1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo quy hoạch siwr dụng đất huyện hưng hà

96 1,2K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo Quy hoạch Sử Dụng Đất Huyện Hưng Hà
Trường học Trường Đại Học Thái Bình
Chuyên ngành Quy hoạch sử dụng đất
Thể loại Báo cáo quy hoạch
Năm xuất bản 2011-2015
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quy hoạch

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

I SỰ CẦN THIẾT LẬP QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

Cùng với Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội của huyệnHưng Hà, quy hoạch chung Nông thôn mới và các quy hoạch chuyên ngànhkhác; Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm

kỳ đầu (2011- 2015) sẽ tạo thuận lợi, mở ra hành lang pháp lý quan trọng choviệc thực hiện các mục tiêu phát triển Kinh tế - Văn Hóa - Xã hội trên địa bànhuyện theo quy hoạch, kế hoạch

Quy hoạch sử dụng đất huyện Hưng Hà giai đoạn trước được UBND tỉnhphê duyệt, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất để thực hiện các chươngtrình, dự án mục tiêu đề ra, góp phần tích cực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế

- xã hội của huyện, đảm bảo quản lý, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyênđất đai theo quy hoạch và pháp luật

Tuy nhiên, Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn trước do không dự báo sát tốc

độ phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm vừa qua, nên không đápứng được các nhu cầu sử dụng đất của các địa phương và các ngành nên phải bổsung quá nhiều

Căn cứ quy định Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản chỉ đạo của cấptrên về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, huyện Hưng Hà cần phải Lập Quyhoạch sử dụng đất mới cho 10 năm tới từ 2011 đến 2020; phù hợp với Quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 đã được phê duyệt,nhằm đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Từ những lý do trên, UBND huyện Hưng Hà tiến hành xây dựng Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu về đất cho những mục tiêu phát

triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả theo đúngcác quy định của Luật Đất đai

- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu(2011 – 2015) huyện Hưng Hà phải đáp ứng nhu cầu đất đai cho mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, mục tiêu phát triển của các ngành, các lĩnhvực, các địa phương trong huyện đến năm 2020, đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hợp lý,

có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái

- Làm cơ sở định hướng cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất của các địa phương trong huyện

- Phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất đến 2020 về kế hoạch sử dụng đất 5năm kỳ đầu (2011 – 2015) của tỉnh Thái Bình

Trang 2

II CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA VIỆC LẬP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 HUYỆN HƯNG HÀ

- Luật Đất đai năm 2003;

- Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 12 tháng 03 năm 2003 của Ban chấphành Trung ương về “Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chínhphủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003;

- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 Ban chấp hành Trungương “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”;

- Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22/11/2011 của Quốc hội khóa XIII kỳ họpthứ 2 về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 –2015) cấp quốc gia;

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủquy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗtrợ và tái định cư;

- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ

về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;

- Thông tư 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất;

- Thông tư 06/2010/TT-BTNMT ngày 15/03/2010 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường về việc quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnhquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT ngày 15/04/2011 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quyhoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất

- Hướng dẫn áp dụng mức sử dụng đất trong công tác lập và điều chỉnhquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (kèm theo công văn số 5763/BTNMT-ĐKTKngày 25 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường);

- Công văn số 23/CP-KTN ngày 23/02/2012 của Chính phủ về việc hướngphân bổ chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia;

- Công văn số 429/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 16/4/2012 của Tổng cụ Quản

lý đất đai về việc hướng dẫn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Quyết định số 643/UBND-NN ngày 09/4/2013 của UBND tỉnh TháiBình về phân bổ chỉ tiêu quy hoạch đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm

kỳ đầu (2011 – 2015) của tỉnh Thái Bình;

Trang 3

- Báo cáo chính trị số 152-BC/HU ngày 06 tháng 07 năm 2010 của BanChấp hành Đảng bộ huyện lần VIII trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Hưng

Hà lần thứ XIV nhiệm kỳ 2010 – 2015;

- Niên giám thống kê huyện Hưng Hà từ năm 2000 đến năm 2009;

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hưng Hà đến năm 2020;

Các quy hoạch phát triển ngành công nghiệp; nông nghiệp; dịch vụ thương mại; đô thị; giao thông - vận tải; y tế; giáo dục - đào tạo đến năm 2020trên địa bàn huyện Hưng Hà;

Quy hoạch chung các xã, theo mô hình xây dựng nông thôn mới

III MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA VIỆC LẬP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 HUYỆN HƯNG HÀ

- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu(2011 – 2015) huyện Hưng Hà nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai cho mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, mục tiêu phát triển của các ngành, các lĩnhvực, các địa phương trong huyện đến năm 2020 đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hợp lý,

có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái

- Làm cơ sở định hướng cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất của các địa phương trong huyện

IV NỘI DUNG CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020 HUYỆN HƯNG HÀ

- Điều tra, phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

- Đánh giá tình hình sử dụng đất, biến động sử dụng đất, kết quả thực hiệnquy hoạch sử dụng đất kỳ trước và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất

- Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn về sử dụng đất

- Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất

- Đánh giá tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất đến kinh tế, xãhội và môi trường

- Phân kỳ quy hoạch sử dụng đất và lập kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu

- Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng

V BỐ CỤC CỦA BÁO CÁO

Ngoài phần Đặt vấn đề, phần Kết luận, kiến nghị, Báo cáo bao gồm cácphần sau:

- Phần I: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Phần II: Tình hình quản lý sử dụng đất đai

- Phần III: Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn sử dụng đất

- Phần IV: Phương án quy hoạch sử dụng đất

Trang 4

PHẦN I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Hưng Hà nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Bình, bao gồm 35 xã và thịtrấn (33 xã và 02 thị trấn) với tổng diện tích tự nhiên là 21.028,68 ha, chiếm12,96% tổng diện tích tỉnh Thái Bình Ranh giới của huyện được xác địnhnhư sau:

- Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên

- Phía Nam giáp huyện Vũ Thư

- Phía Đông giáp huyện Quỳnh Phụ và huyện Đông Hưng

- Phía Tây giáp tỉnh Hà Nam

Huyện có ba mặt tiếp giáp với 3 con sông lớn (sông Hồng phía Tây, sôngLuộc phía Bắc và sông Trà Lý phía Tây Nam) Có 5 tuyến quốc lộ và tỉnh lộchạy qua địa bàn huyện (trong đó tuyến quốc lộ 39 chạy qua 7 xã và 2 thị trấn)

và đặc biệt khi đường cao tốc Thái Hà hoàn thiện cùng với hệ thống giao thôngnông thôn, huyện lộ và giao thông thủy đã tạo thành hệ thống giao thông quantrọng nối liền huyện Hưng Hà với thành phố Thái Bình, các huyện trong tỉnh vàthành phố Hưng Yên Hưng Hà là huyện thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằmtrong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng -Quảng Ninh Vị trí địa lý của huyện đã tạo những điều kiện rất thuận lợi chohuyện trong buôn bán, trao đổi, vận tải hàng hóa, hành khách và giao lưu vănhóa, phát triển kinh tế - xã hội

1.1.2 Địa hình, địa mạo

Huyện Hưng Hà thuộc vùng châu thổ sông Hồng, địa hình tương đối bằngphẳng với độ dốc nhỏ hơn 1% (trên 1km), cao trình biến thiên từ 1 - 2m so vớimặt nước biển Nhìn chung, địa bàn huyện có độ cao bình quân lớn nhất tỉnh,hướng đất thấp dần từ Bắc xuống Nam Đất Hưng Hà thuộc khu vực phía Bắcsông Trà Lý được hình thành sớm và chịu ảnh hưởng của phù sa sông Hồng vàsông Luộc nên là vùng đất tương đối cao hơn, độ cao trung bình từ 1,3 - 2,5 m

so với mực nước biển

1.1.3 Khí hậu

Huyện Hưng Hà nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, và có sự ảnhhưởng của biển Đặc điểm khí hậu thời tiết của huyện như sau:

Trang 5

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 23,50C, cao nhất là 390C, nhiệt độthấp nhất là 40C

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm xấp xỉ 2.000mm, biên độ giaođộng 1.200 - 3.000mm, phân bố theo mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài 7 tháng (tháng

- Gió: Hướng gió thịnh hành là gió Đông từ tháng 11 đến tháng 4; gióĐông Nam tháng 5; gió Tây tháng 6 đến tháng 9; gió Tây Nam tháng 10 Tốc độgió trung bình năm là 3,9m/s, trung bình tháng lớn nhất là 4,9m/s, trung bìnhtháng nhỏ nhất là 3,1m/s

1.1.4 Thủy văn

Huyện Hưng Hà chịu ảnh hưởng chủ yếu của các sông là sông Hồng, sôngLuộc và sông Trà Lý

- Sông Hồng chảy ven theo địa giới hành chính các xã Tiến Đức, Hồng

An, Minh Tân, Độc Lập, Hồng Minh; với chiều dài khoảng 14 km Vào mùamưa từ tháng 6 đến tháng 10 mực nước sông lên nhanh và cao hơn mặt ruộng từ

2 - 5m Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau mực nước sông xuống thấphơn mặt ruộng từ 2 - 3m Sông Hồng đóng vai trò rất quan trọng trong việc cungcấp nước sinh hoạt và sản xuất, đồng thời cũng cung cấp lượng phù sa khôngnhỏ phục vụ việc cải tạo đồng ruộng

- Sông Luộc là một nhánh của sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắtđầu từ xã Tân Lễ đến xã Điệp Nông qua địa phận các xã: Tân Lễ, Canh Tân,Cộng Hòa, Hòa Tiến, Tân Tiến, Điệp Nông có chiều dài 21km Lưu lượngdòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm Sông Luộc cũng góp phần tíchcực vào việc tưới, tiêu và bồi đắp phù sa cho đồng ruộng

- Sông Trà Lý là một nhánh của sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắt đầu

từ xã Hồng Minh đến xã Chí Hòa (qua địa phận 2 xã: Hồng Minh, Chí Hòa); cóchiều dài 4,5km Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm

1.2 Các nguồn tài nguyên

1.2.1 Tài nguyên đất

Đất đai huyện Hưng Hà được hình thành qua quá trình biển lùi và bồi tụ

Trang 6

phù sa của sông Hồng và sông Trà Lý, cùng với việc quai đê, lấn biển, khaihoang của cư dân từ xưa đến nay Do đó, đất Hưng Hà phì nhiêu màu mỡ, nổitiếng “Bờ xôi, ruộng mật” với 93% là đất phù sa Đất phù sa ở huyện Hưng Hà cóthành phần cơ giới chủ yếu là đất cát pha và đất cát, địa hình đất lại tương đối cao,70% diện tích canh tác nằm ở bề mặt cao và trung bình nên ngoài diện tích cấy lúa,đất đai ở Hưng Hà còn thích hợp cho phát triển cây vụ đông, cây công ngiệp ngắnngày (cây đay, cây dâu, cây đậu tương…), cây ăn quả nhiệt đới (cam, táo, nhãn,chuối…), cây thực phẩm và cây lương thực… có năng suất cao Nhìn chung, đấtđai Hưng Hà thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp toàn diện.

Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, đất đai huyện Hưng Hà được chia làm

3 nhóm chính:

- Nhóm đất phù sa, diện tích 11.440,37 ha chiếm 93% diện tích đất điềutra Là nhóm đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, với khả nănghấp thu các chất hữu cơ khá cao

- Nhóm đất cát, diện tích 723.58 ha, khả năng giữ nước kém, nghèo chấtdinh dưỡng

- Nhóm đất phèn, diện tích 66,45 ha nằm xen kẽ rải rác ở các xã

Ngoài ra còn có nguồn đất sét, nguồn tài nguyên cát lòng sông rất phongphú để phục vụ sản xuất, khai thác vật liệu xây dựng

1.2.2 Tài nguyên nước

- Nước mặt: Bao gồm nước mưa và nước trong hệ thống sông ngòi, ao,

hồ, trên địa bàn nhưng chủ yếu là nguồn nước sông Hồng, sông Luộc, sông TràLý… Nhìn chung nguồn nước mặt khá phong phú, đáp ứng được nhu cầu pháttriển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân trong giai đoạn phát triển Tuy nhiên,nguồn nước mặt ở Hưng Hà đang bị ô nhiễm

- Nước ngầm: Theo tư liệu dự án Quy hoạch nước sạch và vệ sinh môitrường nông thôn Thái Bình đến năm 2020 cho biết nguồn nước ngầm ở Hưng

lẻ, mỗi giếng có thể đạt từ 40 - 60 m3/ngày, mặt nước tĩnh nông, gần mặt đất,chất lượng khá

+ Tầng chứa nước Hải Hưng được ngăn cách với tầng chứa nước TháiBình bởi lớp sét, có chiều sâu gặp từ 2 - 40m, chiều dày phát triển không đều

Trang 7

Tầng được tạo bởi nhiều nguồn gốc trầm tích Sông - Biển; Biển - Đầm lầy, đất

đá chủ yếu là sét, bột cát, bột - sét lẫn cát, nhiều vỏ sò sinh vật biển Tầng có lưulượng từ 0,025 - 0,59 l/s, mực nước giao động từ 0,5 - 1m Tầng chứa nước HảiHưng thuộc tầng nghèo nước, chất lượng kém, phần lớn đều bị lợ đến mặn

- Nguồn nước nóng ở xã Duyên Hải: Theo tư liệu của khoa sinh hóaTrường Đại học Nông nghiệp Hà Nội cho biết tại vùng đất xã Duyên Hải ở độsâu 50m có nguồn nước nóng 500C; ở độ sâu 178m có nguồn nước nóng 720C.Tuy trữ lượng chưa được xác định nhưng 6 năm gần đây chính quyền xãDuyên Hải đã đưa vào quản lý giao cho tư nhân khai thác bằng máy khoanbơm điện, bể chứa xử lý với mục đích cung cấp nước nóng phục vụ ngànhthủy sản nuôi giữ cá bố mẹ qua đông và đẻ sớm, đã góp phần cung cấp lượng

cá giống cho khu vực

Nhìn chung, tài nguyên nước của huyện rất dồi dào, chất lượng nướctương đối tốt, ít bị ô nhiễm vì thế có giá trị rất lớn trong việc phát triển kinh tế

xã hội và đời sống nhân dân, nếu được khai thác và sử dụng hợp lý sẽ đáp ứng

đủ nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, đời sống củanhân dân giúp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của huyện

1.2.3 Tài nguyên khoáng sản

Hưng Hà là huyện thuộc vùng đồng bằng ven biển, đất đai của huyệnđược hình thành do quá trình bồi đắp của trầm tích biển nên tài nguyên khoángsản của huyện rất nghèo về trủng loại và ít về trữ lượng, chủ yếu là khoáng sảncát lòng sông, đất sét trắng, gạch ngói, than nâu và sa khoáng

Ngoài ra huyện còn phát hiện được mỏ nước nóng 570C ở độ sâu 50m và

720C ở độ sâu 178m thuộc xã Duyên Hải Hai mỏ nước nóng này hiện đangđược đầu tư khai thác phục vụ chăn nuôi thủy sản, phát triển du lịch và chữabệnh cho nhân dân Trong lòng đất huyện Hưng Hà nói riêng và tỉnh Thái Bìnhnói chung còn có than nâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng, đượcđánh giá có trữ lượng lớn (toàn tỉnh Thái Bình có tới trên 30 tỷ tấn), nhưngphân bố ở độ sâu 600 - 1000 m nên chưa đủ điều kiện về vốn, khoa học côngnghệ để khai thác

1.2.4 Tài nguyên nhân văn

Hưng Hà là vùng đất có truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước vàcách mạng Nhân dân Hưng Hà đã tạo dựng được nhiều công trình văn hóa có ýnghĩa lịch sử như tôn miếu, lăng mộ nhà Trần, đền Tiên La,… gắn liền với cáccông trình mang tính lịch sử đó là các danh nhân: Thái sư Trần Thủ Độ, "Nữ tướnghậu cần" của nhà Trần - Trần Thị Dung, Bát Nạn Tướng Quân - Vũ Thị Thục(tướng quân phá nạn cho dân - một nữ tướng của Hai Bà Trưng), bác học Lê QuýĐôn Nhân dân trong huyện có tinh thần đoàn kết yêu quê hương, có đức tính cần

cù, chăm chỉ, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để vững bước đi lên Đó là nhữngnhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế xã hội,

Trang 8

trong xu hướng hội nhập với cả nước, khu vực và quốc tế; là thuận lợi để Đảng bộ,chính quyền và nhân dân các dân tộc trong huyện vững bước đi lên trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng huyện giàu, đẹp, văn minh.

1.3 Thực trạng môi trường

1.3.1 Hiện trạng môi trường và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường

Hiện trạng môi trường của huyện nhìn chung còn trong lành, tuy nhiêncũng đã xuất hiện một số nguy cơ gây ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái giảm tính

đa dạng sinh học như: một số khu dân cư như thị trấn Hưng Hà, thị trấn HưngNhân,… có dân số tập trung cao, mật độ xây dựng lớn và các khu chợ dịch vụ, cơ

sở y tế có lượng chất thải nhiều nhưng lại chưa được thu gom và xử lý triệt để,

tập quán sử dụng các chất đốt dạng thô (than đá, củi, rơm rạ ), các sản phẩm

nhựa, nilon trong sinh hoạt của nhân dân, sử dụng các chế phẩm hoá học để trừsâu, diệt cỏ dại và phân hoá học trong sản xuất nông nghiệp, các chất thải trongquá trình sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, trong chăn nuôi

Trong những năm vừa qua; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và làngnghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà hàng đang làm ảnh hưởng lớn tới môitrường của huyện; mặt khác trên địa bàn của huyện có 2 Bệnh viện Đa khoa(Bệnh viện Đa khoa Hưng Hà và Bệnh viện Đa khoa Hưng Nhân), 01 Trung tâm

y tế, 35 Trạm y tế xã và các cơ sở y tế khác đang có nguy cơ phát sinh rác thảinguy hại cần được quan tâm xử lý kịp thời Đặc biệt đối với các cơ sở làngnghề cần được quan tâm; như làng dệt nhuộm Phương La (xã Thái Phương),khu vực bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu ở

xã Hòa Tiến đã gây ô nhiễm về môi trường rất nghiêm trọng Theo ước tính, cả

xã Thái Phương có trên 90% hộ gia đình làm nghề dệt nhuộm với 7 công ty, xínghiệp dệt nhuộm, 20 tổ sản xuất kinh doanh, trong đó 12 cơ sở tẩy nhuộm xảthải từ 1.000 - 1.500 m3/ngày đêm, hàm lượng chất rắn lửng, ôxy hóa, sulfuavượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 10 lần Hầu hết các chất thải này đều xảthẳng ra môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người dân

Trong tương lai khi kinh tế phát triển sẽ hình thành các khu đô thị mới, khusản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các trang trại chăn nuôi tập trung với một lượng không nhỏ các chất thải công nghiệp, chăn nuôi, sinh hoạt khôngthể tránh khỏi sẽ có tác động nhất định đến môi trường của huyện Vì vậy, cầnphải dự kiến trước các biện pháp để kịp thời ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục ônhiễm, bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, môitrường sinh thái trên địa bàn huyện

1.3.2 Một số giải pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện

- Khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đưa tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, tích cực trồng cây xanh, bảo vệ nguồn lợi thuỷsản, hạn chế và chấm dứt tình trạng dân sống rải rác tự phát không theo quyhoạch Xử lý nghiêm các hành vi huỷ hoại môi trường sinh thái

Trang 9

- Có các giải pháp cơ bản lâu dài xử lý nước thải ở khu làng nghề, tiểu thủcông nghiệp, các bệnh viện, hệ thống thoát nước các khu dân cư đặc biệt là cáckhu dân cư đô thị.

- Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự

án đầu tư, các công trình, nghiên cứu ứng dụng các quy trình, giải pháp kỹ thuật

để ngăn ngừa xử lý ô nhiễm môi trường, kiểm tra thường xuyên việc thực hiện

và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình bảo vệ môi trường.Thực tế cho thấy song song với đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, vấn đềbảo vệ môi trường sống có ý nghĩa rất quan trọng, đảm bảo cho sự phát triển kinh

tế - xã hội bền vững và lâu dài, đảm bảo đời sống tinh thần, vật chất và sức khoẻcho nhân dân Để bảo vệ môi trường, trước hết là phải bảo vệ thảm thực vật, đồngthời hạn chế suy thoái môi trường do biến động tài nguyên đất, tài nguyên nước,hạn chế ô nhiễm môi trường đô thị, môi trường nông thôn Có như vậy mới có thểphát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Trong những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai songdưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Uỷ ban nhân dân huyện, cùng với lợi thế vềtiềm năng thiên nhiên, nguồn lực con người, nền kinh tế của huyện Hưng Hà

đã dần đi vào hướng phát triển ổn định, đạt bình quân trong giai đoạn

2001-2010(1) là 10,94% Trong đó giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 4,61%(giai đoạn 2001-2010); giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng 18,21%(giai đoạn 2001-2010); giá trị sản xuất thương mại - dịch vụ tăng 9,62% (giaiđoạn 2001-2010)

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Khu vực nông nghiệp - ngư nghiệp có tỷ trọng giảm đều trong cơ cấu giá trịsản xuất của huyện từ 49,68% năm 2000 xuống còn 29,1% năm 2010

- Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 31,17% trong cơ cấu giá trị sảnxuất năm 2000 lên 53,52% vào năm 2010

- Khu vực thương mại, dịch vụ, chịu nhiều ảnh hưởng của biến động thị trườnggiá cả song cơ cấu giá trị sản xuất đạt ở mức 17,39% vào năm 2010

Nhìn chung, trong thời kỳ 2000 - 2010, cơ cấu kinh tế của huyện có sự

1 Theo Báo cáo chính trị số 152-BC/HU ngày 06 tháng 07 năm 2010 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lần VIII trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIV nhiệm kỳ 2010 – 2015 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005-2010 là 13,06%; trong đó giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng 3,94%, giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng 21,13%, giá trị sản xuất thương mại – dịch vụ tăng 12,43% Trung bình cả tỉnh tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005 – 2010 đạt 11%.

Trang 10

chuyển dịch đúng hướng, cơ cấu kinh tế thay đổi đều ở cả ba khu vực theo hướngtăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và giảmdần tỷ trọng ngành nông lâm - nghiệp Tuy nhiên mức độ chuyển dịch kinh tế hiệnnay diễn ra vẫn còn chậm, tỷ trọng của ngành công nghiệp - xây dựng thấp hơnnhiều so với cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp

2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

2.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp

Nhận thức được vai trò quan trọng của khu vực kinh tế nông nghiệp trongviệc ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế, trong thời gian qua, huyện đã cónhiều chủ trương đầu tư cho các vùng sản xuất trọng điểm, triển khai ứng dụngcác tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các hành lang cơ chế phù hợpvới điều kiện thực tế của địa phương nên ngành nông nghiệp, thuỷ sản củahuyện phát triển khá toàn diện

2.2.1.1 Ngành sản xuất nông nghiệp

Năm 2010 giá trị sản xuất nông nghiệp - thủy sản đạt 888,9 tỷ đồng (giá1994) tăng 327 tỷ đồng so với năm 2000 (561,9 tỷ đồng)

Biểu 01: Giá trị sản xuất và cơ cấu các phân ngành của khối ngành sản xuất

Nông nghiệp huyện Hưng Hà thời kỳ 2000 - 2010 (2)

Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2000 Năm 2005 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Trang 11

Biểu 02: Giá trị sản xuất và cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Huyện Hưng Hà thời kỳ 2000 - 2010

2000

Năm 2005

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

ha, chiếm 50% diện tích đất canh tác; Cây đậu tương đã trở thành cây trồng chủ lựctrong sản xuất vụ đông Giá trị sản xuất trồng trọt năm 2010 đạt 502 tỷ đồng, chiếm56,85% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, trong đó giá trị sản xuất vụ đôngbình quân đạt 100,417 tỷ đồng, chiếm 20,3% so với tổng giá trị ngành trồng trọt

Ngoài cây lúa, huyện đã thực hiện phát triển các loại cây ngắn ngày như:cây ngô có diện tích 2.400 ha, năng suất bình quân đạt 53,72 tạ/ha, sản lượng13.000 tấn; Khoai Lang có diện tích 650 ha, năng suất bình quân đạt 134 tạ/ha,sản lượng đạt 8.600 tấn; Cây Lạc có diện tích 119 ha, sản lượng đạt mức 376 tấn.Ngoài ra trên địa bàn huyện còn trồng thêm một số loại cây hoa màu khác như đỗ,thuốc lào, rau các loại… cũng cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao

- Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi những năm qua đã có những tiến bộ rõ rệt,đàn gia súc, gia cầm phát triển cả về số lượng và chất lượng Đàn gia súc, giacầm phát triển ổn định, công tác phòng chống dịch được chú trọng, tăng cườngkiểm soát giết mổ và kiểm dịch đại gia súc Tổng đàn gia súc, gia cầm ước đạt283.496 con, trong đó: Đàn trâu, bò 15.230 con; Đàn lợn 154.942 con; Đàn giacầm 1.448.500 con Hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm có mức tăng trưởngkhá và ổn định trong giá trị sản xuất nông nghiệp

2.2.1.2 Ngành thủy sản

Hiện tại, toàn huyện có tổng diện tích chuyên nuôi trồng thủy sản khoảng1.357 ha, được phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện Giá trị sản xuất của

Trang 12

ngành năm 2010 đạt 57,8 tỷ đồng (giá cố định 94) tăng 17,8 tỷ đồng so với năm

2000 (40 tỷ đồng), tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 – 2010 là8,90%/năm Huyện có nhiều trang trại nuôi trồng thủy sản theo quy mô vừa và nhỏ.Chủ trang trại từng bước đưa một số giống cá cho năng suất, sản lượng thu hoạchcao, thời gian cho thu hoạch nhanh hơn, do đó tình hình sản xuất thủy sản toànhuyện nhìn chung có xu hướng phát triển hơn nữa và đạt được những kết quả cao

2.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng

Thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của nhà nước và chủtrương của tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, sản xuất công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp của huyện đã từng bước phát triển Giá trị sản xuất công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp năm 2010 đạt 1.629 tỷ đồng, tăng gấp 2,6 lần so với năm 2005

và tăng 5,3 lần so với năm 2000 (307 tỷ đồng), với tỷ lệ lao động trong ngành côngnghiệp chiếm khoảng trên 40% trong các ngành Huyện đã tập trung chỉ đạo thựchiện việc xây dựng cụm công nghiệp - thương mại, dịch vụ xã, thị trấn theo Nghịquyết 01 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, giữ vững 3 cụm công nghiệp ở 2 thịtrấn và xã Thái Phương với diện tích 72 ha và xây dựng mới 2 điểm công nghiệp ởcác xã Minh Tân, Điệp Nông với diện tích 19,4 ha và giao hơn 6 ha đất cho các dự

án đầu tư vào sản xuất tại các cụm, điểm công nghiệp và làng nghề nâng số dự ánđầu tư vào sản xuât CN - TTCN lên 160 dự án với tổng số vốn đầu tư là 480 tỷ đồng,tăng 156,8% về số dự án và tăng 213,7% về vốn đầu tư so với năm 2005(3)

Nhìn chung, ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp bước đầu pháttriển khá tốt, đã khai thác được tiềm năng thế mạnh của địa phương, vượt quanhững thử thách của cơ chế thị trường để đi vào ổn định và phát triển sản xuất

Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng bình quân 16,06% năm Năm 2010,ước đạt 172 tỷ đồng, tăng 2 lần so với năm 2005 Công tác quy hoạch và thựchiện quy hoạch được coi trọng Công tác xây dựng cơ bản đã được triển khaithực hiện đúng quy định, đảm bảo công khai dân chủ, tránh thất thoát, lãng phí,phát huy tốt hiệu quả sử dụng, từng bước thay đổi bộ mặt nông thôn Nhìnchung các công trình được bố trí phù hợp, các thủ tục hồ sơ được chuẩn bị chuđáo, công tác giám sát chặt chẽ nên chất lượng công trình được đảm bảo, cáccông trình thi công đúng tiến độ theo kế hoạch

2.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ - thương mại

Trong những năm qua, cùng với sự chuyển biến của các ngành sản xuấtvật chất, ngành dịch vụ - thương mại của huyện Hưng Hà đã có nhiều cố gắngvươn lên trong hoạt động sản xuất kinh doanh Giá trị sản xuất thương mại, dịch

vụ năm 2010 ước đạt 467 tỷ đồng, tăng 79,6% so với năm 2005

3 Theo Báo cáo chính trị số 152-BC/HU ngày 06 tháng 07 năm 2010 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện lần VIII trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIV nhiệm kỳ 2010 – 2015

Trang 13

Hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển đa dạng, hàng hoá tiêu dùngphong phú, thị trường sôi động, đã hình thành hệ thống mạng lưới chợ rộngkhắp trên địa bàn tạo ra sự lưu thông hàng hoá theo cơ chế thị trường đạt hiệuquả cao Huyện đã xây mới, cải tạo được 6 chợ khu trung tâm và chợ nông thôn,với kinh phí 7,8 tỷ đồng; quy hoạch khu đô thị và trung tâm thương mại tại thịtrấn Hưng Hà, tổ chức các hội chợ để quảng bá, giới thiệu và tìm kiếm đối táctiêu thụ sản phẩm.

Việc tuyên truyền, quảng bá về du lịch gắn với các giá trị văn hóa truyềnthống được chú trọng Các dịch vụ bảo hiểm, vận tải, viễn thông… phát triển với

sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, phục vụ tốt hơn nhu cầu sản xuất vàđời sống

Công tác quản lý thu, chi ngân sách từng bước đi vào nề nếp, cơ bản đảmbảo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước Nhiều địa phương, cơ quan,đơn vị đã thực hiện công khai thu, chi tài chính, hạn chế tiêu cực trong quản lý,

sử dụng ngân sách Tổng thu ngân sách toàn huyện bình quân đạt 277,6 tỷđồng/năm, trong đó thu trên địa bàn đạt 69,8 tỷ đồng Tổng chi ngân sách bìnhquân đạt 273 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển 59 tỷ đồng, chiếm 21,6%tổng chi ngân sách

Dịch vụ vận tải: Hệ thống giao thông được nâng cấp và ngày càng hoànthiện đã tạo điều kiện cho dịch vụ vận tải phát triển, mở rộng sản xuất kinhdoanh đáp ứng nhu cầu sản xuất, mức lưu chuyển hàng hoá, hành khách tăngđáng kể trong những năm gần đây(4)

2.3 Dân số, lao động, việc làm, thu nhập (5)

Do làm tốt công tác kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ, chăm sóc trẻ em luônđược quan tâm Giữ vững mức sinh thay thế, tỷ lệ sinh còn 1,4% Tỷ lệ pháttriển dân số tự nhiên của Hưng Hà trong những năm vừa qua khoảng0,95%/năm, chất lượng dân số và tuổi thọ bình quân ngày càng tăng

Theo số liệu thống kê năm 2010, dân số toàn huyện là 258.168 người.Trong đó, dân số thành thị là 21.440 người, chiếm 8,67% dân số toàn huyện.Mật độ dân số toàn huyện là 1.234 người/km2 (cao hơn mức trung bình của toàntỉnh là 1.154 người/km2) Dân cư tập trung đông ở các thị trấn và các làng nghề

Về thực trạng giải quyết việc làm và thu nhập, huyện đã nhận thức rõ vaitrò quan trọng trong công tác giải quyết việc làm đối với người lao động, Đảng

bộ và chính quyền đã xây dựng và thực hiện tốt đề án giải quyết việc làm giaiđoạn 2006 - 2010, trong 5 năm qua đã giải quyết việc làm cho 28.039 người(tăng 166% so với nhiệm kỳ trước); các cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp đều

4 Trong năm 2010, khối lượng vận chuyển hàng hóa của huyện đạt khoảng 1.800 nghìn tấn

5 Số liệu tổng hợp từ phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Hưng Hà.

Trang 14

quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động, số lao động qua đào tạođạt 19.743 người; tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 82,24%, tăng4,2% so với năm 2005; bình quân giá trị sản xuất tính theo đầu người đạt 29,16triệu đồng/ người năm 2010, tăng 18,76 triệu đồng/ người so với năm 2006.

Bảng 03: Dân số, lao động qua các năm

1 Dân số trung bình Người 255.248 258.168 260.744 245.599 258.168

2 Dân số trong độ tuổi lao động Người 138.591 139.927 141.254 142.620 158.569

4 Lao động trong độ tuổi có

118.77 8

124.63 4

130.82 9

Trong những năm gần đây, hệ thống cơ sở hạ tầng của các thị trấn đã hìnhthành và dần hoàn thiện, dáng vẻ hiện đại tập trung tại một số khu vực nội thị trấn,nhất là dọc theo quốc lộ 39 và thường phát triển theo ven đường chính từ trung tâm lanrộng ra xa

Hạ tầng cấp, thoát nước đô thị: hệ thống thoát nước ở đô thị còn nhiều hạnchế, hầu hết còn ở dạng tự chảy, chưa đảm bảo yêu cầu về thoát và xử lý nướcthải đô thị

Hạ tầng cấp điện và viễn thông đô thị: cơ bản đáp ứng được nhu cầu sinhhoạt cũng như sản xuất kinh doanh, bảo đảm cung cấp ổn định

2.4.2 Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn

Do đặc điểm hình thành và lịch sử phát triển, các khu dân cư nông thôntrên địa bàn huyện được phát triển theo những hình thái khác nhau, tuỳ thuộcvào điều kiện và mức độ phân bố trong từng khu vực Các tụ điểm dân cư truyền

thống (như làng, xóm) được hình thành tập trung bên cạnh ở những nơi có giao

thông thuận tiện cho sản xuất và lưu thông hàng hoá Nhìn chung đời sống nhândân còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các lĩnh vực y tế, giáo dục

Trang 15

Hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém, mặc dù đã được quan tâm đầu tưsong còn nhiều hạn chế do nguồn kinh phí hạn hẹp Các tuyến đường giao thông

do địa phương quản lý hiện tại có nhiều đoạn đã xuống cấp, kích thước hình họcchưa đảm bảo tiêu chuẩn, phần lớn chỉ đạt tiêu chuẩn cấp IV, V, đường giaothông nông thôn với 1 làn xe, nhiều đoạn đường chưa được rải đá, láng nhựahoặc bê tông hóa Toàn huyện hiện chưa hoàn thiện hệ thống thu gom và xử lýrác thải, thoát nước thải sinh hoạt chủ yếu là chảy tự do xuống các ao, hồ, sông

và thấm vào đất, đã phần nào gây ô nhiễm môi trường sống và đặc biệt gây ảnhhưởng xấu đến chất lượng nguồn nước

Các khu dân cư cũ ngày càng mở rộng, các khu dân cư mới đã bắt đầu pháttriển, đường điện và nước sinh hoạt đáp ứng được nhu cầu người dân Tuy nhiên,kiến trúc không gian khu dân cư còn bất hợp lý, chưa có hướng quy hoạch Việcxây dựng nhà ở hoàn toàn mang tính tự phát, không đảm bảo kiến trúc và mỹ quan

Bình quân đất ở đạt 63,6 m2/người Trong tương lai việc phát triển thêmđất ở để đáp ứng nhu cầu là thực tế khách quan không thể tránh khỏi, nhưng cầnphải có sự điều chỉnh hợp lý các khu dân cư hiện có cũng như phải hạn chế tối

đa việc lấy đất nông nghiệp vào làm nhà ở nhất là những khu vực cho năng suấtcao Đây là những vấn đề cần được quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tếlâu dài của huyện

2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

Trong những năm qua, Huyện được Tỉnh và Trung ương tập trung hỗ trợgiải quyết một số nhu cầu bức thiết về kết cấu hạ tầng, bổ sung nhiều năng lựccho sản xuất, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân … mang lại nhữngkhởi sắc quan trọng cho bộ mặt nông thôn

Tuy vậy, việc huy động nội lực trong nhân dân để thực hiện các công trìnhxây dựng cơ bản như kiên cố hoá trường học, kiên cố hoá thủy lợi, cứng hoáđường giao thông nông thôn còn hạn chế

2.5.1 Giao thông

* Giao thông đường bộ

Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, hệ thốnggiao thông huyện Hưng Hà đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng, đã tạophần nào đáp ứng được nhu cầu đi lại và thông thương hàng hoá của nhân dân.Nhìn chung mạng lưới giao thông trong huyện đến nay đã hình thành và phân bốtương đối hợp lý Tuy nhiên chất lượng đường giao thông vẫn còn thấp, nhiềutuyến đường bị xuống cấp, còn nhiều tuyến giao thông chưa được nâng cấp, nên

đã ảnh hưởng lớn tới việc đi lại, vận chuyển hàng hoá của nhân dân, ảnh hưởnglớn đến phát triển kinh tế xã hội của huyện

Trang 16

- Quốc lộ: Có 1 tuyến Quốc lộ 39 chạy qua với tổng chiều dài 19,5 km, điqua Triều Dương nối với Hưng Yên Hiện trạng đường thuộc đường cấp IV, V.

- Đường tỉnh: Có 4 tuyến với tổng chiều dài 44,1 km, bao gồm tỉnh lộ

452, 453, 454, 455 Các tuyến tỉnh lộ thuộc đường cấp IV và V

- Đường huyện: Có 22 tuyến với tổng chiều dài 79,5 km, do huyện quản

lý Các tuyến đường thuộc đường cấp IV và V

- Hệ thống đường xã: Các tuyến đường do xã quản lý có tổng chiều dài234,7 km

- Hệ thống đường thôn xóm: Các tuyến đường do xóm quản lý có tổngchiều dài 59 km

Huyện Hưng Hà là một trong những địa phương cấp huyện có thành tíchtốt nhất trong cả nước về xây dựng cơ sở vật chất, với hệ thống điện, đường,trường, trạm khá phát triển Đến nay, mật độ trung bình cho các loại đường từđường xã trở lên đã đạt 2,12km/km2 Đường trục từ thị trấn huyện lỵ về cáctrung tâm xã cơ bản đã được rải nhựa Một số đoạn của tuyến đường đê và cáctuyến đường quan trọng phục vụ phòng, chống lũ bão đã được đầu tư xây dựng

kè đá, chống sạt lở

Nhìn chung mạng lưới đường bộ của huyện phân bố tương đối đều trênđịa bàn, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu với các vùng lân cận, nối liềntrung tâm của huyện với trung tâm các huyện trong tỉnh, từ trung tâm huyện đếncác xã Song chất lượng đường còn ở mức thấp, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp Hệthống cầu cống được xây dựng ở nhiều giai đoạn khác nhau, nên sức tải trọngkhác nhau và nhiều cầu có tải trọng nhỏ không còn phù hợp với nhu cầu vận tảihiện nay, cần thay thế cầu có tải trọng cao hơn

* Giao thông đường thủy

Mạng lưới giao thông đường thủy trong huyện gồm có:

- Ba tuyến sông lớn do trung ương quản lý: Sông Hồng, sông Luộc, sôngTrà Lý có tổng chiều dài là 40,1km

- Sông do tỉnh quản lý có 9 tuyến với tổng chiều dài 96,4 km (sông TiênHưng 16,5 km, sông Sa Lung 12,4 km, sông Việt Yên 5km, sông Đô Kỳ 10 km,sông Đào Thành 4,1 km, sông Lão Khê 5,1 km, sông 224, 223 và sông Tà Sa)

Hệ thống bến cảng trên các tuyến sông có 11 bến cảng, hầu hết các bếncảng này đều có quy mô nhỏ, tự phát chưa có quy hoạch Lượng tàu thuyền đilại tương đối lớn, chủ yếu là vận chuyển hàng hóa

Trang 17

2.5.2 Thủy lợi

Hưng Hà là huyện nông nghiệp do đó việc xây dựng, nâng cấp các côngtrình thuỷ lợi hàng năm là rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp.Năm 2010 huyện đã nâng cấp, đào mới được các công trình thuỷ lợi, đảm bảophục vụ tưới trên 80% diện tích đất sản xuất nông nghiệp

Nhìn chung hệ thống thuỷ lợi ở huyện Hưng Hà mới chỉ đáp ứng cơbản về tưới, về tiêu nước phần nào còn hạn chế Do đã khai thác, sử dụng từnhiều năm nên phần nào hệ thống thuỷ lợi của huyện đã bị xuống cấp Huyện

đã tập trung gia cố hệ thống kênh chính, các hồ đập đã có, ngoài ra huyện đã

hỗ trợ và khuyến khích các xã thực hiện từng bước việc kiên cố hoá hệ thốngkênh mương

2.5.3 Năng lượng, bưu chính viễn thông

- Năng lượng: Hưng Hà là một huyện có mạng lưới điện phát triển khásớm, mật độ lưới điện cao so với các huyện Từ năm 1995, 100% số xã, thị trấntrong huyện được sử dụng điện lưới Trước năm 2005 nguồn điện cung cấp choHưng Hà qua trạm 110KV/35KV/11KV Long Bối Từ năm 2005 cho đến nay.Trên địa bàn huyện đã xây dựng xong 1 trạm 110/35/10KV tại ngã tư La, dunglượng máy biến áp 25 MVA, trạm này được cung cấp nguồn điện từ trạm220KV/110KV Nguyên Xá, Đông Hưng, Thái Bình

Tình trạng cung cấp điện trên địa bàn huyện khá ổn định, đảm bảo đủcông suất, sản lượng theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện (có 98%

số hộ dân sử dụng điện lưới phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, bình quân mỗi xã

có từ 4-5 trạm biến áp tiêu thụ các loại)

Tuy nhiên, một số vùng do lưới điện xây dựng khá lâu, phụ tải phát triểnquá nhanh nên chất lượng điện chưa được đảm bảo, nhưng nhìn chung tốc độtăng trưởng điện thương phẩm hàng năm vẫn tăng cao, tạo điều kiện thuận lợicho các ngành kinh tế phát triển tốt và có tốc độ phát triển nhanh

- Bưu chính - Viễn thông:

Đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, đáp ứng được nhu cầu của nhân dân;duy trì phát hành báo các loại đảm bảo 100% các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn

có báo đọc trong ngày; phát triển tổng số thuê bao điện thoại cố định trên địa bàntoàn huyện đạt bình quân 11 máy/100 dân Ngoài ra trên địa bàn huyện đã phủsóng các mạng điện thoại di động Năm 2010, huyện đã làm thủ tục cấp phép cho

15 trạm thu phát sóng thông tin di động (BTS) Đến nay trên địa bàn huyện có 72trạm thu phát sóng thông tin di động, trong đó 67 trạm đã có giấy phép xây dựng

Toàn huyện đã có 19 xã, thị trấn đã được cấp phép sử dụng tần số và khaithác hệ thống Đài truyền thanh không dây, trong năm 2010 có 4 đài được xâydựng mới là: Chi Lăng, Cộng Hòa, Hòa Bình, Chí Hòa

Trang 18

2.5.4 Giáo dục - đào tạo

Đến nay toàn huyện đã có 148 cơ sở giáo dục, tăng 4 cơ sở so với năm

2005, với 57.862 học sinh, cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của họcsinh và nhân dân trong huyện Chất lượng giáo dục – đào tạo ngày càng đượcnâng cao, chất lượng học sinh giỏi có chuyển biến tích cực Bình quân 5 năm

2006 - 2010 có 78% học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT, tăng 17,8% sovới giai đoạn 2001 - 2005 Học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng,Trung học chuyên nghiệp ngày càng tăng Chất lượng đội ngũ giáo viên ngàycàng được nâng lên theo hướng chuẩn hóa Đến năm học 2009 - 2010 có 1/5trường THPT, 11/36 trường mầm non, 36/36 trường tiểu học, 17/34 trườngTHCS đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 7 trường tiểu học và 1 trường mầmnon đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 Công tác xã hội hóa giáo dục, hoạt độngcủa trung tâm học tập cộng đồng, góp phần quan trọng vào phát triển sựnghiệp giáo dục – đào tạo

2.5.5 Y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Trên địa bàn huyện có 2 Bệnh viện Đa khoa (Bệnh viện Đa khoa Hưng

Hà và Bệnh viện Đa khoa Hưng Nhân), 01 Trung tâm y tế, 35 Trạm y tế xã, vớitrên 470 cán bộ trong ngành (tổng số bác sỹ trong toàn huyện là 84, trong đótuyến huyện có 70 bác sỹ, tuyến xã có 14 bác sỹ; có 386 cán bộ y tế thôn) Côngtác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm đúng mức Công tác y tế dựphòng có nhiều cố gắng trong giám sát và quản lý tốt dịch bệnh; Bệnh việntuyến huyện đã khám chữa bệnh kịp thời cho nhân dân Mạng lưới y tế cơ sở xã,thôn không ngừng được củng cố và hoàn thiện; các chương trình y tế quốc giatriển khai có hiệu quả Năm 2010, có 23/35 xã đạt chuẩn y tế quốc gia, khámđiều trị cho 292,903 lượt người, trẻ em dưới 6 tuổi được khám chữa bệnh là11.816 lượt trẻ Công tác quản lý nhà nước về y tế và hành nghề y dược tư nhânđược chú trọng Tổ chức kiểm tra việc thực hiện quy chế về an toàn dược tại cáctrạm y tế xã, thị trấn và các đại lý

2.5.6 Văn hoá - thể dục thể thao và truyền thanh

Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, thể dục - thể thao, văn nghệ chàomừng thành công Đại hội Đảng các cấp và kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước;phát động phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”

Ngày 8/06/2010 UBND huyện đã tổ chức Hội nghị Tổng kết 10 năm thựchiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (2001-2010) và 4năm thực hiện Đề án “Đẩy mạnh xây dựng gia đình, dòng họ, làng xã, cơ quan, đơn

vị văn hóa” giai đoạn 2006 - 2010 Tại Hội nghị này UBND huyện tặng giấy khen

và tiền thưởng cho 59 cơ quan, đơn vị; 14 thôn, làng; 22 dòng họ đạt danh hiệu vănhóa năm 2009; 23 tập thể, cá nhân; 35 hộ gia đình đạt thành tích xuất sắc trongphong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 2001 - 2010

Trang 19

Tổ chức tốt công tác tuyên truyền các hoạt động về lễ hội, phối hợp cùngđội thông tin lưu động của Tỉnh tổ chức các đợt tuyên truyền về cơ sở các xã vùngkhó khăn Trung tâm văn hoá hướng dẫn các hoạt động về cơ sở thông qua côngtác xây dựng các đội văn nghệ, các câu lạc bộ, phối hợp với các cơ quan, đơn vị,thôn, xã để tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ Mức hưởng thụ văn hoá củanhân dân trong huyện có nhiều biến chuyển tích cực, số người được tham khảosách báo tăng nhanh.

Hoạt động truyền thanh - truyền hình được cải thiện, nâng cao chất lượngtiếp, phát sóng các đài địa phương và trung ương đến từng thôn Duy trì thườngxuyên chương trình trên đài huyện, kịp thời sửa chữa hệ thống loa truyền thanh vàloa FM ở các xã, thị trấn Nâng tỷ lệ phủ sóng truyền thanh đạt 95 ÷ 100%, tỷ lệphủ sóng truyền hình đạt 90 ÷ 95%, các khu dân cư có loa truyền thanh đạt 100%

Đối với hoạt động thể dục thể thao, tiếp tục duy trì cơ chế phối hợp vớiphòng Giáo dục – đào tạo tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ và các hoạt độngthể dục - thể thao tại khối trường học Chỉ đạo tổ chức các hoạt động thể dục –thể thao chào mừng các ngày lễ lớn, đại hội Đảng bộ các cấp và các sự kiệnchính trị trọng đại diễn ra trong năm 2010 Tổ chức lực lượng tham gia đại hộithể dục thể thao lần thứ VI của tỉnh chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnhlần thứ XIX Duy trì tổ chức các lớp năng khiếu thể dục thể thao và hoạt độngbơi lặn trong lứa tuổi thanh thiếu niên

2.5.7 Quốc phòng - An ninh

Công tác quân sự địa phương luôn được các cấp uỷ, chính quyền từ huyệnđến cơ sở quan tâm chỉ đạo Tinh thần cảnh giác và nhận thức về nhiệm vụ quốcphòng - an ninh trong tình hình mới được nâng lên Các phương án, kế hoạchphòng thủ khu vực được chỉ đạo thường xuyên và bổ sung kịp thời Phát huymạnh mẽ phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, kết hợp đẩy mạnh cácbiện pháp tấn công, trấn áp tội phạm hình sự và các tệ nạn xã hội; nắm chắc tìnhhình, điều tra, giải quyết kịp thời các vụ việc ngay từ khi mới phát sinh, không đểxảy ra điểm nóng…

III ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG

3.1 Về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

* Thuận lợi

Có vị trí nằm cách không xa Thành phố Thái Bình và thành phố HưngYên, trên địa bàn huyện có QL39 và nhiều tuyến giao thông thủy bộ huyết mạnhcủa tỉnh chạy qua là điều kiện thuận lợi tạo ra nhiều cơ hội cho huyện trong việcgiao lưu kinh tế, văn hóa, kinh tế chính trị và thu hút đầu tư

Quỹ đất còn khá lớn để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhất là pháttriển sản xuất công nghiệp chế biến, đô thị, cơ sở hạ tầng

Trang 20

Nguồn lao động dồi dào với trên 158 nghìn lao động trong độ tuổi, nhândân có truyền thống cần cù, sáng tạo là lợi thế trong phát triển kinh tế - xã hội.

* Khó khăn

Kết cấu hạ tầng được huy động đầu tư xây dựng, nâng cấp đã có nhiềuthay đổi về diện mạo nhưng còn chậm và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triểnkinh tế - xã hội, nhất là kết cấu hạ tầng giao thông

Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng của huyện chưa đồng bộ cũng tạo ra sức

ép lớn trong việc dành quỹ đất để mở rộng, nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới cáctuyến đường, cũng như các công trình công cộng trên địa bàn trong thời gian tới

Hiện tại vấn đề ô nhiễm môi trường tuy chưa bị ảnh hưởng nhiều, songcũng đã phần nào ảnh hưởng đến sản xuất, chất lượng cuộc sống và sức khoẻcủa nhân dân

3.2 Về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

* Những kết quả đạt được

Sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện đang dần đi vào nề nếp làbước chuẩn bị tốt cho sự phát triển những năm tiếp theo, chuyển đổi mạnh từnền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp trong những năm tới, đẩy nhanh tốc

độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá trở thành huyện công nghiệp theo hướng hiệnđại đến năm 2020

Kết quả nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ vừa qua:

- Huyện có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao so với các huyện trongtỉnh và được duy trì liên tục, đóng góp của huyện vào GDP của tỉnh ngày càng tăng

- Phát huy được thế mạnh về điều kiện sản xuất nông nghiệp trong trồngtrọt và chăn nuôi, nhờ đó huyện đã đẩy nhanh được tốc độ phát triển kinh tế, xoáđói giảm nghèo đồng thời đóng góp vào thành tựu phát triển nông nghiệp, đảmbảo an ninh lương thực và kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản của cả tỉnh

- Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong huyện ngày càng đượcnâng lên Mức sống của nhân dân từng bước được cải thiện, tính tới tháng 8 năm

2010 thu nhập bình quân đạt 9,9 triệu đồng/người/năm Nhiều chủ trương, chínhsách và chương trình quốc gia về phát triển lĩnh vực văn hoá - xã hội được thựchiện đạt kết quả tích cực như giảm nghèo, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng,thực hiện phổ cập giáo dục, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư

- Cải cách hành chính, đổi mới cơ chế chính sách quản lý được đẩy mạnh,vai trò quản lý Nhà nước được củng cố và ngày càng phát huy hiệu quả, gópphần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội củahuyện thời kỳ vừa qua

Trang 21

- Nhiệm vụ quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xãhội trong điều kiện đặc thù của huyện đa dạng về văn hoá, tôn giáo được thựchiện tốt, bảo đảm môi trường ổn định để phát triển kinh tế - xã hội

* Những hạn chế cần khắc phục

Phát triển công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế, thiếu các nhàmáy có quy mô sản xuất lớn, hiện đại đóng vai trò thúc đẩy mạnh phát triển côngnghiệp và tạo ra nhiều việc làm cho lao động ở địa phương

Sự nghiệp phát triển văn hoá - xã hội đạt nhiều kết quả tiến bộ, song chưatương xứng với tốc độ phát triển kinh tế của huyện và chậm so với nhịp độ côngnghiệp hoá - hiện đại hoá của cả tỉnh Một số chỉ số phát triển về quy mô và chấtlượng các mặt như giáo dục, đào tạo, y tế còn thấp hơn so với mức bình quânchung của cả tỉnh

Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua cùng với sự giatăng dân số, mật độ phân bố dân cư không đồng đều, mức độ sử dụng đất trongtừng khu vực khác nhau đã tạo nên những áp lực đối với đất đai của huyện Tronggiai đoạn từ nay đến năm 2020, cùng với thực hiện các chính sách hợp lý khuyếnkhích đầu tư phát triển các ngành kinh tế; từng bước xây dựng, cải tạo và hoànthiện hệ thống cơ sở hạ tầng… theo dự báo trong tương lai sức ép đối với sử dụngđất của huyện ngày càng có tính cấp thiết, cần xác định lại cơ cấu sử dụng đất, bốtrí sử dụng đất theo kết quả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt

Từ thực trạng phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có những bước đi độtphá để tránh tụt hậu và bắt nhịp được với sự phát triển chung của tỉnh Thái Bìnhcũng như của cả nước Những yêu cầu khách quan đòi hỏi phải có những thay đổiđáng kể trong việc bố trí lại quản lý và sử dụng đất trong toàn huyện

Trong những năm tới, sản xuất nông nghiệp được chuyển mạnh sang sảnxuất hàng hóa, đảm bảo an ninh lương thực và nguyên liệu công nghiệp tại chỗ.Nhu cầu quỹ đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển hệ thống cơ sở hạtầng (giao thông, thuỷ lợi, điện, nước, văn hoá, thể thao…) là rất lớn Nhữngnhu cầu đó đòi hỏi phải có những hoạch định, chính sách và biện pháp sử dụngđất cụ thể, khoa học, chính xác nhằm thoả mãn những nhu cầu phát triển kinh tế,nhu cầu nơi ăn chốn ở và đời sống văn minh tinh thần của dân cư, an ninh quốcphòng trên địa bàn huyện

Trang 22

PHẦN II TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

I TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nền kinh tế theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, đời sống của nhân dân trong huyện đã từng bướcđược cải thiện, bộ mặt đô thị và nông thôn đã có nhiều thay đổi, nhu cầu sử dụng đấtcho các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt cho xây dựng cơ sở hạ tầng và nhà ở, khu buôn bánnhỏ và hệ thống chợ phát triển Kết quả bước đầu đạt được như sau:

1.1 Tình hình thực hiện các văn bản pháp quy

Nhằm cụ thể hoá các quy định về công tác quản lý đất đai của Chính phủcũng như của tỉnh Thái Bình, huyện đã ban hành một số quyết định, văn bảnhướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn triển khai đến các xã, thị trấn và các đơn vịquản lý sử dụng đất trên địa bàn huyện cũng như các văn bản được ban hànhphù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, làm cơ sở để quản lý và chỉ đạothực hiện công tác quản lý đất đai ngày càng tốt hơn

1.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

Thực hiện Chỉ thị 364/CT-HĐBT ngày 06/11/1991 của Hội đồng Bộtrưởng (nay là Chính phủ) về việc hoạch định địa giới hành chính ở cả 3 cấp tỉnh,huyện, xã Đến nay đã hoàn thành việc phân định ranh giới hành chính giữa các

xã trong huyện và với các huyện trong tỉnh Hiện tại huyện có 35 đơn vị hànhchính cấp cơ sở, trong đó có 33 xã và 02 thị trấn

1.3 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất

Công tác khảo sát, đánh giá, phân hạng đất của huyện được triển khai khátốt, cơ bản đáp ứng được mục tiêu của ngành Việc đánh giá, phân hạng đất đãđược thực hiện trên hầu hết diện tích đất nông, lâm nghiệp tạo cơ sở cho việc địnhgiá, thu thuế, đền bù, bồi thường về đất đai Hàng năm UBND tỉnh Thái Bình đều

đã ban hành bảng giá các loại đất để làm cơ sở tính thuế chuyển quyền sử dụngđất, thực hiện công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bảo đảm các quyền vànghĩa vụ của người sử dụng đất trên địa bàn huyện

Từ năm 2001 đến nay đã tập trung biên tập bản đồ hành chính phục vụnhu cầu của các cơ quan trong huyện, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đấtnăm 2010 cấp xã, huyện, bản đồ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyệnđến năm 2010, cấp xã đến năm 2015; biên tập các bản đồ chuyên đề cho cácngành: Nông nghiệp, Thuỷ sản

Đo đạc lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1000 là 7.985,82 ha (ở tất cả các xã,thị trấn trong huyện) và tỷ lệ 1/2000 là 13.042,86 ha

Trang 23

1.4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện cũng nhưquy hoạch cấp xã, thị trấn được lập theo đúng quy định theo từng giai đoạn.Việc lập kế hoạch sử dụng đất đã được các cấp các ngành nhận thức rõ tầm quantrọng trong công tác quản lý và dần đi vào nề nếp, hàng năm UBND các xã, thịtrấn lập kế hoạch sử dụng đất trình UBND huyện phê duyệt Việc giao đất, chothuê đất, thu hồi đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đều thực hiệntheo kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Hiện tại việc sử dụng đất của một số ngành trên địa bàn huyện còn lãngphí, chồng chéo thiếu đồng bộ, chưa được quan tâm đúng mức về kiến trúckhông gian cảnh quan môi trường

1.5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Thực hiện Nghị định 64/CP, ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc giaođất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đíchsản xuất đất nông nghiệp; Nghị định 88/CP, ngày 17/8/1994 của Chính phủ vềquản lý và sử dụng đất đô thị; Nghị định 84/2008/NĐ-CP, ngày 25/5/2008 củaChính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ,tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghịđịnh 60/CP, ngày 5/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà và quyền sửdụng đất ở tại đô thị; Nghị định 85/CP ngày 17/12/1996 của Chính phủ quyđịnh việc thi hành Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nướcđược Nhà nước giao đất, cho thuê đất và Chỉ thị 245/TTg, ngày 22/4/1996 củaThủ tướng Chính phủ, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm

2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thuhồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Đến nay toàn bộ diện tích trên địa

bàn huyện đã được khai thác sử dụng, cụ thể:

+ Tổng diện tích đất giao cho hộ gia đình cá nhân là 15.566,34 ha

Trang 24

1.6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Việc đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính được thựchiện theo đúng quy định pháp luật Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất theo quy định từ năm 1993 đến năm 2010 tổng số giấy chứng nhận quyền sửdụng đất đã cấp là 9.784 giấy (diện tích cấp được là 565,43 ha), đạt khoảng59,76% diện tích phải cấp giấy

Nhìn chung trong giai đoạn tới khối lượng giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cần phải cấp cho các loại đất trên địa bàn huyện là khá lớn, đặc biệt làgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất cho các tổ chức

1.7 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

Được sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên

và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình công tác thống kê,kiểm kê đất đai trên địa bàn huyện được triển khai khá tốt và đồng bộ Chất lượngcủa công tác thống kê, kiểm kê đất đai đã từng bước được nâng cao, đất đai củahuyện đã được thống kê hàng năm theo quy định của ngành Huyện đã thực hiệntốt công tác kiểm kê đất đai định kỳ 5 năm theo chỉ thị số 28/2004/CT-TTg ngày15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày01/11/2004

Hoàn thành công tác thống kê, kiểm kê đất đai năm 2005 và công tác kiểm

kê quỹ đất công theo Chỉ thị 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007 của Thủ tướngChính Phủ Hiện nay đã hoàn thành công tác kiểm kê đất đai năm 2010 theo Chỉ thị618/CT-TTg ngày 15/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn toàn huyện

Nhìn chung, chất lượng công tác kiểm kê, thống kê về đất đai đã được nângcao dần, tình trạng bản đồ, số liệu về đất đai thiếu hoặc không khớp giữa các năm,các đợt thống kê, kiểm kê từng bước được hạn chế

1.8 Tình hình quản lý tài chính về đất đai

Huyện trong những năm qua đã thực hiện tốt công tác quản lý tài chính vềđất đai trong việc cấp quyền sử dụng đất, cho thuê quyền sử dụng đất, chuyểnnhượng quyền sử dụng đất

1.9 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Trước đây, công tác quản lý đất đai của các cấp chính quyền trong huyện

đã có phần bị buông lỏng; vai trò quản lý, giám sát việc thực hiện quyền vànghĩa vụ của người sử dụng đất chưa được quan tâm đúng mức Đây là nguyênnhân sâu xa dẫn đến kết quả thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đấtđai không cao, trong đó có công tác lập quy hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất

Trang 25

Công tác thi hành các quy định pháp luật về đất đai đã được quan tâm,bảo đảm thực hiện ngày càng nề nếp và đi vào ổn định Tuy nhiên vẫn còn nhiềuhạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến cố gắng, vai trò và hiệu quả của công tácquản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

1.10 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật

về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Uỷ Ban Nhân Dân huyện đã tổ chức các đợt thanh tra theo các Chỉ thị số77/TTg và 247/TTg của Thủ tướng Chính phủ, thanh tra việc giao đất, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất ở cơ sở, thanh tra sử dụng đất của các doanhnghiệp, thanh tra quản lý nhà nước về đất đai đối với cấp xã

Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành và xử lý các vi phạm phápluật về đất đai không chỉ giúp phát hiện và giải quyết các vi phạm pháp luật vềđất đai mà qua đó còn là dịp để tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân

về luật đất đai, giúp các nhà làm luật hiểu sâu sắc hơn sự phức tạp của mối quan

hệ đất đai, từ đó có chính sách điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn quản lý

1.11 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các

vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai

Hàng năm trên địa bàn huyện xẩy ra từ 20 - 30 vụ khiếu nại tố cáo về đấtđai với nội dung chủ yếu về chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất giảiphóng mặt bằng và tranh chấp đất đai của các hộ gia đình cá nhân và đã đượcgiải quyết triệt để

II HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ BIẾN ĐỘNG CÁC LOẠI ĐẤT

2.1 Phân tích hiện trạng sử dụng các loại đất

Theo số liệu thống kê đất đai tính đến ngày 01/01/2011, huyện có21.028,68 ha đất tự nhiên, chiếm 12,96% so với diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.Trong đó, xã Hồng Minh có diện tích tự nhiên lớn nhất 898,40 ha, chiếm 4,27 %tổng diện tích tự nhiên toàn huyện; xã Hòa Bình có diện tích tự nhiên nhỏ nhất341,17 ha, chiếm 1,62% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện Bình quân diệntích tự nhiên trên đầu người đạt 0,09 ha/người

Trang 26

Bảng 04: Hiện trạng sử dụng đất huyện Hưng Hà năm 2010

(tính đến ngày 01/01/2011)

(ha)

Cơ Cấu (%)

Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước (2 vụ trở lên) LUC 11.428,76 54,35

Trang 27

Diện tích đất nông nghiệp của toàn huyện là 15.096,47 ha, chiếm 71,79%tổng diện tích tự nhiên của huyện

Trong đó:

+ Đất lúa nước: Đến năm 2010 có 11.468,83 ha, chiếm 54,54% tổng diệntích đất tự nhiên, tập trung nhiều nhất ở xã Chí Hòa (502,30 ha), Hòa Tiến(500,28 ha), các xã có diện tích nhỏ Canh Tân (186,86 ha), Tân Lễ (193,64 ha)

Cây lúa là cây chiếm diện tích lớn nhất trong ngành trồng trọt của huyện Tronggiai đoạn qua diện tích đất lúa của huyện có giảm do chuyển sang các mục đích khác,nhưng người dân đã mở rộng diện tích cấy các giống lúa ngắn ngày có năng suất cao,chất lượng gạo tốt, kết hợp với biện pháp thâm canh tăng năng suất nên năng suất lúakhông ngừng tăng lên, năng suất lúa cả năm bình quân đạt 134 tạ/ha

Tuy nhiên, sản xuất lúa của huyện cũng như tỉnh Thái Bình nói chung vẫncòn có một số khó khăn là xuất khẩu ít do chất lượng không cao và hiệu quả sảnxuất lúa vẫn thấp

+ Đất trồng cây lâu năm: Đến năm 2010 diện tích đất trồng cây lâu nămtrên địa bàn huyện có 1.016,60 ha, chiếm 4,83% tổng diện tích đất tự nhiên.Loại đất này phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện, tuy nhiên loại đất này

chiếm diện tích không nhiều Trong giai đoạn qua diện tích đất trồng cây lâu năm của huyện có tăng nhưng chậm Diện tích đất trồng cây lâu năm trên địa

bàn huyện chủ yếu là cây Nhãn, Cam, Quýt, Bưởi

+ Đất nuôi trồng thủy sản: Đến năm 2010 có 1.355,50 ha, chiếm 6,45%tổng diện tích đất tự nhiên Phân bố tất cả các xã trên địa bàn huyện, chủ yếuđược dùng để nuôi trồng các loại cá, tôm

2.1.2 Đất phi nông nghiệp

Tổng diện tích đất phi nông nghiệp của huyện là 5.761,47 ha, chiếm27,40% tổng diện tích tự nhiên

Trang 28

+ Đất cơ sở sản xuất kinh doanh: 49,47 ha, chiếm 0,24 % diện tích đất tựnhiên, được phân bố ở 22/35 xã, thị trấn

+ Đất sản xuất vật liệu xây dựng gốm sứ: 64,05 ha, chiếm 0,30% diện tíchđất tự nhiên, tập trung chủ yếu ở thị trấn Hưng Nhân (34,62 ha), diện tích còn lạinằm rải rác trên địa bàn huyện

- Đất có di tích danh thắng: Diện tích 19,71 ha, chiếm 0,09% tổng diệntích tự nhiên Các khu di tích đã được hình thành từ lâu đời như di tích lăng mộcủa nhà Trần, cung Long Hưng, đền Tiên La, từ đường nhà bác học Lê QuýĐôn, khu nhà tưởng niệm Bác Hồ… và nhiều di tích khác được xếp hạng

+ Đất xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại: 3,92 ha, chiếm 0,02 % diện tíchđất tự nhiên, 24/35 xã có bãi rác, tuy nhiên diện tích còn nhỏ chưa đảm bảo tiêutrí, trong giai đoạn quy hoạch tới cần quan tâm đến diện tích loại đất này

+ Đất tôn giáo tín ngưỡng: Có 61,70 ha, chiếm 0,29% tổng diện tích tựnhiên Diện tích đất này được phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện

+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 226,79 ha, chiếm 1,08% diện tích tự nhiên.Phần lớn đất nghĩa địa được hình thành tự phát nhỏ lẻ trong các xã, chưa đượcquy hoạch tập trung gây mất mỹ quan và ảnh hưởng đến môi trường Trong kỳquy hoạch cần di rời bố trí hợp lí các điểm nghĩa trang, nghĩa địa đáp ứng nhucầu an táng người quá cố

+ Đất có mặt nước chuyên dùng: 41,57 ha, chiếm 0,20% diện tích đất tự nhiên;+ Đất phát triển hạ tầng: 2.786,14 ha, chiếm 13,25% diện tích đất tựnhiên, bao gồm các loại đất: Đất giao thông (1.321,48 ha); đất thủy lợi(1.337,50 ha); đất năng lượng (2,31 ha); đất bưu chính viễn thông (1,74 ha); đất

cơ sở văn hóa (1,54 ha); đất cơ sở y tế (9,62 ha); đất cơ sở giáo dục đào tạo(76,08 ha); đất cơ sở thể dục thể thao (27,56 ha); đất cơ sở dịch vụ xã hội (0,07ha); đất chợ (8,24 ha)

2.1.3 Đất đô thị (6) :

Đất đô thị trên địa bàn huyện năm 2010 có 1.435,05 ha, bao gồm diện tích

tự nhiên của 2 thị trấn (Hưng Hà và Hưng Nhân), chiếm 6,82% tổng diện tích tựnhiên của toàn huyện, trong đó:

- Đất nông nghiệp có 876,86 ha;

- Đất phi nông nghiệp có 511,16 ha;

- Đất chưa sử dụng còn: 47,03 ha

Diện tích đất ở đô thị có 152,33 ha, bình quân đất ở đô thị/hộ đạt 277 m2

6 Theo mục e khoản 5 điều 3 chương I Thông tư 19/2009/TT – BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ tiêu đất đô thị (DDT) bao gồm toàn bộ diện tích đất nằm trong địa giới hành chính nội thị xã, phường và thị trấn

Trang 29

Tỷ lệ sử dụng đất đô thị trên cho thấy cả 2 thị trấn của huyện là trung tâmhuyện lỵ, trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội của huyện nhưng tỷ lệ đất phi nôngnghiệp, đất cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cònthấp Vì vậy, để đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao thì việc mở rộng các côngtrình phúc lợi công cộng, các cơ sở dịch vụ là cần thiết.

2.1.4 Đất khu dân cư nông thôn (7)

Theo số liệu thống kê đất đai tổng hợp từ các xã, đất khu dân cư nôngthôn năm 2010 của huyện có 5.193,63 ha, chiếm 24,70% tổng diện tích đất tựnhiên của huyện Được phân bố ở 33 xã trong huyện Trong đất khu dân cư nôngthôn, đất ở là 1.584,76 ha (chiếm 30,33% đất khu dân cư nông thôn)

2.2 Phân tích đánh giá biến động các loại đất

2.2.1 Biến động diện tích tự nhiên

Theo kết quả thống kê đất đai (tính đến ngày 01/01/2011) huyện có tổngdiện tích đất tự nhiên là 21.028,68 ha, tổng diện tích tự nhiên của huyện tăng1.013,12 ha so với kỳ kiểm kê năm 2000 Nguyên nhân diện tích đất tự nhiêntrong địa giới hành chính của huyện tăng là do số liệu trước đây được tính bằngthủ công nên kết quả còn nhiều sai sót, nay được tính bằng công nghệ số hoánên những sai số gần như được triệt tiêu

Biến động đất đai từ năm 2000 đến ngày 01/01/2011 của huyện

Diện tích năm 2000

Diện tích năm 2005

Diện tích năm 2010

So sánh 2000-

2005

2010

2005- 2010

Trong đó:

2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp CTS 66,10 49,33 40,31 -16,77 -9,02 -25,79

7 Theo mục đ điều khoản 5 điều 3 chương I Thông tư 19/2009/TT – BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Đất khu dân cư nông thôn (DNT) là đất chủ yếu để xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ cho đời sống, các công trình công cộng, đất nông nghiệp gắn liền với nhà ở và các loại đất khác thuộc phạm vi ranh giới khu dân cư nông thôn trong địa giới hành chính các xã Ranh giới khu dân cư nông thôn được xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự

Trang 30

TT CHỈ TIÊU Mã

Diện tích năm 2000

Diện tích năm 2005

Diện tích năm 2010

So sánh 2000-

2005

2010

2005- 2010

( Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hưng Hà )

+ Năm 2010 đất trồng cây lâu năm có 1.016,60 ha, tăng 610,58 ha so vớinăm 2005, và tăng 836,53 ha so với năm 2000 do chuyển sang từ đất trồng câyhàng năm và từ đất chưa sử dụng

+ Đất nuôi trồng thuỷ sản có 1.355,50 ha, tăng 289,92 ha so với năm 2005,

và tăng 364,68 ha so với năm 2000, diện tích tăng thêm chủ yếu lấy vào đất mặtnước chuyên dùng và đất chưa sử dụng

2.2.3 Đất phi nông nghiệp

Đất phi nông nghiệp có 5.761,47 ha, giảm 449,17 ha so với năm 2005, vàgiảm 346,89 ha so với năm 2000 Diện tích đất phi nông nghiệp giảm đi là docông tác đo đạc hiện nay có độ chính xác cao hơn những giai đoạn trước đó

Trong đó:

+ Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: 40,31 ha, giảm 9,02 ha so vớinăm 2005, và giảm 25,79 ha so với năm 2000, diện tích giảm do thống kê lạidiện tích đất các trụ sở cơ quan theo Chỉ thị 31/2007/CT-TTg ngày 14/12/2007của Thủ tướng Chính Phủ

+ Đất an ninh: 0,82 ha, tăng 0,23 ha so với năm 2005, và tăng 0,35 so vớinăm 2000

Trang 31

+ Đất quốc phòng: 6,16 ha, tăng 5,27 ha so với năm 2005, và tăng 5,33 ha

so với năm 2000

+ Đất cơ sở sản xuất, kinh doanh: 49,47 ha, tăng 17,50 ha so với năm

2005, tăng 23,66 ha so với năm 2000

+ Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ: 64,05 ha, tăng 23,55 ha so vớinăm 2005, tăng 28,55 ha so với năm 2000

+ Đất di tích, danh thắng: 19,71 ha, tăng 15,49 ha so với năm 2005, tăng15,49 ha so với năm 2000

+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng: 61,70 ha, tăng 13,53 ha so với năm 2005, tăng8,98 ha so với năm 2000

+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 226,79 ha, giảm 22,96 ha so với năm 2005,

và giảm -15,08 ha so với năm 2000, do chuyển sang đất trồng lúa nước

+ Đất phát triển hạ tầng: 2.786,14 ha, tăng 626,59 ha so với năm 2005, vàtăng 758,66 ha so với năm 2000, diện tích tăng thêm chủ yếu lấy vào đất lúa kémhiệu quả, đất trồng cây hàng năm còn lại, đất trồng cây lâu năm, đất chưa sử dụng

2.2.4 Đất đô thị: năm 2010 có 1.435,05 ha, tăng 23,36 ha so với năm 2000

(trong đó đất ở đô thị có 152,33 ha, tăng 10,63 ha so với năm 2005, và tăng 2,59

ha so với năm 2000)

2.2.5 Đất khu dân cư nông thôn: năm 2010 có 5.193,63 ha, tăng 537,92 ha

so với năm 2000 (trong đó đất ở nông thôn có 1.584,76 ha, tăng 98,43 ha so vớinăm 2005, và giảm 6,87 ha so với năm 2000)

Những năm gần đây với các chương trình đầu tư của Nhà nước và các dự

án về cơ sở hạ tầng, phát triển đô thị ở hầu hết các đơn vị hành chính tronghuyện như các công trình giao thông liên thôn, liên xã, liên huyện, liên tỉnh vàquốc lộ được mở mới, mở rộng; các công trình thuỷ lợi, công trình trường học, ytế…Vì vậy, một số loại đất chuyên dùng tăng lên rõ rệt theo hướng tích cực

Nhìn chung các loại đất phi nông nghiệp đều có diện tích tăng, phản ánhđúng nhu cầu thực tế về đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng; là xu hướng tất yếutrong quá trình vận động của nền kinh tế - xã hội của huyện nói riêng và của tỉnhThái Bình nói chung Phần lớn diện tích đất phi nông nghiệp tăng thêm đều khai

thác từ nông nghiệp

Trang 32

2.2.5 Quy luật biến động đất đai

Từ kết quả nghiên cứu quy luật biến động đất đai những năm qua cho thấyđất đai huyện Hưng Hà biến động theo quy luật sau:

- Diện tích đất tự nhiên của huyện năm 2010 tăng so với năm 2000 là1.013,12 ha Nguyên nhân là do những năm trước diện tích đất tự nhiên đượcxác định trên nền bản đồ địa hình, số liệu tính toán có độ chính xác chưa cao

Số liệu của năm 2010 được tính toán bằng công nghệ số dựa trên nền bản đồđịa chính nên có độ chính xác cao hơn

- Đất nông nghiệp tăng dần do quá trình bồi tụ từ các sông lớn tạo nên cácbãi bồi và chủ yếu là do quá trình đo đạc, kiểm kê lại diện tích

- Đất phi nông nghiệp giảm đi so với năm 2000 Tuy nhiên diện tích cácloại đất chuyên dùng vẫn tăng lên cùng với quá trình gia tăng dân số tự nhiên và

sự phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp và các công trìnhxây dựng khác Diện tích đất bị giảm đi là do diện tích đất sông, mặt nướcchuyên dùng được kiểm kê chuyển sang đất sản xuất nông nghiệp

- Đất chưa sử dụng cũng được tăng lên do kiểm kê lại, một số diện tíchđất trước đây được kiểm kê vào đất sông suối, mặt nước chuyên dùng hiện tạiđược kiểm kê vào đất chưa sử dụng

Những năm qua các loại đất đều có sự biến động, đất phát triển hạ tầng,đất ở nông thôn và đô thị tăng phù hợp với quy luật của xã hội nhằm phát triểnnền kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân làm cho bộ mặt của nông thôn và

đô thị có nhiều thay đổi Tuy nhiên, những năm tới cùng với sự phát triển nhanhcủa nền kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng đất cho các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt

là xây dựng cơ sở hạ tầng, khu (cụm) công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nhà ở

đô thị và nông thôn sẽ tăng mạnh, yêu cầu đặt ra là phải lập quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất để vừa bảo vệ nghiêm ngặt vùng đất lúa năng suất cao vừa đáp ứngyêu cầu sử dụng đất vào mục đích khác cho phù hợp, đạt hiệu quả cao nhất

Trang 33

* Khái quát tình hình biến động đất đai

Nguyên nhân: Do chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất để phát huy hiệu quả trênmột đơn vị diện tích Nhu cầu xây dựng phát triển các công trình công cộng như:giao thông, thuỷ lợi, trụ sở cơ quan,… Xu hướng chuyển đổi chuyển đổi mục đích

sử dụng đất ở một số vùng trọng điểm để phát triển dịch vụ, đô thị Đất ở và đấtchuyên dùng sẽ lấn chiếm sang đất nông nghiệp, thủy sản và đất nông nghiệp,thủy sản sẽ mở rộng sang đất chưa sử dụng hoặc theo hướng chuyển dịch cơ cấucây trồng Cụ thể:

- Về đất sản xuất nông nghiệp: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp đã cóchuyển biến tích cực Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng đã hình thành, củng cố và

mở rộng nhiều vùng sản xuất chuyên canh tập trung, là cơ sở đảm bảo khả năng

ổn định và phát triển sản xuất lương thực cũng như phát triển các cơ sở côngnghiệp chế biến đang trở thành một trong các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn củahuyện Nhiều mô hình kinh tế trang trại đã xuất hiện mặc dù mới chỉ ở quy môvừa và nhỏ; đất đai đang dần được khai thác đúng hướng, phù hợp với điều kiệnthổ nhưỡng và khí hậu

Mặt hạn chế là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chưa mạnh; diện tích cácloại cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả, cây lúa chất lượng cao chưa tươngxứng với tiềm năng và thế mạnh của huyện

- Đất nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích đất có xu hướng tăng là phù hợp địahình, điều kiện tự nhiên của huyện

- Đất phi nông nghiệp: Diện tích đất phi nông nghiệp thực tế luôn có xu

hướng tăng và chủ yếu dùng vào các mục đích xây dựng hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thủy lợi), hạ tầng xã hội Tuy nhiên, sự phân bố các loại đất này hiện

không đều giữa các xã, thị trấn, mới chỉ tập trung nhiều ở thị trấn và các khu trungtâm kinh tế Hệ thống cơ sở hạ tầng ở các xã còn nhiều khó khăn

- Đất khu dân cư nông thôn: Được quản lý sử dụng ngày càng chặt chẽ vàhiệu quả hơn nhưng chậm được đầu tư chỉnh trang do điều kiện kinh tế củangười dân còn gặp nhiều khó khăn; đất ở, đất xây dựng trong khu dân cư phân

bố không tập trung, gây khó khăn trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cảithiện đời sống văn hoá, y tế giáo dục và sinh hoạt của nhân dân

- Đất chưa sử dụng: Thời gian qua đất chưa sử dụng, đất bỏ hoang hoá đãđược khai thác tái sử dụng với mức độ cao Nhìn chung về biến động quỹ đất đai,các loại đất sản xuất nông nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở đều có xu hướng tăng,đất chưa sử dụng được khai thác nhiều là xu thế biến động tích cực phù hợp vớitình hình phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu chung đối với việc khai thác sửdụng tài nguyên đất

2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, tính hợp lý của việc

sử dụng đất

2.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của việc sử dụng đất

Trang 34

Tình hình tác động đến môi trường đất trong quá trình sử dụng đất ởnhững năm gần đây nhìn chung diễn biến theo chiều hướng tích cực, diện tíchđất chưa sử dụng thu hẹp nhanh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng phùhợp với điều kiện đất đai Việc quản lý sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càngchặt chẽ hơn theo góc độ hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.

Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề về môi trường đất cần quan tâm giải quyết:

- Do công tác tuyên truyền, giáo dục để người dân có ý thức bảo vệ môitrường, bảo vệ đất thông qua phong trào "ba giảm, ba tăng" là giảm thuốc trừsâu, phân bón và giống, tăng năng suất, hiệu quả sản xuất và sức khoẻ cộngđồng còn hạn chế

- Ô nhiễm môi trường do tập quán sinh hoạt của dân cư ở một số điểm tậptrung, thị trấn, các chất thải chưa được thu gom và xử lý có hiệu quả…

- Hệ thống cấp thoát nước trong các khu dân cư đang bị xuống cấp vàchưa đồng bộ với cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác, nguồn nước thải sinh hoạt hầu hếtkhông qua xử lý mà đổ trực tiếp ra các ao, hồ, sông làm ô nhiễm nguồn nước

2.3.2 Tính hợp lý của việc sử dụng đất

a) Cơ cấu sử dụng đất

Tổng diện tích tự nhiên của huyện có 21.028,68 ha, chiếm 12,96% diệntích của cả tỉnh, trong đó đã đưa vào sử dụng 91,18% tổng diện tích tự nhiên.Việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ các nhóm đất, cũng như cácloại đất khác trong huyện cho thấy những năm gần đây việc sử dụng đất củahuyện đã có tiến bộ và hợp lý hơn

Với cơ cấu sử dụng đất theo các mục đích sử dụng đất năm 2010 một sốmặt tích cực và hạn chế sau:

+ Với điều kiện đất đai của huyện diện tích đất đang sử dụng cho nôngnghiệp chiếm tỷ lệ như trên là khá phù hợp

+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có tăng, bình quân doanh thu trênđơn vị diện tích từ 15 triệu đồng/ha/năm ở năm 2000, lên đến 45 triệuđồng/ha/năm 2010

- Mặt hạn chế

+ Đất nông nghiệp tuy có diện tích lớn, chiếm tỷ lệ cao trong tổng diệntích tự nhiên (71,79% tổng diện tích tự nhiên), nhưng năng suất chưa cao nên

Trang 35

trong thời gian tới phải đưa các giống lúa, hoa màu, vật nuôi có năng suất, chấtlượng cao vào sản xuất.

+ Diện tích đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp (27,40% tổng diện tích tựnhiên), đòi hỏi huyện phải có kế hoạch đầu tư kinh phí khá lớn trong giai đoạn tới

b) Mức độ thích hợp của từng loại đất so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Quá trình phát triển nhanh mạnh nền kinh tế - xã hội của huyện theohướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong những năm qua đã kéo theo việcthay đổi rất lớn trong việc bố trí sử dụng các loại đất Diện tích đất nông nghiệp

(đặc biệt là đất trồng lúa, rau, màu các loại ) tuy phải chuyển một phần để xây

dựng phát triển đô thị, các khu dân cư, các cụm công nghiệp tập trung và xâydựng kết cấu hạ tầng…, nhưng năng suất các loại cây trồng, vật nuôi và giá trị

sản phẩm trên 1 ha canh tác đều tăng (đạt 17,23 triệu đồng/ha năm 2005 và đạt 40-48 triệu đồng/ha năm 2010) Các loại đất phi nông nghiệp tăng đáng kể đã

góp phần làm cho diện mạo các khu trung tâm ngày càng khang trang hơn, hệthống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các công trình phúc lợi công cộng ngày càng đượchoàn thiện….nhiều cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã hình thành và tiếptục được mở rộng không những góp phần tăng thu ngân sách cho địa phương,

mà còn thu hút một lực lượng lớn lao động dư thừa ở nông thôn Đất đai trên địabàn huyện ngày càng được quản lý, khai thác triệt để và có hiệu quả hơn đápứng nhu cầu ngày càng cao của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện vànâng cao đời sống của nhân dân địa phương

- Đất sản xuất nông nghiệp đã được giao ổn định đến người dân cùng vớicác chính sách đẩy mạnh sản xuất hàng hoá đã làm cho nông dân năng động hơn,

bố trí hợp lý cơ cấu cây trồng, vật nuôi; khôi phục và phát triển nhiều vườn cây ănquả,cây công nghiệp hàng năm, cây lúa, cây màu có giá trị kinh tế cao Mặc dù,đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm trong những năm qua, nhưng hiệuquả sử dụng đất đã tăng đáng kể, giá trị sản xuất nông nghiệp/ha tăng 21,3% so

với năm 2005 Giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản đạt 889,7 tỷ đồng (giá cố định năm 1994)

- Đất nuôi trồng thuỷ sản có xu hướng phát triển tập trung theo quy môlớn ở những vùng trũng, vùng trọng điểm tạo ra những mô hình nuôi trồng thuỷsản tập trung mang lại hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản xuất thuỷ sản năm 2010đạt khoảng 57,8 tỷ đồng

- Quỹ đất dành cho chỉnh trang và xây dựng mới các khu dân cư cả đô thị

và nông thôn vẫn tiếp tục mở rộng Việc bố trí đất ở trong các khu dân cư, trungtâm xã được gắn liền đồng bộ với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông,điện, nước, các công trình dịch vụ và vui chơi giải trí, đã làm cho diện mạocác khu dân cư ngày càng khang trang hiện đại hơn đáp ứng yêu cầu ngày càngcao của người dân

- Quỹ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tăng mạnh góp phần đẩymạnh tiến trình công nghiệp hoá, tăng mạnh nhất là đất công nghiệp Năm 2010,

Trang 36

giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng (theo giá cố định năm 1994) đạt 1.629 tỷđồng Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định năm 1994) năm 2010 đạt 119,7%

so với mục tiêu Đại hội đề ra Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ (giá cố định năm1994) đạt 467 tỷ đồng, tăng 79,6% so với năm 2005

- Quỹ đất dành cho phát triển hệ thống giao thông, thuỷ lợi, cũng tăngđáng kể Nhiều tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, được nâng cấp mở rộng, phong tràolàm đường giao thông nông thôn phát triển mạnh góp phần nâng cao chất lượngdịch vụ vận chuyển giao lưu giữa các vùng trong và ngoài huyện, là yếu tố thúcđẩy các trục phát triển của địa phương

- Quỹ đất dành cho các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá, thể dục - thể thao

và các công trình phúc lợi khác cũng được đầu tư mở rộng đáng kể góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng khám chữa bệnh và đời sống vật chấttinh thần của nhân dân

c) Tình hình đầu tư về vốn, vật tư, khoa học kỹ thuật trong sử dụng đất tạicấp huyện

Hiện nay, tỉnh cũng như huyện đã ban hành và thực hiện những chínhsách, giải pháp tương đối toàn diện liên quan đến vấn đề đầu tư vốn, vật tư, khoahọc kỹ thuật… trong sử dụng đất Trong đó nổi bật ở những lĩnh vực:

- Đầu tư vốn bằng tiền, cho vay trực tiếp đến người sử dụng đất đai theo cácchương trình dự án và thông qua hệ thống các ngân hàng và quỹ tín dụng

- Đầu tư ứng trước các loại vật tư nông nghiệp, con giống, cung cấp cácdịch vụ khoa học kỹ thuật với cả một hệ thống trung tâm khuyến nông, giốngcây trồng, thú y…

- Hợp đồng bao tiêu sản phẩm, bảo hiểm sản xuất trực tiếp đến người sử dụng đất

- Phối hợp tốt với các cơ quan hữu quan, cân đối kinh phí sự nghiệp tàinguyên môi trường hàng năm để tham mưu cho UBND huyện, thông quaHĐND phân bổ cho các ngành và địa phương đảm bảo kịp thời và hiệu quả.Ngoài ra tiếp tục hướng dẫn, theo dõi địa phương sử dụng đúng nội dung, mụcđích chi từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường theo hướng dẫn tại Thông tưliên tịch số 114/2006/TTLT-BTC-BTNMT ngày 29/12/2006 giữa Bộ Tài chính

và Bộ Tài nguyên và Môi trường; Thông tư liên tịch số BTNMT ngày 30/3/2010 giữa Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường

45/2010/TTLT-BTC Hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân được đẩy nhanh, phù hợp vớichính sách kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực pháttriển công nghiệp và đô thị của huyện

- Hoạt động đầu tư từ ngân sách địa phương không ngừng được tăngcường, tuy nhiên do điều kiện ngân sách hạn chế, kinh phí tập trung cho côngtác giải phóng mặt bằng xây dựng các trục giao chính và chỉnh trang các khuhiện hữu còn ít so với nhu cầu Trong tình hình hiện nay, với điều kiện kinh tếngày càng phát triển, cộng với yêu cầu hiện đại hóa và chủ trương tập trung xây

Trang 37

dựng các đô thị làm động lực thúc đẩy kinh tế xã hội, hoạt động đầu tư cơ sở hạtầng sẽ có bước phát triển mạnh.

2.4 Những tồn tại trong việc sử dụng đất

2.4.1 Một số hạn chế, khuyết điểm trong sử dụng đất

- Diện tích đất cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật, xây dựng kết cấu hạ tầngsản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp sử dụng chưa triệt để và chưa đemlại hiệu quả

- Tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, không có quy hoạch hoặckhông theo kế hoạch, sử dụng đất phân tán, manh mún còn phổ biến là thực tếrất khó có thể đạt được hiệu quả cao trong việc khai thác tiềm năng đất đai

- Tài liệu điều tra cơ bản về đất, nhất là tài liệu đo đạc lập bản đồ địachính, mức độ cập nhật thấp, không phản ánh đúng tình hình biến động đất đaitrong khi thực tế sử dụng đất biến động lớn

- Trong quá trình sử dụng đất một số tổ chức, doanh nghiệp còn coi nhẹviệc bảo vệ cảnh quan môi trường dẫn đến ô nhiễm đất, suy thoái đất

- Một số địa phương công tác quản lý đất đai vẫn còn lỏng lẻo, công tác thanhtra, kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất đai chưa được làm thường xuyên, liên tục

- Nhận thức của người dân về chính sách đất đai không đồng đều, ý thứccủa người sử dụng đất chưa cao, chưa chấp hành nghiêm pháp luật đất đai

2.4.2 Một số giải pháp khắc phục

Thời gian qua, huyện đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm giải quyết nhữngbất cập trong quản lý và sử dụng đất, một số giải pháp sau đây cần được quantâm và tiếp tục thực hiện:

- Thực hiện tốt công tác lập quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụngđất cấp huyện, xã Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và hiệu quả giaođất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc thu hồi đất để giao chocác dự án, công trình

- Tăng cường công tác điều tra cơ bản, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2003, cập nhật thông tin địa chínhđầy đủ, chỉnh lý biến động kịp thời

- Về đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn cần giải quyết nhanh và gắnkhâu quy hoạch chi tiết với xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

và quyền sở hữu nhà

- Tổ chức tốt việc tuyên truyền và triển khai thực hiện Luật Đất đai và các vănbản dưới Luật

III ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT KỲ TRƯỚC

3.1 Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất

3.1.1 Đất nông nghiệp

Trang 38

Đất nông nghiệp thực hiện đến năm 2010 là 15.096,47 ha, đạt 112,47% sovới chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (13.422,16 ha) Trong đó:

+ Đất lúa nước thực hiện đến năm 2010 là 11.468,83 ha; đạt 109,11% sovới chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (10.511,21 ha); đạt được kết quả như vậy là

do huyện thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương XII khóa X của Ban chấp hànhTrung ương Đảng và Nghị quyết 63/NQ-CP của Chính phủ về đảm bảo an ninhlương thực quốc gia, duy trì diện tích lúa, đảm bảo vững chắc an ninh lươngthực quốc gia trước mắt và lâu dài

Như vậy, phần diện tích thực hiện chuyển đổi sang các mục đích khácvượt quy hoạch là 957,62 ha (thực hiện vượt 9,11% so với chỉ tiêu quy hoạch)

+ Đất trồng cây lâu năm thực hiện đến năm 2010 là 1.016,60 ha, đạt287,83% so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (353,20 ha); chỉ tiêu này đạt kếtquả cao là do sau khi đo đạc địa chính thì phần diện tích đất cây lâu năm cònnằm xen kẽ trong các loại đất khác được bóc tách chi tiết hơn Như vậy, phầndiện tích chưa thực hiện chuyển đổi sang các mục đích khác là 663,4 ha (thựchiện vượt 187,83% so với chỉ tiêu quy hoạch)

+ Đất nuôi trồng thủy sản thực hiện đến năm 2010 là 1.355,50 ha, đạt120,15% so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (1.128,18 ha); chỉ tiêu này đạt kếtquả cao hơn là do trong khi đo đạc địa chính đã thể hiện chi tiết được phần diệntích các ao nhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư và các loại đất nông nghiệp khác.Như vậy, phần diện tích chưa thực hiện chuyển đổi sang các mục đích khác là227,32 ha (thực hiện vượt 20,15% so với chỉ tiêu quy hoạch)

3.1.2 Đất phi nông nghiệp

Kết quả thực hiện đến năm 2010 là 5.761,47 ha, đạt 91,51% so với chỉtiêu quy hoạch được duyệt (6.296,33 ha) Trong đó:

- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp thực hiện đến năm

2010 là 40,31 ha, đạt 99,93% so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (40,34 ha)

- Đất quốc phòng thực hiện đến năm 2010 là 6,16 ha, đạt 586,67% so với chỉ tiêuquy hoạch (1,05 ha) Như vậy, phần diện tích thực hiện vượt quy hoạch là 5,11 ha

- Đất an ninh thực hiện đến năm 2010 là 0,82 ha, đạt 136,67% so với chỉ tiêu quyhoạch (0,60 ha) Như vậy, phần diện tích thực hiện vượt quy hoạch là 0,22 ha

Chỉ tiêu đất quốc phòng - an ninh đạt kết quả cao do trong quá trình đođạc địa chính đã rà soát lại theo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ để quy hoạchthêm các công trình phòng thủ quốc gia về quốc phòng, an ninh

- Đất cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện đến năm 2010 là 49,47 ha.Trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã phát sinh nhiều tổchức kinh tế trong và ngoài tỉnh có nhu cầu đầu tư, sử dụng đất để phát triểncông nghiệp, thương mại và dịch vụ, nhưng không đăng ký nhu cầu sử dụngđất khi huyện xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, một số các công trình

có trong đăng ký nhu cầu sử dụng đất trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trang 39

nhưng chưa có vốn hoặc chưa có nhà đầu tư nên không thực hiện được làm ảnhhưởng đến các chỉ tiêu sử dụng đất đã được phê duyệt.

- Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm xứ thực hiện đến năm 2010 là 64,05 ha,đạt 200,60% so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (31,93 ha) Như vậy, phần diệntích thực hiện vượt quy hoạch là 32,12 ha

- Đất di tích danh thắng thực hiện đến năm 2010 là 19,71 ha, đạt 447,95% sovới chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (4,40 ha); chỉ tiêu này tăng mạnh do đo đạc xácđịnh lại khuôn viên các khu di tích, như: khu di tích đền thờ các vua Trần, đền CổTrai, đền Tiên La… Như vậy, phần diện tích thực hiện vượt quy hoạch là 15,31 ha

- Đất xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại thực hiện đến năm 2010 là 3,92 ha

- Đất tôn giáo, tín ngưỡng thực hiện đến năm 2010 là 61,70 ha, đạt94,20% so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt Như vậy, phần diện tích chưathực hiện theo quy hoạch là 3,80 ha

- Đất nghĩa trang, nghĩa địa thực hiện đến năm 2010 là 226,79 ha, đạt91,84% so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (246,94 ha) Như vậy, phần diệntích chưa thực hiện theo quy hoạch là 20,15 ha

- Đất có mặt nước chuyên dùng thực hiện đến năm 2010 là 41,57 ha, đạt7,03% so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (590,91 ha) Tỷ lệ thực hiện chỉ tiêuđất có mặt nước chuyên dùng thấp là do các đợt thống kê, kiểm kê đất đai nhữngnăm sau có độ chính xác cao hơn những năm trước

- Đất phát triển hạ tầng thực hiện đến năm 2010 là 2.786,14 ha, đạt 100,21%

so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (2.780,35 ha) Như vậy, phần diện tích thựchiện vượt quy hoạch là 5,79 ha

3.1.3 Đất ở đô thị: đất ở đô thị đến năm 2010 đã thực hiện 152,33 ha,

đạt 95,03% so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (160,30 ha) Như vậy, phầndiện tích chưa thực hiện theo quy hoạch là 7,97 ha

3.1.4 Đất ở nông thôn: đất ở nông thôn đến năm 2010 đã thực hiện

1.584,76 ha, đạt 90,84% so với chỉ tiêu quy hoạch được duyệt (1.744,63 ha).Như vậy, phần diện tích chưa thực hiện theo quy hoạch là 159,87 ha

3.2 Đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất

3.2.1 Tồn tại

- Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp chưa đồng bộ đặc biệt

là cấp xã; hiện nay mới chỉ có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấphuyện là cùng chu kỳ, còn cấp xã ở một số địa phương bị lệch

- Công tác dự báo định hướng trong Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưasát với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nên tính khả thi thấp dẫn đến phải điềuchỉnh, bổ sung; Chất lượng quy hoạch sử dụng đất cấp xã ở một số địa phươngcòn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân

Trang 40

- Một số địa phương chưa thực hiện nghiêm túc công tác công khai quyhoạch sử dụng đất theo luật định; quy hoạch sử dụng đất cấp xã không làm quyhoạch chi tiết trên thửa đất, không rõ vị trí từng thửa đất trong không gian, dẫnđến nảy sinh điều chỉnh, bổ sung tuỳ tiện khi thực hiện giao đất, cho thuê đất,chuyển mục đích sử dụng đất Mặt khác có dấu hiệu lạm dụng đo đạc bản đồ,trích đo khu dân cư làm tài liệu quy hoạch đã làm tăng chi phí lập quy hoạchnhưng giá trị hợp lý không cao.

- Công tác quản lý quy hoạch, kiểm tra thực hiện quy hoạch sau khi đượcphê duyệt chưa được các cấp, các ngành thực hiện, tình trạng dân lấn chiếm, tựchuyển mục đích sử dụng đất trái phép chậm hoặc không bị xử lý, gây khó khănphức tạp cho việc bồi thường giải phóng mặt bằng của các dự án sử dụng đất

- Một số địa phương chưa thực sự coi trọng công tác quy hoạch và kếhoạch sử dụng đất hàng năm nên tập trung chỉ đạo cho công tác này còn hạn chế

- Việc chấp hành các quy định của pháp luật về điều chỉnh, bổ sung hoặc huỷ

bỏ quy hoạch chưa được thực hiện nghiêm túc, quy hoạch chưa thật sự trở thànhcông cụ quản lý đất đai tốt nhất, tài liệu quy hoạch chưa phục vụ được công tác đăng

ký đất, cấp GCNQSDĐ, thống kê, kiểm kê đất đai, thanh tra, kiểm tra đất đai

- Nhiều địa phương chưa thấy được công tác quy hoạch và kế hoạch sửdụng đất là công cụ để quản lý đất đai nên tập hàng năm trung chỉ đạo cho côngtác này còn hạn chế dẫn đến một số hạng mục công trình không nằm trong quyhoạch được duyệt

3.2.2 Nguyên nhân

- Do quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn ban hành cònchậm, không đồng bộ, một số chỉ tiêu sử dụng đất thay đổi liên tục gây khó khăncho việc xây dựng phương án cũng như quản lý quy hoạch

- Quy định trong thời gian qua về việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtcòn nhiều điểm chưa hợp lý: Quy hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiệnnhu cầu sử dụng đất của cấp dưới làm cho nội dung quy hoạch ở cấp vĩ mô quáchi tiết phải thực hiện kéo dài; chồng chéo nội dung giữa các cấp; quy hoạch ởcấp vĩ mô chưa đủ cơ sở để khống chế, kiểm soát đối với quy hoạch của cấp dưới

- Kinh phí đầu tư cho lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đều là nguồnkinh phí của tỉnh, huyện, xã Hưng Hà là huyện vẫn còn rất nhiều khó khăn, vìvậy kinh phí đầu tư cho công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng, côngtác quản lý đất đai nói chung còn hạn chế dẫn đến việc triển khai lập quy hoạch

sử dụng đất các cấp thiếu đồng bộ

- Một số địa phương chưa thực hiện tốt việc xin ý kiến nhân dân đối vớicác phương án quy hoạch, việc công bố công khai quy hoạch đã được phê duyệt ởmột số xã chưa được thực hiện đầy đủ theo đúng quy định

- Trong quá trình tổ chức thực hiện cơ quan lập quy hoạch chưa tuân thủđúng trình tự quy định của các văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Ngày đăng: 08/05/2014, 15:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 04: Hiện trạng sử dụng đất huyện Hưng Hà năm 2010 - báo cáo quy hoạch siwr dụng đất huyện hưng hà
Bảng 04 Hiện trạng sử dụng đất huyện Hưng Hà năm 2010 (Trang 26)
Bảng 05: Phân kỳ diện tích các loại đất phân bổ cho các mục đích - báo cáo quy hoạch siwr dụng đất huyện hưng hà
Bảng 05 Phân kỳ diện tích các loại đất phân bổ cho các mục đích (Trang 70)
Bảng 09:  Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng theo từng năm kế hoạch - báo cáo quy hoạch siwr dụng đất huyện hưng hà
Bảng 09 Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng theo từng năm kế hoạch (Trang 82)
Bảng 10: Dự kiến các khoản thu, chi liên quan đến đất đai trong kỳ kế hoạch - báo cáo quy hoạch siwr dụng đất huyện hưng hà
Bảng 10 Dự kiến các khoản thu, chi liên quan đến đất đai trong kỳ kế hoạch (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w