Có thể nói việccác doanh nghiệp huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán là một bướcphát triển cao trong quá trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở nướ
Trang 1là điều kiện để tồn tại Và một trong những kênh huy động vốn tuy mới ra đờisong đã đóng góp vai trò đáng kể chính là thị trường chứng khoán Có thể nói việccác doanh nghiệp huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán là một bướcphát triển cao trong quá trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta.Vì vậy, em đã chọn đề tài “Đẩy mạnh hoạt động huy động
vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường chứng khoán” làm chuyên
đề cho bài tiểu luận môn Tài chính tiền tệ Kết cấu đề tài gồm 3 phần :
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN
CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHƯƠNG III.MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Tuy đã cố gắng hoàn thiện đề tài, song em cũng không thể tránh được những thiếusót và hạn chế,em rất mong được sự quan tâm,đóng góp ý kiến của thầy cô để bàiviết của em được tốt hơn Em xin chân thành cảm ơn thầy cô!
Sinh viên thực hiện:
Đào Hoài Phương
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Lý luận chung về nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp và việc huy động vốn qua phát hành chứng khoán.
1 Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp và các hình thức huy động vốn.
1.1.Khái niệm nguồn vốn đầu tư.
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạnggiá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối cho đầu tư pháttriển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội
1.2 Các nguồn huy động vốn đầu tư.
1.2.1 Trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế.(vĩ mô).
Trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốnđầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư trong nước.
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế baogồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiếtkiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội.Nguồnvốn đầu tư trong nước bao gồm
+ Nguồn vốn nhà nước
Nguồn vốn của nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triểncủa doanh nghiệp nhà nước
+ Nguồn vốn của dân cư và tư nhân.
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tíchlũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã
Trang 3Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân,các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy độngvào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó làdòng lưu chuyển vốn quốc tế ( International Capital Flow) Về thực chất các dònglưu chuyển vốn quốc tế là biểu hiện cụ thể của quá trình chuyển giao nguồn lực tàichính giữa các quốc gia trên thế giới
Trong nguồn vốn đầu tư nước ngoài được chia ra
- Tài trợ phát triển chính thức (ODF – Official Development Finance)
- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
1.2.2 Trên góc độ các doanh nghiệp (vi mô).
Trên góc độ vi mô, nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp, các đơn vị thực
hiện đầu tư bao gồm 2 nguồn chính: nguồn vốn bên trong (internal funds) và
nguồn vốn bên ngoài (external funds).
+ Nguồn vốn bên trong.
Nguồn vốn bên trong hình thành từ phần tích lũy từ nội bộ doanhnghiệp(vốn góp ban đầu, thu nhập giữ lại) và phần khấu hao hàng năm Nguồn vốnnày có ưu điểm là bảo đảm tính độc lập, chủ động, không phụ thuộc vào chủ nợ,hạn chế rủi ro về tín dụng Dự án được tài trợ từ nguồn vốn này sẽ không làm suygiảm khả năng vay nợ của đơn vị
+ Nguồn vốn bên ngoài.
Nguồn vốn này có thể hình thành từ việc vay nợ hoặc phát hành chứngkhoán ra công chúng (public offering) thông qua hai hình thức tài trợ chủ yếu: tài
Trang 4trợ gián tiếp qua các trung gian tài chính (ngân hàng thương mại, các tổ chức tíndụng…) hoặc tài trợ trực tiếp qua thị trường vốn: thị trường chứng khoán ViệtNam, hoạt động tín dụng thuê mua.
Tại Việt Nam trong những năm vừa qua nguồn vốn tài trợ gián tiếp qua cáctrung gian tài chính tồn tại phổ biến và là kênh huy động vốn chính của doanhnghiệp Tuy nhiên, do nhu cầu đầu tư ngày càng gia tăng, năng lực của các ngânhàng thương mại và các tổ chức tín dụng khó có thể đáp ứng hết được nhu cầu đầu
tư của các doanh nghiệp Chính vì vậy hình thức tài trợ trực tiếp thông qua thịtrường vốn đã và sẽ ngày càng được quan tâm thỏa đáng hơn
Huy động vốn qua thị trường chứng khoán có ưu điểm là quy mô huy độngvốn rộng rãi hơn (thông qua phát hành chứng khoán ra công chúng) Bên cạnh đó,yêu cầu công khai, minh bạch cao trên thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện
và sức ép buộc các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hơn Tuy nhiên tínhcạnh tranh và rủi ro cũng sẽ lớn hơn
2 Phát hành chứng khoán – một hình thức huy động vốn đầu tư.
Có 2 hình thức phát hành chứng khoán là phát hành riêng lẻ và phát hànhchứng khoán ra công chúng
2.1 Phát hành riêng lẻ.
Phát hành riêng lẻ là quá trình trong đó chứng khoán được bán trong phạm
vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức), vớinhững điều kiện (khối lượng phát hành) hạn chế Việc phát hành chứng khoánriêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật công ty Chứng khoán phát hànhtheo phương thức này không phảI là đối tượng giao dịch tại Sở giao dịch chứngkhoán
2.2 Phát hành chứng khoán ra công chúng
2.2.1 Khái niệm
Phát hành chứng khoán ra công chúng là quá trình trong đó chứng khoánđược bán rộng rãi ra công chúng, cho một số lượng lớn người đầu tư, trong tổng
Trang 5lượng phát hành phải giành một tỷ lệ nhất định cho các nhà đầu tư nhỏ và khốilượng phát hành phải đạt được một mức nhất định Những công ty phát hànhchứng khoán ra công chúng được gọi là các công ty đại chúng.
Phát hành chứng khoán ra công chúng gồm có phát hành cổ phiếu,chứng chỉquỹ ra công chúng và phát hành trái phiếu ra công chúng
Phát hành cổ phiếu,chứng chỉ quỹ ra công chúng được thực hiện theo một
trong hai hình thức sau:
- Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO): là việc phát hành trong đó cổ phiếucủa công ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư
- Chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp): là đợt phát hành cổ phiếu bổ sung củacông ty đại chúng cho rộng rãi công chúng đầu tư
Phát hành trái phiếu ra công chúng được thực hiện bằng một hình thức duy
nhất, đó là chào bán sơ cấp (phân phối sơ cấp)
Mục đích của việc phân biệt hai hình thức phát hành (phát hành riêng lẻ và
phát hành ra công chúng như trên là nhằm có các biện pháp bảo vệ cho công
chúng đầu tư, nhất là những nhà đầu tư nhỏ không hiểu biết nhiều về lĩnh vựcchứng khoán Nhằm mục đích này, để được phép phát hành ra công chúng, tổ chứcphát hành phải là những công ty làm ăn có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinhdoanh có hiệu quả, đáp ứng được các điều kiện do cơ quan quản lý nhà nước vềchứng khoán (Uỷ ban chứng khoán nhà nước) qui định
2.2.2 Điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng của doanh nghiệp.
Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải chịu sự chi phối của phápluật về chứng khoán và phải được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán cấpphép Những công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện một chế
độ báo cáo, công bố thông tin công khai và chịu sự giám sát riêng theo qui địnhcủa pháp luật chứng khoán
Trang 6Mỗi nước có những quy định riêng trong việc phát hành chứng khoán racông chúng tuy nhiên để phát hành chứng khoán ra công chúng thông thường đểuphải đảm bảo những yêu cầu chung.
- Về qui mô vốn
- Về hoạt động kinh doanh có hiệu quả
- Về đội ngũ quản lý công ty
- Về tính khả thi của dự án được sử dụng vốn sau khi huy động
Ở Việt Nam việc quy định điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúngđược quy định tại điều 12 luật chứng khoán ban hành ngày 29/6/2006
a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán
từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải cólãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;
c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chàobán được Đại hội đồng cổ đông thông qua
II Vai trò của hoạt động huy động vốn trên thị trường chứng khoán
Đối với nền kinh tế
Chức năng quan trọng nhất của thị trường chứng khoán mà thị trường sơ cấpthực hiện đó là chức năng huy động vốn cho hoạt động đầu tư Thị trường sơ cấpvừa có khả năng thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm lớn nhỏ của từng hộ dân cưvừa có khả năng thu hút nguồn vốn to lớn từ nước ngoài; các nguồn vốn nhàn rỗi
từ các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, Chính Phủ tạo thành một nguồn vốnkhổng lồ tài trợ cho nền kinh tế mà các phương thức khác không thể làm được.Thông qua thị trường chứng khoán sơ cấp các khoản vốn nhàn rỗi hoặc tạm thờinhàn rỗi được chuyển hóa thành vốn đầu tư
Trang 7Đối với doanh nghiệp và các đơn vị phát hành
Đối với doanh nghiệp và các đơn vị phát hành, thị trường chứng khoán sơ cấptạo ra môi trường cho các doanh nghiệp thu hút, huy động vốn trung và dài hạnnhằm tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó việc huy động vốntrên thị trường chứng khoán còn giúp nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt ngânsách, có thêm vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng Nó cũng trực tiếp cải thiện mứcsống của người tiêu dùng bằng cách giúp họ chọn thời điểm cho việc mua sắmthích hợp hơn
III Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn trên thị trường
cá nhân, tổ chức đầu tư kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán
2 Khuôn khổ pháp lí
Không chỉ riêng hoạt động huy động vốn mà tất cả các hoạt động tài chínhkhác trên thị trường chứng khoán là rất phức tạp, mức độ rủi ro cao và có liên
Trang 8quan, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố kinh tế- xã hội khác nhau trong và ngoàinước Vì vậy hoạt động huy động vốn cần được phát triển trên cơ sở pháp lí chặtchẽ và môi trường kinh tế thuận lợi, đồng thời đòi hỏi các chủ thể tham gia phảituân thủ nghiêm ngặt các quy định và các nguyên tắc hoạt động của thị trường.Luật Chứng khoán ra đời năm 2006 đã tạo ra khung pháp lí đầy đủ về chứngkhoán và thị trường chứng khoán, tạo kênh huy động vốn trung và dài hạn chonền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng.
3 Sự phát triển của bản thân thị trường chứng khoán
Bất cứ một thị trường hàng hóa nào, các hoạt động trong nó và các hoạt động
có liên quan muốn tiến hành một cách suôn sẻ, thuận lợi thì cũng phải phát triểnđến một trình độ nhất định Thị trường chứng khoán cũng vậy, sau khi thực hiệnphát hành chứng khoán ra công chúng, nếu thị trường tập trung hoặc thị trườngOTC phát triển sẽ tạo điều kiện để chứng khoán của doanh nghiệp, tổ chức đượctrao đổi mua bán trên thị trường, tạo tính thanh khoản cho chứng khoán, qua đógiúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc huy động vốn thông qua thị trườngchứng khoán nhằm tiến hành tái đầu tư hoặc mở rộng quá trình sản xuất Do vậyđối với các tổ chức phát hành chứng khoán, luôn coi việc phát hành chứng khoán
ra công chứng phải gắn liền với việc thực hiện niêm yết trên thị trường tậptrung.Vì vậy để tạo điều kiện cho các tổ chức phát hành chưa niêm yết được giaodịch thì cần phát triển thị trường tập trung nói riêng và thị trường chứng khoánnói chung
4 Sự phát triển của các định chế tài chính trung gian
Hoạt động huy động vốn trên thi trường chứng khoán không thể thiếu vai tròcủa các tổ chức tài chính trung gian và các tổ chức tài chính có vai trò hỗ trợ thịtrường khác Đó là các công ty chứng khoán, tổ chức bảo lãnh phát hành, tổ chức
Trang 9kiểm toán độc lập, tổ chức tư vấn luật… Tính chuyên nghiệp và trình độ pháttriển của các tổ chức này là động lực thúc đẩy doanh nghiệp thực hiên phát hànhchứng khoán, niêm yết chứng khoán và đầu tư kinh doanh chứng khoán, đồngthời là yếu tố quan trọng đảm bảo thành công không chỉ của hoạt động huy đôngvốn mà còn của nhiều hoạt động khác trong khuôn khổ hoạt động của thị trườngchứng khoán
5 Bản thân tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng
Chiến lược của ban lãnh đạo doanh nghiệp về hoạt động tài chính có ý nghĩaquyết định đến hoạt động huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán trênthị trường chứng khoán.Tình hình tài chính của doanh nghiệp phải minh bạch, tốc
độ tăng trưởng hàng năm của doanh nghiệp phải cao hơn tốc độ tăng trưởngchung của toàn ngành, có đội ngũ quản lí và đội ngũ lãnh đạo năng lực và tráchnhiệm, có khả năng duy trì niêm tin cho các nhà đầu tư Mặt khác doanh nghiệpcũng phải biết chọn thời điểm phát hành chứng khoán ra công chúng một cáchhợp lí sao cho lượng vốn có khả năng huy động sau đợt phát hành là lớn nhất, khidoanh nghiệp thực hiện phát hành và niêm yết chứng khoán trong gian đoạnTTCK tăng trưởng nóng, giá chứng khoán của doanh nghiệp chắc chắn sẽ đượctrả cao qua đó lượng vốn huy động đối với thời điểm phát hành chứng khoán khithị trường suy thoái là lớn hơn nhiều
IV.THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.Khái niệm
Thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyểnnhượng các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán
2.Chủ thể tham gia
Trang 102.1 Nhà phát hành: là các tổ chức cần vốn và thực hiện huy động vốn qua thị
trường chứng khoán.Họ là người cung cấp chứng khoán-hàng hóa của thị trườngchứng khoán Bao gồm:
+Chính phủ và chính quyền địa phương phát hành trái phiếu chính phủ và doanhnghiệp
+Doanh nghiệp là nhà phát hành trái phiếu và cổ phiếu doanh nghiệp
+Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như trái phiếu,chứngchỉ thụ hưởng…
2.2.Nhà đầu tư: là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị
trường chứng khoán nhằm mục đích thu lời có thể chia thành 2 loại là nhà đầu tư
cá nhân và chuyên nghiệp
2.3 Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán :
+Công ty chứng khoán
+Quỹ đầu tư chứng khoán
+Các trung gian tài chính
2.4.Các tổ chức có liên quan trên thị trường chứng khoán
+Cơ quan quản lý nhà nước
+Sở giao dịch chứng khoán
+Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
+Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ
+Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
Trang 11+Các tổ chức tài trợ chứng khoán
+Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
3.Hàng hóa thị trường chứng khoán
3.1.Cổ phiếu : là 1 loại chứng khoán được phát hành dưới dạng bút toán ghi sổ
hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
Tổ chức phát hành là các công ty cổ phần
Cổ phiếu gồm hai loại chính:
- Cổ phiếu thường: là cổ phiếu xác định quyền sở hữu của cổđông trong công ty
Cổ phiếu thường được đặc trưng bởi quyền quản lí, kiểm soát công ty Cổ đông sởhữu cổ phiếu thường được tham gia bầu hội đồng quả trị, tham gia bỏ phiếuquyết định các vấn đề lớn của công ty Cổ tức của cổ phiếu thường được trả khi hộiđồng quản trị công bố Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổđông sở hữu cổ phiếuthường sẽ được chia số tiền còn lại sau khi thanh toán các khoản nợ và thanh toáncho cổ phiếu ưu đãi
- Cổ phiếu ưu đãi: là cổ phiếu có cổ tức xác định được thể hiện bằng số tiền xácđịnh được in trên cổ phiếu hoặc theo tỉ lệ phần trăm cốđịnh so với mệnh giá cổphiếu.Cổ phiếu ưu đãi thường được trả cổ tức trước các cổ phiếu thường Cổ đông
sở hữu cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bỏ phiếu bầu ra hội đồng quản trị.Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ phiếu ưu đãi được ưu tiên thanh toán trướccác cổ phiếu thường
3.2.Trái phiếu: là 1 loại chứng khoán phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút
toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ cả vốn gốc và lãi của tổ chức phát hành vớingười sở hữu trái phiếu khi hết hạn Tổ chức phát hành là chính phủ,chính quyền
Trang 12địa phương,công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn,ngân hàng thương mại cổphần.
Trái phiếu có thể phân theo nhiều tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào chủ thể phát hành, trái phiếu gồm hai loại chính là: trái phiếu chínhphủ, trái phiếu chính quyền địa phương (do chính phủ và chính quyền địa
phương phát hành) và trái phiếu công ty (do công ty phát hành)
- Căn cứ vào tính chất chuyển đổi, trái phiếu được chia thành loại
có khả năng chuyển đổi (chuyển đổi thành cổ phiếu) và loại không có khả năngchuyển
- Căn cứ vào cách thức trả lãi, trái phiếu được chia thành các loại sau:
+ Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu được thanh toán cố địnhtheo định kỳ
+ Trái phiếu với lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu được thayđổi theo sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị chi phối bởi biểu giá, chẳnghạn như giá bán lẻ
+ Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thưởng và được bán theonguyên tắc chiết khấu Tiền thưởng cho việc sở hữu trái phiếu nằm dưới dạng lợinhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu nhập ( nó là phần chênh lệch giữa giá trị danhnghĩa- mệnh giá trái phiếu và giá mua)
- Căn cứ mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành :
+ Trái phiếu bảo đảm: là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản
có giá trị làm vật bảo đảm cho việc phát hành
+ Trái phiếu không có bảo đảm: là loại trái phiếu phát hành không có tài sảnđảm bảo mà chỉ được đảm bảo bằng chính uy tín của người phát hành
Trang 13- Căn cứ hình thức trái phiếu :
+ Trái phiếu vô danh: là loại trái phiếu không ghi tên của người mua trên tráiphiếu và trong sổ sách người phát hành Trái phiếu vô danh có gắn các cuống phiếutrả lãi và khi đến hạn trả lãi, người nắm giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tớiđại lý của công ty để nhận lãi
+ Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên người đầu tư trên trái phiếu
và trong sổ của người phát hành
3.3.Chứng chỉ quỹ đầu tư: các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán huy
động vốn bằng cách lấy tổng lượng vốn huy động dự kiến huy động chia thành cácphần nhỏ bằng nhau ,mỗi phần tương ứng với 1 chứng chỉ quỹ và công ty sẽ báncác chứng chỉ quỹ ra công chúng như là những đơn vị đầu tư
3.4.Chứng khoán phái sinh: hình thành trên cơ sở những loại chứng khoán đã
giao dich trên thị trường Nó bao gồm: quyền mua cổ phần,chứng quyền,hợp đồngtương lai,hợp đồng lựa chọn…
4.Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các loại chứng khoán mới được phát
hành Sự hoạt động của thị trường này tạo ra 1 kênh thu hút, huy động nguồn tiềnnhàn rỗi của công chúng chuyển thành vốn đầu tư cho nền kinh tế Thông qua thịtrường này nhà phát hành thực hiện được việc bán các chứng khoán mới cho nhàđầu tư thu được tiền về,tăng thêm được lượng vốn mới đầu tư
5.Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên
thị trường thứ cấp Sự hoạt động của thị trường này tạo ra khả năng chuyển đổichứng khoán thành tiền mặt dễ dàng thuận tiện Trên thị trường này tiền thu được
từ bán chứng khoán không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bánchứng khoán,nhượng lại quyền sở hữu cho nhà đầu tư khác
Trang 15CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
I.Tính tất yếu của sự ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam
Năm 2000, sau 15 năm thực hiện đổi mới, chứng ta đã đạt được những thànhtựu đáng khích lệ Lạm phát giảm từ 67% năm 1992 xuống còn 14,4% năm 1994
và 12,7% năm 1995 Tỷ lệ tăng trưởng bình quân luôn đạt mức >7%/năm Côngnghiệp, nông nghiệp đều có những bước phát triển vượt bậc.Nền kinh tế thịtrường đã bắt đầu ổn định, đang thâm nhập vào chính đời sống hàng ngày củamọi tầng lớp dân cư.Thu nhập bình quân đầu người tăng và trong nội bộ nền kinh
tế đã bắt đầu có tích lũy Tuy nhiên hệ thống thể chế tài chính nước ta vẫn cònchưa hoàn chỉnh, hơn thế nữa việc đưa nền kinh tế thị trường đi theo định hướng
xã hội chủ nghĩa không phải là chuyện dễ dàng trong ngày một ngày hai Hệthống doanh nghiệp nước ta lúc bấy giờ đa phần là các doanh nghiệp nhà nước,vốn chậm thay đổi và phát triển, khả năng cạnh tranh kém…Thực tế nhìn nhậnnền kinh tế thị trường của chúng ta còn yếu kém trong khi đó thị trường chứngkhoán là một bước phát triển cao của kinh tế thị trường Nhưng chính thị trườngchứng khoán lạ là một câu trả lời cho những vấn đề nhức nhối mà nền kinh tếđang gặp phải và cũng là hướng phát triển đầy triển vọng trong tương lai
Nhằm giải thích cho hướng phát triển trên chúng ta sẽ so sánh về nguồn vốnngân sách, vốn từ các ngân hàng và vốn từ thị trường chứng khoán để thấy rõ sựkhác biệt
+ Vốn ngân sách dược cung cấp nhằm chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng, cácdịch vụ công cộng Đây là một nguồn vốn tương đối đáng kể và đối với nhữngnước đang phát triển như nước ta thì lại càng có ý nghĩa hơn bởi vì lĩnh vực mà