phát triển tài chính tự do hóa , X được xác định bởi thị trưởng , còn đối với các nướcnhư Việt Nam , X được quy định bởi Ngân hàng Nhà nước .Lãi suất tiền gửi và cho vay liên quan đến ho
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1 : Một số vấn đề cơ bản về lãi suất
1.1 :Các loại lãi suất cơ bản
1.2 : Một số phân biệt về lãi suất
1.2.1 : Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
1.2.2 Lãi suất và tỷ suất lợi tức
1.2.3 : Lãi suất cơ bản của ngân hàng
1.3 : Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
1.3.1 : Ảnh hưởng của cung cầu của quy cho vay
1.3.2 : Ảnh hưởng của lạm phát kì vọng
1.3.3 : Ảnh hưởng của bội chi ngân sách
1.3.4 : Những thay đổi về thuế
1.3.5 : Những thay đổi trong đời sống xã hội
1.4 : Vai trò của lãi suất ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường
1.5 : Khái quát tình hình lãi suất ở Việt Nam
1.5.1 :Điều hành lãi suất giai đoạn 1996-2000
1.5.2 :Điều hành lãi suất từ sau năm 2000
Chương 2 : Vấn đề điều chỉnh lãi suất tại các ngân hàng thương mại theo quy định của ngân hàng trung ương từ năm 2010 đến nay
.2.1 : Thực trạng trong điều chỉnh lãi suất của ngân hàng trung ương năm 2010
2.1.1 : Nguyên nhân điều chỉnh lãi suất của ngân hàng trung ương
2.1.2 : Vấn đề điều chỉnh lãi suất của ngân hàng nhà nước và tác dộng của nó đén ngân hàng thương mại
2.2 : Thực trạng điều chỉnh lãi suất của ngân hàng nhà nước năm 2011
2.2.1 : Thực trạng lãi suất quý 1 năm 2011
2.2.2 :Thực trạng lãi suất quý 2 năm 2011
2.2.3 : Thực trang lãi suât quý 3 năm 2011 đến nay
Chương 3 :Giải pháp cho tình hình lãi suất ở Việt Nam năm 2012
3.3 Các giải pháp Ngân hàng Nhà nước đã triển khai
3.2.Nâng cao vai trò điều phối của Ngân hàng trung ương
3.1 Kiềm chế lạm phát
Trang 2Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT
Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan hệvay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạngthứa tài sản khác nhau Khi đến hạn , người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay mộtkhoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên sốtiền vốn gọi là lãi suất
1.1 :Các loại lãi suất cơ bản
Mặc dù lãi suất là giá cả tín dụng nói chung m song chúng ta lại biết rằng tín dụng có thểđược thực hiện bằng các hình thức và các phương thức khác nhau , vì vậy mà lãi suất lạikhông thể chỉ được phân biệt thành các loại khác nhau mà còn áp dụng các phương phápkhác nhau để đo lường theo các phương thức tín dụng khác nhau
1.1.1 :Căn cứ vào tiêu thức quản lí vĩ mô thì lãi suất được chia thành 3 loại : lãi suất trần , lãi suất sàn và lãi suất cơ bản
Lãi suất trần : là lãi suất cao nhất cho các ngân hàng thương mại hay cá tỏchức tín dụng được áp dụng đối với người đi vay hoặc người gửi
Lãi suất sàn : là lãi suất thấp nhất cho cá ngân hàng hàng thương mại haycác tổ chức tín dụng được áp dụng đối với người đi vay hoặc người gửi
Lãi suất cơ bản : lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở chocác tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh
1.1.2 :Căn cứ vào nghiệp vụ tín dụng thì lãi suất được chia ra thành: lãi suất tiền gửi
và lãi suất cho vay
Lãi suất tiền gửi : thông thường là lãi suất mà cá tổ chức tín dụng trả chongười gửi tiền trên số tiền ở tài khoản tiền gửi tiết kiệm
Lãi suất cho vay : bao gồm có lãi suất chiết khấu, lãi suất tái triết khấu vàlãi suất liên ngân hàng
Trang 3* Lãi suất chiết khấu : áp dụng khi ngân hàng co khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hay các giấy tờ có giá trị khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng Nó được tính bằng tỉ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá trị và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng
* Lãi suất tái chiết khấu : áp dụng khi Ngân hàng trung ương tái cấp vốn cho các ngânhàng dưới hình thức chiết khấu lại các thương phiếu hay các giấy tờ có giá ngắn hạnchưa đến hạn thanh toán cho các ngân hàng Nó được tính bằng tỉ lệ % trên mệnh giácủa giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi Ngân hàng Trung ương cấp vốn tiềnvay cho Ngân hàng
* Lãi suất liên ngân hàng ( lãi suất qua đêm ) là lãi suất các ngân hàng áp dụng khi chonhau vay thông qua thị trường liên ngân hàng
1.2 : Một số phân biệt về lãi suất
1.2.1 : Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
Trên thực tế , những khoản thi nhập bằng tiền hay thu nhập danh nghĩa thường khôngphản ánh đúng giá trị thực của chính khoản thu nhập đó Tỷ lệ lạm phát hay tỉ lệ trượtgiá của đồng tiền trong một thời gian nhất định luôn làm cho giá trị thực trở nên nhỏ hơngiá trị danh nghĩa Vì vậy , lãi suất thực luôn nhỏ hơn lãi suất danh nghĩa bởi tỷ lệ lạmphát nói trên
Thông thường , trong những điều kiện tỷ lệ lạm phát ( i) không lớn hơn 10% thì lái suấtthực(r ) và lãi suất danh nghĩa ( R )có liên hệ với nhau qua công thức đơn giản :
r = R – i
Tuy nhiên , nếu tỷ lệ lạm phát i cao hơn 10% , ví dụ là 40% ; lãi suất danh nghĩa , ví dụ
là 150% thì lãi suất thực không thể tính như trên mà phải tính theo công thức :
r = (R – i ) / ( i +1 )
Từ dó chúng ta có thể thấy một xu hướng thức tế : tỷ lệ làm phát càng cao thì lãi suấtthực càng thấp
1.2.2 Lãi suất và tỷ suất lợi tức
Lãi suất là tỷ lệ phần trăn của số tiền lãi trên số tiền vốn cho vay Trong khi đó , tỷ suấtlợi tức là tỷ lệ phần trăm của số thu nhập của người có vốn trên tổng số vốn mà người đó
Trang 4đã đưa vào sử dụng ( đầu tư hay cho vay ) Lấy một ví dụ như sau : một trái phiếu khobạc có thời hạn 1 năm , mệnh giá 1.000.000 VND và lãi suất cố định là 6%/ năm Nếuông A mua trái phiếu đó giữ cho đến ngày đáo hạn , ông ta sẽ nhận được khoản thu bằng6% mệnh gía trái phiếu và đúng bằng lãi suát của trái phiếu Nhưng nếu lãi suất trên thịtrường là 5% , ông A đem bán trái phiếu này thu được 1.200.000VND , thì khoản thunhập của ông A là 200.000 VND và tỷ suất lợi tức lúc này là 20% Như vậy , lãi suấtkhông nhất thiết bằng với tỷ suất lợi tức
Đối với một số tổ chức tín dụng như là tín dụng vi mô , ngoài một tỷ lệ lãi nhất định cá
tổ chức này còn đòi hỏi người vay tiền phải trả thêm cả các khoản phí ( fee andcommision ) , và do đó , tổng thu nhập từ những khoản cho vay sẽ không phải chỉ cótiền lãi mà là chi phí tài chính đối với người vay tiền Tỷ lệ phần tră, của chi phí tàichính nói trên trên số dư nợ là tỷ suất lợi tức hay lãi suất hiệu quả ( eiective interest rates) của tổ chức tín dụng
1.2.3 : Lãi suất cơ bản của ngân hàng
Ba loại lãi suất cơ bản của ngân hàng thường được quan tâm hơn cả bao gồm lãi suấttiền gửi , lãi suất cho vay và lãi suất liên ngân hàng
Lãi suất tiền gừi thông thường là lãi suất mà ngân hàng thương mại trả cho người gửitiền trên số tiền ở tài khoản tiền gửi tiết kiệm Tuy nhiên , ở một số nước đang phát triểnkhác , tiền gửi không thời hạn để phát hành séc cũng có thể được trả lãi suất tiền gửinhắm mục đích khuyến khích cho việc thanh toán không dùng tiền mặt Lãi suất tiền gửiđược tính qua công thức :
icv = itg + X;
Trong đó icv là lã suất cho vay , X là chi phí nghiệp vụ ngân hàng , bao gồm tất cả cáckhoản chi phí hoạt động , phát triển vốn và đè phòng rủi ro ,v vv…Đối với các nước
Trang 5phát triển tài chính tự do hóa , X được xác định bởi thị trưởng , còn đối với các nướcnhư Việt Nam , X được quy định bởi Ngân hàng Nhà nước
Lãi suất tiền gửi và cho vay liên quan đến hoạt động của ngân hàng trên phạm vi thịtrường tiền tệ còn có lãi suất liên ngân hàng : là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vaytiền nhằm giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn trên các thị trường tiền tệ Lãi suất LIBORhay PIBOR,…( London or Paris Inter-bank Offeered Rates ) tương ứng là lãi suất trênthị trường tiền tệ ngân hàng London hay Paris
1.3 : Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
Trong các nền kinh tế kê hoạch hoa tập trung , nhà nước đóng vai trò trung tâm tronghầu hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội Trong các nước này cũng không có thịtrường tài chính và tài chính kiềm chế là mô hình quản lí tài chính phổ biên Vì lẽ đó ,lãi suất trong các nước đó đều do nhà nước quy định , thậm chí một số nước cì quy địnhđến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng Sựbiến động của lãi suất trong các điều kiện như vậy phần lớn phụ thược vào ý chí củaChính phủ và không thể dự đoán hay xác lập bất cứ quy luật vận động nào
Trái lại , trong các nền kinh tế thị trường , nhà nước chỉ đong vai trò là người điều tiết vĩ
mô, thị trường tài chính và các ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính trung gian rấtphát triển Hơn nữa , đa số các nước này lại theo đuổi tài chính tự do hóa và cơ chế hìnhthành lãi suất lại là cơ chế thị trường Lãi suất ví vậy luôn biến động phụ thuộc rất nhìuvào các nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như nhiều nhân tố khác Sau đây là các nhân tố cơbản và quan trọng nhất ảnh hưởng đến lãi suất :
1.3.1 : Ảnh hưởng của cung cầu của quy cho vay
Như ta đã biết , lãi suất là giá cả của cho vay , vì vậy bất cứ sự thay đổi của cung vàcấu hoặc cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãisuất trên thị trường , tuy mức dộ biến động của lãi suất cũng ít nhìu nhiều phụ thuộc vàocác quy định của chính phủ và Ngân hàng trung ương , song đa số các nước có nền kinh
tế thị trường đều dựa vào nguyên lí này để xác định lãi suất Từ điều này cho thấy ,
Trang 6chúng ta có thể tác động váo cung cấu trên thị trường vốn để thay đổi lãi suất trong nềnkinh tế cho phù hợp với mục tiêu chiến lược trong từng thời kì : chẳng hạn như thay đổi
cơ cấu vốn đầu tư , tập trung vốn đầu tư cho các dự án trọng điểm Mặt khác , muốnduy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị trường vốn phái được đảm bảo vữngchắc
1.3.2 : Ảnh hưởng của lạm phát kì vọng
Khi mức lãi suất được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kì nào đó , lãi suất sẽ có xuhướng tăng Điều này có thể được giải thích bằng cả hai hướng tiếp cận Thứ nhất , xuấtphát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa cho thấy , để duy trì lãi suấtthực không đổi , tỷ lệ lạm phát tăng , dòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng lên tương ứng.Thứ hai , công chúng dự đoán lạm phát tăng , sẽ dành phần tiết kiệm của mình cho việc
dự trữ hàng hóa hoặc những dạng thức tài sản phi tài chính khác ( non-financial assets )như vàng , ngoại tệ mạng , hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu như có thể Tất cả cácđiều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất của các nhà băng cũngnhư trên thị trường Từ mối quan hệ này cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việckhắc phục tâm lý lạm phát đối với việc ổn định lãi suất , sự ổn định và tăng trưởng nềnkinh tế
1.3.3 : Ảnh hưởng của bội chi ngân sách
Một cách đơn giản nhất , bội chi ngân sách trung ương và địa phương trực tiếp làm chocầu của quỹ cho vay tăng làm tăng lãi suất Sau nữa , bội chi ngân sách sẽ tác động đếntâm lý công chúng về gia tăng mức lạm phát và do vậy mà sẽ gây áp lực tăng lãi suất Trên một giác độ khác , thông thường khi bội chi ngân sách tăng , chính phủ thường giatăng việc phát hành trái phiếu Lượng cung trái phiếu trên thị trường tăng lên làm chogiá trái phiếu có xu hướng giảm , lãi suất thị trường vì vậy mà tăng lên Hơn nữa , tàisản của các ngân hàng thương mại cũng gia tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ , dựtrữ vượt quá giảm , lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng
Trang 71.3.4 : Những thay đổi về thuế
Thuế thu nhập cá nhân vè thuế lợi tức công ty luôn tác động đén lãi suất giống như khithuế tác động đến giá cả hàng hóa Nếu cá hình thức thuế này tăng lên cũng có nghĩa làđiều tiết đi một phần thu nhập của những cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụnghay những người tham gia kinh doanh chứng khoán Thông hường , ai cũng sẽ quan tâmđến thu nhập thực tế hay lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa Do vậy , đểduy trì một mức lợi nhuận thực tế nhất định họ phải cộng thêm vào lãi suất co vaynhững thay dổi của thuế Điều quan trọng được rút ra từ mối quan hệ này là việc xác lập
và điều chỉnh đối với chính sách thuế , nhằm hạn chế những tác động ngoài ý muốn củamỗi thay đổi nói trên của thuế
1.3.5 : Những thay đổi trong đời sống xã hội
Ngoài những yếu tố được trình bày trên đây , sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnhhường của các yếu tố thuộc về đời sống xã hội khác Sự phát triển của thị trường tàichính với các công cụ tài chính là một ví dụ Các công cụ ày khác nhau không chỉ ở thờigian phương pháp tính và trả lãi , khả năng tiêu thụ mà cả về độ co giãn của giá cả theolượng cầu của chúng Chính vì vậy mà những thay đổi trong cơ cấu chứng khoán ;sựxuất hiện các chứng khoán mới cũng như sự phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâucủa thị trường sơ cấp cũng sẽ tác động làm thay đổi lãi suất trên thị trường thứ cấp Mức độ phát triển của các thể chế tài chính trung gian và gắn liền theo đó là sự canhtranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ của các tổ chức này là một ví dụ khác Hiệusuất sử dụng vốn hay tỷ suất đàu tue cận biên trong nền kinh tế trong các thời kìkhácnhau do những thay đổi trong công nghệ và sự phát triển mang tính chu kì của nềnkinh tế cũng tác dộng đến sự thay đổi lãi suất Thêm nữa , tình hình kinh tế , chính trịcũng như những biến động tài chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệtrên thế giới ; các luồng đầu tư ra vào đối với các nước …., đều ít nhiều tác động đến sựthay đổi của lãi suất của cá nước khác Tất cả các ván đè này gợi ý cho tất cả nhữngngười nghiên cứu , soạn thảo và điều hành chính sách phải có sự nhìn nhận và đánh giámột cách tổng thể trước khi đưa ra bất kì một kết luận hoặc quyết định nào liên quan đếnlãi suất
Trang 81.4 : Vai trò của lãi suất ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường
Ở tầm kinh tế vi mô , lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũng như các doanh nghiệpđưa ra cá quyết định kinh tế của mình như : chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm ; đấu tư sốvốn tích lũy được vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác …
Mặt khác , ở tầm kinh tế vĩ mô , lãi suất lại là một công cụ điều tiết cho vay kinh tế rấtnhạy bén và hiệu quả : thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kìnhất định , chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu tư , dovậy mà có thể tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu ; đến tốc dộ tăng trưởng , sảnlượng , tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước Hơn thế nữa , trong nhữngđiều kiện nhất định của nền kinh tế mở , chính sách lãi suất còn được sử dụng nhưu làmột công cụ góp phần điều tiết đối với các luồng vốn đi vào hay đi ra đối với một nước ,tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn định của tỷ giá Điều này không những tác độngđến đầu tư pháttrieenr kinh tế mà còn tác động đến cán cân thanh toán và các quan hệ
thương mại quốc tế đối với nước ngoài Ví dụ như : lãi suất tăng làm giảm vay nợ Cá
nhân giảm đi vay và tăng gửi tiết kiệm, do đó giảm tiêu dùng hay doanh nghiệp giảmvay mới và do đó giảm đầu tư mới, nên tác động tiêu cực tới tổng cầu và tác động tiêucực tới tổng cầu Mặt khác, lãi suất tăng còn có nghĩa là giá cả các khoản vay hiện thờicủa doanh nghiệp tăng, có nghĩa là giá vốn tăng hay chi phí sản xuất tăng Điều này làmgiảm lợi nhuận của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp sản xuất; do
đó tác động tiêu cực tới tổng cầu Giãn thợ còn làm giảm thu nhập của người lao động.Điều này khiến họ giảm tiêu dùng Tổng cầu lại chịu tác động tiêu cực
Đối với hoạt động vay cầm cố, khi lãi suất tăng người ta sẽ giảm nhu cầu vay để xây haymua nhà, do đó đầu tư xây nhà giảm, ảnh hưởng tiêu cực tới tổng cầu Nó còn khiến choviệc trả nợ các khoản vay cầm cố hiện thời trở nên khó khăn hơn khiến người đi vayphải giảm tiêu dùng để còn trả nợ Tổng cầu vì thế chịu tác động tiêu cực Thông qua tỷgiá hối đoái thì lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ở nước ngoài sẽ khiếncho dòng vốn từ nước ngoài tăng cường chảy vào trong nước Điều này làm cho tỷ giáhối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ giảm xuống Xuất khẩu ròng vì thế giảm đi, khiến chotổng cầu giảm theo
Trang 9Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trường phát triển và theo đuổichính sách tự do hóa tài chính ( financical liberalization ) , lãi suất được hình thành trên
cơ sở thị trường , tức là do quan hệ giữa cung và cấu về vốn trên thị trường quyết định Trong những nước như vậy , lãi suất đã trở thành một trong những chỉ tiêu quan trọngđược quan tâm , theo dõi một cách chặt chẽ nhất Trái lại , trong các theo đuổi chính sáchtài chính kiềm chế ( financial repression) và đặc biệt là các nước có nền kinh tế được tổchức theo cơ ché kế hoạch hóa tập trung , vai trò của lãi suất không được nhìn nhận mộtcách đúng đắn : lãi suất mang nặng tính chất bao cấp về tài chính trong toàn bộ khu vựckinh tế quốc doanh và đảm bảo cho yêu cầu về “ giới hạn ngân sách mềm “ ( sotf budgetconstraints) trong các hoạt động chi tiêu của chính phủ Hậu quả đối với các nước này làmất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cấu vốn đầu tư ; không thể kiểm soát tình hìnhlạm phát và biến động của tỷ giá hối đoái ; tình hình thiếu vốn trầm trọng do không cókhả năng huy động vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả ; hệ thống thị trường tàichính bị chia cắt manh mún không thể kiểm soát nổi và đầy rẫy các rủi ro cho nên khôngthể góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở các nước này
1.5 : Khái quát tình hình lãi suất ở Việt Nam
Cơ chế lãi suất của Việt Nam dần dịch chuyển từ kế hoạch hóa tập trung, tách biệt với mặt bằng lãi suất của kinh tế thế giới sang điều chỉnh linh hoạt, từng bước tự do hóa, hộinhập với hệ thống tài chính toàn cầu Thời gian qua, cơ chế điều hành lãi suất đã có những thay đổi căn bản, nhất là từ khi hệ thống ngân hàng hai cấp được thiết lập
1.5.1 :Điều hành lãi suất giai đoạn 1996-2000
Trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7-2000 Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền vay, NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức 0,35%/tháng (tương đương
4,2%/năm) Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến
Trang 10động kinh tế khu vực và thế giới Tới cuối tháng 1-1998, quy định chênh lệch lãi suất được xóa bỏ, chỉ giữ lại quy định trần lãi suất cho vay.
Song hành với việc nới lỏng kiểm soát lãi suất, NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng giảm ngưỡng trần và mức khống chế, đặc biệt trong hai năm 1998-
1999 Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm để phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệcung – cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp kích cầu của Chính phủ Lãi suất tái cấp vốn năm 1997 là 1,1%/tháng, giảm xuống còn 0,7%/tháng kể từ ngày 4-9-1999.Các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá cho ngân hàng thương mại cũng được đưa vào sử dụng để bổ sung thêm công cụ điều chỉnh lãi suất Lãi suất tái chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn 0,05%/tháng so với lãi suất tái cấp vốn Từ tháng 7-2000, nghiệp vụ thị trường mở được áp dụng với lãi suất hình thành qua các phiên giao dịch
Trong một thời gian dài, từ cuối những năm 80 cho tới năm 2000, cơ chế lãi suất của Việt Nam luôn cố gắng duy trì mức lãi suất thực dương – như một giải pháp cho vấn đề lạm phát Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được Thậm chí, có những thời điểm còn xuất hiện thiểu phát Nếu chia lãi suất dương cho tỷ lệ lạm phát thì tỷ lệ này rất cao… Năm 1999 là 5.350% và năm 2000 là trên 6.000% (2) Lãi suất cao, trong tương quan với các nền kinh tế khu vực, là cơ hội tốt đầu tư vào trái phiếu Việt Nam trong thời kỳ này
Cơ chế điều hành lãi suất với một mức cơ bản kèm biên độ dao động được NHNN áp dụng kể từ tháng 8-2000 thay cho cơ chế lãi suất trần Hai chỉ tiêu này được công bố chính thức định kỳ hàng tháng và điều chỉnh kịp thời trong trường hợp cần thiết Đối vớilãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung – cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ Đây là nền tảng cho việc xác định điểm cân bằng
tỷ giá theo cách tính sức mua tương đương (PPP), từ đó, hình thành một cơ chế tự điều chỉnh
1.5.2 :Điều hành lãi suất từ sau năm 2000
Trang 11Đến tháng 5-2001, NHNN từng bước chuyển sang áp dụng hình thức cho vay bằng ngoại tệ Và kể từ sau tháng 5-2002, cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng trong hoạt động tín dụng.
Trước sự vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát tăng cao ngay từ đầu năm 2008, NHNN thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, sử dụng đồng thời các công cụ lãisuất và hoạt động thị trường mở Công cụ lãi suất được phát huy tối đa, liên tục có điều chỉnh và triển khai quyết liệt Từ giữa tháng 1-2008, dự trữ bắt buộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng Lãi suất tái cấp vốn cũng tăng gấp hai lần trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6-2008 Mức lãi suất chiết khấu so với cuối năm 2007 tăng thêm 8,5%, ở mức 13%/năm kể từ 10-6-2008 Thời điểm này, NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm Với quy chế điều hành
là cho phép tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãi suất
cơ bản, trần lãi suất cho vay lên tới 21%/năm Đặc điểm đáng chú ý trong giai đoạn các ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản này là lãi suất huy động ngắn hạn bằng, thậm chí cao hơn lãi suất huy động dài hạn
Năm 2008 chứng kiến sự biến động mạnh của lãi suất với sự điều hành chính sách tiền
tệ linh hoạt và uyển chuyển của NHNN Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện theo
cả hai hướng mở rộng và thắt chặt tiền tệ đã không tạo tác động đáng kể nào tới lãi suất Trong tuần thứ ba của tháng 2-2008, NHNN bổ sung 33.000 tỉ đồng vào lưu thông nhưng các ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục tăng lãi suất huy động tiền gửi Tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB), lãi suất huy động điều chỉnh 3 lần chỉ trong vòng 10 ngày và tăng lên 12,5%/năm với kỳ hạn 1 tháng Thông báo phát hành20.300 tỉ đồng tín phiếu bắt buộc được đưa ra vào giữa tháng 2-2008 và thực hiện một tháng sau đó Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đang đi lên, rất khó xác định ảnh hưởng của nghiệp vụ này tới lãi suất Trong tháng 6-2008, lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại tiến gần tới trần lãi suất cho vay Ngày 30-6-2008, Ngân hàng Kiên Long ápdụng lãi suất huy động tiền đồng cao kỷ lục là 20%/năm cho khách hàng gửi tiền kỳ hạn
12 tháng Hiệu lực không thật rõ ràng của các nghiệp vụ thị trường mở vào thời kỳ lạm phát gia tăng là tín hiệu sự tồn tại bẫy thanh khoản trong hệ thống tín dụng, tại thời điểm
đó Nếu đúng vậy, điều chỉnh tăng dần các công cụ lãi suất là giải pháp hợp lý và sớm mang lại kết quả bình ổn thị trường tiền tệ
Trang 12Cuối tháng 6-2008, 2 tỉ đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2 năm với lãi suất 11%/năm đãđược huy động thành công(3) Mặc dù khối lượng không lớn nhưng dấu hiệu này gợi mởkhả năng tiếp tục duy trì các chính sách tiền tệ – tài chính vĩ mô Lưu ý rằng, chỉ haituần trước đó, phiên đấu thầu hai loại trái phiếu chính phủ ngày 13-6-2008 có kỳ hạn 2năm và 3 năm đã không thu hút được bất kỳ thành viên nào tham gia Trên thị trường, có
tổ chức tài chính sẵn sàng chuyển nhượng lượng trái phiếu đang sở hữu với mức chiếtkhấu lên tới 40% mệnh giá, nhưng vẫn không tìm được đối tác quan tâm
So với giai đoạn khủng hoảng tiền tệ khu vực 1997-1998, chính sách tiền tệ của ViệtNam trong năm 2008 sử dụng nhiều công cụ hơn và cường độ điều chỉnh dồn dập hơn.Nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh vượt qua khó khăn trong bối cảnh khủng hoảng tàichính khu vực, chính sách tiền tệ được mở rộng trong các năm từ 1997 đến 1999 Vớimức lãi suất thực dương, các liệu pháp tiền tệ đã phát huy tác động ổn định kinh tế vĩ
mô Chi phí lãi vay cao kết hợp với tăng giá đầu vào tạo ra áp lực lớn với sự vận hànhsản xuất, kinh doanh trong năm 2008 Chấp nhận chi phí đầu vào tăng cao, hạn chế mởrộng tín dụng là những dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng thương mại cũng gặp khókhăn với vấn đề thanh khoản Điều này có thể là kết quả của những khoản tín dụng chấtlượng thấp đã cung cấp trong thời gian trước, với tỷ lệ không nhỏ dành cho các dự ánbất động sản và đầu tư tài chính
Song, câu hỏi đặt ra là lãi suất ở Việt Nam phải chăng đã thực sự linh hoạt, mềm dẻo vàbiến động phù hợp với nền kinh tế Trên thực tế , lãi suất Việt Nam vẫn chỉ là lãi suấtngân hàng , do Ngân hàng nhà nước xác định và áp dụng cho toàn bộ hệ thống ngânhàng Chúng ta chưa cóc lãi suất thị trường , chưa cho phép lãi suất được xác định trên
cơ sở thị trường Về vấn đề này , xét trên giác độ nền kinh tế Việt Nam mới đang ở giaiđoạn đầu tiên bước sang cơ chế thị trường , có thể khẳng định rănì chưa thể cho phép tự
do hóa lãi suất , tức là xác định lãi suất theo các lực lượng thị trường ; nhưng ở giác độkhác , muốn phát triển nền kinh tế thị trường tài chính nói chung và thị trường chứngkhoán nói riêng , đòi hỏi chúng ta phải cho phép tự do hóa lãi suất Kinh nghiệm củacác nước trên thế giới cũng như cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực thờigian gần đây cho thấy đó là vấn đề rất phức tạp , đòi hỏi những bước đi đúng đắn củamỗi quốc gia
Trang 13Chương 2 : VẤN ĐỀ ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CẢU NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TỪ
NĂM 2011 DẾN NAY
Nhìn lại năm 2009, khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đă đặt hệ thống ngân hàngViệt Nam đứng trước một năm đầy khó khăn và thách thức Trên cơ sở bám sát chỉ đạo,điều hành của Chính phủ cùng với sự nỗ lực của toàn ngành, hoạt động ngân hàng năm
2009 đă đạt được nhiều kết quả tích cực Trong đó, nổi bật là việc triển khai kịp thời cơchế hỗ trợ lăi suất, điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động của các ngân hàng thươngmại (NHTM) trong năm 2009 đă có sự ổn định tương đối so với năm 2008 Tuy nhiên,trên thực tế, những biến động và căng thẳng trên thị trường tiền tệ vẫn c ̣n tồn tại, ở một
số thời điểm, đă có những ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp và tâm lí củangười dân trong nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với hoạt độngcủa ngành Ngân hàng trong năm 2010 Một trong những vấn đề của năm 2009, mặc dù
đă có những giải đáp cụ thể về chính sách điều hành, song, trong những tháng đầu năm
2010, vẫn nổi lên những vấn đề tranh luận xoay quanh việc điều hành chính sách lăi suấtcủa NHNN, đặc biệt là việc dỡ bỏ trần lăi suất huy động có được thực hiện hay không đăgây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng
2.1 : Thực trạng trong điều chỉnh lãi suất của ngân hàng trung ương năm 2010
Diễn biến của lãi suất năm 2010 đi theo kịch bản của năm 2009: Lãi suất điều hành ổnđịnh trong một thời gian dài và sau đó tăng lên vào cuối năm nhằm kiếm chế lạm phát;lãi suất thị trường có xu hướng giảm vào giữa năm và tăng cao trở lại những tháng cuốinăm
Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xă hội năm 2010 đă xác định
mục tiêu tổng quát của năm 2010 là “nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh
xă hội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xă hội; bảo đảm yêu cầu quốc pḥng, an ninh; phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xă hội 5 năm
Trang 142006 - 2010” Trong đó, vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) góp phần
thực hiện thành công các mục tiêu trên là không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh sức ép giatăng lạm phát như hiện nay
2.1.1 : Nguyên nhân điều chỉnh lãi suất của ngân hàng trung ương
2.1.1.1: Lạm phát và chính sách tiền tệ thắt chặt
Thực trạng của nền kinh tế nước ta năm 2010 đang phải đối mặt với áp lực lạm phát vàvới sức phục hồi nền kinh tế còn thiếu vững chắc: Mặc dù tăng trưởng kinh tế quíI/2010 đạt 5,83%, cao hơn nhiều mức tăng trưởng quí I/2009, vốn đầu tư toàn xă hộităng 26,23%, cao hơn rất nhiều mức tăng 9% của quý I/2009, song nhập siêu vẫn ở mứcđáng lo ngại (xuất khẩu đạt 14 tỷ USD, nhập khẩu đạt 17,5 tỷ USD, nhập siêu đạt 3,5 tỷUSD), lạm phát tuy vẫn trong tầm kiểm soát nhưng đang có xu hướng tăng trở lại
Đồ thị 1: Diễn biến chỉ số CPI so với 12 tháng
0.0 5.0 10.0 15.0 20.0 25.0 30.0
Tình hình lạm phát ở Việt nam hiện nay đã lên mức 2 con số, trên 20% Nền kinh tế lúcnày bị áp lực lạm phát cao, muốn chống lạm phát ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt , nghĩa là giảm cung tiền MS Theo lý thuyết, khi MS giảm đường
MS dịch chuyển sang trái , trên thị trường tiền tệ lãi suất tăng Sự gia tăng của lãi suất bóp nghẹt đầu tư làm giảm tổng cầu, giảm sản lượng và làm giảm áp lực cuả lạm phát Thế nhưng thực tế không đơn giản như vậy Lạm phát tinh đến tháng 7/2011 đã trên 22%, người gửi tiền không thể chấp nhận trần lãi suất 14% như hiện nay, người dân đổ
xô vào đầu tư các thị trường bất động sản, vàng, dollar hệ quả là trong 4 tháng đầu năm lượng tiền gửi bằng VND giảm mạnh và USD tăng nhanh trong hệ thống ngân hàng, trong khi các doanh nghiệp không có vốn để đầu tư sản xuất Các ngân hàng phải tìm cách vượt trần lãi suất để huy động vốn Các doanh nghiệp hiện nay đang phải vay vốn với mức lãi suất hơn 20% một năm, vay vốn đắt đỏ không đảm bảo sản xuất Hơn thế nữa than, điện, xăng dầu và hàng loạt các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp tiếp tục tăng giá, nguy cơ của lạm phát chi phí đẩy đang thực sự hiện hữu( áp lực tăng giá cả xuất
Trang 15phát từ sự tăng lên của chi phí sản xuất vượt quá mức tăng của năng suất lao động và làm giảm mức cung ứng của hàng hóa xã hội) Nền kinh tế đang rơi vào một vòng luẩn quẩn
2.1.1.2 : Cuộc chạy đua lãi suất
NHNN giữ trần lãi suất huy động ở mức 14%/năm khi CPI đã lên tới hơn 19% so vớicùng kỳ năm ngoái Trên thực tế, quy định trần lãi suất này đã bị các NHTM lách quamột cách dễ dàng Như vậy, một mặt, hiệu quả chính sách không
thực hiện được bởi trần lãi suất không được áp dụng, mặt khác lại tạo ra rủi ro
pháp lý bởi rất nhiều người tham gia vào giao dịch "phạm luật" này Kết quả là,
chính sách trần lãi suất chỉ làm tăng thêm chi phí giao dịch mà kết quả lại không
như mong muốn, hơn thế nữa, sức khỏe của các tổ chức tín dụng khác nhau,rủi ro tín dụng của các ngân hàng khác nhau Các ngân hàng nhỏ nói chung gặp nhiều
khó khăn hơn, song không thể vay mượn từ NHNN, còn vay trên thị trường liên
ngân hàng thì lãi suất quá cao, vì vậy buộc phải tăng mạnh lãi suất để huy động
vốn từ dân cư Những ngân hàng lớn, dù thanh khoản có khá hơn, song vẫn buộc
phải tăng lãi suất lên để giữ vị thế cạnh tranh Lãi suất không kỳ hạn đã được một
số ngân hàng thương mại đẩy lên rất cao, từ 9-12%/năm, một hiện tượng chưa từng thấytrên thị trường tiền tệ Việt nam Thậm chí các TCTD còn có những kỳ hạn
độc chiêu hơn cả kỳ hạn tuần đang được các ngân hàng áp dụng Ví dụ, Habubank với mức lãi suất trả cuối kỳ cho kỳ hạn gửi 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày tương
ứng 12,5%/năm; 13/năm; 13,5%/năm và 13,8%/năm Hoặc sản phẩm tiết kiệm có
kỳ hạn lãi suất siêu thả nổi tại VietinBank cũng là một chiêu độc đáo khi khác hàng được chọn kỳ điều chỉnh lãi suất 1 tuần/2 tuần/3 tuần… Cuộc đua lãi suất
cũng là một nguyên nhân đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, làm méo mó thị trường lãi suất, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nền kinh tế Thực tế cho thấy NHNN nên chia hệ
thống ngân hàng ra thành các nhóm với mức độ với sự rủi ro và chất lượng khác
nhau, để từ đó có những phương pháp quản lý thích hợp, linh hoạt NHNN nên
kiểm soát tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng, chứ không nên áp đặt trần tăng trưởng tín dụng đồng loạt cho mọi ngân hàng
Trang 162.1.2 : Vấn đề điều chỉnh lãi suất của ngân hàng nhà nước và tác dộng của nó đén ngân hàng thương mại
2.1.2.1 : Biện pháp về lãi suất của ngân hàng nhà nước đối với VND
Năm 2010, một năm đầy biến động của thị trường tiền tệ trong nước cũng như trên thếgiới, một năm mà nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn phục hồisau những ảnh hưởng từ biến động kinh tế thế giới 2008 – 2009 Trước những biến động
đó, để thực hiện đồng bộ với các giải pháp của Chính phủ, NHNN thực hiện điều hànhchính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt nhằm tạo điều kiện hỗ trợ tích cực cho thị trườngtiền tệ - tín dụng hoạt động ổn định, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiềm chếlạm phát gia tăng những tháng cuối năm một cách hiệu quả Theo đó, NHNN đã duy trìlãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ổn định ở mức 8% trong suốt 10 tháng đầu năm vàthực hiện điều chỉnh lên mức 9% trong hai tháng cuối năm trước sức ép của lạm phát
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ hoạt động theo quy luật thì trường,
có sự quản lý của nhà nước, NHNN từng bước bỏ các quy định rằng buộc về các loại lãisuất của các tổ chức tín dụng ( TCTD) Cụ thể là trong năm, NHNN đã ban hành Thông
tư số 03/2010/TT-NHNN; Thông tư 07/2010/TT-NHNN; Thông tư 12/2010/TT-NHNNcho phép TCTD được thực hiện cho vay bằng VND theo cơ chế lãi suất thoả thuận Tuynhiên trong năm vừa qua, chính sách điều hành cũng như chính sách lãi suất vẫn bị chiphối bởi chính sách kinh tế đa mục tiêu, chịu áp lực lớn từ biện pháp kinh tế vĩ mô củaChính phủ Vì vậy, đã tạo ra những khó khăn nhất định trong công tác điều hành ổn địnhmặt bằng lãi suất của NHNN
2.1.2.2 : Vấn đề điều chỉnh lãi suất tại các Ngân hàng thương mại theo quy định của
Trang 17Cho đến thời điểm hiện nay, có thể thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam đă có sự pháttriển vượt bậc về nhiều mặt, đặc biệt trong việc ứng dụng các công nghệ ngân hàng mới.Tuy nhiên, năng lực tài chính, năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh của các thành viêntrên thị trường tài chính không đồng đều, tính bền vững trong phát triển chưa cao: Xéttrong hệ thống các tổ chức tín dụng với 73 ngân hàng và 08 tổ chức tín dụng phi ngânhàng chỉ có một số ít các ngân hàng thương mại có vốn điều lệ và tài sản có lớn Riêngkhối NHTM nhà nước (3 NHTM nhà nước, 2 NHTM mà trong đó Nhà nước chiếm cổphần chi phối, 1 Ngân hàng Chính sách xă hội) vốn điều lệ đă chiếm 27,28% tổng vốnđiều lệ của cả khối, thị phần huy động vốn và cung cấp tín dụng khoảng 60%, mứcchênh lệch trong chiếm lĩnh thị phần của một ngân hàng lớn nhất với một ngân hàng lớn
kế tiếp là tương đối lớn Mức độ lớn về vốn điều lệ và tài sản có quyết định khả năngcạnh tranh của ngân hàng Đối với những ngân hàng có vốn nhỏ vẫn có sức mạnh trongcạnh tranh thị trường, song với một cấu trúc thị trường có tồn tại nhiều các NHTM cóvốn và thị phần thấp thường nảy sinh những hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranhkhông lành mạnh Mặt khác, đối với nhóm ngân hàng lớn, thông qua vị thế mạnh củaḿnh trong hệ thống, những hành vi chi phối thị trường của các ngân hàng này có thể gâyảnh hưởng tới tác động tổng thể của chính sách NHNN nói chung và chính sách lăi suấtnói riêng
Nguồn: NHNN
Trang 18TÌnh trạng đua nhau tăng lăi suất cho vay và lăi suất huy động trong năm 2008 và nhữngbiểu hiện của thị trường những tháng đầu năm 2010 là sự biểu hiện rơ nét của t́nh trạngcạnh tranh thiếu lành mạnh Cuối tháng 3/2010, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ViệtNam công bố lăi suất cơ bản vẫn giữ ở mức 8% trong tháng 4/2010 như từ tháng12/2009 do từ 26/2/2010, NHNN đă chính thức hoá lăi suất cho vay ở mức 16 -20%/năm thông qua Thông tư số 07/2010/TT-NHNN về áp dụng lăi suất thoả thuận chocác khoản tín dụng trung và dài hạn Đây là bước đi phù hợp với định hướng tự do hoálăi suất đă triển khai từ năm 2002 nhưng đă chững lại năm 2008 do phải đối phó với lạmphát dâng cao lên mức 2 chữ số
Trong thực tế, các ngân hàng thương mại (NHTM) đă chuyển các khoản cho vay ngắnhạn chịu qui định trần lăi suất cho vay 12%/năm sang cho vay trung, dài hạn để áp dụnglăi suất thoả thuận tới 16 - 20%/năm nên lăi suất cơ bản chỉ có chức nămg đóng vai tròtâm lư như tín hiệu là NHNN Việt Nam sẽ thắt chặt hay nới lỏng chính sách tín dụng nóiriêng và chính sách tiền tệ nói chung Mức lăi suất này đă hạn chế khả năng mở rộng tíndụng của các NHTM (mức tăng trưởng tín dụng quí I chỉ đạt 3,34%) Trong quí I/2010,tăng trưởng tín dụng không cao, nguồn vốn vay của các NHTM từ NHNN để đáp ứngthanh khoản tăng lên, điều đó cho thấy vốn của các NHTM là không khan hiếm Do vậy,với mức lăi suất huy động mà NHNN đă khuyến cáo các NHTM cần thực hiện theo thỏathuận của Hiệp hội Ngân hàng là 10,5% và lạm phát mục tiêu của Chính phủ là 7% th́ đăđảm bảo một mức lăi suất thực hợp lư cho người gửi tiền, nhưng phản ứng của cácNHTM là vẫn đua nhau tăng mức lăi suất huy động cao hơn dưới nhiều h́nh thức.Những hiện tượng này biểu hiện sự bất cập lớn của thị trường, nếu không có những biệnpháp ngăn chặn sẽ gây ra những bất ổn của hệ thống ngân hàng, từ đó có thể gây rakhủng hoảng ngân hàng
Số liệu 3 tháng đầu năm 2010 cho thấy vốn huy động đến cuối tháng 3/2010 chỉ tăng1,45% so với cuối tháng 12/2009 (2 tháng đầu năm 2010 vốn huy động thậm chí đăgiảm 0,17% trong khi vốn tín dụng lại tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2009) cho thấyviệc huy động vốn tiếp tục khó khăn nếu tiếp tục duy tŕ trần lăi suất làm méo mó thịtrường tín dụng ngân hàng Trong tổng vốn huy động, huy động vốn VND tăng 1,82%
so với cuối tháng 12/2009 và huy động vốn bằng ngoại tệ chỉ tùng 0,21% so với cuối
Trang 1912/2009 mặc dù lăi suất huy động ngoại tệ đă lên tới 5%/năm Tổng phương tiện thanhtoán (M2) đến ngày 31/3/2010 cũng chỉ tăng 2,3% so với tháng 12/2009 12/2009.
Số liệu về tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế tính đến 31/3/2010 đều thấp ở mức đáng
lo ngại Theo NHNN Việt Nam, tổng tín dụng quí I/2010 đă tăng 3,34% so với tháng12/2009 trong khi huy động vốn tăng 3,8% so với cuối năm 2009, trong đó tiền gửi củadân cư tăng tới 9,2%1 Cho dù lựa chọn con số nào thì hiện tượng nổi bật trên thịtrường tín dụng ngân hàng quí I/2010 là khả năng huy động vốn rất khó khăn (nhưng lạikhông đồng đều trong toàn hệ thống mà khó khăn tập trung chủ yếu vào các NHTM nhỏ
và mới thành lập) đi đôi với cho vay bằng VND tăng rất thấp do lăi suất thoả thuận ởmức quá cao, vượt khỏi sức chịu đựng của nhiều doanh nghiệp (từ đầu năm 2010, khikhông còn chính sách hỗ trợ lăi suất 4% như trong năm 2009, lăi suất cho vay bằngVND liên tục tăng cao lên mức 16% - 18%/năm, cá biệt có những trường hợp lên tới 18
- 20%/năm) nên nhiều doanh nghiệp chuyển sang vay bằng USD (t́nh trạng này tráingược hẳn giai đoạn cuối năm 2009 và đầu năm 2010 khi doanh nghiệp không muốnvay USD mà chỉ muốn mua USD do lo ngại rủi ro tỷ giá hối đoái) do lăi suất vay USDthấp hơn nhiều so với lăi suất vay VND trong khi rủi ro tỷ giá hối đoái chưa hiện hữu.Lăi suất cho vay USD ngắn hạn đầu tháng 4/2010 chỉ 5,5% - 6%/năm và cho vay dàihạn 6% - 8%/năm đủ sức hấp dẫn các doanh nghiệp trong khi đại đa số các doanhnghiệp đều kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ tương đối ổn định trong thời gian tới
Thêm vào đó, một nguyên nhân quan trọng khác khiến tăng trưởng tín dụng bằng ngoại
tệ tăng đột biến là do việc mở rộng đối tượng tiếp cận vốn theo Thông tư số25/2009/TT-NHNN, trong đó bổ sung thêm 2 đối tượng được vay bằng ngoại tệ là cácnhu cầu để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụxuất khẩu và cho vay bằng ngoại tệ để sử dụng trong nước nhưng phải bán số ngoại tệvay đó cho tổ chức tín dụng cho vay
CPI quý II/2010 tăng quá thấp đă làm giảm đáng kể mối lo về lạm phát, thậm chí có ýkiến cho được lạm phát cả năm 2010 nên NHNN Việt Nam tiếp tục duy trì lãi suất cơbản ở mức 8% như từ tháng 12/2009 nhằm phát tín hiệu về ổn định chính rằng Việt Nam
Trang 20đă hoàn toàn kiểm soát sách lăi suất trong khi thực thi chính sách tín dụng nới lỏng vớimặt bằng lăi suất cho vay phổ biến khoảng 13 - 14%/năm
Vào tháng 4/2010 , khi NHNN ra Thông tư 12/2010/TT-NHNN về lãi suất thỏa thuận
có hiệu lực thi hành (từ 14/4/2010),các NHTM đã có động thái tăng lãi suất cho vay vàgiảm lãi suất huy động vốn , nhiều ngân hàng đã công bố biểu lãi suất cho vay mới,
được điều chỉnh thấp hơn so với trước đó Nguyên nhân các Ngân hàng Thương mại
đang giảm lãi suất cho vay dựa trên 2 lý do Lý do thứ nhất là trong thời gian qua, việc
duy trì lãi suất cho vay mức cao đã làm một số ngân hàng mất khách hàng tín dụng hiệntại và khách hàng tín dụng tiềm năng Mức lãi suất tăng lên từ 4% đến 8% so với vớitrước đó (khoảng từ 16% đến 20%) làm nản lòng các nhà đầu tư nhỏ hoặc những kháchhàng đang cần hỗ trợ của ngân hàng khi mua sắm nhà của hay trang thiết bị tiêu dùng, vìthực ra, thu nhập không tăng nhanh đến thế! Và để kích cầu tín dụng, phải giảm lãi suất
cho vay Lý do thứ hai, việc giảm lãi suất cho vay là để duy trì khách hàng và cố gắng
để phát huy khả năng đầu tư của các nhà đầu tư vào các lĩnh vực khác như chứng khoánhay địa ốc, yếu tố này làm cân bằng (tạm thời) cho các thị trường hi lãi suất huy độngtăng lên Ví dụ , lãi suất cho vay tại một số NH đã được điều chỉnh giảm đáng kể như:Vietcombank ở khoảng 14 -14,5%; Eximbank cho vay ngắn hạn từ 13,8%-16%/năm,trung và dài hạn 16%/năm; DongAbank cho vay ngắn hạn cao nhất là 15%/năm, trung,dài hạn là 15,6%/năm;
BIDV cho vay ngắn hạn với lãi suất từ 14%/năm trở xuống, cho vay đối với nông dân là13%/năm, đối với xuất khẩu là 12%/năm, cho vay trung, dài hạn là 14,5%/năm;Sacombank hạ lãi suất cho vay ngắn hạn xuống còn 15%, trung và dài hạn 16,8%/năm,Techcombank cũng dao động từ 16,8-17%/năm… Tuy nhiên, động thái hạ lãi suất vẫnkhá cầm chừng, các ngân hàng vẫn “nhìn nhau” để đưa ra mức lãi suất mới