn lưu động tiết kiệm được có thể sử dụng vào mụcđích khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nếu thời gian luân chuyển vốnlưu động kỳ này dài hơn kỳ trước thì doanh nghiệp đã lãng phí vốn lưu động
Mức tiết kiệm VLĐ (±) = *(N1 - N0)
Trong đó:
N1: Số ngày luân chuyển VLĐ kỳ sau
N0: Số ngày luân chuyển VLĐ kỳ trước
Trang 111.2.5 Hệ số sức sản xuất của vốn lưu động.
Hệ số sức sản xuất VLĐ =
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động đem lại bao nhiêu đồng doanhthu Chỉ số này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ.
2.1 Lịch sử hình thành.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà được thành lập ngày 25/12/1960 đã trảiqua quá trình phát triển gần nửa thế kỷ, từ một xưởng làm nước chấm và ma gi
đã trở thành một trong những nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với qui
mô sản xuất lên tới 20.000 tấn sản phẩm/năm
Công ty đã được nhà nước đánh giá cao thông qua việc được nhận huânchương Độc lập hạng Ba và các huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì,hạng Ba
Năm 2000 là dấu mốc quan trọng của công ty khi chủ động đầu tư máy mócthiết bị tiên tiến sản xuất ra những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như Kẹochew, Bánh kem xốp, Bánh xốp có nhân Miniwaf, Bánh dinh dưỡng dành chohọc sinh theo chương trình hợp tác với tổ chức quốc tế Gret và Viện dinh dưỡng
Bộ Y tế, các sản phẩm bổ sung canxi, vitamin hợp tác sản xuất với hãngTenamyd Canada Góp phần quan trọng nâng cao hình ảnh của công ty
Hiện nay Công ty là một trong số các Nhà sản xuất Bánh kẹo hàng đầu ViệtNam với sản lượng bình quân hàng năm trên 15.000 tấn Công ty đã áp dụng Hệthống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và Hệ thống HACCPtheo Tiêu chuẩn TCVN 5603:1998 và HACCP CODE:2003
Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà là Doanh nghiệp đầu tiên trong lĩnh vựcsản xuất bánh kẹo được cấp chứng nhận hệ thống "Phân tích mối nguy và cácđiểm kiểm soát tới hạn" (HACCP) tại Việt Nam