Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh chia thành 2 loại:- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đốitượng kế toán tập hợp chi phí; - Chi phí gián tiếp:
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sau bước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, một số doanh nghiệp nhà nước không thíchứng kịp thời, không có sự điều chỉnh phù hợp, hiệu quả sản xuất kinh doanhkộm đó dẫn tới giải thể, phá sản Bên cạnh đó, có rất nhiều doanh nghiệp đó biếtvươn lên để khẳng định mình và ngày càng phát triển… một trong số đó là Công
ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà với các sản phẩm đa dạng, phong phú, giá cả hợp
lý đang ngày càng một chiếm lĩnh thị trường, gần gũi hơn với người tiêu dùng
Sau quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Thái Dương, cùng với sự hướng dẫn
của thầy Ngô Thế Chi và các Có, Chú trong Phòng Tài vụ của công ty, em đó
chọn đề tài: “Chi phí và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Thái Dương
Trang 2CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY
1 Quá trình hình thành và phát triển.
Vào năm 1993, Công ty bắt đầu sản xuất bánh kẹo với ba dây chuyền sảnxuất: dây chuyền kẹo được nhập khẩu từ Châu Âu, dây chuyền bánh Biscuitstheo công nghệ APV của Anh, dây chuyền mạch nha với thiết bị đồng bộ dùngcông nghệ thủy phân bằng Enzyme và trao đổi ion lần đầu tiên có ở Việt Namđược nhập khẩu từ Đài Loan Sản phẩm bánh kẹo của Công ty nhanh chóngđược phân phối đến tất cả các tỉnh thành trong cả nước và đã được người tiêudùng đánh giá cao về chất lượng
Năm 1996, Công ty tiếp tục đầu tư dây chuyền sản xuất bánh cookies với thiết bị
và công nghệ của Hoa Kỳ để đa dạng hóa sản phẩm và kịp thời đáp ứng nhu cầutăng nhanh của sản phẩm bánh ngọt trong nước
Năm 1998, Công ty tiếp tục đầu tư thiết bị sản xuất kẹo dẻo được nhập khẩu từÚc
Năm 1999, Công ty đầu tư dây chuyền sản xuất thùng carton và khay nhựa đểphục vụ sản xuất Đồng thời dây chuyền sản xuất kẹo mềm cũng được đầu tư
mở rộng và nâng công suất lên đến 11 tấn/ngày
Ngày 16/01/1999, Công ty với thương hiệu Bibica được thành lập từ việc cổphần hóa ba phân xưởng : bánh, kẹo và mạch nha của Công ty Đường Biên Hoà.Ngành nghề chính của Công ty là sản xuất và kinh doanh các sản phẩm: bánhkẹo, nha, rượu và vốn điều lệ Công ty vào thời điểm ban đầu là 25 tỉ đồng
Bắt đầu từ năm 2000, Công ty phát triển hệ thống phân phối theo mô hình mới.Các chi nhánh tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ lần lượtđược thành lập để kịp thời đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của khách hàngtrong cả nước Đồng thời, Công ty đã đầu tư dây chuyền sản xuất snack vớicông suất 2 tấn / ngày bằng thiết bị được nhập từ Indonesia
Trang 3Tháng 2 năm 2000, Công ty vinh dự là Công ty đầu tiên trong ngành hàng bánhkẹo Việt Nam được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9002 của tổ chứcBVQI Anh Quốc.
Tháng 3 năm 2001, Đại Hội cổ đông nhất trí tăng vốn điều lệ từ 25 tỉ đồng lên
35 tỷ đồng từ nguồn vốn tích lũy có được sau 2 năm hoạt động dưới pháp nhânCông Ty Cổ Phần
Tháng 7 năm 2001, Công ty kêu gọi thêm vốn cổ đông, nâng vốn điều lệ lên 56
Cuối năm 2001, Công ty lắp đặt dây chuyền sản xuất bánh Bông Lan kem caocấp với công suất 1,500 tấn / năm với tổng mức đầu tư lên đến 19.7 tỷ đồng.Bánh bông lan kem Hura của Bibica có những ưu điểm tuyệt vời trong dòngbánh tươi : thơm ngon, bao bì đẹp và đặc biệt là hạn sử dụng đến 12 tháng Sảnphẩm đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường trong nước và được người tiêu dùng
sử dụng như sản phẩm biếu tặng hay dùng để làm quà thăm viếng người thân.Tháng 4 năm 2002, nhà máy Bánh Kẹo Biên Hoà II được khánh thành tại khucông nghiệp Sài Đồng, Gia Lâm, Hà Nội
Tháng 10 năm 2002, Công ty chính thức đưa vào vận hành dây chuyềnchocolate với công nghệ hiện đại của Anh Quốc Sản phẩm Chocobella củaBibica nhanh chóng trở nên thân thiết với người tiêu dùng trong nước và đượcxuất khẩu sang các thị trường như: Nhật Bản, Bangladesh, Singapore…
Trang 4Cuối năm 2002, chúng tôi triển khai thực hiện dự án mở rộng dây chuyền Snackvới công suất 4 tấn / ngày.
Bước sang năm 2004, chúng tôi đã mạnh dạn đầu tư vào hệ thống quản trị tổngthể doanh nghiệp ERP Đồng thời, năm này cũng đã đánh dấu một bước chuyểnmới cho hệ thống sản phẩm Công ty trong tương lai Chúng tôi đã kí hợp đồngvới viện dinh dưỡng Việt Nam để phối hợp nghiên cứu sản xuất những sảnphẩm giàu dinh dưỡng và phù hợp mong muốn sử dụng các sản phẩm tốt chosức khoẻ của người tiêu dùng
Vào năm đầu năm 2005, Công ty với sự tư vấn của Viện Dinh Dưỡng Việt Namcho ra đời dòng sản phẩm dinh dưỡng : Bánh dinh dưỡng Mumsure dành chophụ nữ có thai và cho con bú, bột dinh dưỡng dạng bánh Growsure dành cho trẻ
em ở độ tuổi ăn dặm Với sự thấu hiểu tâm lý thèm ăn bánh kẹo ngọt của người
ăn kiêng, chúng tôi trở thành nhà sản xuất đầu tiên ở Việt Nam cho ra đời dòngsản phẩm “Light” với nguyên liệu cao cấp có thể sử dụng cho người ăn kiêng vàbệnh tiểu đường như: bánh trung thu, bánh bông lan kem, chocolate,mứt tết ….Sản phẩm “light” là dòng sản phẩm rất đặc biệt Trước khi đi đến kết luận sảnphẩm phù hợp với người ăn kiêng và người bệnh tiểu đường chúng tôi đã cónhững công trình nghiên cứu rất công phu Các sản phẩm này được sự tư vấn vàthử nghiệm lâm sàng bởi Viện Dinh Dưỡng Việt Nam và trên bao bì của tất cảcác sản phẩm “Light” đều có con dấu của Viện Dinh Dưỡng Nhân đây chúngtôi cũng xin xác nhận với người tiêu dùng : sản phẩm “Light” hay sản phẩmkhông đường không có nghĩa là không ngọt, không hay kém hấp dẫn Sự khácbiệt trong các sản phẩm này là thành phần đường thường được thay thế bằngnguyên liệu cao cấp Isomalt Ngoài ra, sản phẩm còn được bổ sung nhiều loạiVitamin, khoáng chất khác nên tính thơm ngon và bổ dưỡng là những yếu tốhàng đầu luôn được đảm bảo
Giữa năm 2005, chúng tôi mở rộng đầu tư sang lĩnh vực đồ uống và cho ra đờisản phẩm bột ngũ cốc với thương hiệu Netsure và Netsure “light” (bột ngũ cốcdành cho người ăn kiêng và bệnh tiểu đường) Đồng thời,chúng tôi đã đầu tư
Trang 5vào dây chuyền sản xuất bánh mì tươi tại nhà máy Bánh Kẹo Biên Hoà II, GiaLâm, Hà Nội.
Cũng trong năm 2005, chúng tôi đã thực hiện một số dự án đầu tư tài chính : đầu
tư vào cổ phiếu của Công ty Gilimex, hợp tác sản xuất với Công ty cổ phần côngnghiệp thực phẩm Huế với 27% vốn cổ phần và phối hợp sản xuất nhóm sản
Bước vào năm 2006, chúng tôi bắt tay vào xây dựng hệ thống nhà máy mới tạikhu công nghiệp Mỹ Phước thuộc tỉnh Bình Dương để sản xuất các sản phẩmchủ lực mà công suất sản xuất hiện tại chưa đủ đáp ứng nhu cầu thị trường.Đồng thời, chúng tôi cũng đang tập trung đầu tư xây dựng phân xưởng kẹo caocấp đạt tiêu chuẩn HACCP, đầu tư dây chuyền sản xuất kẹo cao cấp để đáp ứngnhu cầu tiêu thụ trong nước và phục vụ xuất khẩu
Với mong muốn ngày càng trở nên gần gũi và năng động hơn trong mắt người
tiêu dùng, Công ty chính thức đổi tên thành "Công ty cổ phần Thái Dương" kể
từ ngày 17/1/2007
Năng lực công nghệ.
Sản phẩm kẹo cứng và kẹo mềm của chúng tôi được sản xuất trên các dâychuyền liên chất lượng cao, đặc biệt là mạch nha, nên sản phẩm kẹo cứng củachúng tôi có hương vị vượt trội so với các sản phẩm cùng loại khác
Sản phẩm layer cake (bánh bông lan kẹp kem) được sản xuất trên dâychuyền thiết bị của Ý: đồng bộ, khép kín, áp dụng các nguyên tắc đảm bảo antoàn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt Do đó, sản phẩm của chúng tôi có thời hạn
sử dụng tới 1 năm, trong khi các sản phẩm bánh tươi khác chỉ có thể sử dụngtrong vòng 1 tuần Công ty chúng tôi là nhà sản xuất bánh kẹo đầu tiên ở Việtnam đầu tư sản xuất loại sản phẩm này với sản lượng hàng năm hơn 1500 tấn.Sản phẩm chocolate của chúng tôi có chất lượng không hề thua kém các sảnphẩm của Châu Âu Bởi vì, ngoài các nguyên liệu đều nhập từ Châu Âu,chocolate của chúng tôi còn được sản xuất theo công nghệ và thiết bị của Anh.Hàng năm, chúng tôi có thể sản xuất được hơn 600 tấn chocolate các loại
Ngoài các sản phẩm trên, chúng tôi còn có các sản phẩm khác: bánh biscuit các
Trang 6loại (sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Anh); bánh cookies (sản xuất trên dâychuyền thiết bị của Mỹ); bánh xốp phủ chocolate; snack các loại; kẹo dẻo Tổng cộng hàng năm, Công ty chúng tôi cung cấp cho thị trường hơn 15.000 tấnbánh kẹo các loại.
3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị.
Cơ cấu bộ máy quản trị được tổ chức theo kiểu trực tuyến - chức năng,trong đó vị trí, chức năng các bộ phận như sau: Sơ đồ bộ máy quản trị
Trang 7Bộ phận thị trường
Bộ phậnvật tư
Bộ phậnvận tải
Bộ phậnbốc vác
bán hàng
Xí nghiệpbánh
Xí nghiệp kẹo
Xí nghiệpphù trợ
Nhà máy Việt Trì
Nhà máyNam Định
Sơ đồ bộ máy quản trị
Trang 84 Cơ cấu lực lượng lao động trong công ty.
Bảng1: Cơ cấu lao động của công ty năm 2010
XN Việt Trì
XN Nam Định
Khối hành chính, quản
lý kỹ thuật
Tổng số người Tỷ lệ
Trang 9Từ bảng trên, ta thấy nguồn nhân lực của Công ty có đặc điểm sau:
- Về mặt số lượng: từ một xí nghiệp có 9 cán bộ, công nhân viên cùngvới sự phát triển của quy mô sản xuất thì đến cuối năm 2010 Công ty đã cótổng số lao động là 2.055 người với mức thu nhập bình quân là1.000.000đ/người/tháng
- Về mặt chất lượng: toàn Công ty có 126 người có trình độ Đại học và
218 người có trình độ Cao đẳng hoặc Trung cấp Trong đó cán bộ quản lý vàcán bộ kỹ thuật có trình độ hầu hết là Đại học và độ tuổi trung bình là 35
- Về mặt cơ cấu: cán bộ công nhân viên của công ty chủ yếu là nữchiếm trung bình khoảng 75%, được tập trung chủ yếu trong khâu bao gói,đóng hộp vì công việc này đòi hỏi sự khéo léo Trong xí nghiệp phù trợ, dođặc điểm công việc nên hầu hết công nhân ở đây là nam giới Vì tính chất sảnxuất của Công ty mang tính thời vụ nên ngoài lực lượng lao động dài hạnchiếm 46,4%, Công ty còn sử dụng một lượng lớn lao động hợp đồng chiếm29%, còn lại là lao động thời vụ chiếm 24,6% Đây là hướng đi đúng đắn củaCông ty trong việc giảm chi phí về nhân công mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu laođộng cho từng thời kỳ
5 Tài sản và nguồn vốn của công ty.
Bảng 2 : Thống kê năng lực sản xuất của máy móc thiết bị.
1 Dây chuyền sản xuất bánh Biscuit 1600 Thiết bị mới, cơ giới hoá, tựđộng hoá
2 Dây chuyền sản xuất bánh Biscuit (Italy) 2300 Thiết bị mới , cơ giới hoá, tự động hoá
3 Dây chuyền sản xuất bán kem xốp 150 Cơ giới hoá và thủ công
4 Dây chuyền sản xuất kẹo cứng 1400 Cơ giới hoá, tự động hoá
5 Dây chuyền sản xuất kẹo mềm chất lượng cao 1200 Cơ giới hoá, một phần tự động hoá
6 Dây chuyền sản xuất kẹo mềm khác 6700 Cơ giới hoá, tự động hoá
7 Dây chuyền sản xuất kẹo Caramen (Đức) 2500 Thiết bị mới, cơ giới hoá, tự độnghoá
8 Dây chuyền sản xuất Glucôza phục vụ sản xuấtkẹo 1500 Cơ giới hoá
Trang 10Bảng 3: Thống kê máy móc đang sử dụng tại Công ty
NƯỚC SẢN XUẤT
NĂM SẢN XUẤT
1 Máy trộn nguyên liệu, máy quật kẹo, máy cán Trung Quốc 1960
2 Máy cắt, máy ràng, máy nâng khay Việt Nam 1960
5 Nồi nấu liên tục sản xuất kẹo cứng Ban lan 1978
8 Dây chuyền sản xuất kẹo cứng có nhân, kẹo
cứng đặc
10 Dây chuyền sản xuất bán quy ngọt Đan Mạch 1992
12 Dây chuyền sản xuất bánh Cracker Italy 1995
14 Máy gói kẹo cứng kiểu gấp xoắn tai Italy 1995
15 Dây chuyền sản xuất Jelly đổ khuôn Australia 1996
16 Dây chuyền sản xuất Jelly đổ cốc Inđônêxia 1997
Trang 11Bảng 4: Cơ cấu vốn của Công ty
Tỷtrọng Giá trị
Tỷtrọng
I Theo cơ cấu
Nguồn : Phòng kinh doanh
6 Kết quả sản xuất kinh doanh
Bảng 7: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh từ 2005 đến 2010
Nguồn số liệu: Phòng kế toán
Qua bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là tốt, cótriển vọng tiến xa hơn nữa
So với năm 2007 thì năm 2010 có:
+ Sản lượng tiêu thụ tăng từ 14217 tấn đến 15986 tấn, tức là tăng 1769tấn hay tăng12,44%, đây là kết quả có được nhờ những nỗ lực tìm kiếm thịtrường tiêu thụ bằng cách tăng thêm các đại lý ở khu vực Miền Trung và
Trang 12Miền Nam còngg như thúc đẩy các hoạt động xúc tiến thương mại (quảngcáo, khuyến mại…) Do đó dẫn tới: + Doanh thu tăng từ 172,56 tỷ đồng đến193,319 tỷ đồng tức là tăng 20,759 tỷ đồng hay tăng 12,03%.
+ Lợi nhuận tăng từ 5,57 tỷ đồng lên 6,56 tỷ đồng tăng 0,99 tỷ đồnghay tăng 17,77%
+ Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên tăng từ 1 triệuđồng/tháng lên1,2 triệu đồng/tháng
Bảng 8: Cơ cấu kinh doanh các nhóm sản phẩm chính của công ty
Kẹo Cứng Dứa, xoài, dâu, sôcôla,
Hoa quả, kẹo Tây du ký 3000 2980 2820 2709 Mềm Cốm, Sữa dừa, cà phê, kẹo
Nguồn số liệu: Phòng kinh doanh
Do đặc tính sản phẩm ít phải đầu tư chiều sâu mà chủ yếu băng đa dạnghoá sản phẩm, nên công ty luon cố găngnghiên cứu , tìm kiếm các sản phẩmmới Việc nhập thêm một số dây chuyền sản xuấtkẹo Jelly, Caramen đãgiup Công ty có những sản phẩm đặc trưng Qua bảng số liệu trên ta thấysang năm 2010 sản lượng tiêu thụ của công ty so với năm 2007: từ 14217 tấnlên 15986 tấn tăg 1769 tấn trong đó :
Trang 13+ Bánh mặn: Sản lượng tăng từ 2270 tấn lên đến 3109 tấn tăng 839 tấn,đây là loại bánh có hương vị lạ thu hút niều người đặc biệt là người têu dùngmiền Bắc (do sở thích của người miền Bắc là không thích độ ngọt nhiều).+ Kẹo mềm: Sản lượng tăng từ 2367 tấn đến 3800 tấn, tăng 177 tấn docông ty đã dưa ra nhiều ản pẩm có hương vị tái cây độc đáo, hấp dẫn mà giávừa phải.
7 Phương hướng phát triển của công ty trong tương lai
Mục tiêu phấn đấu của công ty trong giai đoạn 2010- 2013 là giữ vững
quy mô, tốc độ phát triển để trở thành một trong những công ty sản xuất bánhkẹo lớn nhất Việt Nam,có trang thiết bị tiên tiến, có khả năng cạnh tranh vớicông nghiệp sản xuất bánh kẹo của các nước trong khu vực Sản lượng bánhkẹo ước tính đến năm 2010 khoảng 18.000 tấn/ năm chiếm khoảng 15- 17%tổng sản lượng ngành, trong đó tiêu thụ trong nước khoảng 15.000 tấn, xuấtkhẩu 3.000 tấn, doanh thu 216 tỷ đồng, nộp ngân sách 25 tỷ đồng
CHƯƠNG II: Nghiên cứu tình hình thực hiện chỉ tiêu chi phí và giá
thành sản phẩm
I:Những lý luận cơ bản về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1 -Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.1 -Chi phí sản xuất, phân loại chi phí sản xuất
1.1.1.1 -Khái niệm chi phí sản xuất
Trang 14- Chi phí của doanh nghiệp có thể hiểu là toàn bộ các hao phí về laođộng sống cần thiết, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanhnghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, biểuhiện bằng tiền và tính cho một kỳ nhất định Như vậy, bản chất của chiphí trong hoạt động của doanh nghiệp luôn được xác định là những phítổn (hao phí) về tài nguyên, vật chất, về lao động và gắn liền với mụcđích kinh doanh.
- Trên góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như nhữngkhoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạtđược 1 sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định
- Trên góc độ kế toán quản trị, chi phí còng được nhận thức theo phươngthức nhận diện thông tin ra quyết định Chi phí có thể là phí tổn thực tếgắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thựchiện, kiểm tra, ra quyết định; chi phí có thể là phí tổn ước tính để thựchiện dự án, phí tổn mất đi khi lựa chọn phương án, bỏ qua cơ hội kinhdoanh
1.1.1.2 Phân loại chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại,nhiều thứ khác nhau Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra
cổ phần còngg như phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sảnxuất kinh doanh cần phải được phân loại theo những tiêu thức phù hợp
a Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo hoạt động và công dụng kinhtế
- Chi phí hoạt động chính và phụ: bao gồm chi phí tạo ra doanh thu bánhàng của hoạt động sản xuất kinh doanh Các khoản chi phí này được chiathành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
+ Chi phí sản xuất: là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vậthóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra để chế tạo sản phẩm,
Trang 15dịch vụ trong 1 kỳ, biểu hiện bằng tiền Nó gồm chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
+ Chi phí ngoài sản xuất: gồm các chi phí bán hàng và chi phí quản lýdoanh nghiệp
- Chi phí khác: là các khoản chi phí liên quan đến các hoạt động ngoài sảnxuất kinh doanh chức năng của doanh nghiệp Bao gồm chi phí hoạt động tàichính, chi phí khác
b Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố đầu vào của quá trìnhsản xuất, kinh doanh ở doanh nghiệp được chia thành chi phí ban đầu
và chi phí luân chuyển nội bộ
- Chi phí ban đầu: là các chi phí mà doanh nghiệp phải lo liệu, mua sắm,chuẩn bị từ trước để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh
Chi phí ban đầu bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phíkhấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền
- Chi phí luân chuyển nội bộ: là các chi phí phát sinh trong quá trìnhphân công và hợp tác lao động trong doanh nghiệp
c Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí vớicác khoản mục trên Báo cáo tài chính
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh chia thành chi phí sảnxuất và chi phí thời kỳ
- Chi phí sản xuất: là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuấtsản phẩm hay quá trình mua hàng hoá để bán Đối với doanh nghiệp sản xuất,gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sảnxuất chung
- Chi phí thời kỳ: là các khoản chi phí để phục vụ cho hoạt động kinhdoanh, không tạo nên giá trị hàng tồn kho mà ảnh hưởng trực tiếp đến lợinhuận trong kỳ mà chúng phát sinh
d Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khái niệm quy nạp chi phívào các đối tượng kế toán chi phí (theo phương pháp quy nạp)
Trang 16Theo tiêu thức này chi phí sản xuất kinh doanh chia thành 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đốitượng kế toán tập hợp chi phí;
- Chi phí gián tiếp: là chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toántập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp được mà phải tậphợp, quy nạp cho từng doanh thu theo phương pháp phân bổ gián tiếp
e Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với quy trìnhcông nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh bao gồm: Chi phí
cơ bản, chi phí chung
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với mức độ hoạt độngđược chia thành: chi phí khả biến, chi phí bất biến, chi phí hỗn hợp
1.1.2 -Giá thành sản phẩm, phân loại giá thành sản phẩm
1.1.2.1- Khái niệm giá thành
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về laođộng sống cần thiết và lao động vật hoá được tính trên một khối lượng kết quảsản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừamang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan Trong hệ thống các chỉ tiêuquản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợpphản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh,còng như tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đóthực hiện nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao lợi nhuận
1.1.2.2- Phân loại giá thành
a Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán chi phí: theo tiêu thứcnày giá thành được chia thành:
- Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liênquan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuấtgồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sảnxuất chung;
Trang 17- Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoảnchi phí liên quan đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ= Giá thành sản xuất+ chi phí quản lýdoanh nghiệp + chi phí bán hàng
b Phân loại theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành
Theo đó, giá thành chia làm 3 loại:
- Giá thành kế hoạch: được tính toán trên cơ sở chi phí sản xuất kếhoạch và số lượng kế hoạch
- Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở cácđịnh mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm
- Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm tính trên cơ sở số liệu chi phísản xuất thực tế phát sinh và tập hợp được trong kỳ với số lượng thực tế sảnxuất được Khác với 2 loại giá thành trên, Giá thành thực tế chỉ được tínhtoán sau khi quá trình sản xuất đó hoàn thành
1.1.3 - Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, nhiệm
vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
1.1.3.1 - Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là 2 chỉ tiêu giống nhau về chất,đều là hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ
ra trong quá trình sản xuất Nhưng, do bộ phận chi phí sản xuất giữa các
kỳ không đều nhau nên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại khácnhau trên 2 phương diện:
- Về mặt phạm vi: chi phí sản xuất gắn với 1 thời kỳ nhất định, cònggiá thành sản phẩm gắn với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đó hoànthành
- Về mặt lượng: chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau khi
có chi phí sản xuất dở dang Thể hiện:
Tổng giá thành sản phẩm = Tổng chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ + Chi phísản xuất phát sinh trong kỳ – Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Trang 18Trong trường hợp đặc biệt: Dở dang đầu kỳ = Dở dang cuối kỳ hoặc không cósản phẩm dở dang thì Tổng giá thành sản phẩm bằng chi phí sản xuất trong kỳ.
1.2 - Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm
1.2.1 - Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong việc tổchức kế toán chi phí sản xuất Thực chất của việc xác định đối tượng kế toánchi phí sản xuất là xác định nơi gây ra chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất,giai đoạn công nghệ…) hoặc đối tượng chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng…)Như vậy, xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học, hợp lý là
cơ sở để tổ chức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầuđến tổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết…
1.2.2-Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công vụ, lao vụ màdoanh nghiệp đó sản xuất hoàn thành đũi hái phải tính tổng giá thành và giáthành đơn vị
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng sản xuất đượcxác định là đối tượng tính giá thành Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàngloạt thì từng loại sản phẩm là đối tượng tính giá thành
Đối với quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giáthành sẽ là sản phẩm hoàn thành cuối cùng của quá trình công nghệ, còng cácdoanh nghiệp có quá trình công nghệ sản xuất và chế biến phức tạp thì đốitượng tính giá thành có thể là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn và thành phẩmhoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuối cùng và còng có thể là từng bộ phận,chi tiết sản phẩm và sản phẩm đó lắp ráp hoàn thành
1.2.3 Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành giốngnhau về bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp chi phísản xuất theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích, kiểm tra chi
Trang 19phí, giá thành sản phẩm Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, việc xác địnhhợp lý đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là tiền đề, điều kiện để tínhgiá thành theo các đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp.
Trên thực tế, khi xem xột các loại nửa thành phẩm tự chế, các bộ phận,một chi tiết sản phẩm có là đối tượng tính giá thành hay không cần phải cânnhắc đến các mặt như: chu kỳ sản xuất sản phẩm dài hay ngắn, nửa thànhphẩm tự chế có phải là hàng hoá hay không để xác định cho phù hợp
1.3 - Tập hợp chi phí sản xuất
Có 2 phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:
- Phương pháp trực tiếp: phương pháp này áp dụng trong trường hợpchi phí sản xuất phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toánchi phí sản xuất riêng biệt
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: phương pháp này áp dụng trongtrường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng kếtoán chi phí, không tổ chức ghi chép riêng cho từng đối tượng được
Mức phân bổ cho từng đối tượng:
Ci = Ti * H (i = 1,n )
Trong đó:
H là hệ số phân bổ
Ci: Chi phí phân bổ cho từng đối tượng i
Ti: Tiêu chuẩn phân bổ cho từng đối tượng i
1.3.1 - Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệuchính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếpcho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ
Trường hợp cần phân bổ thì phân bổ theo phương pháp gián tiếp
Để tập hợp chi phí nguyên vật liệu, kế toán sử dụng Tài khoản 621 - chiphí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 20Kết cấu cơ bản Tài khoản 621:
Bên Nợ: Trị giá nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất
Bên Có: - Trị giá nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập kho
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong kỳ = chi phí nguyên vật liệu sử dụngtrong kỳ – trị giá nguyên vật liệu còng lại cuối kỳ – trị giá phế liệu thu hồi
1.3.2 - Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhântrực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụgồm: tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích Bảo hiểm
xã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phí công đoàn theo số tiền lương của công nhânsản xuất
Các khoản trích theo lương (Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Kinh phícông đoàn) tính vào chi phí nhân công trực tiếp theo quy định hiện hành
1.3.3 -Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí cần thiết khác phục vụcho quá trình sản xuất sản phẩm ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất Chi phísản xuất chung gồm: chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phícông cụ dụng cụ, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài
và chi phí khác bằng tiền
Tài khoản sử dụng: Tài khoản 627 – Chi phí sản xuất chung
1.3.4- Kế toán chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
1.3.4.1- Kế toán chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp theo phương pháp kê khai Thường xuyên.
Sau khi đó hạch toán và phân bổ các loại chi phí sản xuất, cuối cùng, các chiphí đó phải được tổng hợp lại để tính giá thành sản phẩm
Tài khoản sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất là Tài khoản 154 – Chi phí sảnxuất kinh doanh dở dang
Nội dung tài khoản:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ
Trang 21Bên Có: - Các khoản giảm chi phí sản xuất sản phẩm
- Tổng giá thành thực tế hay chi phí trực tiếp của sản phẩm hoànthành
Dư Nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm chưa hoàn thành
Tài khoản 154 được mở chi tiết theo từng nơi phát sinh chi phí hay từng loạisản phẩm của các bộ phận sản xuất
1.3.4.2- Kế toán chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp theo phương pháp kiểm
kê định kỳ
Để tổng hợp chi phí sản xuất trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng phươngpháp kiểm kê định kỳ, kế toán sử dụng Tài khoản 631 – Giá thành sản xuất.Nội dung Tài khoản:
Bên Nợ: Phản ánh trị giá sản phẩm dở dang đầu kỳ và các chi phí phát sinhtrong kỳ liên quan đến chế tạo sản phẩm
Bên Có: - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
Toàn bộ chi phí sản xuất đó tập hợp được trong kỳ theo từng đối tượng
đó xác định liên quan đến cả sản phẩm hoàn thành và sản phẩm dở dang Để
có thông tin phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm hoàn thành cònggnhư phục vụ yêu cầu quản lý, kiểm tra, kiểm soát chi phí, kế toán cần phải xácđịnh số chi phí sản xuất đó bỏ ra có liên quan đến số sản phẩm chưa hoànthành là bao nhiêu Đó là việc đánh giá sản phẩm làm dở
Trang 22Như vậy, đánh giá sản phẩm dở dang là việc thanh toán, xác định phầnchi phí sản xuất mà sản phẩm làm dở cuối kỳ phải chịu Chi phí sản xuất sảnphẩm dở dang có thể được đánh giá theo 1 trong các phương pháp sau:
1.4.1- Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Theo phương pháp này, giá trị sản phẩm dở dang chỉ tính phần chi phínguyên vật liệu chính trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còng chiphí khác(chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) tính cả cho sảnphẩm hoàn thành
Ưu điểm: phương pháp này tính toán đơn giản, dễ làm, xác định chi phísản phẩm dở dang cuối kỳ được kịp thời, phục vụ cho việc tính giá thành sảnphẩm được nhanh chúng
Nhược điểm: độ chính xác không cao vì không tính đến các chi phí chếbiến khác
Điều kiện áp dụng: phương pháp này phù hợp với những doanh nghiệp
có chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn, khối lượng sản phẩm dở dangcuối kỳ ớt và biến động không lớn so với đầu kỳ
1.4.2- Đánh giá sản phẩm làm dở theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
Theo phương pháp này, phải tính toán tất cả các khoản mục chi phí chosản phẩm dở dang theo mức độ hoàn thành của chúng Do vậy, trước hết cầncung cấp khối lượng sản phẩm dở dang và mức độ chế biến của chúng để tínhđổi khối lượng sản phẩm dở dang ra khối lượng sản phẩm hoàn thành tươngđương Sau đó, tính toán xác định từng khoản mục chi phí cho sản phẩm dởdang theo nguyên tắc:
- Đối với các khoản mục chi phí bỏ vào 1 lần ngay từ đầu quy trình sảnxuất(như nguyên vật liệu chính trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp ) thì tínhcho sản phẩm hoàn thành và sản phẩm dở dang
Trang 23Ưu điểm: phương pháp này tính toán được chính xác và khoa học hơnphương pháp trên.
Nhược điểm: khối lượng tính toán nhiều, việc đánh giá mức độ chếbiến hoàn thành của sản phẩm dở dang khá phức tạp và mang tính chủ quan
Điều kiện áp dụng: thích hợp với những doanh nghiệp mà chi phínguyên vật liệu trực tiếp chiểm tỷ trọng không lớn trong tổng chi phí sản xuất,khối lượng sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ biến động l
1.5- Tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
1.5.1- Phương pháp tính giá thành giản đơn
Kế toán căn cứ vào chi phí sản xuất đó tập hợp được kết quả hạch toánnghiệp vụ về khối lượng sản phẩm hoàn thành và dở dang để đánh giá sảnphẩm dở dang, từ đó, tính giá thành sản phẩm theo công thức:
ZTT = Dđk + C – Dck
ZTT
ztt =
Sh
Trong đó: Dđk: chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ
C: tổng chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ
Dck: chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
ztt: giá thành đơn vị sản phẩm
Sh: khối lượng sản phẩm hoàn thành
Ưu điểm: tính toán nhanh, đơn giản, không đũi hái trình độ cao
Nhược điểm: phạm vi áp dụng hẹp
Điều kiện áp dụng: đối với những doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giảnđơn, có số lượng mặt hàng ớt, sản xuất với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuấtngắn
1.5.2 -Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo đơn đăt hàng
Trang 24Trong phương pháp này, mỗi đơn đặt hàng được mở một “Phiếu tínhgiá thành công việc” hay gọi là “Phiếu tính giá thành theo đơn đặt hàng”.Phiếu tính giá thành công việc được lập cho từng đơn đặt hàng khi Phòng kếtoán nhận được thông báo và lệnh sản xuất đó được phát ra cho công việc đó.Tất cả các phiếu tính giá thành công việc được lưu trữ khi sản phẩm đang sảnxuất, chúng có tác dụng như các báo cáo sản phẩm sản xuất dở dang khi sảnphẩm hoàn thành và giao cho khách hàng, các phiếu tính giá thành công việcđược cung cấp từ khâu sản xuất sang khâu thành phẩm.
Trang 251.5.3- Phương pháp tính giá thành sản phẩm phân bước
1.5.3.1 -Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm
Quy trình tính giá thành có tính giá thành nửa thành phẩm được khái quát qua sơ đồ sau:
+ + +
Theo phương pháp này, kế toán có thể tính được giá thành nửa thành phẩm tựchế ở mỗi giai đoạn công nghệ sản xuất, điều này thuận tiện cho việc tínhtoán kinh tế có hiệu quả ở từng giai đoạn phân xưởng, tổ đội sản xuất Mặtkhác, khi có nửa thành phẩm bán ra ngoài, doanh nghiệp có cơ sở để tính giávốn hàng bán, quyết định giá bán và xác định kết quả kinh doanh
Phương pháp này áp dụng với những doanh nghiệp có yêu cầu hạchtoán cao, có quy trình công nghệ phức tạp, nửa thành phẩm tự chế còngg làhàng hoá
1 chuyển sang
Chi phí khác giai đoạn 2
Giá thành nửa thành phẩm 2
Chi phí nửa thành phẩm n-1 chuyển sang
Chi phí khác giai đoạn n
Giá thành thành phẩm