Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn này em xin chọn đề tài “Vấn đề điều chỉnh lãi suất tại các ngân hàng thương mại theo quy định của ngân hàng nhà nước trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay” đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNHTiểu Luận Tài chính Tiền tệ
Tiểu luận
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: Vấn đề điều chỉnh lãi suất tại các ngân hàng thương mại theo quy định của ngân hàng nhà nước trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay
Giáo viên hướng dẫn:
Trần Việt Trang
Hải Phòng, tháng 11 năm 2011
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài cần nghiên cứu:
Như chúng ta đã biết lãi suất là một công cụ quan trọng của thị trường tiền
tệ, là biến số luôn gắn liền với nhịp thở của nền kinh tế và nó được chính phủ sửdụng làm công cụ điều tiết lượng cung ứng tiền tệ Không những thế, sự thayđổi của lãi suất có tác động sâu sắc đến các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổchức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế
Vì vậy, lãi suất nằm trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nó
là công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia do ngân hàng nhà nước(NHNN) điều hành Nó có tác động rất lớn đến việc tăng hoặc giảm lượng tiềnlưu thông, quy mô tín dụng, quy mô huy động vốn, kích thích hay hạn chế đầu
tư và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng Một chính sách lãisuất đúng đắn sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, tuy nhiên nếu
áp đặt chính sách lãi suất không linh hoạt sẽ gây tác dụng xấu tạo nguy cơ dẫnđến khủng hoảng kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hội nhập WTO đã có không ít nhữngthay đổi sâu sắc, trong đó hệ thống ngân hàng bên cạnh nhưng thách thứcnhững khó khăn đã đạt được nhiều thành tựu nhất định góp phần vào sự thayđổi bộ mặt chung của đất nước Điều này một phần suất phát từ sự đúng đắntrong quá trình quản lý của các ngân hàng nhưng một phần rất lớn do các chínhsách lãi suất hợp lý trong thời gian qua của NHNN Tuy nhiên trong bối cảnhnền kinh tế đất nước còn chưa thực sự bắt nhịp với nền kinh tế thế giới, tiềm lựccủa hệ thống ngân hàng Việt Nam còn chưa đủ mạnh để cạnh tranh trực tiếp vớiđối thủ thì việc chú trọng đến vấn đề điều chỉnh lãi suất cho hệ thông ngân hàng
là một yêu cầu tất yếu của NHNN trong thời gian tới
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn này em xin chọn đề tài “Vấn đề điều chỉnh
lãi suất tại các ngân hàng thương mại theo quy định của ngân hàng nhà nước trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay” để tìm hiểu về sự điều chỉnh
chính sách lãi suất của NHNN trong thời gian qua và xin đề suất một số giảipháp nhắm hoàn thiện hơn nữa chính sách lãi suất trong giai đoạn tiếp theo
3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: vấn đề điều chỉnh lãi suất tại các ngân
hàng thương mại theo quy định của ngân hàng nhà nước trong giai đoạn từ năm
Trang 3Chương 1 lý luận chung về lãi suất.
Chương 2 Thực trạng điều chỉnh lãi suất tại các ngân hàng thương mại theoquy định của ngân hàng nhà nước từ năm 2010 đến nay
Chương 3 đánh giá và đề suất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống lãisuất ở Việt Nam
Em xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô giáo Trần Việt Trang đã giúp đỡ
em hoàn thành đề án này Trong quá trình nghiên cứu vấn đề trên, do trình độ
và khả năng còn hạn hẹp nên bài viết này không thể tránh khỏi những sai sót
Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, các cô để hoàn thành tốt bài tiểuluận này
Trang 4CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT
1.1 khái niệm lãi suất
Nền kinh tế xã hội loài người đã trải qua một quá trình phát triển đi lên từthấp đến cao và trong quá trình này luôn luôn tồn tại hai trạng thái đối lập nhaucủa các chủ thể đó là thừa vốn và thiếu vốn Ở trình độ thấp khi nền kinh tếhàng hóa chưa có sự phát triển cao, các chủ thể sẽ tìm cách dung hòa hai trạngthái này một cách trực tiếp Khi mức độ phân công lao động xã hội ngày càngcao, nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, xuất hiện trở ngại về không gian vàthời gian khiến cho việc tìm đến nhau của các chủ thể trở nên khó khăn dẫn đến
sự ra đời của các tổ chức tín dụng, những người có nhiệm vụ dung hòa nhu cầuvốn của các chủ thể
Như vậy, nhờ có hoạt động tín dụng mà có một bộ phận lớn nguồn vốn trongnền kinh tế được huy động, tập trung và phân phối từ nơi tạm thời dư thừa sangnơi thiếu để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế.Công cụ của hoạt động tín dụng là lãi suất Lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữatiền lãi (hay chi phí phải trả) trên một lượng tiền nhất định để được sở hữu và
sử dụng lượng tiền ấy trong khoảng thời gian đã thoả thuận trước Như vậy, lãisuất chính là giá cả trả cho việc sử dụng tiền vốn, gắn liền với hoạt động tíndụng ngân hàng, đồng thời gắn liền với mọi hoạt động kinh tế có liên quan đếngửi tiền và vay tiền
1.2 Phân loại lãi suất
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng : lãi suất tín dụng ngân hàng chia thành ba
loại đó là
+ Lãi suất tín dụng ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn + Lãi suất tín dụng trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng trung hạn
+ Lãi suất tín dụng dài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn
- Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất : thì lãi suất được chia thành :
+ Lãi suất thả nổi là lãi suất thay đổi lên xuống
+ Lãi suất cố định là lãi suất được áp dụng trong suốt thời hạn tín dụng
- Căn cứ vào các quan hệ điều tiết vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng : lãi suất được chia thành nhiều loại khác nhau :
+ Lãi suất tiền gửi là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi, lãi suất này có nhiềumức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, quy mô tiền gửi
+ Lãi suất tiền vay là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng doviệc sử dụng vốn vay của ngân hàng, nó được áp dụng để tính lãi tiền vay màkhách hàng phải trả cho ngân hàng
+ Lãi suất chiết khấu áp dụng khi ngân hàng cho vay dưới hình thức chiếtkhấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán củakhách hàng, nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá và được khấu trừ ngay khingân hàng phát tiền vay cho khách hàng
+ Lãi suất tái chiết khấu áp dụng khi ngân hàng tái cấp vốn cho các ngânhàng dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn
Trang 5hạn chưa đến hạn thanh toán của ngân hàng Nó cũng được tính bằng tỷ lệ %trên mệnh giá của các giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi NHTƯcấp tiền vay cho ngân hàng thương mại (NHTM )
+ Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhauvay trên thị trường liên ngân hàng, nó được hình thành bởi quan hệ cung cầutiền của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối của lãi suất tái cấp vốn củaNHTƯ
+ Lãi suất cơ bản là lãi suất được các NHTM sử dụng làm cơ sở để ấn địnhmức lãi suất kinh doanh của mình
- Căn cứ vào giá trị thực của lãi xuất : lãi suất được chia thành hai loại :
+ Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vàothời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát.Lãi suất danh nghĩa thường được công bố chính thức trong các quan hệ tíndụng, trên các phương tiên thông tin đại chúng
+ Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thayđổi dự tính về lạm phát
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế được khái quát thànhphương trình sau đây:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát
hay
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát
Vì được điều chỉnh lại theo đúng những thay đổi về lạm phát nên lãi suấtthực tế phản ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũng như chi phí thậtcủa việc cho vay
1.3 Vai trò và tác động của lãi suất trong nền kinh tế.
- Lãi suất đối với quá trình huy động vốn :
lãi suất là giá cả trả cho việc sử dụng vốn cho nên nó có tác động trực tiếpđến quá trình huy động vốn Đây là mối quan hệ tỷ lệ thuận, cụ thể nếu duy trìmột chính sách lãi suất cao có thể huy động lượng vốn lớn Thực tiễn conđường phát triển của các nước đi trước đã chứng minh vốn là nhân tố quantrọng đóng góp vào sự phát triển của một quốc gia Vì vậy chính sách lãi suất
có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xãhội và các tổ chức kinh tế phải đảm bảo đúng định hướng vốn cho công cuộckiến thiết đất nước, đặc biệt nguồn vốn nước ngoài là một bộ phận quan trọngtrong chiến lược CNH-HĐH nước ta hiện nay Việc áp dụng một chính sách lãisuất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãi suất phải bảo tồn được giá trị vốn vay, đảmbảo tích luỹ cho cả người cho vay và người đi vay Bởi lẽ trong nền kinh tế luôntồn tại một tỷ lệ lạm phát nhất định khiến cho giá trị của tiền tệ giảm theo thờigian Cụ thể:
+ Tỷ lệ lạm phát< lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay < tỷ suất lợi nhuậnbình quân
+ Lãi suất ngắn hạn < lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay)
- Lãi suất đối với quá trình đầu tư
Trang 6Lãi suất có ảnh hưởng rất lớn tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp bởi lẽtrong cơ cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp có một phần vốn đi vay Cụ thể Nếulãi suất của tiền vay lớn sẽ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Nếu lãi suất xuống thấp sẽ là cơ hội để doanh nghiệp mở rộng đầu tư Vì vậytrong quá trình dự tính đầu tư các doanh nghiệp thường dùng lãi suất để đưa raquyết định của mình có nên đầu tư không hay dùng tiền để gửi vào ngân hàngkiếm khoản lời phi rủi ro Ở đây lãi suất và đẩu tư có quan hệ tỷ lệ nghịch vớinhau cho nên những thay đổi của lãi suất sẽ ảnh hưởng một cách trực tiếp đếnquyết định đầu tư của doanh nghiệp.
- Lãi suất đối với tiêu dùng và tiết kiệm
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêudùng và tiết kiệm.Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thunhập, vấn đề hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệmtrong đó lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó Khi lãi suất thấp chiphí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho việc tiêu dùng hàng hoánghĩa là tiêu dùng nhiều hơn khi lãi suất cao đem lại thu nhập từ khoản tiều đểdành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng
- Đối với tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối cũng là một nhân tố chịu tác động của chính sách lãi suất Nếu
thực hiện một chính sách lãi suất cao đối với đồng nội tệ sẽ thu hút dòng tiềntrong lưu thông vào hệ thống các ngân hàng từ đó làm cho tỷ giá của đồng nội
tệ tăng Đây là mối quan hệ tỷ lệ thuận Mối quan hệ này được thể hiện thôngqua đồ thị sau :
Ta có : i1 < i2 và tỷ giá 1 < tỷ giá 2
Khi lãi suất ở mức “i1’ thì sẽ tác động lãi tỷ giá ở mức “tỷ giá 1”
Khi lãi suất ở mức “i2” thì sẽ tác động lãi tỷ giá ở mức “tỷ giá 2”
Ta thấy mối quan hệ này là tỷ lệ thuận khi i tăng thì tác động làm tỷ giá tăng
- Lãi suất đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
hoạt động xuất nhập khẩu chịu tác động gián tiếp của lãi suất thông qua tỷ
giá hối đoái Biểu hiện của sự tác động này là khi lãi suất tăng làm cho tỷ giá
i1
i2
Tỷ giá 1 Tỷ giá 2 Tỷ giá
Trang 7tăng đấy giá cả trong nước cao hơn so với giá cả của hàng hóa nước ngoài, vìvậy làm giảm xuất khẩu ròng.
Và ngược lại nếu lãi suất giảm sẽ làm cho tỷ giá giảm và làm tăng xuất khẩuròng
Mối quan hệ này được biểu hiện thông qua đồ thị sau :
- Lãi suất với lạm phát.
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạmphát Nhà kinh tế học Fishes đã chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạmphát, do đó lãi suất được sử dụng để điều chỉnh lạm phát cụ thể tăng lãi suất,thu hẹp được lượng tiền trong lưu thông, lạm phát được kìm chế
Tuy nhiên, dùng lãi suất để chống lạm phát không thể duy trì lâu dài vì nó sẽlàm giảm đầu tư, tổng cầu, sản lượng trong dài hạn Do vậy phải kết hợp nóvới các công cụ khác
- Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực
Tất cả các nguồn lực đều có tính khan hiếm Vấn đề là xã hội phải phân bổ
và sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả Nghiên cứu trong nền kinh tế thịtrường cho thấy giá cả đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phân bổ cácnguồn lực giữa các ngành kinh tế Như ta đã biết, lãi suất là một loại giá cả,nghĩa là lãi suất có vai trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xãhội Để quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế một dự án hay một tài sản nào
đó chúng ta đều phải quan tâm đến sự chênh lệch giữa giá trị tỷ suất lợi tức thuđược với chi phí ban đầu Điều này có nghĩa là phải xem việc đầu tư này cómang lại lợi nhuận hay không và có đảm bảo hiệu quả kinh doanh để trả khoảntiền lãi của số tiền vay cho chi phí ban đầu hay không Khi quyết định đầu tưvào một ngành kinh tế, một dự án hay một tài sản ta phải quan tâm tới chênhlệch giữa lợi nhuận đem lại và số tiền vay phải trả Khi chênh lệch này làdương, thì nguồn lực sẽ được phân bổ tới đó và là sự phân bổ hiệu quả
- Lãi suất đối với hệ thống ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính vớinghiệp vụ chính là đi vay và cho vay vậy nên chính sách lãi suất có ảnh hưởngrất lớn đến hoạt động của các ngân hàng Nếu lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan
Trang 8trọng thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại Bởi vậy lãisuất Ngân hàng vừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước vừa là công cụ điềuhành vi mô của các NHTM
Bởi lẽ thế, khi huy động tiền gửi với lãi suất thấp thì không khuyến khíchdoanh nghiệp và dân cư gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng và dẫn đến hậu quả làNHTM không đủ vốn để cho vay đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng.Đây là nguy cơ dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng ở nhiều nước trên thế giớihiện nay Ngược lại, nếu lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh không có lãi hoặc lãi quá thấp sẽ thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động
để gửi vốn vào ngân hàng Hoạt động này có ảnh hưởng xấu đến tổng sản lượngcủa nền kinh tế trong tương lai cũng như gánh nặng về lãi suất đối với các ngân
* Ảnh hưởng của sự thay đổi của tổng cầu(GNP)
Khi GNP tăng lên, nền kinh tế đòi hỏi phải tăng khối tiền cung ứng( nếu tốc
độ lưu thông tiền tệ không thay đổi) để đảm bảo cung cầu tương ứng Nếu trongđiều kiện đó, khối lượng cung ứng tiền(M1 hoặc M2) tăng quá cầu thì MV>PQ,cung vốn đầu tư lớn hơn cầu vốn đầu tư làm cho lãi suất giảm Ngược lại, khiGNP giảm thì khối lượng tiền cung ứng thực tế cũng giảm theo, nếu tốc độ lưuthông tiền tệ không thay đổi mà giảm khối cung ứng tiền tệ xuống quá thấp sẽđưa đến tình trạng MV<PQ Lúc đó, cung vốn đầu tư nhỏ hơn cầu vốn đầu tưthì lãi suất sẽ tăng
* Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng:
Khi chính phủ đưa ra mức lạm phát dự tính của nền kinh tế, lãi suất sẽ có xuhướng tăng Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suấtdanh nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãisuất danh nghĩa phải tăng lên tương ứng Mặt khác, khi xuất hiện tỷ lệ lạm phát
nó sẽ tác động trực tiếp vào tâm lý công chúng Lạm phát tăng sẽ làm cho giá trịthực của đồng nội tệ giảm Người dân thay vì cất giữ đồng nội tệ sẽ dành phầntiết kiệm của mình cho việc dự trữ các loại hàng hoá hoặc những dạng thức phitài sản khác như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu có thể.Tất cả những điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suấttrên thị trường Từ mối quan hệ này cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng củaviệc khắc phục tâm lý lạm phát đối với việc ổn định lãi suất, sự ổn định và tăngtrưởng của nền kinh tế
Trang 9* Ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hàng hoạt động sản xuất kinh doanhcũng đặt mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu chung hàng đầu của mình Vì vậy chonên tỷ suất lợi nhuận bình quân của các dự án đầu tư phải cao hơn lãi suất củacác khoản vay tài trợ cho dự án Có như vậy các nhà đầu tư mới có lợi nhuận từcác dự án đầu tư và phấn khởi mở rộng đầu tư Do đó, cách đánh giá, lựa chọnchính sách lãi suất phù hợp của chính phủ sẽ phải dựa trên cơ sở ước lượng tỷsuất lợi tức trung bình của nền kinh tế
* Nhu cầu tiêu dùng và đầu tư
Trong thực tế khi nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng sẽ hút lượng tiềntrong hệ thống ngân hàng ra thị trường Thực chất của hoạt động này chính làcầu về tiền tăng lên làm cho giá cả của việc đi vay tăng lên, giá cả của việc đivay chính là lãi suất Và ngược lại khi nhu cầu này giảm đi thì sẽ làm giảm lãisuất Cũng tương tự như vậy, khi nhu cầu về đầu tư tăng, người ta đổ xô vàođầu tư kinh doanh kiếm lợi nhuận thì nhu cầu về tiền, tài sản là rất lớn sẽ dẫntới lãi suất tăng
* Ảnh hưởng từ sự thay đổi tỷ giá hối đoái
Tỷ giá cũng là nhân tố tác động đến sự thay đổi của lãi suất Ở đây ta đangxét đến chính sách quy định tỷ giá hối đoái của chính phủ Khi tỷ giá tăng làmcho giá trị của đồng nội tệ giảm, tức là giá cả của hàng hóa mua được trongnước so với nước ngoài sẽ tăng lên Tác động này làm cho tăng suất khẩu thuhút lượng ngoại tệ lớn Cung ngoại tệ tăng tác động trở lại làm cầu nội tệ tăng
từ đó làm lãi suấtt tăng lên
Trang 10CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT TẠI CÁC NHTM THEO QUY ĐỊNH CỦA NHNN TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY
2.1 Thực trạng điều chỉnh lãi suất
2.1.1 Giai đoạn sáu tháng đầu năm 2010
* những định hướng của chính phủ giai đoạn sáu tháng đầu năm 2010
Sau nhiều năm đổi mới hoạt động và liên tục đổi mới cơ chế điều hành lãisuất tuy còn nhiều những sự bất hợp lý nhưng về cơ bản chính phủ đã thực hiệntốt vai trò trong công tác quản lý nền kinh tế Và trong bối cảnh nền kinh tếViệt Nam đang hội nhập rất sâu vào nền kinh tế thế giới trong giai đoạn này thìviệc ban hành một chính sách lãi suất hợp lý là điều rất cần thiết Cụ thể tronggiai đoạn này các mức lãi suất chủ yếu như : lãi suất cơ bản bằng Việt Namđồng, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, Lãi suất cho vay qua đêm trongthanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán
bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng đều được quyđịnh một cách cụ thể, trong khi đó lãi suất tiền gửi bằng đô la Mỹ được thựchiện theo cơ chế thỏa thuận số liệu cụ thể như sau :
1 Lãi suất cơ bản bằng Việt nam đồng 8,0%/năm
4 Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân
hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng
8,0%/năm
5 Lãi suất tiền gửi bằng Đô la Mỹ theo cơ chế thoả
thuận
* thực trạng điều chỉnh lãi suất giai đoạn sáu tháng đầu năm 2010
Trong khi đó chỉ số CPI tháng 01/2010 tăng 1,36% và tháng 02/2010 tăng1,96% đã tác động đến tâm lý thị trường nên mặt bằng lãi suất huy động VNDtrong Quý I/2010 có xu hướng tăng, lãi suất cho vay VND thực tế ở mức khácao Tác động không nhỏ đến tâm lý người dân và các doanh nghiệp đây là tácđộng mang tính hệ thống Nó có tác động không nhỏ đến thị trường tài chínhviệt Nam Việc thực hiện một loại các giải pháp về lãi suất trong giai đoạn nàycủa ngân hàng trung ương được xem là rất cần thiết Theo nhận định của cácchuyên gia kinh tế, đây là những biện pháp đồng bộ, quyết liệt từ phía NHTƯnhằm ổn định và giảm mặt bằng lãi suất
Lãi suất huy động và cho vay VND từ đầu tháng 4/2010 đã giảm, tuy mứcgiảm chưa mạnh vì tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động vẫn chưa đáp ứngđược nhu cầu tăng trưởng dư nợ tín dụng Tuy nhiên tác động tích cực của nókhông hề nhỏ :
+ Lãi suất cho vay VND bình quân thực tế của 4 ngân hàng thương mạinhà nước và 7 ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô lớn khoảng 13,3%;
Trang 11Lãi suất cho vay ngắn hạn phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu
ở mức 12,5% - 13%/năm, cho vay trung và dài hạn khoảng 14%/năm (tươngứng với lãi suất cùng kỳ năm 2006, 2007)
+ Lãi suất tiền gửi USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng giảm1,3 - 3,5%/năm và duy trì ở mức 0,2 - 1%/năm; lãi suất tiền gửi USD của dân
cư và lãi suất cho vay USD tăng nhẹ so với cuối năm 2009
+ Từ đầu năm 2010, nguồn cung ngoại tệ trên thị trường đã được cải thiệnđáng kể Từ giữa tháng 4/2010, cung - cầu ngoại tệ đã trở lại cân bằng, tínhthanh khoản của thị trường ở mức cao, các tổ chức tín dụng tự cân đối đượcngoại tệ và không có nhu cầu mua ngoại tệ từ Ngân hàng Nhà nước, nhiều tổchức tín dụng do lượng ngoại tệ mua được từ khách hàng tăng lên đã tiếp tụcbán ngoại tệ cho Ngân hàng Nhà nước
+ Nhờ những diễn biến tích cực của thị trường ngoại hối, tỷ giá giao dịchUSD/VND của các ngân hàng thương mại từ tháng 4/2010 luôn thấp hơn trầncho phép, tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do xoay quanh tỷ giá giao dịchcủa các ngân hàng thương mại Giá vàng trong nước diễn biến phù hợp với giávàng thế giới, có thời điểm giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới + Trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng huy động vốn và dư nợ tíndụng tăng dần, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạmphát So với cuối năm 2009, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ướctăng 10,82%, dư nợ tín dụng ước tăng 10,52%
2.1.2 Giai đoạn sáu tháng cuối năm 2010
* những định hướng của chính phủ giai đoạn sáu tháng cuối năm 2010
Định hướng của chính phủ trong giai đoạn này là điều tiết mặt bằng lãi suấtthị trường theo hướng giảm dần, ổn định các mức lãi suất cơ bản và lãi suất táicấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất hoán đổi ngoại tệ; Tăng thêm khối lượngvốn giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở với kỳ hạn và lãi suất hợp lý, Tiếptục cho vay tái cấp vốn để hỗ trợ các ngân hàng thương mại mở rộng tín dụngđối với nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, Phốihợp với Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam thúc đẩy các ngân hàng thương mại thựchiện đồng thuận về lãi suất huy động và cho vay theo hướng giảm, phù hợp vớichỉ đạo của Chính phủ
Để thực hiện mục tiêu này chính phủ đã có những chính sách cụ thể thôngqua một loại các quy định như quyết định số 1311/QĐ-NHNN ngày 31 tháng
05 năm 2010, số 1565/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 06 năm 2010, số NHNN ngày 27 tháng 09 năm 2010, số 2281/QĐ-NHNN, số 2561/QĐ-NHNNngày 27 tháng 10 năm 2010, số 2619/QĐ-NHNN ngày 05 tháng 11 năm 2010,
2281/QĐ-số 2868/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 11 năm 2010
Thông qua đó lãi suất cơ bản bằng Việt Nam đồng được duy trì ở mức 8,0%/năm, những tháng cuối năm 2010 được điều chỉnh lên mức 9,0%/năm Các loạilãi suất khác cũng được quy định một cách cụ thể
Trang 12STT Lãi suất Giai đoạn
trước ngày 05 tháng 11 năm 2010
Giai đoạn sau ngày 05 tháng 11 năm 2010
1 Lãi suất cơ bản bằng Việt nam đồng 8,0%/năm 9,0%/năm.
2 Lãi suất tái cấp vốn : 8,0%/năm : 9,0%/năm
3 Lãi suất tái chiết khấu 6,0%/năm : 7,0%/năm.
4 Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán
điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu
hụt trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đối với các ngân hàng
: 8,0%/năm 9,0%/năm
5 Lãi suất tiền gửi bằng Đô la Mỹ 1,0%/năm 1,0%/năm
Trong nửa cuối năm 2010, NHNN đã ban hành thông tư số NHNN; Thông tư 07/2010/TT-NHNN; thông tư 12/2010/TT-NHNN cho phépTCTD được thực hiện cho vay bằng VND theo cơ chế lãi suất thoả thuận Tuynhiên, chính sách điều hành cũng như chính sách lãi suất vẫn bị chi phối bởichính sách kinh tế đa mục tiêu, chịu áp lực lớn từ biện pháp kinh tế vĩ mô củaChính phủ Vì vậy, đã tạo ra những khó khăn nhất định trong công tác điềuhành ổn định mặt bằng lãi suất của NHNN Bên cạnh đó trước sức ép của lạmphát gia tăng vào giai đoạn cuối năm đã buộc chính phủ phải đấy lãi suất cơ bản
03/2010/TT-từ mức 8,0% lên mức 9,0%/năm
* Thực trạng điều chỉnh lãi suất giai đoạn sáu tháng cuối năm 2010
Trong giai đoạn này, tuy chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp với mụcđích ổn định thị trường tài chính nhưng lãi suất đồng Việt Nam liên tục biếnđộng theo chiều hướng gia tăng, cả lãi suất huy động cũng như lãi suất cho vay.Lãi suất huy động VND đã tăng vọt từ 11 - 11,5%/năm lên đến trên 17%/năm ởmột số NHTM đối với một số kỳ hạn ngắn, đồng thời lãi suất cho vay VNDcũng “leo thang” từ 13-14%/năm lên tới 19 - 21%/năm tùy từng loại khoản vay.Một mặt, không ít NHTM đua nhau áp dụng các hình thức hấp dẫn để thu húttiền gửi tiết kiệm, mặt khác, một số không nhỏ NHTM lại dừng cho vay ratrong bối cảnh thị trường liên ngân hàng lại “lặng sóng” với lãi suất giao dịchthấp và hạn mức tín dụng của nhiều NHTM đã hết khi tổng tín dụng ngân hàngcho nền kinh tế có thể đã tăng vượt mục tiêu 25% cho cả năm ngay từ tháng 11.Hơn nữa, tốc độ cho vay bằng ngoại tệ đã lớn hơn rất nhiều tốc độ cho vay bằngVND
* Nhận xét chung về tình hình thực hiện chính sách lãi suất trong năm
2010 của hệ thống NHTM :
Lãi suất thị trường vẫn ở mức cao đặc biệt là giai đoạn cuối năm :
Trang 13- Đối với lãi suất huy động VND: Trong năm 2010, duy trì đà tăng của lãi
suất huy động vào những tháng cuối năm 2009, lãi suất huy động VND về cơbản đã gia tăng ở những tháng đầu năm, giảm và duy trì ổn định trong quý II,quý III và gia tăng mạnh trong hai tháng cuối năm Tính đến cuối tháng12/2010, lãi suất huy động tăng 1,96 – 3,39% cho các kỳ hạn so với cuối năm
2009, tăng cao đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn từ 1 tháng đến 3 tháng
Trong 6 tháng đầu năm lãi suất đã tăng so với cùng kỳ của năm 2009 với haimốc tăng tương đối ổn định Nếu như trong quý I/2010, lãi suất huy động tăngbình quân 0,03 – 0,07% cho tất cả các kỳ hạn chưa kể đến các hình thức khuyếnmại thì bước sang tháng đầu tiên của Quý II, để chấm dứt các chính sách tặngthưởng được xem là hình thức cạnh tranh không lành mạnh, các NHTM đã từngbước công bố tăng lãi suất vượt ngưỡng 10,5% - là tỷ lệ được duy trì từ tháng12/2009 để hình thành nên một mặt bằng lãi suất mới biến động xoay quanhngưỡng 12% Việc lãi suất huy động cao đã tác động đẩy mặt bằng lãi suất chovay tăng cao trong điều kiện áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận vì vậy đếntháng 7/2010 để tạo sự thống nhất về mặt bằng lãi suất huy động trên thịtrường, NHNN và Hiệp hội ngân hàng đã yêu cầu các NHTM đồng thuận giảmlãi suất huy động vốn bằng VND để góp phần thực hiện hạ mặt bằng lãi suấtcủa thị trường theo Nghị quyết 23/NQ – CP ngày 7/5/2010 của Chính phủ, tạođiều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế tiếp cận được vớivốn của khu vực ngân hàng khi mà tăng trưởng tín dụng có xu hướng giảm hoặctăng nhẹ trong những tháng đầu năm Và như vậy là sau khi tăng dần từ đầunăm, đến tháng 7 lãi suất huy động VND đón đợt điều chỉnh giảm đầu tiên ởmức 11 – 11,2% cho các kỳ hạn và duy trì khá ổn định cho đến tháng 10
Cho đến ngày 15/10/201, trên bình diện tốc độ huy động vốn đã được cảithiện rất nhiều so với năm 2009 và trước nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế trong bối cảnh lãi suất vayvốn ngày càng cao, dưới sự hỗ trợ của NHNN và sự đồng thuận của các ngânhàng, lãi suất huy động một lần nữa được điều chỉnh xoay quanh mức 10,8 –11% Tuy nhiên, trước sức ép của lạm phát vào những tháng cuối năm, tỷ lệ lãisuất huy động ở lần điều chỉnh giảm thứ hai đã ngay lập tức gia tăng sau khiNHNN thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản lên 9% Mặt bằng lãi suất huyđộng mới được thiết lập ở mức 12%, và tiếp tục có xu hướng gia tăng mạnh, cóthời điểm giao động xoay quay mức 17 – 18%
Trước tình trạng leo thang khó có điểm dừng của lãi suất huy động dướinhiều hình thức, NHNN đã phải trực tiếp lên tiếng yêu cầu các ngân hàng giảmmặt bằng lãi suất huy động, bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hìnhthức, sẽ không vượt quá 14%/năm Như vậy, mặc dù đã cho phép các ngânhàng được áp dụng lãi suất thoả thuận nhưng trước việc chạy đua lãi suất,NHNN đã phải can thiệp bằng biện pháp hành chính Mặt bằng lãi suất huyđộng trung bình một số thời điểm năm 2010 như sau:
Trang 14Đối với lãi suất ngoại tệ: Lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ trong năm
2010 tiếp tục tăng nhẹ qua tất cả các tháng (tính đến cuối tháng 12, lãi suất huy động USD tăng khoảng 0,82 – 1,36% cho các kỳ hạn so với đầu tháng 1/2010).
Lãi suất huy động USD một số kỳ hạn tại một số thời điểm năm 2010 (đơn vị: %)