1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích tình hình lạm phát ở việt nam năm 2011

21 1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 160,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trênthế giới và ở Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vaitrò của nó đối với sự nghiệp phát triển kinh tế.

Trang 1

Đại Học Hải Phòng Khoa Kế Toán – Tài Chính Khóa học 2009 – 2013

Tiểu Luận Lý Thuyết

Trang 2

Lời mở đầu :

Trong đời sống hàng ngày, lạm phát là một trong những vấn đề củakinh tế học vĩ mô Nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị vàcông chúng Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trênthế giới và ở Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vaitrò của nó đối với sự nghiệp phát triển kinh tế Nghiên cứu lạm phát, kiềmchế và chống lạm phát được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới Càngngày cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế, vànguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp Mỗi giai đoạn khi lạmphát xuất hiện với hình thức và dáng vẻ khác nhau thì lại có nhiều câu hỏitranh luận được đặt ra: bản chất của lạm phát là gì? Các hình thức biểu hiệnbiểu hiện của nó ra sao? Nó có tác động nghiêm trọng như thế nào đối vớinền kinh tế? Thực trạng về vấn đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay đang diễnbiến như nào? Chúng ta cần phải làm gì để điều tiết nền kinh tế và kiềm chếlạm phát? Lạm phát ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam đặc biệttrong bối cảnh nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tếhiện nay Nhất là cho đến thời điểm này giá cả các mặt hàng thiết yếu trong

và ngoài nước diễn ra rất phức tạp Giá hầu hết các mặt hàng nhập khẩu thiếtyếu như: xăng dầu, sắt thép, chất dẻo, phân bón … đều tăng Đặc biệt trongthời gian gần đây khi giá vàng trong ngoài nước, tỷ giá ngoại hối đột ngộttăng cao Tình hình đó đòi hỏi nhà nước phải có những quan điểm và giảipháp cấp vĩ mô cũng như vi mô để kiềm chế cũng như khắc phục lạm phát

Hy vọng với đề tài “ phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2011” cóthể phần nào trả lời được các câu hỏi trên

Trang 3

1.2: Phân loại lạm phát

1.2.1 : Về mặt định lượng

- Lạm phát một con số mỗi năm : Đây là mức lạm phát mà nền kinh tế chấpnhận được, với mức lạm phát này , những tác động kém hiệu quả của nó làkhông đáng kể

- Lạm phát hai con số mỗi năm : Khi tỷ lệ tăng , giá đã bắt đầu tăng đến haichữ số mỗi năm Lạm phát trở thành mối đe dọa đến sự ổn định của nền kinh

tế

- Siêu lạm phát : Nhiều người coi lạm phát ba chữ số là siêu lạm phát vì nó

có tỷ lệ lạm phát rất cao và tốc độ tăng rất nhanh Siêu lạm phát sẽ làm chokinh tế suy sụp một cách nhanh chóng , thu nhập thực tế của người lao độnggiảm mạnh

1.2.2 : Về mặt định tính

- Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:

 Lạm phát cân bằng : tỷ lệ lạm phát tương ứng với thu nhập, không ảnhhưởng tới đời sống của người lao động

 Lạm phát không cân bằng : tỷ lệ lạm phát tăng không tương ứng vớithu nhập

- Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường :

 Lạm phát dự đoán trước : là lạm phát xảy ra trong một thời gian tươngđối dài với tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn , ổn định nên có thể

dự đoán được trước tỷ lệ lạm phát cho những năm sau

Trang 4

 Lạm phát bất thường : lạm phát xảy ra có tính đột biến mà trước đóchưa hề xuất hiện Lạm phát bất thường gây ra những cú sốc cho nềnkinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền đươngđại.

1.3 :Nguyên nhân gây lạm phát

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó “lạm phát docầu kéo” và “ lạm phát do chi phí đẩy” được coi là 2 nguyên nhân chính

- Lạm phát do cầu kéo : Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hóa hay dịch vụ ngàycàng kéo giá của hàng hóa hay dịch vụ đó lên mức cao hơn Các nhàkhoa học mô tả tình trạng lạm phát này là “ quá nhiều tiền đuổi theoquá ít hàng hóa”

- Lạm phát do chi phí đẩy : Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiềnlương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm chocông nhân, thuế Khi giá cả của một hoặc một vài yếu tố này tăng lênthì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp cũng tăng lên Các xínghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thànhsản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng

- Lạm phát do cơ cấu : Các ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiềncông danh nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanh không hiệuquả, vì thế , không thể không tăng tiền công cho người lao động trongngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận , ngành kinh doanhkém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh từ đó

- Lạm phát do cầu thay đổi : Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đitrong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường

có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phíadưới ( chỉ có thể tăng mà không thể giảm) , thì mặt hàng mà lượng cầugiảm vẫn không giảm giá, trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thìlại tăng giá Kết quả, mức giá chung tăng lên dẫn đến lạm phát

- Lạm phát do xuất khẩu : Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơntổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượngcung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấphơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cânbằng

- Lạm phát do nhập khẩu : Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng thì giá bánsản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giáchung bị giá nhập khẩu dội lên

Trang 5

- Lạm phát do thâm hụt ngân sách : Khi tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhànước của các quốc gia tăng cao, kéo dài thì tiền tệ cũng sẽ tăng nhanh

và lạm phát tăng

- Lạm phát theo tỷ giá hối đoái : Khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ mất giá,giá nguyên liệu, hàng hóa nhập khẩu cũng tăng cao, đẩy chi phí vềphía nguyên liệu tăng lên, quay trở về lạm phát phí đẩy như đã phântích trên

1.4 : Tác động của lạm phát

1.4.1 : Lạm phát và lãi suất

Để duy trì và ổn định sự hoạt động của mình , hệ thống ngân hàngphải luôn luôn cố gắng duy trì tính hiệu quả của cả tài sản nợ và tài sản cócủa mình tức là phải giữ cho lãi suất thực ổn định Có , Lãi suất thực = lãisuất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát Do đó, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, nếumuốn cho lãi suất thực ổn định, lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ

lệ lạm phát Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả mà nền kinh tếphải gánh chịu là suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng

1.4.2 : Lạm phát và thu nhập thực tế

Nếu thu nhập danh nghĩa không đổi , lạm phát xảy ra sẽ làm giảm thunhập thực tế của người lao động Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thựccủa những tài sản không có lãi mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tàisản có lãi , tức là làm giảm thu nhập thực từ các khoản lãi , các khoản lợitức Điều đó xảy ra là do chính sách thuế của nhà nước được tính trên cơ sởcủa thu nhập danh nghĩa Khi lạm phát tăng, những người đi vay tăng lãisuất danh nghĩa để bù vào tỷ lệ lạm phát tăng , làm cho số tiền thuế thu nhập

mà người có tiền cho vay phải nộp tăng cao ( thuế suất không tăng ) Kết quảcuối cùng là thu nhập ròng ( thu nhập sau thuế ), thực ( sau khi đã loại trừ tácđộng của lạm phát ) mà người cho vay nhận được suy giảm đi

1.4.3 : Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng

Trong quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay , khi lạmphát tăng cao, người cho vay sẽ là người chịu thiệt và người đi vay sẽ làngười được lợi Điều này tạo nên sự phân phối thu nhập không bình đẳnggiữa người đi vay và người cho vay Hơn thế nữa , nó còn thúc đẩy nhữngngười kinh doanh tăng cường thu hút tiền vay để đầu cơ kiếm lợi Cuốicùng , những người nghèo càng nghèo hơn , những người giàu càng giàulên Tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập , về mức sống giữa người giàu vàngười nghèo

1.4.4 : Lạm phát và nợ quốc qia

Trang 6

Lạm phát cao làm cho Chính phủ được hưởng lợi do thuế thu nhậpđánh vào người dân , nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầmtrọng hơn Chính phủ được lợi trong nước nhưng sẽ bị thiệt với nợ nướcngoài Vì lạm phát làm tỷ giá tăng cao và đồng tiền trong nước trở nên mấtgiá nhanh hơn so với đồng tiền nước ngoài tính trên các khoản nợ

1.5 : Ảnh hưởng của lạm phát

- Ảnh hưởng tích cực : Nếu lạm phát ( tỷ lệ tăng giá mang giá trị dương )vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế Mức lạm phát vừa phải làm cho chi phíthực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi Điềunày khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất Việc làm được tạothêm Tỷ lệ thất nghiệp giảm

- Ảnh hưởng tiêu cực : Hậu quả của lạm phát rất nặng nề và nghiêm trọng.Lạm phát gây ra hậu quả đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước.Lạm phát làm cho việc phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập trong nềnkinh tế qua giá cả đều khiến quá trình phân hóa giàu nghèo nghiêm trọnghơn Lạm phát làm cho một nhóm này nhiều lợi nhuận trong khi nhóm khác

bị thiệt hại nặng nề Nhưng suy cho cùng, gánh nặng của lạm phát lại đè lênvai của người lao động, chính người lao động là người gánh chịu mọi hậuquả của lạm phát

1.6 : Biện pháp khắc phục lạm phát

1.6.1 : Những biện pháp tình thế

Những biện pháp này được áp dụng với mục tiêu giảm tức thời “ cơnsốt lạm phát” , trên cơ sở đó sẽ áp dụng các biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài.Được áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát

- Thứ nhất : Chính sách đóng băng tiền tệ tức là giảm lượng tiền giấy trongnền kinh tế như ngừng phát hành tiền vào lưu thông

- Thứ hai : thi hành “ chính sách tài chính thắt chặt” như tạm hoãn nhữngkhoản chi chưa cần thiết trong nền kinh tế , cân đối lại ngân sách và cắt giảmchi tiêu đến mức có thể được

- Thứ ba : Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng để cân đối với số tiền có trong lưuthông bằng cách khuyến khích tự do mậu dịch , giảm thuế và các biện phápcần thiết khác để thu hút hàng hóa từ nước ngoài vào

- Thư tư : Đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài

- Thứ năm : Cải cách tiền tệ

1.6.2 : Những biện pháp chiến lược

Đây là những biện pháp có tác động lâu dài đến sự phát triển của nềnkinh tế quốc dân Tổng hợp các biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tếlâu dài cho đất nước , làm cơ sở cho sự ổn định tiền tệ một cách bền vững

Trang 7

- Thứ nhất : Thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng lưu thônghàng hóa Đây là biện pháp chiến lược hàng đầu để hạn chế lạm phát , duytrì sự ổn định tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân

- Thứ hai : Kiện toàn bộ máy hành chính, cắt giảm biên chế quản lý hànhchính Biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thườngxuyên của ngân sách nhà nước, trên cơ sở đó giảm bội chi ngân sách nhànước

- Thứ ba : Tăng cường công tác quản lý điều hành ngân sách nhà nước trên

cơ sở tăng các khoản thu cho ngân sách nhà nước một cách hợp

lý ,chống thất thu , đặc biệt là thất thu về thuế , nâng cao hiệu quả củacác khoản chi ngân sách nhà nước

Chương 2 : Thực trạng về tình hình lạm phát ở Việt Nam năm

Trang 8

tục phủ bóng đen lên khu vực châu Âu Mỹ và Nhật phải đối mặt với việc nợcông lên tới mức kỷ lục Thị trường tài chính tiền tệ quốc tế vẫn biến độngphức tạp, thị trường chứng khoán thế giới bị tác động mạnh trước nhữngbiến cố chính trị và thiên tai Các luồng vốn đầu tư, thương mại toàn cầu bịxáo trộn, khiến ngay cả Trung Quốc cũng phải chịu thâm hụt thương mạicao nhất trong bảy năm qua (lên 7,3 tỷ USD tháng 2-2011) Đặc biệt thiêntai tại Nhật Bản đang khiến cho hệ thống sản xuất toàn cầu của một số mặthàng điện tử, công nghệ cao chịu ảnh hưởng nặng nề Những khó khăn vềkinh tế đang gây ra bức xúc trong xã hội, từ đó phát sinh những tiêu cực khólường tới tình hình chính trị của một số quốc gia Biểu tình đã bùng phátnhanh chóng và gây ra những bất ổn chính trị nghiêm trọng tại khu vựcTrung Ðông, Bắc Phi và trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay nó

đã lan tỏa rất nhanh, ảnh hưởng tới tình hình khu vực và bầu không khíchính trị quốc tế Chúng ta thấy kinh tế thế giới đang đứng trước nhiều khókhăn hơn là thuận lợi Người dân đang dần mất lòng tin vào các chính sáchcủa Chính phủ Vì vậy, các chính sách hợp lí cùng các biện pháp đúng đắn

để đưa nền kinh tế thế giới đi lên là vô cùng quan trọng

2.1.2 : Tình hình kinh tế Việt Nam năm 2011

Tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 10 dưới sự chủ trì của

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam Bộ trưởngkhẳng định, Chính phủ thống nhất đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng

10 và 10 tháng năm 2011 tiếp tục có những chuyển biến tích cực với nhữngkết quả rõ nét

Cụ thể, chỉ số CPI tháng 10/2011 tăng 0,36%, đây là mức tăng thấpnhất kể từ đầu năm và là tháng thứ 3 liên tiếp mức tăng giá dưới 1% Xuấtkhẩu tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước và so với

kế hoạch đã đề ra 10 tháng ước đạt trên 78 tỷ USD, tăng 34,6% so với cùng

kỳ Nhập siêu tháng 10 giảm mạnh, bằng 9,6% kim ngạch xuất khẩu; nhậpsiêu 10 tháng đầu năm 2011 xấp xỉ 10,8% thấp hơn nhiều so với mức phấnđấu đề ra.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng năm 2011 ướcđạt 9,1 tỷ USD, tăng 1% so với cùng kỳ năm 2010 tuy một số dự án và sốvốn đăng ký mới thấp hơn cùng kỳ Thu ngân sách 10 tháng ước đạt 530nghìn tỷ, bằng 89,1% dự toán năm; chi ngân sách bằng 79,2%

Tuy nhiên bên cạnh các kết quả tích cực đạt được, còn không ít cáckhó khăn, thách thức, Chỉ số giá tiêu dùng CPI tuy đã giảm dần nhưng sức

ép về lạm phát và tỷ giá còn rất lớn, lãi suất còn cao Sản xuất kinh doanhđang gặp nhiều khó khăn, do thiếu vốn và hàng tồn kho lớn Bên cạnh đó thìthiên tai, dịch bệnh gây nhiều thiệt hại, khó khăn cho sản xuất và đời sốngngười dân

Trang 9

Nguyên nhân của tình hình trên: Về khách quan, do tác động tiêu cựccủa tình hình kinh tế thế giới; về chủ quan là do những hạn chế, yếu kémvốn có của nền kinh tế, mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế chậm đượckhắc phục, bị tích tụ nặng nề hơn trong những năm phải đối phó với tìnhtrạng suy giảm kinh tế và do một số hạn chế trong quản lý, điều hành củacác cấp Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng lạm pháttrong nhiều năm qua, nước ta luôn phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao

và kinh tế vĩ mô không vững chắc, gay gắt hơn các nước trong khu vực Vìvậy, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xãhội là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay

2.2 : Thực trạng tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2011.

Trước hết chúng ta có thể thấy rằng lạm phát tại Việt Nam trong năm

2011 chỉ là hậu quả từ những bất ổn nội tại nền kinh tế trong những nămqua, đặc biệt trong giai đoạn 2007 – 2010 và là hệ quả tất yếu của việc mấtcân đối trong nền kinh tế vĩ mô

2.2.1: Thực trạng lạm phát của Việt Nam năm 2011.

Năm 2011, sức ép lạm phát tiếp tục kéo dài

Những động thái như : sức ép từ cung tiền tệ giảm dần do chính sáchtài chính – tiền tệ thắt chặt, nhất là việc hạn chế mức tăng trưởng tín dụngdưới 20% và việc giảm cho vay đầu tư phi sản xuất , tiêu dùng, đặc biệt chovay kinh doanh chứng khoán, bất động sản, cùng với hạn chế đầu tư công,giảm thâm hụt ngân sách, mua sắm trang, thiết bị, chi tiêu công khác, trongkhi tăng cường kiểm soát, giảm thiểu tình trạng buôn bán vàng miếng, ngoại

tệ không có giấy phép… đang và sẽ góp phần giảm dần tổng cầu trong xãhội và sức ép liên quan đến tiền tệ trong thời gian tới ở nước ta

Tuy nhiên, sức ép lạm phát do chi phí đẩy lại tăng nhanh bởi gia tăngchi phí đầu vào của nhiều hoạt động sản xuất - kinh doanh và dịch vụ tiêudùng từ các đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu, điện diễn ra liên tiếp trongtháng 3-2011; từ sự tăng chi phí vốn gắn với cuộc đua lãi suất huy động, chovay và việc điều chỉnh lương tối thiểu cho công nhân viên chức ở khu vựchành chính, sự nghiệp, các đối tượng hưởng lương từ ngân sách

Như vậy, sức ép lạm phát cao có khả năng vẫn duy trì trong thời giantới do: Xu hướng tăng lạm phát chung của thế giới (lạm phát ngoại nhập);

Sự để ngỏ khả năng điều chỉnh tăng giá xăng, dầu, điện, một số mặt hàngđầu vào và độc quyền khác theo động thái giá thị trường (lạm phát do chi phíđẩy); Sự không ổn định của thời tiết, sâu bệnh mùa màng; Những bất cậptrong cơ cấu kinh tế, phối hợp thực hiện chính sách, kể cả có những yếu tốquản lý, tâm lý, đầu cơ thị trường

Trang 10

Tính chung, mức lạm phát cuối năm so cùng kỳ năm trước sẽ có nhiềukhả năng đạt tới trên 15%, tức cao hơn khoảng ¼ mức tương ứng năm 2010

và cao gấp đôi mức kế hoạch đặt ra đầu năm Đồng thời, mức tăng trưởngGDP cả năm 2011 có thể sẽ thấp hơn năm ngoái do thu hẹp nguồn đầu tưcông (theo tinh thần Nghị quyết số 11 của Chính phủ) và dòng vốn đầu tư xãhội (bởi lãi suất tín dụng cao) làm hạn chế động lực tăng trưởng

Lạm phát các tháng đầu năm 2011 có các nguyên nhân chủ yếu nhưsau :

- Thứ nhất doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tăng giá 2 lần (ngày 24/2

và ngày 29/3), mỗi lít xăng tăng khoảng 30%, dầu tăng khoảng 38%

đã tác động trực tiếp tăng chỉ số giá nhóm giao thông vận tải và giántiếp nhiều vòng đến hoạt động sản xuất của các lĩnh vực khác

- Thứ hai là giá điện cho sản xuất và sinh hoạt cũng được điều chỉnhtăng khoảng 15,3% áp dụng từ 1/3

- Thứ ba là ảnh hưởng của tỷ giá giữa VND và USD, đồng Việt Nammất giá mạnh trong 3 tháng đầu năm đã làm tăng giá nguyên, nhiênvật liệu nhập khẩu (trong điều kiện nước ta còn phụ thuộc quá nhiềuvào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ nước ngoài để sản xuất hàngxuất khẩu và tiêu dùng trong nước) Đây là nguyên nhân chúng ta bịtăng giá kép từ giá thế giới và thay đổi tỷ giá

- Thứ tư là ảnh hưởng từ những tháng cuối năm 2010 chi đầu tư từ ngânsách và của các doanh nghiệp tăng khá nhanh làm cho lượng tiềntrong lưu thông lớn.

- Thứ năm là yếu tố tâm lý (cả người tiêu dùng và người bán lẻ) từ việcnhà nước điều chỉnh tăng tiền lương tối thiểu cho khu vực doanhnghiệp nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp từ 1/1 và 1/5/2011

2.2.2 : Một số nguyên nhân gây lạm phát năm 2011

Chỉ trong quý một năm 2011, lạm phát ở Việt Nam đã lên tới 6,1%.Thực trạng này đã khiến mục tiêu kìm chân lạm phát ở mức 7% của Quốchội trở thành một nhiệm vụ bất khả thi trong năm nay Ở Việt Nam, songhành với tăng trưởng nóng là lạm phát cao Trong năm 2010, tỷ lệ lạm phátcủa Việt Nam đã vượt ngưỡng 10% Và sang năm 2011, tình hình không códấu hiệu khả quan hơn Một số nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở ViệtNam trong thời gian qua là :

- Thứ nhất : sự kém hiệu quả của hoạt động đầu tư công Theo thống

kê mỗi năm Việt Nam đầu tư công khoảng 17-20% GDP, trong khi các nướctrong khu vực chỉ dưới 5% như Trung Quốc 3,5%, Indonesia 1,6% Báo cáomới nhất của Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội khi thẩm tra tình hìnhthu chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2010 đã “đề nghị xem xét lại đầu

Ngày đăng: 08/05/2014, 17:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w