1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài : Luận án tiến sĩ luật học : Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở việt nam

179 1,5K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam
Tác giả Đỗ Thị Dung
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hữu Chí, TS. Trần Thị Thúy Lâm
Trường học Trường đại học luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài luận án: Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam Chuyên ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 62 38 01 07 Nghiên cứu sinh: Đỗ Thị Dung Người hướng dẫn khoa học: 1) PGS.TS Nguyễn Hữu Chí; 2) TS Trần Thị Thúy Lâm Cơ sở đào tạo : Trường Đại học Luật Hà Nội TÓM TẮT NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN - Luận án đã làm rõ thêm một số khái niệm về quản lý lao động, quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động và pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động, đồng thời làm rõ thêm các vấn đề về bản chất, cơ sở xác định, nội dung pháp luật, vai trò của pháp luật quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động góp phần làm phong phú hệ thống lý luận cơ bản trong khoa học luật lao động. - Luận án đã phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam. Luận án chỉ ra những ưu điểm và những bất cập của pháp luật hiện hành, từ đó nêu ra các vấn đề cần thiết phải sửa đổi, bổ sung. - Luận án đã luận giải các yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam theo hướng nhà nước cần mở rộng quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động, đồng thời vẫn bảo đảm hài hòa lợi ích các bên (nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động) và phù hợp với pháp luật quốc tế cũng như điều kiện nền kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập hiên nay. - Luận án đã đề xuất 22 kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLLĐ năm 2012 về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật để góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động trong các đơn vị sử dụng lao động ở Việt Nam.

Trang 1

Tr-ờng đại học luật hà Nội

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGUYỄN HỮU CHÍ

2 TS TRẦN THỊ THÚY LÂM

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu tham khảo, trích dẫn trình bày trong luận án

là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Đỗ Thị Dung

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 9

1.2 Những vấn đề đã nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và một số

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO

ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG

CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 30

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN

QUẢN LÝ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

Chương 4: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO

ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 128 4.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền quản lý lao động của

4.2 Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định về quyền quản lý lao động

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý lao động là nhu cầu tất yếu khách quan của bất cứ nền sản xuất nào trong xã hội có giai cấp Bởi vì, để đạt được mục đích cuối cùng của quá trình sản xuất, nhất thiết phải có chủ thể đứng ra chỉ đạo các hoạt động chung của con người

và hướng những hoạt động chung đó theo mục đích nhất định nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra Xã hội càng phát triển, trình độ phân công, tổ chức lao động càng cao thì QLLĐ càng quan trọng

Đối với quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường, ở tầm vĩ mô, quản lý lao động là quyền của nhà nước, chủ sở hữu lớn nhất trong xã hội Nhà nước có quyền ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện và xử lý các hành vi vi phạm của các đơn vị, tổ chức, cá nhân khi tham gia quan hệ lao động Ở tầm vi mô, trong các đơn

vị sử dụng lao động, nhà nước "chia sẻ" quyền lực này cho NSDLĐ trong khuôn khổ quy định của pháp luật Theo đó, NSDLĐ có quyền thực hiện những hoạt động trực tiếp trong việc tổ chức, điều khiển NLĐ nhằm tạo ra trật tự, kỷ cương chung trong đơn vị, từ đó góp phần tăng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động Trên thế giới, quyền QLLĐ của NSDLĐ ra đời từ rất sớm và luôn được pháp luật lao động của hầu hết các quốc gia chú trọng Bởi đó là cơ sở pháp lý cần thiết được thiết lập dành cho chủ sử dụng lao động Với quy định của pháp luật ngày càng hợp lý cộng với trình độ QLLĐ ngày càng cao của chủ sử dụng lao động, đã tạo điều kiện quan trọng để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nhiều tập đoàn kinh tế lớn cũng như

sự phát triển nhanh chóng, vượt bậc về kinh tế-xã hội của nhiều nước

Ở Việt Nam, quyền QLLĐ của NSDLĐ được quy định trong pháp luật lao động từ khi giành được chính quyền Tháng Tám năm 1945 đến nay Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ ngày càng hoàn thiện và thể hiện rõ nét trong BLLĐ được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực từ ngày 1/5/2013

Trên cơ sở kế thừa và phát triển BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm

2002, 2006, 2007), BLLĐ năm 2012 tiếp tục thể chế đường lối đổi mới của Đảng và

cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về lao động, sử dụng lao động và QLLĐ theo hướng ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường Quan hệ lao động đang thay đổi theo cách tiếp cận mới, từ sự hành chính hóa quan hệ lao động được dần thay bằng dân sự hóa Theo đó, quyền QLLĐ của NSDLĐ đã được mở rộng, nhằm bảo đảm hơn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của NSDLĐ trong hoạt động

Trang 6

sản xuất kinh doanh NSDLĐ không chỉ có toàn quyền trong việc tuyển lao động,

bố trí công việc cho NLĐ, quyền ban hành các văn bản để tổ chức và điều hành lao động, quyền kiểm tra, giám sát quá trình lao động của NLĐ, quyền khen thưởng, xử lý

kỷ luật lao động đối với NLĐ như trước đây, mà họ còn được quyền QLLĐ khi thuê lại lao động của đơn vị khác hoặc cho đơn vị khác thuê lại lao động của mình, quyền cho NLĐ thôi việc vì lý do kinh tế Các quyền QLLĐ này của NSDLĐ có ý nghĩa rất lớn, quyết định sự thành công trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sử dụng lao động Thực hiện tốt quyền QLLĐ là điều kiện quan trọng để NSDLĐ duy trì trật tự, nền nếp trong đơn vị, từ đó nâng cao hiệu quả, năng suất, chất lượng lao động, tăng sức canh tranh và tạo được vị trí, uy tín vững mạnh trên thị trường

Tuy nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị sử dụng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đang phải đối mặt với thực tế rất khắc nghiệt, đó là năng suất, hiệu quả lao động rất thấp, phát triển không vững mạnh, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới không cao Điều đó có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân Song phải thừa nhận một cách khách quan rằng, trong mối tương quan với pháp luật khác, một số quy định của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ chưa thực sự phù hợp và thiếu tính khả thi Nhà nước còn can thiệp sâu vào quan hệ lao động, làm hạn chế phần nào quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của NSDLĐ trong quan

hệ lao động của nền kinh tế thị trường

Ngoài ra, với tư cách là một bên của quan hệ lao động, có vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội cũng như giải quyết việc làm cho NLĐ, nhưng so với NLĐ, các quyền của NSDLĐ liên quan đến QLLĐ, vẫn chưa được pháp luật lao động bảo đảm trên cơ sở công bằng, hai bên cùng có lợi

Trong khi đó, một số quy định về quyền QLLĐ của NSDLĐ được đánh giá là khá mở rộng và bảo đảm quyền tự quyết của NSDLĐ trong quá trình tuyển chọn, sử dụng, chấm dứt việc sử dụng lao động thì thực tế NSDLĐ lại có xu hướng lạm quyền Tình trạng NSDLĐ phân biệt NLĐ về vùng miền, loại hình đào tạo đã xâm phạm đến quyền và lợi ích của NLĐ, gây bức xúc trong dư luận xã hội Tình trạng NSDLĐ điều chuyển NLĐ làm công việc khác, chấm dứt hợp đồng lao động, sa thải NLĐ, trừ lương NLĐ một cách tùy tiện không tuân theo quy định của pháp luật xảy ra khá phổ biến, làm ảnh hưởng đến thu nhập, việc làm của NLĐ và trật tự

xã hội chung

Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, để thực hiện phương châm đặt ra của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI là "mở rộng quan hệ hợp tác

Trang 7

với các nước, đẩy mạnh đầu tư nước ngoài", chính sách về lao động nói chung, chính sách đối với các đơn vị sử dụng lao động nói riêng của nhà nước không ngừng đổi mới theo xu hướng chung của thế giới Đối với các đơn vị sử dụng lao động, nhà nước không chỉ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ

mà còn bảo đảm cho NSDLĐ thực hiện quyền "QLLĐ đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh" (khoản 2 Điều 4 BLLĐ)

Từ những lý do đó, nên mặc dù BLLĐ mới được sửa đổi và có hiệu lực chưa lâu, song việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ và đưa ra các đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ không bao giờ là sớm và luôn cần thiết trong khoa học pháp lý Vì

thế, tôi chọn vấn đề: "Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" để làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là nhằm nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, có hệ thống một

số vấn đề lý luận về quyền QLLĐ của NSDLĐ Trên cơ sở quan điểm về lý luận được nghiên cứu, luận án tập trung phân tích thực trạng pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ theo quy định của BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành Thông qua việc đánh giá những điểm bất cập của pháp luật hiện hành, luận án

đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam theo hướng phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với quốc tế và khu vực hiện nay

Từ mục đích đặt ra như trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ chính sau đây:

Thứ nhất, tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Cụ

thể tiến hành hồi cứu, thu thập các tài liệu, công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án Tìm hiểu và nhận xét, đánh giá, nêu quan điểm về những vấn đề đã được các công trình nghiên cứu Từ đó, khái quát các nội dung cơ bản chưa được các công trình nghiên cứu đề cập tới để định hướng các vấn đề, nội dung sẽ được giải quyết trong luận án

Thứ hai, nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền QLLĐ của

NSDLĐ và pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ Cụ thể là vấn đề về khái niệm, bản chất, cơ sở xác định quyền QLLĐ của NSDLĐ; khái niệm, nội dung pháp luật, vai trò của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ Những vấn đề lý luận này được khái quát từ sự nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động quốc tế và pháp luật lao động quốc gia

Trang 8

Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn

áp dụng các quy định của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam, rút ra các nhận xét về những ưu điểm, những vấn đề còn tồn tại, bất cập trong các quy định của pháp luật lao động hiện hành trên cơ sở so sánh với các quy định của pháp luật lao động các giai đoạn trước đây, các quy định hiện hành của pháp luật có liên quan đến quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam và pháp luật lao động quốc tế

Thứ tư, luận giải về sự cần thiết và yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện

pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay

Thứ năm, đề xuất các ý kiến sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật lao động

hiện hành về quyền QLLĐ của NSDLĐ trên cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật đã nghiên cứu, nhằm bảo đảm sự hoàn thiện và phù hợp hơn của pháp luật với thực tế QLLĐ trong các đơn vị sử dụng lao động ở Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Quyền QLLĐ của NSDLĐ là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học như: quản lý học, quản trị học, điều khiển học, kinh tế học, xã hội học, triết học, luật học v.v Tuy nhiên, trong chuyên ngành đào tạo Luật kinh tế, luận án chỉ nghiên cứu dưới góc độ luật học, trong phạm vi pháp luật lao động Cụ thể, luận án nghiên cứu quyền QLLĐ của chủ thể NSDLĐ được thực hiện trong đơn vị sử dụng lao động theo quy định của BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo đó, nội dung pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ trong các đơn vị sử dụng lao động bao gồm:

- Quyền thiết lập công cụ QLLĐ;

- Quyền tổ chức, thực hiện QLLĐ

Để làm sâu sắc vấn đề nghiên cứu, tùy từng nội dung và yêu cầu đặt ra, luận

án tham khảo, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật lao động và pháp luật có liên quan của Việt Nam, quy định của pháp luật quốc tế trong các công ước, khuyến nghị của ILO và pháp luật lao động một số nước trên thế giới có liên quan đến các nội dung nêu trên

Luận án không nghiên cứu các vấn đề sau đây:

- Quyền QLLĐ của các chủ thể khác như quyền QLLĐ của nhà nước, quyền QLLĐ của các tổ chức, đoàn thể trong đơn vị sử dụng lao động

- Các biện pháp bảo đảm quyền QLLĐ của NSDLĐ Bởi mặc dù nghiên cứu dưới góc độ quyền-quyền chủ thể-NSDLĐ, song do vị thế của NSDLĐ trong quan

Trang 9

hệ lao động, nên trong quy định của pháp luật lao động, việc bảo đảm thực hiện quyền QLLĐ của NSDLĐ được thể hiện bằng trách nhiệm mà chủ thể này phải thực hiện đối với NLĐ và các thủ tục, giới hạn mà pháp luật quy định Hơn nữa, nếu NLĐ không tuân theo sự điều hành, QLLĐ của NSDLĐ thì họ phải chịu các trách nhiệm do NSDLĐ áp dụng trên cơ sở pháp luật Do mục đích nghiên cứu nên tùy từng nội dung mà luận án đề cập đến trách nhiệm của NSDLĐ cũng như thủ tục, giới hạn pháp lý khi phân tích quyền QLLĐ, không nghiên cứu riêng các biện pháp bảo đảm quyền QLLĐ của NSDLĐ

- Các quyền khác không phải quyền QLLĐ của NSDLĐ, như: quyền đối thoại tại nơi làm việc, quyền thương lượng tập thể, quyền tham gia tổ chức đại diện, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền khởi kiện, quyền tham gia giải quyết tranh chấp lao động, quyền yêu cầu giải quyết đình công…

- Các vấn đề khác có liên quan như: xử phạt vi phạm, giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực quyền QLLĐ của NSDLĐ

Trong quá trình tìm hiểu đề tài để giới hạn phạm vi nghiên cứu luận án, chúng tôi thấy rằng các vấn đề này rất quan trọng và cần thiết được nghiên cứu Song do nhiều lý do về dung lượng luận án, mục đích nghiên cứu của luận án nên chúng tôi

dự định sẽ nghiên cứu các vấn đề này trong công trình khoa học khác

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Lenin, bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp luận duy vật lịch sử Theo đó, vấn đề pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ được nghiên cứu luôn ở trạng thái vận động và phát triển trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội Trong quá trình nghiên cứu, luận án còn dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và nhà nước về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện luận án bao gồm phương pháp hồi cứu các tài liệu, phân tích, chứng minh, so sánh, tổng hợp, dự báo khoa học Cụ thể:

- Phương pháp hồi cứu các tài liệu được sử dụng để tập hợp các tài liệu, công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài dựa trên các mốc thời gian, lĩnh vực pháp luật cũng như hệ thống pháp luật nhằm lựa chọn, tập hợp một cách đầy đủ nhất các tài liệu liên quan đến đề tài luận án ở các nguồn khác nhau Phương pháp này được

sử dụng ngay sau khi định hướng chọn đề tài và xây dựng kế hoạch nghiên cứu đề tài,

Trang 10

đặc biệt được sử dụng để tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và được kết hợp với các phương pháp khác trong quá trình tìm hiểu các vấn đề lý luận cũng như thực trạng pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ

- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các nội dung của luận án nhằm

để phân tách và tìm hiểu các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện, các yêu cầu của việc hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như những đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ theo mục đích và nhiệm vụ mà luận án đã đặt ra

- Phương pháp so sánh được sử dụng ở hầu hết các nội dung của luận án nhằm đối chiếu các quan điểm khác nhau giữa các nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu; giữa quy định của pháp luật lao động hiện hành với quy định của pháp luật lao động các giai đoạn trước đây; giữa quy định của pháp luật lao động hiện hành với pháp luật khác có liên quan đến quyền QLLĐ của NSDLĐ; giữa quy định của pháp luật lao động Việt Nam với quy định của ILO và pháp luật lao động các quốc gia trên thế giới

- Phương pháp chứng minh được sử dụng ở hầu hết các nội dung luận án, nhằm đưa ra các dẫn chứng (các quy định, tài liệu, số liệu, vụ việc thực tiễn ) làm

rõ các luận điểm, luận cứ trong các nội dung về lý luận ở chương 1, chương 2, các nhận định trong các nội dung ở chương 3 và đặc biệt là các ý kiến, quan điểm về sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ trong chương 4 của luận án

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong việc rút ra những nhận định, ý kiến đánh giá sau quá trình phân tích ở từng ý, từng tiểu mục, đặc biệt được

sử dụng để kết luận các chương và kết luận chung của luận án

- Phương pháp dự báo khoa học được sử dụng nhằm đoán trước về những ý kiến, nhận định, đề xuất có nhiều khả năng luận án sẽ đặt ra trên cơ sở những số liệu tổng kết của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, ILO hoặc cơ quan, tổ chức khác; những ý kiến, nhận định, đánh giá của các nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và chủ yếu được sử dụng trong quá trình phân tích những điểm hợp lý cũng như bất cập trong các quy định, thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở chương 3, trong việc đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ trong chương 4 của luận án

Trang 11

Việc cụ thể các phương pháp nghiên cứu này chỉ mang tính chất tương đối, bởi trong quá trình triển khai, tùy từng vấn đề, nội dung trình bày, mà luận án luôn kết hợp đan xen các phương pháp nghiên cứu với nhau nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về pháp

luật quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam, luận án có những đóng góp mới chủ yếu sau đây:

- Luận án đã làm mới hơn các khái niệm QLLĐ, quyền QLLĐ của NSDLĐ, pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ, đồng thời đã làm rõ thêm bản chất, cơ sở xác định quyền QLLĐ của NSDLĐ, góp phần làm phong phú thêm về mặt học thuật của khoa học luật lao động

- Luận án đã khái quát các nội dung của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ và phân tích một cách có hệ thống các nội dung này trên cơ sở quy định của ILO và pháp luật các nước trên thế giới Qua đó, luận án đã lý giải vai trò của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ đối với cơ chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động của nền kinh tế thị trường, đối với quá trình sản xuất kinh doanh của NSDLĐ và việc làm, thu nhập của NLĐ

- Luận án đã phân tích, đánh giá một cách tương đối đầy đủ và toàn diện về thực trạng pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam và việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quyền thiết lập công cụ QLLĐ, quyền tổ chức thực hiện QLLĐ của NSDLĐ trong các đơn vị sử dụng lao động, đặc biệt là quyền QLLĐ trong hoạt động cho thuê lại lao động lần đầu tiên quy định trong pháp luật Việt Nam Qua đó, luận án đã chỉ ra những đòi hỏi từ lý luận và thực tiễn cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số quy định

về quyền QLLĐ của NSDLĐ như quyền ban hành nội quy lao động, ký hợp đồng lao động, hợp đồng cho thuê lại lao động, quyền tuyển lao động, điều chuyển công việc người lao động, xử lý kỷ luật lao động, chấm dứt sử dụng lao động, giải quyết khiếu nại của NLĐ, tập thể lao động

- Luận án đã luận giải về các yêu cầu hoàn thiện pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam theo hướng nhà nước cần mở rộng quyền QLLĐ của NSDLĐ, đồng thời vẫn bảo đảm hài hòa lợi ích các bên (nhà nước, NSDLĐ, NLĐ) và phù hợp với pháp luật quốc tế cũng như điều kiện nền kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập hiện nay ở Việt Nam

Trang 12

- Luận án đã đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLLĐ năm 2012

về quyền QLLĐ của NSDLĐ nhằm hoàn thiện các quy định của BLLĐ để nâng cao hiệu quả thực hiện quyền QLLĐ của NSDLĐ trong các đơn vị sử dụng lao động ở Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm hệ

thống lý luận cơ bản về quyền QLLĐ của NSDLĐ và pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ trong khoa học luật lao động

Luận án đặc biệt cần thiết đối với NSDLĐ trong việc nâng cao kiến thức pháp luật nhằm hiểu đúng, hiểu hết quyền QLLĐ của mình, từ đó thực hiện QLLĐ trong đơn vị sử dụng lao động đúng, linh hoạt và hiệu quả, tránh trường hợp hiểu không đúng và/hoặc lạm quyền QLLĐ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chính mình, của NLĐ cũng như lợi ích chung của xã hội

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện và sửa đổi, bổ sung pháp luật lao động; cho các cơ sở nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập về pháp luật lao động; cho NLĐ và đối tượng khác có mong muốn tìm hiểu về pháp luật lao động nói chung, pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ nói riêng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình đã được công bố có

nội dung liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận

án được kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quyền QLLĐ và pháp luật về quyền

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Vấn đề QLLĐ, quyền QLLĐ của NSDLĐ và pháp luật quyền QLLĐ của

NSDLĐ đã được đề cập đến trong các giáo trình, sách tham khảo, một số đề tài khoa học cấp cơ sở, luận án, luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí và các báo cáo, hội thảo khoa học Cụ thể:

1.1.1.1 Giáo trình

Có hai nhóm giáo trình đề cập đến vấn đề đề tài luận án Đó là: Giáo trình quản trị nhân lực và Giáo trình luật lao động

Giáo trình quản trị nhân lực, do thuộc lĩnh vực khoa học về quản lý con

người nên trong nội dung giáo trình môn học quản trị nhân lực có đề cập đến các quy định của pháp luật lao động, trong đó có pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ Các giáo trình ở nhóm này bao gồm: Giáo trình Quản trị nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2010, Giáo trình Quản trị nhân lực (tập I, II) của Trường Đại học Lao động-Xã hội năm 2009, Giáo trình Quản trị nhân lực của Trường Đại học Thương mại năm 2008… Trong các giáo trình này, vấn đề pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ được giới thiệu thông qua các nội dung về tuyển lao động, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền thưởng, kỷ luật lao động…

Giáo trình luật lao động, các nội dung liên quan đến đề tài luận án được đề

cập khá rõ nét trong các giáo trình Luật lao động dành cho việc giảng dạy các hệ đào tạo ở bậc đại học của một số cơ sở đào tạo luật Đó là: Giáo trình Luật lao động Việt Nam (Tái bản lần thứ 5) của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012; Giáo trình Luật lao động của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011; Giáo trình Luật lao động của Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội năm 2011; Giáo trình Luật lao động của Trường Đại học Lao động-Xã hội năm 2009; Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội năm 2009; Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trung tâm đào tạo từ xa, Đại học Huế năm 2006; Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1999; Giáo trình Luật lao động

và An ninh xã hội (In lần thứ ba) của tác giả Nguyễn Quang Quýnh năm 1972… Trong các giáo trình này, vấn đề liên quan đến đề tài luận án được trình bày trong các chương: Hợp đồng lao động (Khế ước lao động); Thỏa ước lao động tập

Trang 14

thể (Cộng đồng hiệp ước); Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất hoặc Quyền QLLĐ của NSDLĐ (Xí nghiệp)

Ở chương Hợp đồng lao động, quyền QLLĐ của NSDLĐ được thể hiện trong quá trình ký kết, thực hiện, thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao động Tương

tự, ở chương Thỏa ước lao động tập thể, các giáo trình đề cập đến các vấn đề lý luận, thương lượng và ký kết thỏa ước, hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể Thể hiện rõ nhất vấn đề liên quan đến đề tài luận án là chương Quyền QLLĐ của NSDLĐ/Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất/Xí nghiệp Theo đó, ở chương

"Quyền QLLĐ của NSDLĐ" trong Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, lần đầu tiên các vấn đề lý luận về quyền QLLĐ của NSDLĐ

đã được nghiên cứu Đó là các vấn đề về khái niệm, bản chất, cở sở quy định và nội dung quyền QLLĐ của NSDLĐ Từ vấn đề lý luận này, quyền QLLĐ của NSDLĐ được phân tích trong ba nhóm quy định: quy định về kỷ luật lao động, quy định về bồi thường thiệt hại vật chất và quy định về tạm đình chỉ công việc của NLĐ

Ngoài ra, quyền QLLĐ của NSDLĐ được nêu rõ trong chương Xí nghiệp, Giáo trình Luật lao động và An ninh xã hội của tác giả Nguyễn Quang Quýnh Trong chương này, ngoài nội dung khái quát về xí nghiệp và vấn đề đại diện nhân viên trong xí nghiệp, thì vấn đề quyền hành của chủ xí nghiệp là nội dung cơ bản Theo đó, giáo trình nêu ra và phân tích sơ lược ba loại quyền của chủ xí nghiệp, gồm: 1) Quyền điều khiển; 2) Quyền soạn thảo nội quy; 3) Quyền kỷ luật của chủ xí nghiệp Các nội dung này được phân tích trên cơ sở quy định của BLLĐ năm 1950 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Còn lại phần lớn các giáo trình khác chủ yếu đề cập đến một trong các nội dung

cơ bản của quyền QLLĐ của NSDLĐ là quyền kỷ luật lao động và quyền được bồi thường thiệt hại vật chất Hầu hết các giáo trình không nghiên cứu các vấn đề lý luận

về quyền QLLĐ của NSDLĐ cũng như thể hiện các quan điểm riêng trong quá trình phân tích quy định của pháp luật

1.1.1.2 Sách tham khảo

Các vấn đề về quyền QLLĐ của NSDLĐ chưa được nghiên cứu trực tiếp trong các sách tham khảo mà chỉ mới được đề cập một cách khiêm tốn khi các công trình này tìm hiểu về quy định của BLLĐ nói chung hoặc nghiên cứu về chế định hợp đồng lao động, cho thuê lại lao động Cụ thể:

- "Tìm hiểu các quy định Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (1995) của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, Nxb

Trang 15

Thành phố Hồ Chí Minh Nội dung của cuốn sách chủ yếu là giải thích và phân tích một số chế định của BLLĐ ban hành năm 1994 Theo đó, vấn đề quyền tuyển dụng lao động, quyền chấm dứt hợp đồng lao động; quyền ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể, quyền khen thưởng của NSDLĐ được giới thiệu thông qua việc phân tích các chế định việc làm, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương

- "Tìm hiểu Bộ luật lao động Việt Nam" (2002) của Phạm Công Bảy, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách này phân tích trên cơ sở giới thiệu các nội dung

cơ bản của BLLĐ đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, nhằm cung cấp những kiến thức

về các quy định của Bộ luật làm cơ sở để vận dụng vào thực tế Trong cuốn sách, tác giả đã tìm hiểu tất cả các chế định của BLLĐ Theo đó, vấn đề liên quan đến các nội dung luận án được giới thiệu trong quá trình phân tích các chế định hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất

- "Pháp luật hợp đồng lao động Việt Nam - Thực trạng và phát triển" (2003),

của TS Nguyễn Hữu Chí, Nxb Lao động-Xã hội Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập đến đặc trưng quan trọng của hợp đồng lao động chính là yếu tố QLLĐ của NSDLĐ đối với NLĐ Đặc biệt, cuốn sách đã phân tích và đánh giá những bất cập của một số quy định về quyền điều chuyển công việc đối với NLĐ, quyền thỏa thuận và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ Ví dụ, việc xác định quyền QLLĐ trong thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động, trách nhiệm bố trí, sắp xếp công việc cho NLĐ khi doanh nghiệp sáp nhập, chia tách, hợp nhất, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý tài sản

- "Tài liệu nghiên cứu cho thuê lại lao động" (2011) của Vụ pháp chế, Bộ Lao

động, thương binh và xã hội, Nxb Lao động-Xã hội Cuốn sách này tập hợp các tài liệu nghiên cứu của chuyên gia nước ngoài (Hàn Quốc, Nhật Bản…), các báo cáo

về tình hình cho thuê lại lao động của Bộ Lao động, thương binh và xã hội, các địa phương (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ, Đà Nẵng) và một số tài liệu đã phát hành của ILO trong quá trình soạn thảo BLLĐ (sửa đổi) Mục đích của công trình này là cung cấp các tài liệu liên quan đến hoạt động cho thuê lại lao động nhằm nghiên cứu để hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật

về hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam Kết quả thuyết phục của công trình

là BLLĐ năm 2012 đã điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động Theo đó, NSDLĐ có quyền thuê lại lao động của đơn vị khác hoặc cho đơn vị khác thuê lại lao động khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định

- Bên cạnh đó, còn một số các sách: Hỏi - đáp về BLLĐ, Sổ tay pháp lý, Tìm hiểu pháp luật, Từ điển thuật ngữ luật học… cũng đã đề cập đến các thuật ngữ hoặc

Trang 16

nêu các quy định của pháp luật lao động về tuyển dụng lao động, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, xử lý kỷ luật lao động, chấm dứt hợp đồng lao động…

1.1.1.3 Đề tài khoa học

Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài luận án chủ yếu là đề tài

nghiên cứu khoa học cấp cơ sở Đó là các đề tài:

- "Thực tiễn giải quyết các loại án kiện về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, về kỷ luật sa thải trong thời gian qua và những kiến nghị" (2001) của Tòa

án nhân dân tối cao do ThS Nguyễn Việt Cường chủ nhiệm đề tài Đề tài này nghiên cứu thực tiễn giải quyết hai loại việc liên quan đến các quyền QLLĐ của NSDLĐ

Đó là quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và quyền xử lý kỷ luật sa thải đối với NLĐ

- "Nghiên cứu nhằm góp phần sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động trong giai đoạn hiện nay" (2010) của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS Trần Thị Thúy Lâm

chủ nhiệm đề tài Trong nội dung đề tài, có ba chuyên đề: đánh giá các quy định về hợp đồng lao động, đánh giá các quy định về thỏa ước lao động tập thể và đánh giá các quy định về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất liên quan đến quyền QLLĐ của NSDLĐ

- "Áp dụng pháp luật lao động trong quản trị nhân sự tại doanh nghiệp"

(2011) của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS Đỗ Ngân Bình chủ nhiệm đề tài Trong nội dung đề tài, có một số chuyên đề về áp dụng pháp luật lao động khi tuyển dụng lao động; ký kết và thực hiện hợp đồng lao động và duy trì kỷ luật lao động, xây dựng nề nếp lao động trong quản trị nhân sự tại doanh nghiệp có liên quan tới một số nội dung của đề tài luận án

- "Cho thuê lại lao động - Một hướng điều chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế" (2012) của Trường Đại

học Luật Hà Nội do TS Nguyễn Xuân Thu chủ nhiệm đề tài Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật quốc tế và thực tiễn cho thuê lại lao động ở Việt Nam, từ đó kiến nghị hướng điều chỉnh hoạt động cho thuê lại lao động của pháp luật lao động ở Việt Nam Một số chuyên đề về lý luận của hoạt động cho thuê lại lao động và thực trạng điều chỉnh pháp luật về hoạt động cho thuê lại ở Việt Nam, tuy được nghiên cứu trước khi BLLĐ năm 2012 ra đời, song là những gợi ý cho việc nghiên cứu quyền QLLĐ của NSDLĐ trong hoạt động cho thuê lại lao động của luận án

Trang 17

1.1.1.4 Luận án, luận văn

Trong số các luận án, luận văn đã công bố, có các công trình sau đây liên

quan đến đề tài luận án Đó là:

- Luận án "Hợp đồng lao động trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam"

(2002) của Nguyễn Hữu Chí Trong luận án này, tác giả đề cập đến các vấn đề lý luận về hợp đồng lao động, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng hợp đồng lao động Thông qua việc đánh giá những điểm bất cập trong quy định của pháp luật lao động (theo BLLĐ năm 1994, được sửa đổi, bổ sung năm 2002) và thực tiễn áp dụng, luận án đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng lao động và nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng lao động ở Việt Nam Trong các nội dung trình bày của công trình này, có một số vấn đề liên quan đến luận án, đó là quyền ký kết hợp đồng lao động, quyền điều chuyển NLĐ làm công việc khác, quyền thay đổi, tạm hoãn

xử lý kỷ luật lao động Thông qua việc nghiên cứu toàn diện, hệ thống các vấn đề lý luận về kỷ luật lao động, thực trạng pháp luật về kỷ luật lao động theo quy định của BLLĐ năm 1994 và được sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007, luận án này đã

đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kỷ luật lao động ở Việt Nam

- Luận án "Thỏa ước lao động tập thể - Nghiên cứu so sánh giữa pháp luật lao động Việt Nam và Thụy Điển" (2011) của Hoàng Thị Minh Đây là công trình

nghiên cứu chuyên sâu về thỏa ước lao động tập thể Trong các nội dung trình bày, luận án đã đề cập ở mức độ nhất định về vai trò của thỏa ước lao động tập thể đối với NSDLĐ khi thực hiện quyền QLLĐ trong đơn vị

- Luận án "Pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (2013) của Nguyễn Thị Hoa Tâm Trong công trình

này, vấn đề nghiên cứu có liên quan đến luận án được thể hiện trong nội dung quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ Theo đó, vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ được trình bày dựa trên cơ sở tính hợp pháp của việc chấm dứt hợp đồng lao động Tuy nhiên, do nghiên cứu chung về vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nên luận án không phân tích rõ khía cạnh quyền QLLĐ của NSDLĐ

Trang 18

- Một số luận văn liên quan đến đề tài luận án Đó là các luận văn: "Hợp đồng lao động với vấn đề đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động trong nền kinh tế thị trường" (1997) của Nguyễn Hữu Chí; "Thỏa ước lao động tập thể trong nền kinh

tế thị trường - Những vấn đề lý luận và thực tế áp dụng" (2001) của Trần Thị Thúy Lâm; "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng lao động" (2002) của Phạm Thị Thúy Nga; "Chế độ kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất trong luật lao động Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (2002) của Đỗ Thị Dung; "Pháp luật

về chấm dứt hợp đồng lao động qua thực tiễn ở các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh" (2006) của Trần Thị Lượng; "Chấm dứt hợp đồng lao động và hậu quả pháp lý" (2007) của Lê Thị Ngọc Nhìn chung các luận văn này

đã đề cập đến một số vấn đề về nội dung các quyền QLLĐ của NSDLĐ như quyền

ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quyền tổ chức, thực hiện QLLĐ như quyền chấm dứt hợp đồng lao động, quyền xử lý kỷ luật lao động, xử lý bồi thường thiệt hại vật chất

1.1.1.5 Bài viết đăng trên tạp chí

Một số bài viết đăng trên các tạp chí chủ yếu mang tính nghiên cứu trao đổi

về các vấn đề kỷ luật lao động, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể theo quy định của BLLĐ trước đây Cụ thể là các bài viết: "Mấy ý kiến về chế định hợp đồng lao động" của Nguyễn Thị Kim Phụng đăng trên Tạp chí Luật học số 4 năm 1996; "Hợp đồng lao động - Một trong những chế định chủ yếu của Luật lao động Việt Nam" của TS Phạm Công Trứ đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7 năm 1996; "Giao kết hợp đồng lao động" của Lưu Bình Nhưỡng đăng trên Tạp chí Luật học số 6 năm 1996; "Quá trình duy trì và chấm dứt hợp đồng lao động" của ThS Lưu Bình Nhưỡng đăng trên Tạp chí Luật học số 3 năm 1997; "Một số vấn đề

về kỷ luật lao động trong BLLĐ" của ThS Nguyễn Hữu Chí đăng trên Tạp chí Luật học số 2 năm 1998; "Về phương hướng hoàn thiện chế độ hợp đồng lao động" của ThS Lê Thị Hoài Thu đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm 1999;

"Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động" của TS Đào Thị Hằng đăng trên Tạp chí Luật học số 4 năm 2001; "Chấm dứt hợp đồng lao động" của ThS Nguyễn Hữu Chí đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9 năm 2002; "Một số vấn đề

về thỏa ước lao động tập thể" của ThS Trần Thị Thúy Lâm đăng trên Tạp chí Luật học số 2 năm 2002; "Thực trạng pháp luật về kỷ luật sa thải và một số kiến nghị" của ThS Trần Thị Thúy Lâm đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6 năm 2006;

"Khái niệm và bản chất pháp lý của kỷ luật lao động" của ThS Trần Thị Thúy Lâm

Trang 19

đăng trên Tạp chí Luật học số 9 năm 2006; "Sự phụ thuộc pháp lý - dấu hiệu đặc trưng nhất trong quan hệ hợp đồng lao động" của Phạm Thị Thúy Nga đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm 2008; "Về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động" của Nguyễn Thị Hoa Tâm đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm 2009; "Những vấn đề cần sửa đổi về hợp đồng lao động trong BLLĐ" của TS Trần Thị Thúy Lâm đăng trên Tạp chí Luật học số 9 năm 2009; "Hoàn thiện pháp luật về thỏa ước lao động tập thể ở nước ta trong thời gian tới" của ThS Đỗ Thị Dung đăng trên Tạp chí Luật học số 9 năm 2009; "Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động" của Nguyễn Thị Hoa Tâm đăng trên Tạp chí Lao động-Xã hội số 419 năm 2011; "Hoàn thiện quy định về trách nhiệm của NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật" của TS Trần Hoàng Hải và ThS Đỗ Hải Hà đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8 năm 2011; "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động - Một trong những quyền tự do kinh doanh của NSDLĐ" của Nguyễn thị Hoa Tâm đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9 năm 2012

Điểm chung trong các bài viết này là các tác giả đi sâu phân tích, đánh giá các quy định của BLLĐ năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007) và trên cơ sở những bất cập trong các quy định, các tác giả kiến nghị hoàn thiện quy định trong các chế định của Bộ luật Trong đó, có một số công trình nghiên cứu các quy định của BLLĐ năm 2012 Ở mức độ nhất định, những bài viết này đã đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến nội dung trong quyền QLLĐ của NSDLĐ như ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể; quyền điều chuyển công việc của NLĐ; quyền thay đổi, tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao động; quyền xử lý kỷ luật lao động

1.1.1.6 Báo cáo, hội thảo khoa học

Từ khi BLLĐ ban hành năm 1994 đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là việc sửa đổi toàn diện của BLLĐ năm 2012 Trải qua thời gian đó, việc nghiên cứu, đánh giá, đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định của Bộ luật luôn được các cơ quan, ban, ngành liên quan quan tâm Vì lẽ này nên có nhiều báo cáo, hội thảo khoa học có nội dung liên quan đến đề tài luận án

- Báo cáo, bao gồm: báo cáo kết quả, báo cáo nghiên cứu, báo cáo đánh giá

tác động hoặc báo cáo tổng kết liên quan đến các vấn đề của quan hệ lao động và pháp luật lao động Đó là các báo cáo: "Báo cáo sơ kết việc thi hành BLLĐ 1995-1997" năm 1998 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội; "Báo cáo kết quả điều tra, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật lao động ở Việt Nam" năm 2000 của

Trang 20

Viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội; Báo cáo kết quả thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội" năm 2004 của Đoàn thanh tra, Bộ Lao động, thương binh và xã hội; "Báo cáo tổng kết đánh giá 13 năm thi hành BLLĐ" năm 2008 của Bộ Lao động, thương binh

và xã hội; "Báo cáo tổng hợp nghiên cứu về quan hệ lao động tại Việt Nam" năm

2008 của Vụ pháp chế, Bộ Lao động, thương binh và xã hội; Báo cáo "Kết quả thanh tra việc thực hiện BLLĐ từ năm 1995 đến năm 2008" năm 2009 của Thanh tra

Bộ Lao động, thương binh và xã hội; "Báo cáo kết quả lấy ý kiến của giới chủ doanh nghiệp về thực tiễn áp dụng BLLĐ tại Khánh Hòa lần 1" năm 2009 của VCCI; "Báo cáo tổng kết đánh giá tình hình 15 năm thực hiện BLLĐ " năm 2010 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội; "Báo cáo đánh giá tác động Dự thảo BLLĐ (sửa đổi)" năm

2010 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội; "Báo cáo nghiên cứu chuyên đề cho thuê lại lao động với việc sửa đổi BLLĐ ở Việt Nam" năm 2011 của Vụ pháp chế, Bộ Lao động, thương binh và xã hội; "Báo cáo nghiên cứu của Dự án Quan hệ lao động: Luật hóa hoạt động cho thuê lao động và các vấn đề trong việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý cho việc thuê lại lao động" năm 2011 của Youngmo Yoon - Cố vấn trưởng

Dự án Quan hệ lao động Việt Nam - ILO; "Báo cáo đánh giá Dự thảo BLLĐ trên cơ

sở ý kiến của NSDLĐ" năm 2011 của VCCI

Trong nội dung các báo cáo này, vấn đề quyền QLLĐ của NSDLĐ được trình bày rải rác thông qua việc đánh giá các chế định hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tuyển dụng lao động, khen thưởng, xử lý kỷ luật lao động và thời gian gần đây là vấn đề cho thuê lại lao động

- Hội thảo khoa học, trong phạm vi luật lao động, các hội thảo khoa học được

các cơ quan, ban, ngành, cơ sở đào tạo tổ chức tương đối nhiều Tuy nhiên, số lượng cũng như nội dung các hội thảo bàn luận đến vấn đề quyền QLLĐ của NSDLĐ lại chiếm số lượng khiêm tốn Cụ thể là: Hội thảo về "Tác động của toàn cầu hóa tới quan hệ lao động tại nơi làm việc" năm 1998 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội; Hội thảo "Một số định hướng sửa đổi BLLĐ ở Việt Nam" năm 2008 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội và Dự án Star Việt Nam; Hội thảo "Đánh giá 14 năm thực hiện BLLĐ và phương hướng hoàn thiện BLLĐ sửa đổi, bổ sung vào năm 2011" năm 2010 của Trường Đại học Luật Hà Nội; Hội thảo về "Xây dựng khung pháp lý về hoạt động cho thuê lại lao động ở Việt Nam" năm 2010 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội; Hội thảo về "Góp ý sửa đổi, bổ sung BLLĐ" năm

2012 của Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 21

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Quyền QLLĐ của NSDLĐ là một vấn đề được bàn luận đến ở những góc độ khác nhau trong một số tài liệu về luật lao động nước ngoài Bao gồm các sách và các bài viết đăng trên các tạp chí

1.1.2.1 Sách tham khảo

Có một bộ phận lớn các sách nghiên cứu về luật lao động ở nước ngoài không trình bày quyền QLLĐ của NSDLĐ thành một nội dung độc lập mà được trình bày xen kẽ khi nghiên cứu về các nội dung khác của luật lao động như: vấn đề tuyển lao động, hợp đồng lao động, quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ, sa thải NLĐ tố giác (hoặc tiết lộ về) sai phạm của doanh nghiệp, sa thải không công bằng và bồi thường thiệt hại Đó là các sách:

- "Employment law for business" (2005), Dawn D Bennett-Alexander, Laura

B Pincus, McGraw-Hill Companies Cuốn sách này nghiên cứu các nội dung cơ bản của pháp luật lao động Thụy Điển theo hướng nhằm bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ cho NLĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh Theo đó, NLĐ phải chịu sự QLLĐ của NSDLĐ Đồng thời tác giả đưa ra một hệ thống các tiêu chí gồm 20 yếu

tố để xác định NLĐ làm công, chịu sự QLLĐ của NSDLĐ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong quá trình kinh doanh

- "Employment law" (2006), Andrew C Bell, Sweet & Maxwell Với mục

đích tìm hiểu các quy định của Luật việc làm Thụy Điển, tác giả công trình này đã

đi sâu phân tích các chế định của Luật việc làm Theo đó, NSDLĐ là chủ thể có trách nhiệm chính trong giải quyết việc làm cho NLĐ Trong quá trình lao động, NLĐ chịu sự QLLĐ của NSDLĐ Tuy nhiên, quyền QLLĐ của NSDLĐ được thể hiện như thế nào lại chưa được công trình này đề cập cụ thể

- "Employment & Labor Law" (2008), Patrick J Cihon, James Ottavio,

Castagnera, Cengage Learning Công trình này nghiên cứu các quy định về Luật việc làm và lao động của Anh, là tài liệu tham khảo cho sinh viên học tập môn học Luật lao động Theo đó, tác giả nghiên cứu chung về pháp luật việc làm và lao động, trên cơ sở phân tích, đánh giá một số chế định cơ bản Trong đó, quyền QLLĐ của NSDLĐ được nhắc tới khi nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ

- "Q & A Employment Law" (2008), Richard Benny, Malcolm Sargeant &

Michael Jefferson, Oxford University Press Cuốn sách này tập hợp các câu hỏi và trả lời về các nội dung của Luật việc làm năm 2008 và được sửa đổi năm 2009 của Anh Mục đích nhằm tìm hiểu các quy định của pháp luật trong thực tiễn áp dụng

Trang 22

Theo đó, trong các câu hỏi - đáp về hợp đồng lao động, về quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ có liên quan đến nội dung về quyền QLLĐ của NSDLĐ Chẳng hạn, NSDLĐ được phép điều hành, giám sát NLĐ khi thuê lại lao động của doanh nghiệp khác

- "Labor & Employment Law: Text and Cases" (2009), David P Twomey,

Cengage Learning (USA) Viết về Luật lao động và việc làm của Mỹ, cuốn sách này nghiên cứu các nội dung cơ bản thể hiện trong các văn bản pháp lý và án lệ Trong

đó, tác giả chủ yếu nêu và phân tích các nội dung cơ bản, đánh giá các nội dung về tuyển dụng lao động, hợp đồng lao động Theo đó, NSDLĐ có quyền tuyển dụng lao động, quyền quyết định ký hay không ký hợp đồng lao động

- "Employment Law" (2010), Hugh Collins, Oxford University Press Đây là

sách tham khảo dành cho sinh viên Trường Đại học Oxford Cuốn sách này nghiên cứu các nội dung cơ bản của Luật việc làm Trong nội dung trình bày, tác giả gián tiếp nhắc đến quyền QLLĐ của NSDLĐ khi phân tích các quy định về trách nhiệm của NSDLĐ và quyền lợi của NLĐ trong việc làm Theo đó, ở một số trường hợp NSDLĐ có quyền sa thải NLĐ

Bên cạnh đó, một số cuốn sách có nội dung về quyền QLLĐ của NSDLĐ được trình bày rõ nét hơn Đó là:

- "Managerial prerogative and the question of control” (1983), John Storey,

Routledge Cuốn sách này bàn về quyền QLLĐ và vấn đề điều khiển lao động trong doanh nghiệp ở Anh Trong chương 6 của cuốn sách trình bày về quyền QLLĐ của NSDLĐ và mối quan hệ giữa quyền QLLĐ với quyền điều khiển quá trình lao động của NSDLĐ

- "Management Prerogatives and Employee Participation” (2004), Atty Juris

Bernadette M Tomboc-Commercial Law, Department of De La Salle Manila, Philippines Công trình nghiên cứu này trình bày khái niệm, phạm vi và sự thi hành quyền QLLĐ của NSDLĐ và những việc NLĐ sẽ được tham gia vào quá trình hình thành quyết định của bên doanh nghiệp có ảnh hưởng đến lợi ích của họ Mục tiêu của công trình này nhằm xác định ranh giới quyền QLLĐ của bên sử dụng lao động và quyền tham gia của bên lao động để hỗ trợ cho quan hệ lao động phát triển hài hoà, ổn định

- "Labour Laws of the Philippines” (2006), Joselito Guianan Chan, http://

www.chanrobles.com/PART3.pdf Công trình này nghiên cứu các nội dung cơ bản của Luật lao động Philippin, trong đó có đề cập đến quyền QLLĐ của NSDLĐ Cụ

Trang 23

thể về các vấn đề giới hạn quyền QLLĐ của NSDLĐ trong việc điều động công việc, đề bạt, xử lý kỷ luật lao động… đối với NLĐ

- "Labour and Employment Law in Sweden” (2009), Reinhold Fahlbeck,

Bernard Johann Mulder, Lund: Juristförl Trong cuốn sách này, quyền QLLĐ của NSDLĐ được nêu khá tập trung ở các nội dung "Đặc quyền của NSDLĐ" và phần

"Nghĩa vụ của NLĐ" Theo đó, NSDLĐ có quyền thuê lao động, quyền điều hành

và phân công công việc, quyền sa thải NLĐ Trong khi đó NLĐ có nghĩa vụ thực hiện các nhiệm vụ được giao, nghĩa vụ trung thành với NSDLĐ, nghĩa vụ giữ bí mật của đơn vị

- "The Employer's Legal Handbook: Manage Your Employees & Workplace Effectively" (2011), Fred Steingold, Nolo Đây là cuốn sách dành cho giới sử dụng

lao động, trong đó nêu rõ những giới hạn của luật pháp đối với quyền QLLĐ khi can thiệp vào những vấn đề có tính chất riêng tư của NLĐ tránh cho họ khỏi vướng vào những rắc rối pháp lý Đồng thời cuốn sách nêu ra những quy định của pháp luật cấm việc NSDLĐ điều tra, can dự vào những hoạt động NLĐ thực hiện ngoài giờ làm việc, hoạt động công đoàn, xét nghiệm ma tuý, hoạt động chính trị và tín ngưỡng, làm đêm ngoài doanh nghiệp

1.1.2.2 Bài viết đăng trên tạp chí

- "Work Control and Managerial Prerogatives in Industrial Relations" (1979),

Robin Smith, Management Research News Journal, Vol 2, No 2 Bài viết này đã nêu rõ những thách thức đối với quan niệm truyền thống về đặc quyền QLLĐ của bên sử dụng lao động sau khi có sự xuất hiện và phát triển của tổ chức công đoàn Từ đó, bài viết cũng bình luận về mục tiêu trung tâm của các bên trong quan hệ lao động, đó là: tăng cường QLLĐ của NSDLĐ đối với công việc do NLĐ thực hiện, sự ảnh hưởng và chia sẻ quyền lực với công đoàn trong quá trình NSDLĐ thiết lập quyền QLLĐ

- "Discipline at the workplace: A comparative study of Law and Practice"

(1986), M.E.Banderet, International Labour Review, Vol 125, No.3 Bài viết phân tích những giới hạn pháp lý đối với quyền kỷ luật lao động của NSDLĐ Dựa vào quy định pháp luật lao động của 13 quốc gia trên thế giới (Áo, Bỉ, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Canađa, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanka, Hoa kỳ, Úc, Niuzilân), tác giả khái quát các học thuyết về quyền kỷ luật lao động và nêu 5 loại nguồn cơ bản của kỷ luật lao động Đó là: luật pháp, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, hợp đồng lao động và án lệ Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia mà thứ tự quan trọng của các nguồn nêu trên thể hiện khác nhau

Trang 24

- "The Managerial Prerogative and the Employee’s Obligation to Work: Comparative Perspectives on Functional Flexibility" (2006), Mia Rönnmar,

Industrial Law Journal, Vol.35, No.1 Bài viết phân tích các quy định pháp lý về quyền QLLĐ của NSDLĐ trong việc sắp xếp và bố trí công việc cho NLĐ và liên hệ với nghĩa vụ tương ứng, những biến đổi trong nghĩa vụ của bên lao động theo pháp luật Thụy Điển, Anh và Đức Bởi trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi sự linh hoạt trong vận hành doanh nghiệp đang ngày một tăng trên thị trường lao động Từ đó, bài viết này đưa ra bình luận chung về sự biến đổi của các quyền QLLĐ trong tương lai

- "Workplace collective bargaining and managerial prerogatives" (2007),

John Storey, Industrial Relations Journal, 4-7 Bài viết đánh giá mức độ ảnh hưởng của thương lượng tập thể tại doanh nghiệp đối với quyền QLLĐ của bên sử dụng lao động và khám phá những điều kiện hoàn cảnh mà quyền QLLĐ của NSDLĐ bị hạn chế nhiều nhất

- "The managerial prerogative and the right and duty to collective bargaining

in Greece" (2009), Kostas D Papadimitriou (Associate Professor in University of

Athens, Greece), Comp Labor Law & Pol’y Journal, Vol 30:273 Bài viết nêu khái niệm quyền QLLĐ, đó là việc NSDLĐ có quyền chi phối tổ chức và sự vận hành của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh, cụ thể là việc quyết định loại lao động, nơi chốn, cách thức, thời gian công việc được thực hiện Bài viết nêu rõ quyền QLLĐ không được nhắc đến trong luật pháp, bởi nó là hệ quả đương nhiên của quyền sở hữu các tư liệu sản xuất, nhưng sự cụ thể hoá nó sẽ phải được thực hiện bởi những văn bản có giá trị thấp hơn được xác lập trong doanh nghiệp, đó có thể là thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động

- "The Concept of Mangerial prerogative in South African Labour Law" (2009),

John Kinamugire Bài viết phân tích quyền QLLĐ của nhà nước và NSDLĐ Đối với NSDLĐ, quyền QLLĐ được thể hiện ở các khía cạnh như quyền chi phối, điều hành hoạt động của NLĐ tại nơi làm việc, quyền quyết định quy mô lao động, thời gian, địa điểm và cách thức thực hiện công việc, chất lượng sản phẩm…

- Employer’s managerial prerogative: http://www.eurofound.europa.eu/

emire/ FINLAND/ANCHOR-DIREKTIO-OIKEUSDIREKTIONSR-Auml-TT-FI.htm Bài viết phân tích sơ lược quyền của NSDLĐ được ra lệnh, hướng dẫn NLĐ thực hiện công việc, cũng như quyền thuê lao động và chấm dứt hợp đồng lao động… được quy định trong các thỏa ước lao động tập thể ở Phần Lan Từ đó, bài viết khẳng định NSDLĐ có quyền chỉ đạo và giám sát quá trình lao động của NLĐ, có

Trang 25

quyền xác định nội dung của quan hệ việc làm và đưa ra các mệnh lệnh thực hiện công việc đối với NLĐ

1.2 Những vấn đề đã nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và một số nhận xét, đánh giá

Mặc dù các công trình khoa học đã nêu không trùng với đề tài luận án, nhưng ở các mức độ khác nhau, có chứa đựng những vấn đề liên quan đến nội dung của đề tài luận án Cụ thể gồm các vấn đề như sau:

Vấn đề thứ nhất, khái niệm quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

Có một số công trình đã đưa ra cách hiểu chung về quyền QLLĐ của NSDLĐ

[90, tr.279-284]; [122, tr.273]… Quan điểm chung trong các công trình này đều cho rằng, quyền QLLĐ trong đơn vị sử dụng lao động là quyền của NSDLĐ Đây được coi là "đặc quyền" [112], "vật sở hữu" [90, tr.280] của NSDLĐ Quyền QLLĐ

"được thiết lập dành cho các ông chủ trong đơn vị sử dụng lao động" [124, tr.262] Theo đó, NSDLĐ có quyền chi phối tổ chức và sự vận hành của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh, cụ thể là việc quyết định loại lao động, nơi chốn, cách thức, thời gian công việc được thực hiện

Tuy nhiên, các công trình này lại có quan điểm khác nhau do xuất phát từ pháp luật của các quốc gia quy định khác nhau Quan điểm của "Giáo trình Luật lao động Việt Nam", Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: Trong pháp luật lao động, quyền QLLĐ của NSDLĐ được xem xét dưới những khía cạnh: i) Quyền QLLĐ là dạng quyền năng được sử dụng trong quá trình lao động; ii) Quyền QLLĐ của NSDLĐ được thể hiện trong hệ thống các quy định của pháp luật lao động [90, tr.280-281] Quan điểm trong bài viết "The managerial prerogative and the right and duty to collective bargaining in Greece" (Quyền quản lý và quyền, nghĩa vụ thương lượng tập thể ở Hy Lạp) của Kostas D Papadimitriou cho rằng: Quyền QLLĐ của NSDLĐ không được nhắc đến trong luật pháp, bởi nó là hệ quả đương nhiên của quyền

sở hữu các tư liệu sản xuất Quyền QLLĐ của NSDLĐ được cụ thể hóa trong những văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn được xác lập trong doanh nghiệp, đó có thể là nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động [122, tr.273]

Đồng thời với việc nêu khái niệm quyền QLLĐ của NSDLĐ, các công trình đều đề cập đến giới hạn pháp luật/phạm vi thực thi quyền QLLĐ của NSDLĐ Chúng tôi đồng ý với quan điểm của các công trình này Rằng, quyền QLLĐ của NSDLĐ là một đặc quyền Tùy vào quy định của pháp luật lao động các nước

mà đặc quyền này được giới hạn trong phạm vi khác nhau Tuy nhiên, các tài liệu

Trang 26

này chưa đưa ra định nghĩa về quyền QLLĐ của NSDLĐ cũng như định nghĩa về pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ, chưa đưa ra cách hiểu thế nào là NSDLĐ, đơn vị

sử dụng lao động Đồng thời, các công trình cũng chưa lý giải sâu sắc sự khác nhau trong việc thể hiện quyền QLLĐ của NSDLĐ với quyền QLLĐ nói chung và với

quyền QLLĐ của nhà nước

Vấn đề thứ hai, cơ sở quy định quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

Ở mức độ khác nhau, các công trình trong và ngoài nước đều bàn luận về vấn

đề cơ sở quy định quyền QLLĐ của NSDLĐ

"Giáo trình Luật lao động Việt Nam" của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra

5 cơ sở xác định quyền QLLĐ của NSDLĐ Đó là: 1) Nguyên lý điều khiển học và khoa học về các hệ thống; 2) Quyền tài sản, quyền sở hữu, quyền quản lý sản nghiệp; 3) Yêu cầu kiểm soát quá trình chuyển giao sức lao động của NLĐ; 4) Vấn đề duy trì mục tiêu, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh; 5) Sự quy định của pháp luật [90, tr.285-288]

Một số công trình nước ngoài đã nêu cơ sở quy định quyền QLLĐ của NSDLĐ Theo tác giả John Storey, trong công trình "Managerial prerogative and the question of control" (Quyền quản lý và vấn đề điều khiển), quyền QLLĐ của NSDLĐ xuất phát từ hai cơ sở: quyền đối với tài sản và hiệu quả kinh tế mà NSDLĐ hướng tới [127]

Các cơ sở quy định quyền QLLĐ của NSDLĐ được các công trình đề cập tới đều hợp lý về mặt lý luận, được khái quát từ quy định của pháp luật lao động các quốc gia Tuy nhiên, các công trình chưa phân tích sâu sắc một cách có hệ thống các

cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định quyền QLLĐ của NSDLĐ

Vấn đề thứ ba, nội dung pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

Hầu như các công trình trong và ngoài nước đều không bàn luận cụ thể về nội dung pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ Tuy nhiên, trong các nội dung nghiên cứu, tùy từng vấn đề trình bày, các công trình đã rải rác đề cập đến hai khía cạnh:

Một là, NSDLĐ có quyền thiết lập các công cụ để QLLĐ Cụ thể, NSDLĐ có

quyền ban hành các văn bản nội quy lao động, quy chế, quyết định đồng thời ký kết thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động và các hợp đồng khác nhằm tạo cơ sở pháp

lý để thực hiện quyền QLLĐ

Hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều thống nhất cho rằng, trong các văn bản mà NSDLĐ ban hành hoặc ký kết, thì nội quy lao động, quy

Trang 27

chế, quyết định biểu hiện rõ nét quyền QLLĐ của NSDLĐ [25], [45], [47], [90], [124], [121] Song, phạm vi và mức độ thể hiện quyền QLLĐ của NSDLĐ ở các văn bản này lại được các công trình nghiên cứu với các quan điểm khác nhau

Theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu thể hiện trong các công trình nghiên cứu trong nước thì căn cứ để thiết lập và thực hiện quyền QLLĐ của NSDLĐ tương đối hẹp Theo tác giả Trần Thị Thúy Lâm, trong luận án "Pháp luật

về kỷ luật lao động ở Việt Nam - thực trạng và phương hướng hoàn thiện", đã cho

rằng: nội quy lao động là cơ sở pháp lý quan trọng để thiết lập kỷ luật lao động trong đơn vị (một nội dung quan trọng của quyền QLLĐ) Ngoài ra, ở những đơn vị không có nội quy lao động thì cơ sở để thiết lập và duy trì kỷ luật lao động chính là pháp luật lao động [47, tr.32-36] "Giáo trình Luật lao động Việt Nam" của trường Đại học Luật Hà Nội cũng nhấn mạnh: nội quy, quy chế, mệnh lệnh, quyết định được coi là các văn bản biểu hiện rõ nét nhất quyền QLLĐ của NSDLĐ" [90, tr.290] Ngoài ra, trong một số nghiên cứu về hợp đồng lao động [24], [26], [28], [39], [55], [66], [67], [85] các tác giả đã đề cập đến yếu tố QLLĐ của NSDLĐ trong hợp đồng lao động, đồng thời nhấn mạnh yếu tố QLLĐ này chính là đặc trưng quan trọng của hợp đồng lao động Cho đến thời điểm này, chưa có công trình nào nghiên cứu những biểu hiện về quyền QLLĐ của NSDLĐ trong các văn bản khác như thỏa ước lao động tập thể và các loại hợp đồng khác

Trong khi đó, ở nhiều công trình khoa học nước ngoài [113], [124], [118], [115] các nhà nghiên cứu, từ lâu, đã cho rằng căn cứ để thiết lập và thực hiện quyền QLLĐ của NSDLĐ được mở rộng hơn Theo đó, ngoài nội quy lao động, quy chế, pháp luật lao động, hợp đồng lao động còn bao gồm thỏa ước lao động tập thể

và án lệ (đối với các nước theo hệ thống thông luật)

Sự không đồng nhất này xuất phát từ sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật hoặc quy định khác nhau giữa pháp luật lao động của các quốc gia Vấn đề mở rộng nguồn xử lý kỷ luật lao động, từ đó mở rộng hơn quyền QLLĐ của NSDLĐ được các công trình nghiên cứu nước ngoài đề cập đến là những vấn đề cần thiết, quan trọng để chúng tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động Việt Nam

Hai là, về quyền tổ chức, thực hiện quyền QLLĐ của NSDLĐ Các công trình

nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, quyền QLLĐ của NSDLĐ phát sinh từ hoạt động tuyển lao động đến khi chấm dứt quan hệ lao động giữa các bên [90, tr.289-293], [119] Chúng tôi đồng ý với quan điểm này Theo đó, nội dung cụ thể của

Trang 28

quyền QLLĐ của NSDLĐ bao gồm các quyền: tuyển lao động, bố trí công việc cho NLĐ, điều chuyển lao động, khen thưởng, xử lý kỷ luật, chấm dứt việc sử dụng lao động… Tùy vào quy định của pháp luật lao động mỗi quốc gia mà các quyền này được thực hiện trong giới hạn pháp lý khác nhau Tuy nhiên, ở hầu hết các công trình, chưa có công trình nào đề cập một cách cụ thể và có hệ thống về các nội dung quyền QLLĐ của NSDLĐ Hơn nữa, một số nội dung quyền QLLĐ của NSDLĐ như quyền QLLĐ trong hoạt động cho thuê lại lao động, quyền giải quyết khiếu nại của NLĐ, tập thể lao động hầu như chưa có công trình nào đề cập tới

Vấn đề thứ tư, quy định của pháp luật lao động về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam

Vấn đề này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu trong nước Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, từ giáo trình luật lao động, sách tham khảo, các bài viết đăng trên tạp chí đến các luận án, luận văn, các báo cáo, hội thảo ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, đều chủ yếu dựa trên cơ sở quy định của BLLĐ ban hành năm 1994 và đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2002,

2006, 2007 Trong đó, các công trình nghiên cứu đề cập đến hai vấn đề về quyền ban hành các văn bản làm cơ sở để QLLĐ và quyền tổ chức, thực hiện QLLĐ thông qua các văn bản đã ban hành

* Về quyền ban hành các văn bản để quản lý lao động

Một số công trình [45], [47], [90] nghiên cứu cụ thể về nội quy lao động với

tư cách là cơ sở pháp lý quan trọng để thiết lập kỷ luật lao động trong đơn vị sử dụng lao động và là nguồn quan trọng để NSDLĐ tiến hành xử lý kỷ luật lao động Chúng tôi đồng ý với những đánh giá trong các công trình này Tuy nhiên, ngoài nội quy lao động, do mục đích nghiên cứu, các công trình này chưa đề cập tới các loại văn bản khác do NSDLĐ ban hành để điều hành, chỉ đạo quá trình lao động của NLĐ như quy chế, quyết định

Cùng với nội quy lao động, có nhiều công trình nghiên cứu về việc ký kết thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động và các hợp đồng khác như hợp đồng thử việc, hợp đồng học nghề của NSDLĐ [26], [28], [32], [39], [43], [51], [54], [58], [59], [62], [66], [67], [85], [4], [71] Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu, các công trình này chủ yếu phân tích, đánh giá việc NSDLĐ ký kết các văn bản này dưới góc độ điều kiện chủ thể Hầu như không có công trình nào nghiên cứu việc ký kết thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động cũng như các loại hợp đồng khác dưới khía cạnh đây là các công cụ tạo cơ sở để NSDLĐ thực hiện quyền QLLĐ trong đơn vị sử dụng lao động

Trang 29

* Về quyền tổ chức, thực hiện quản lý lao động

Các công trình nghiên cứu đề cập tới ba vấn đề liên quan đến quyền tổ chức, thực hiện QLLĐ của NSDLĐ Đó là:

- Quyền điều chuyển NLĐ làm công việc khác, thay đổi công việc của NLĐ, tạm hoãn thực hiện công việc của NLĐ theo hợp đồng lao động Các quyền này đã được giới thiệu trong nhiều công trình nghiên cứu [2], [26], [28], [62], [85], [109] Đặc biệt một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng lao động đã phân tích, đánh giá sâu sắc các quy định của pháp luật về quá trình thực hiện, thay đổi, tạm hoãn hợp đồng lao động và quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ Tuy nhiên, việc phân tích, đánh giá về các quyền này của NSDLĐ dưới góc độ nghiên cứu chung, không nghiên cứu dưới góc độ quyền QLLĐ của NSDLĐ

Hầu như các công trình nghiên cứu chưa đề cập đến các quyền QLLĐ như bố trí, sắp xếp công việc đối với NLĐ, quyền khen thưởng NLĐ Ngoài ra, chưa có công trình nào nghiên cứu quyền QLLĐ của NSDLĐ trong hoạt động cho thuê lại lao động lần đầu tiên quy định trong BLLĐ năm 2012

- Quyền xử lý kỷ luật lao động Quyền xử lý kỷ luật lao động đã được nhiều công trình khoa học nghiên cứu thấu đáo cả về lý luận và thực trạng pháp luật [25], [32], [45], [46], [47], [30], [49] Tuy các công trình không nghiên cứu dưới góc độ quyền QLLĐ của NSDLĐ theo quy định của BLLĐ năm 2012, song những phân tích, đánh giá của các công trình này thực sự là những gợi mở để tác giả luận án nghiên cứu quy định của pháp luật lao động hiện hành về quyền xử lý kỷ luật lao động của NSDLĐ

- Quyền chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của BLLĐ năm 1994 đã được nhiều công trình nghiên cứu [2], [26], [27], [28], [37], [39], [59], [62], [64], [65], [66], [67], [85], [49], [102] Các bất cập trong lý do chấm dứt cũng như thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ được các tác giả lý giải cụ thể Song,

sự phân tích, đánh giá quyền chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ chủ yếu dưới góc độ nghiên cứu chung, không đi sâu tìm hiểu và nhìn nhận ở góc độ quyền QLLĐ của NSDLĐ Các kiến nghị được các công trình này đề xuất nhằm sửa đổi,

bổ sung chủ yếu là các quy định của pháp luật lao động giai đoạn trước đây Có một

số công trình nghiên cứu vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ theo quy định của BLLĐ năm 2012 [66], [67] Tuy nhiên, các công trình này không nghiên cứu quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động dưới góc độ quyền QLLĐ của NSDLĐ

Trang 30

Như vậy, có thể thấy rằng, có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về một số nội dung cơ bản của BLLĐ như hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể,

kỷ luật lao động Tuy nhiên, chưa có công trình nào phân tích cụ thể và có hệ thống về pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ dựa trên quy định của BLLĐ năm 2012

Vấn đề thứ năm, các ý kiến đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam

Nội dung này được đề cập khá cụ thể ở các công trình nghiên cứu trong nước [25], [26], [27], [28], [32], [37], [39], [45], [47], [54], [59], [62], [66], [67], [89], [49], [71] Theo đó, ngoài vấn đề hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan tới việc ký hợp đồng lao động [26], [28], [58], thỏa ước lao động tập thể [43], [44], [54], ban hành nội quy lao động [44], các công trình nghiên cứu đã đề xuất các ý kiến hoàn thiện các quy định về điều chuyển công việc NLĐ [28], quyền xử lý kỷ luật lao động, bồi thường thiệt hại vật chất (về hình thức kỷ luật, thủ tục xử lý kỷ luật, mức và cách thức thực hiện bồi thường thiệt hại vật chất) [25], [45], [47], [49], [4], quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ [26], [27], [28], [39], [48], [59], [62], [64], [65] Các kiến nghị này nhằm mục đích hoàn thiện các quy định của BLLĐ ban hành năm 1994 và đã được sửa đổi, bổ sung Đến nay, các

ý kiến này có thể đã được chỉnh sửa trong BLLĐ năm 2012 Ngoài ra, một số công trình đã kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ trong BLLĐ năm 2012 [66], [67] Các ý kiến, quan điểm hợp

lý của các công trình nghiên cứu này sẽ được luận án tham khảo trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện thêm dưới góc độ quyền QLLĐ của NSDLĐ

1.3 Những vấn đề cơ bản cần giải quyết trong luận án

Thứ nhất, một số vấn đề lý luận

Luận án làm rõ hai vấn đề lý luận cơ bản sau đây:

- Một là, lý luận về quyền QLLĐ của NSDLĐ Để đưa ra khái niệm quyền QLLĐ

của NSDLĐ một cách đầy đủ về nội dung, đồng thời thể hiện sự thống nhất và hợp lý

về mặt khoa học, luận án nghiên cứu làm rõ từ các khái niệm "gốc" như quản lý, QLLĐ, NSDLĐ, đơn vị sử dụng lao động Từ việc đưa ra định nghĩa về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở các góc độ, luận án khái quát và phân tích bản chất pháp lý của quyền QLLĐ của NSDLĐ, lý giải các cơ sở xác định quyền QLLĐ của NSDLĐ

Mục đích nghiên cứu các vấn đề này là không chỉ đưa ra một cách hiểu thống nhất trên cơ sở khoa học về quyền QLLĐ của NSDLĐ mà còn giúp phân biệt QLLĐ với quản trị nhân sự, quản lý kinh doanh và phân biệt quyền QLLĐ của NSDLĐ với quyền QLLĐ của nhà nước

Trang 31

- Hai là, lý luận về pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ Từ những vấn đề lý

luận về quyền QLLĐ của NSDLĐ nói chung, luận án đưa ra quan niệm về pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ Trên cơ sở quan niệm này cũng với việc nghiên cứu quy định của pháp luật lao động quốc tế, bao gồm các công ước, khuyến nghị của ILO và pháp luật lao động các nước trên thế giới, luận án khái quát các nội dung pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ Cụ thể gồm hai nội dung cơ bản: 1) Quyền thiết lập công

cụ QLLĐ; 2) Quyền tổ chức, thực hiện QLLĐ Đây là các vấn đề lý luận quan trọng trong luận án Từ các nội dung pháp luật này, luận án luận giải vai trò to lớn của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ đối với sự phát triển của thị trường lao động và sự phát triển kinh tế-xã hội

Việc xác định và phân tích sâu sắc các nội dung pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ cũng như vai trò của pháp luật này là nhằm tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật lao động hiện hành của Việt Nam và là cơ

sở về mặt lý luận để luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam trong các chương sau của luận án

Thứ hai, thực trạng pháp luật lao động hiện hành về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam

Dựa vào các nội dung pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ trong phần lý luận, luận án nghiên cứu các quyền QLLĐ của NSDLĐ theo quy định của BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn Cụ thể, các vấn đề:

- Thực trạng pháp luật về quyền thiết lập công cụ QLLĐ Bao gồm các quyền ban hành nội quy lao động, quy chế, quyết định trong lao động và ký thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động và các loại hợp đồng khác Việc ban hành và ký các văn bản này nhằm tạo cơ sở pháp lý để NSDLĐ thực hiện QLLĐ trong đơn vị

sử dụng lao động

- Thực trạng pháp luật về quyền tổ chức, thực hiện QLLĐ Bao gồm: quyền

tuyển lao động (quyền tự do tuyển lao động, quyền trực tiếp tuyển lao động, tuyển lao động thông qua chủ thể khác, tuyển đối với một số lao động ngoại lệ), quyền trong việc sử dụng lao động (bố trí, sắp xếp công việc cho NLĐ, điều chuyển NLĐ làm công việc khác, thay đổi công việc của NLĐ, tạm hoãn công việc của NLĐ, khen thưởng, xử lý vi phạm kỷ luật lao động) và quyền chấm dứt việc sử dụng lao động Đặc biệt là quyền giải quyết khiếu nại của NLĐ, tập thể lao động mà trong các công trình nghiên cứu, chưa có công trình nào đề cập tới

Trên cơ sở đánh giá các quy định của pháp luật lao động hiện hành cũng như thực tiễn thực hiện, luận án rút ra những điểm còn bất cập làm cơ sở để đưa ra các

Trang 32

kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về quyền này ở chương tiếp sau

Thứ ba, các đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam

Trên cơ sở các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật đã nghiên cứu ở các

phần trên, luận án luận giải phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ Từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam Nội dung vấn đề này sẽ được giải quyết gồm hai phần:

- Một là, phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ

phải bảo đảm được các yêu cầu về lý luận và thực tiễn

- Hai là, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định về quyền QLLĐ của

NSDLĐb trong BLLĐ năm 2012

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua việc tổng quan về tình hình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước, khái quát và nhận xét, đánh giá về những vấn đề đã nghiên cứu trong các công trình, định hướng các vấn đề cơ bản cần tiếp tục giải quyết, luận án rút ra những kết luận sau đây:

1 Quyền QLLĐ của NSDLĐ nói chung và pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ nói riêng đã được các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài quan tâm Tuy nhiên, do xuất phát từ mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu khác nhau cũng như thể loại công trình nghiên cứu khác nhau, nên vấn đề này chưa được các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đề cập một cách cụ thể với tư cách là một công trình khoa học nghiên cứu riêng và chuyên sâu

2 Ở mức độ nhất định, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến một số vấn

đề lý luận về QLLĐ, quyền QLLĐ của NSDLĐ Song, vì những lý do nghiên cứu khác nhau nên quan điểm và nội dung trình bày về những vấn đề này trong các công trình nghiên cứu chưa được thể hiện một cách toàn diện và thống nhất Các công trình nghiên cứu chưa đề cập cụ thể đến vấn đề lý luận về pháp luật quyền QLLĐ của NSDLĐ

3 Một số công trình nghiên cứu ở trong nước đưa ra các ý kiến phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật lao động về một số quyền QLLĐ cơ bản của NSDLĐ như quyền ban hành nội quy lao động, ký kết hợp đồng lao động, xử lý kỷ luật lao động, chấm dứt hợp đồng lao động… và đề xuất ý kiến hoàn thiện các quy

Trang 33

định về quyền QLLĐ của NSDLĐ, song chủ yếu đều dựa trên BLLĐ năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007) Hiện có một vài công trình nghiên cứu về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động NSDLĐ theo quy định của BLLĐ năm 2012, song các công trình này chưa nghiên cứu dưới góc độ quyền QLLĐ

4 Là đề tài có tính kế thừa nên vấn đề cơ bản cần được tiếp tục giải quyết trong luận án không chỉ là các vấn đề lý luận về quyền QLLĐ của NSDLĐ, pháp luật

về quyền QLLĐ của NSDLĐ, mà còn bao gồm các vấn đề về thực trạng pháp luật lao động hiện hành và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền này của NSDLĐ Bởi vậy, những kết quả nghiên cứu của các công trình ở trong nước và nước ngoài là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích trong quá trình nghiên cứu luận án Luận án sử dụng và phát triển một số quan điểm, ý kiến đánh giá, nhận xét trong các công trình nghiên cứu nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện các vấn đề pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ ở Việt Nam như mục đích nghiên cứu đặt ra

Trang 34

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG

VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN QUẢN LÝ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI SỬ

DỤNG LAO ĐỘNG

2.1 Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

2.1.1 Khái niệm quản lý lao động và quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

2.1.1.1 Quản lý lao động

Đối với mỗi con người, lao động được coi là hoạt động quan trọng nhất, nhằm tác động, biến đổi những vật thể tự nhiên thành những vật phẩm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần trong đời sống hàng ngày Đối với xã hội, lao động là điều kiện tất yếu, cơ bản tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần để xã hội tồn tại và phát triển Dù đối với mỗi con người cụ thể hay đối với nhiều người trong phạm vi xã hội, lao động luôn được diễn ra theo một quy trình, trong đó bao gồm những hoạt động chân tay và trí óc của con người để hoàn thành một nhiệm vụ, công việc nhất định

Trong thực tế, con người không thực hiện các hoạt động lao động một cách đơn lẻ, tách rời mà họ thường liên kết lại với nhau để cùng thực hiện công việc, nhiệm vụ chung Theo Karl Marx, quá trình lao động mà ở đó "nhiều người làm việc bên cạnh nhau một cách có kế hoạch và trong một sự tác động qua lại lẫn nhau trong một quá trình sản xuất nào đó hoặc là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên hệ với nhau, thì lao động của họ mang tính hiệp tác" [52, tr.22]

Và để đạt được hiệu quả cao trong quá trình hiệp tác, thực hiện các công việc chung

đó, "thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân

và thực hiện những chức năng chung… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [53, tr.480] Sự "chỉ đạo", "điều khiển" mà Karl Marx nói tới ở đây chính là QLLĐ

QLLĐ là gì? Để hiểu rõ khái niệm này, trước hết cần hiểu được khái niệm

"quản lý"

Theo Từ điển tiếng Việt, "quản lý" được hiểu là: 1) Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Quản lý hồ sơ, quản lý vật tư 2) Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định QLLĐ, người quản lý [103, tr.958]

Theo Từ điển luật học, "quản lý" được hiểu theo hai nghĩa: 1) Làm cho hoạt động, tư duy của từng người riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế

Trang 35

khoa học, tiến hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thời gian nhanh nhất Quản lý được thực hiện bằng ba loại biện pháp chủ yếu (kinh tế, hành chính, giáo dục…) và các hình thức tác động như lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, khen thưởng, xử phạt v.v 2) Là giữ gìn, bảo quản Quản lý tài sản, quản lý hồ sơ, tài liệu [98, tr.382]

Như vậy, về tổng thể thì "quản lý" được hiểu theo hai phương diện khác nhau:

Thứ nhất, về ngữ nghĩa, "quản lý" là sự giữ gìn những thứ đã có theo yêu cầu

đặt ra Ở phương diện này, thì quản lý được dùng để chỉ một phương thức hoặc cách

thức nhất định trong việc bảo vệ những thứ đã có theo yêu cầu đặt ra

Thứ hai, "quản lý" được nhìn nhận theo phương diện là một quan hệ xã hội

Đó là mối quan hệ giữa một bên là chủ thể thực hiện hoạt động quản lý với một bên

là đối tượng quản lý phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động chung Trong

đó, chủ thể quản lý có quyền áp đặt ý chí (quyền uy) đối với đối tượng quản lý thông qua các biện pháp, hình thức nhất định, buộc đối tượng quản lý phải tuân theo (phục tùng) nhằm để các hoạt động chung của nhiều người đạt được hiệu quả tốt nhất, nhiều nhất, ít chi phí nhất trong thời gian nhanh nhất Quản lý, theo phương diện này là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực để đạt được mục tiêu nhất định

Từ cách hiểu về "quản lý" như trên, trong quá trình lao động, QLLĐ được nghiên cứu ở phương diện thứ hai Theo đó, QLLĐ được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, QLLĐ là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý phát sinh trong quá trình lao động nhằm phát huy có hiệu quả nhất các nguồn lực để đạt được mục tiêu lao động đã đề ra Cụ thể, QLLĐ là hoạt động của chủ thể QLLĐ tác động tới đối tượng QLLĐ bằng các biện pháp (chủ yếu như kinh

tế, hành chính, pháp lý, giáo dục…) và các hình thức (lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, kiểm tra, khen thưởng, xử phạt…) nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực lao động để đạt được mục tiêu lao động đã đặt ra

Theo nghĩa hẹp, trong lĩnh vực luật lao động, QLLĐ được hiểu là sự tác động của chủ thể có thẩm quyền tới các đối tượng khi tham gia quan hệ lao động nhằm tăng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động

Với cách hiểu này, chủ thể có thẩm quyền QLLĐ bao gồm nhà nước và NSDLĐ Theo đó, nhà nước và NSDLĐ đều thông qua các biện pháp, hình thức QLLĐ tác động đến các đối tượng tham gia quan hệ lao động, nhằm nâng cao hiệu

Trang 36

quả lao động Tuy nhiên, do xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hai chủ thể này khác nhau nên QLLĐ không giống nhau

QLLĐ của nhà nước, theo Công ước số 150 của ILO, là chỉ "những hoạt động hành chính quản lý nhà nước trong lĩnh vực chính sách quốc gia về lao động" [5, tr.260] Hay nói cách khác, QLLĐ của nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước, bằng pháp luật tác động lên các chủ thể của quan

hệ lao động nhằm điều chỉnh và hướng hành vi của các chủ thể này diễn ra phù hợp với lợi ích chung của xã hội, trong đó có lợi ích của nhà nước Cụ thể là nhà nước hoạch định các chính sách về lao động, ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật thông qua hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Đối tượng và phạm vi QLLĐ của nhà nước rộng lớn, bao gồm các chủ thể của quan hệ lao động trong phạm vi quốc gia Trong đó, nội dung QLLĐ của nhà nước bao gồm các nội dung pháp lý chung về phát triển lực lượng lao động xã hội, về các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động, điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động cũng như các vấn đề về đảm bảo cho sự duy trì, ổn định quan hệ lao động ở các đơn

vị sử dụng lao động trong phạm vi cả nước

Khác với QLLĐ của nhà nước, QLLĐ của NSDLĐ là chỉ những hoạt động trực tiếp của NSDLĐ trong việc tổ chức, điều khiển NLĐ của đơn vị sử dụng lao động Cụ thể, NSDLĐ, bằng quyền năng của mình được pháp luật cho phép, thực hiện các hoạt động tuyển lao động, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, công tác; khen thưởng và xử lý vi phạm đối với NLĐ trong đơn vị, nhằm tạo ra trật

tự, nền nếp trong lao động để tăng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động Biện pháp QLLĐ được áp dụng linh hoạt, tùy thuộc vào NSDLĐ trong những điều kiện lao động cụ thể trên cơ sở quy định của pháp luật

Như vậy, có thể thấy, tuy cùng chung mục đích là nhằm bảo đảm cho quan hệ lao động phát triển hài hòa, ổn định, góp phần nâng cao hiệu quả, năng suất lao động của các đơn vị sử dụng lao động, từ đó giúp cho nền kinh tế-xã hội của đất nước phát triển vững mạnh, song biện pháp, hình thức, phạm vi thực hiện QLLĐ của nhà nước và NSDLĐ thể hiện khác nhau

Từ những phân tích trên, có thể hiểu QLLĐ của NSDLĐ là sự tác động có tổ chức, có mục đích của NSDLĐ đối với NLĐ trong đơn vị sử dụng lao động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh

Với cách hiểu này, QLLĐ của NSDLĐ có quan hệ gần gũi và mật thiết với các dạng quản lý khác trong đơn vị sử dụng lao động như quản trị nhân lực, quản lý

Trang 37

kinh doanh Điểm chung giữa các hoạt động quản lý này là đều bao hàm các yếu tố

về QLLĐ hiểu theo nghĩa rộng đã nêu trên Tuy nhiên, ẩn chứa trong những điểm giống nhau đó là sự khác biệt rất rõ rệt thể hiện trong nội hàm của các khái niệm này Để nhận diện QLLĐ của NSDLĐ và phân biệt QLLĐ của NSDLĐ với các dạng quản lý khác trong đơn vị sử dụng lao động, ở mức độ khái quát, có thể dựa vào các đặc điểm của QLLĐ sau đây:

- Chủ thể QLLĐ là NSDLĐ NSDLĐ là người có quyền sở hữu, quyền quản

lý, quyền sử dụng tài sản trong đơn vị đồng thời là người mua sức lao động của NLĐ Vì thế, trong quá trình sử dụng sức lao động của NLĐ, do mục tiêu lợi nhuận, nên họ phải làm sao để sử dụng có hiệu quả sức lao động của NLĐ NSDLĐ là chủ thể QLLĐ phải có đầy đủ các điều kiện về năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động theo quy định của pháp luật lao động

Khác với chủ thể của QLLĐ, chủ thể thực hiện hoạt động quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp tương đối phong phú, đa dạng Họ cũng có thể là người có quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản trong đơn vị, song tùy vào loại hình đơn vị mà họ có chức danh quản lý khác nhau (giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, chủ tịch Hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc hoặc các chức danh quản lý khác do điều lệ đơn vị quy định…) Trong quản trị nhân lực (hay còn gọi là quản trị nhân sự, quản lý nhân sự, quản lý nguồn nhân lực), do được coi là một bộ phận của quản lý kinh doanh, nên chủ thể quản trị nhân lực không chỉ là người có chức danh quản lý mà còn bao gồm cả bộ máy quản lý, từ lãnh đạo đơn vị cho đến lãnh đạo các cấp, các bộ phận trong đơn vị Chủ thể quản trị nhân lực được thiết lập thành một mạng lưới thông qua bộ phận chức năng-bộ phận quản trị nhân lực So với chủ thể của QLLĐ, chủ thể quản lý kinh doanh và chủ thể quản trị nhân lực rộng hơn và phong phú hơn

- Đối tượng QLLĐ là NLĐ tham gia quan hệ lao động NLĐ là cá nhân công dân có đủ điều kiện về năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động Tùy vào quy định của mỗi nước mà độ tuổi của người lao động khác nhau Ở đặc điểm này thì đối tượng quản trị nhân lực cũng chính là đối tượng QLLĐ, đều bao gồm những NLĐ trong đơn vị

Đối tượng quản lý kinh doanh rộng hơn, bao gồm các hoạt động sản xuất, công tác của đơn vị và NLĐ Các hoạt động sản xuất, công tác rất đa dạng, có thể có tính cách kinh tế như sản xuất, đầu tư, hoặc cung cấp dịch vụ nhất định hoặc thực hiện

Trang 38

nhiệm vụ, công việc nào đó NLĐ được sử dụng trong các đơn vị này phải có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật lao động

- Phạm vi QLLĐ của NSDLĐ chỉ giới hạn trong quá trình NLĐ thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, phát sinh từ khi các bên có "hoạt động chung" đến khi chấm dứt quan hệ lao động

Phạm vi quản lý kinh doanh rộng hơn, bao gồm các vấn đề đối nội trong

đối ngoại (tổ chức hoạt động kinh doanh, ký kết các hợp đồng kinh tế, đại diện công ty trước bên thứ ba…) trong mối quan hệ với cá nhân, tổ chức bên ngoài đơn vị Đối với phạm vi quản trị nhân lực, do đối tượng quản trị là con người, vì thế phạm vi quản trị không chỉ liên quan đến quá trình họ thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động mà còn ở những hoạt động khác ngoài quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động

- Nội dung QLLĐ bao gồm các hoạt động của NSDLĐ như: tuyển lao động, sắp xếp, bố trí lao động; tổ chức, điều hành các hoạt động lao động; ký hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể; ban hành nội quy, quy chế lao động; kiểm tra, giám sát quá trình lao động và khen thưởng, xử lý vi phạm… Trong khi đó, nội dung của quản lý kinh doanh rộng hơn, bao gồm các hoạt động tổ chức kinh doanh, nhân danh công ty ký hợp đồng kinh tế và các giao dịch khác, vấn đề QLLĐ chỉ được coi là một nội dung trong hoạt động tổ chức kinh doanh Nội dung của quản trị nhân lực bao gồm các vấn đề liên quan đến việc sử dụng và phát huy tối đa nguồn nhân lực đã có đáp ứng cho mục đích kinh doanh, công tác nhất định Các hoạt động chủ yếu là: bảo đảm đầy đủ số lượng và chất lượng nhân lực, nâng cao năng lực cho nguồn nhân lực, duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đã có [87,

QLLĐ Tuy nhiên, nội dung của quản trị nhân lực rộng hơn và đặc biệt chủ yếu được thực hiện thông qua các kỹ năng quản lý của bộ máy quản lý nhân lực, không thể hiện rõ tính pháp lý trong hoạt động quản lý như nội dung QLLĐ

- Biện pháp thực hiện QLLĐ của NSDLĐ bao gồm nhiều biện pháp và cách thức khác nhau, song chủ yếu là các biện pháp: giáo dục, kinh tế, pháp lý Tùy từng trường hợp cụ thể, NSDLĐ hoàn toàn được quyền chủ động lựa chọn một hoặc nhiều biện pháp nói trên để áp dụng trong quá trình QLLĐ

Trong quản trị nhân lực và quản lý kinh doanh, các biện pháp quản lý đa dạng, linh hoạt, có thể áp dụng các biện pháp của QLLĐ hoặc không Các biện pháp quản lý nhân lực và quản lý kinh doanh thông thường không có sẵn đối với các chủ

Trang 39

thể quản lý Đó được coi là nghệ thuật, là bí quyết để chủ thể quản lý đem lại thành công trong hoạt động sử dụng nguồn lực con người cũng như trong quá trình kinh doanh trên thương trường

- Mục đích của QLLĐ là nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương trong đơn vị sử dụng lao động để sử dụng sức lao động một cách hợp lý, hiệu quả Từ đó giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh đạt được hiệu quả, lợi nhuận cao, bảo đảm lợi ích các bên, nhất là lợi ích của NSDLĐ Do cùng xuất phát từ "gốc" là quản lý nên quản lý kinh doanh và quản trị nhân lực đều hướng tới mục đích nói trên

2.1.1.2 Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động

"Người sử dụng lao động" (employer) là thuật ngữ được dùng để chỉ một bên của

quan hệ lao động trong mối tương quan với bên người lao động/người làm thuê (employee/worker) Theo quy định của pháp luật lao động các nước, thuật ngữ "người

sử dụng lao động" có thể được hiểu là các đơn vị sử dụng lao động (cơ quan, tổ chức, công ty, hợp tác xã ), có thể được dùng để chỉ cá nhân cụ thể có sử dụng lao động (hộ gia đình, cá nhân ) [41, Đ.2], [50, Đ.20], [170, Đ.3] Trong đơn vị sử dụng lao động, NSDLĐ, thông qua chủ thể có thẩm quyền, có quyền "tối cao" trong việc quyết định các vấn đề kinh tế hay xã hội và quản lý quá trình lao động của NLĐ, đồng thời có nghĩa vụ bảo đảm các quyền lợi đối với NLĐ

Để có được quyền tối cao này, NSDLĐ phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Đó là năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động Năng lực pháp luật lao động của NSDLĐ là khả năng được pháp luật quy định cho họ các quyền nhất định khi tham gia quan hệ lao động Không có được quyền đó thì cơ quan, tổ chức, cá nhân không thể thực hiện các hoạt động tuyển chọn, sử dụng lao động và các hoạt động khác Còn năng lực hành vi lao động của NSDLĐ là khả năng bằng chính hành vi của NSDLĐ thực hiện các quyền và nghĩa

vụ khi tham gia quan hệ lao động Tuy nhiên, khác với NLĐ, NSDLĐ có thể thông qua phương pháp trung gian để thực hiện hành vi của mình mà vẫn được coi là chính họ đang thực hiện Vì thế, khi tiếp cận với thuật ngữ "người sử dụng lao động" cũng cần lưu ý đến nội hàm của thuật ngữ này Bởi vì, NSDLĐ có thể là cá nhân, có thể là tổ chức do đó cần phân biệt hành vi cá nhân và hành vi tập thể (của

tổ chức) Hành vi của NSDLĐ (là) cá nhân hoặc doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân là hành vi của chính chủ thể đó, còn hành vi của NSDLĐ là tổ chức, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân không thể là hành vi của chính nó (tổ chức, doanh nghiệp ) mà phải là hành vi cụ thể có tính cách tượng trưng, đại diện cho tổ chức, doanh nghiệp đó [90, tr.81-83]

Trang 40

Năng lực hành vi của NSDLĐ được thể hiện một cách cụ thể không phải thông qua những yếu tố, phẩm chất theo tiêu chuẩn một con người cụ thể như NLĐ

mà được thể hiện qua các tiêu chí khác Các tiêu chí thể hiện khả năng của NSDLĐ trong việc thực hiện quyền được pháp luật cho phép (như quyền tuyển lao động, quyền bố trí công việc, quyền thiết lập và duy trì kỷ luật lao động ) và thực hiện các nghĩa vụ đối với NLĐ (như trả lương, bảo đảm các điều kiện lao động )

Do sự phong phú về tính chất công việc cũng như đặc điểm, chức năng của các đơn vị sử dụng lao động, mà theo đó, năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động của NSDLĐ được pháp luật quy định khác nhau

Như vậy, khi NSDLĐ có đủ các điều kiện do pháp luật quy định thì họ có các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động, trong đó quan trọng nhất là quyền QLLĐ đối với NLĐ trong phạm vi đơn vị của mình

Trên thế giới, quyền QLLĐ của NSDLĐ ra đời từ rất sớm Theo tài liệu nghiên cứu của chuyên gia nước ngoài, nguồn gốc sâu xa nhất của quyền QLLĐ của NSDLĐ có thể được truy nguyên từ xã hội thị tộc Aten-nơi quyền lực gia trưởng của người cha có thể quyết định sự sống chết của các thành viên trong gia đình, thông qua việc phân công công việc hằng ngày cho các thành viên và khen ngợi, kỷ luật đối với các thành viên gia đình khi thực hiện tốt hoặc không thực hiện hoặc thực hiện không tốt theo sự phân công đó [124, tr.261] Tuy nhiên, quyền QLLĐ của NSDLĐ được thể hiện rõ rệt nhất kể từ khi xã hội có sự phân chia giai cấp Theo đó, tính chất và hình thức thực hiện quyền QLLĐ của NSDLĐ như thế nào lại phụ thuộc vào quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định

Theo sự phát triển của xã hội, trong thời gian đầu, quyền QLLĐ của NSDLĐ mang tính chất độc đoán Tính chất độc đoán về quyền QLLĐ thể hiện trong quyền lực vô song của các chủ nô hoặc chúa đất thông qua chế độ lao động cưỡng bức và bóc lột tàn nhẫn sức lao động mọi lúc, mọi nơi đối với các nô lệ hoặc nông nô

Sang thời kỳ sau đó, quyền QLLĐ của nhà tư bản (chủ nhân) đối với người làm công nhật (thợ) trong các phường hội hoặc chủ doanh nghiệp với công nhân được coi là "quyền đương nhiên", "quyết định theo ý muốn thậm chí không cần phải nêu lý do", hoặc được coi "là quyền năng tùy ý hành động vào bất cứ lúc nào", hay

"quyền được đưa ra những quyết định đơn phương, không cần có sự đồng ý của tổ chức người lao động" [124, tr.2] Để bảo vệ quyền này, "họ (chủ sử dụng lao động) chống lại bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài" [127, tr.102] Giải thích về quyền

Ngày đăng: 08/05/2014, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Đình Bách (Chủ biên) (2010), Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Xuất bản lần thứ 2), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Bách (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
2. Báo Pháp luật Việt Nam (2013), "Năng suất, tiền lương và đi vệ sinh phải đội mũ", (113) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất, tiền lương và đi vệ sinh phải đội mũ
Tác giả: Báo Pháp luật Việt Nam
Năm: 2013
3. Phạm Công Bảy (2002), Tìm hiểu Bộ luật lao động Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Bộ luật lao động Việt Nam
Tác giả: Phạm Công Bảy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
4. Đỗ Ngân Bình (chủ nhiệm) (2011), Áp dụng pháp luật lao động trong quản trị nhân sự tại doanh nghiệp, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật lao động trong quản trị nhân sự tại doanh nghiệp
Tác giả: Đỗ Ngân Bình (chủ nhiệm)
Năm: 2011
5. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (1993), Một số công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Năm: 1993
9. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2002), Hỏi đáp về Bộ luật lao động, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về Bộ luật lao động
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2002
10. Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Đoàn thanh tra (2004), Báo cáo kết quả thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Đoàn thanh tra
Năm: 2004
11. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2008), Báo cáo tổng hợp nghiên cứu về quan hệ lao động tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp nghiên cứu về quan hệ lao động tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Năm: 2008
15. Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Vụ pháp chế (2010), Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Vụ pháp chế
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2010
16. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2010), Một số công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2010
17. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2010), Báo cáo đánh giá tác động Dự thảo Bộ luật lao động (sửa đổi), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác động Dự thảo Bộ luật lao động (sửa đổi)
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
18. Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Vụ pháp chế (2010), Pháp luật lao động các nước Asean, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật lao động các nước Asean
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Vụ pháp chế
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2010
20. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2011), Báo cáo tổng kết đánh giá 15 năm thi hành Bộ luật lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đánh giá 15 năm thi hành Bộ luật lao động
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Năm: 2011
21. Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Vụ pháp chế (2011), Tài liệu nghiên cứu cho thuê lại lao động, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu cho thuê lại lao động
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Vụ pháp chế
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2011
23. Bộ Lao động, thương binh và xã hội (2011), Thuyết minh về dự án Bộ luật lao động (sửa đổi), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết minh về dự án Bộ luật lao động (sửa đổi)
Tác giả: Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Năm: 2011
24. Nguyễn Hữu Chí (1997), Hợp đồng lao động với vấn đề đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động trong nền kinh tế thị trường, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng lao động với vấn đề đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động trong nền kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Năm: 1997
25. Nguyễn Hữu Chí (1998), "Một số vấn đề về kỷ luật lao động trong Bộ luật lao động", Tạp chí Luật học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về kỷ luật lao động trong Bộ luật lao động
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Năm: 1998
27. Nguyễn Hữu Chí (2002), "Chấm dứt hợp đồng lao động", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chấm dứt hợp đồng lao động
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Năm: 2002
28. Nguyễn Hữu Chí (2003), Pháp luật hợp đồng lao động Việt Nam - Thực trạng và phát triển, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật hợp đồng lao động Việt Nam - Thực trạng và phát triển
Tác giả: Nguyễn Hữu Chí
Nhà XB: Nxb Lao động - xã hội
Năm: 2003
106. Website: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/tru-luong-cong-nhan-vi-di-toilet-qua-4-lan-mot- ngay-757712.htm Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w