- Biết cách lựa chọn mua sắm hàng hóa của người tiêu dùng và cách ra quyết định về giá, sản lượng và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp hoạt động trên các thị trường có cơ cấu khác n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
KINH TẾ VI MÔ
Biên soạn: PGS.TS LÊ BẢO LÂM
TS VŨ VIỆT HẰNG
TS ĐOÀN THỊ MỸ HẠNH ThS HỒ HỮU TRÍ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009
Trang 2MỤC LỤC
Phần mở đầu 3
Giới thiệu môn học Kinh tế vi mô 3
Bài 1: Khái quát về Kinh tế học 9
Phần I: Vận hành của thị trường cạnh tranh 29
Bài 2: Cầu, cung và giá thị trường 29
Bài 3: Co giãn của cầu và cung 44
Bài 4: Can thiệp của Chính phủ vào thị trường cạnh tranh 57
Phần II: Lý thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng 68
Bài 5: Lý thuyết về hữu dụng 68
Bài 6: Phân tích cân bằng tiêu dùng bằng hình học 87
Phần III: Lý thuyết sản xuất và chi phí 107
Bài 7: Lý thuyết sản xuất 107
Trang 3Phần IV: Quyết định về giá và sản lượng của doanh nghiệp 144
Bài 9: Cạnh tranh hoàn toàn 145
Bài 10: Độc quyền hoàn toàn 161
Bài 11: Cạnh tranh độc quyền và thiểu số độc quyền 179
Phần kết 197
Bài 12: Ôn tập và bài tập tổng hợp 197
Tài liệu tham khảo 214
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU:
GIỚI THIỆU MÔN HỌC
KINH TẾ VI MÔ
I KHÁI QUÁT VỀ NỘI DUNG MÔN HỌC:
Nói đến Kinh tế học, người ta thường nghĩ đến hai lý thuyết cơ bản là Kinh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô Kinh tế vi mô nghiên cứu hành
vi lựa chọn của từng cá nhân người tiêu dùng và của từng doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Do nguồn lực có giới hạn, mỗi người mua hoặc bán đều phải tính toán lựa chọn cho mình phương án tiêu dùng tối ưu hoặc phương án tổ chức sản xuất kinh doanh tối ưu
Vì thế nội dung chính của Kinh tế vi mô là nghiên cứu cầu, cung và trên cơ sở đó giải thích sự hình thành giá cả trên thị trường của từng loại hàng hóa cụ thể Ngày nay, do Chính phủ của hầu hết các nước đều can thiệp vào sự vận hành của nền kinh tế thị trường nên Kinh tế
vi mô cũng nghiên cứu tác động của những chính sách kinh tế của Chính phủ có ảnh hưởng làm thay đổi giá thị trường và do đa phần các thị trường đều có tính độc quyền nên Kinh tế vi mô cũng nghiên cứu
sự hình thành giá trên thị trường có tính độc quyền
Những kiến thức về Kinh tế vi mô rất hữu ích cho bạn vì nó giúp bạn lí giải được những hiện tượng diễn ra trong cuộc sống hàng ngày Chẳng hạn như: tại sao vào ngày lễ người ta lại đổ xô nhau đi du lịch dù giá tour tăng cao? Tại sao trái cây cứ đến mùa là hạ giá? Nếu
Trang 5nhiều hay ít? Vì sao chính phủ cần phải quy định giá cho sản phẩm độc quyền? Bạn hoàn toàn có thể tự mình trả lời được những câu hỏi trên sau khi học qua môn Kinh tế vi mô
II MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC:
Trang bị cho sinh viên những kiến thức căn bản về Kinh tế vi
mô với các khái niệm như cầu, cung, giá cả thị trường, độ co giãn…, các nguyên tắc lựa chọn hợp lý của người tiêu dùng và người sản xuất,
để sinh viên biết và dùng đúng các thuật ngữ chuyên môn
Sau môn học này sinh viên phải:
- Biết cách phân tích và giải thích diễn biến giá trị thị trường của các loại hàng hóa, hiểu và biết cách phân tích các chính sách can thiệp vào thị trường của Chính phủ
- Biết cách lựa chọn mua sắm hàng hóa của người tiêu dùng và cách ra quyết định về giá, sản lượng và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp hoạt động trên các thị trường có cơ cấu khác nhau
- Hiểu và lý giải được những hiện tượng xảy ra trên các phương tiện truyền thông đại chúng
III YÊU CẦU CỦA MÔN HỌC:
Môn kinh tế vĩ mô là một học phần 60 tiết (4 tín chỉ) gồm 45 tiết lý thuyết và 15 tiết bài tập Để học tốt môn này bạn cần trang bị trước kiến thức về:
Trang 6- Toán căn bản: biết nhận dạng hàm số, vẽ đồ thị, tính đạo hàm, giải phương trình, hình học căn bản…
- Kinh tế- xã hội: những thông tin liên quan đến thị trường hàng hóa
IV CẤU TRÚC MÔN HỌC:
Môn học được thiết kế thành 12 bài, mỗi bài ứng với một buổi học 5 tiết, theo trình tự như sau:
1 Phần mở đầu:
- Giới thiệu môn học
- Bài 1: Khái quát về Kinh tế học
2 Phần 1 – Vận hành của thị trường cạnh tranh:
- Bài 2: Cầu, cung và giá thị trường
- Bài 3: Co giãn của cầu và cung
- Bài 4: Can thiệp của chính phủ của thị trường
3 Phần II – Lý thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng:
- Bài 5: Lý thuyết hữu dụng
- Bài 6: Phân tích cân bằng tiêu dùng bằng hình học
4 Phần III – Lý thuyết sản xuất và chi phí:
- Bài 7: Lý thuyết sản xuất
- Bài 8: Lý thuyết chi phí
Trang 7- Bài 9: Cạnh tranh hoàn toàn
- Bài 10: Độc quyền hoàn toàn
- Bài 11: Cạnh tranh độc quyền và thiểu số độc quyền
6 Phần kết:
- Bài 12: Ôn tập và bài tập tổng hợp
V NHỮNG TÀI LIỆU SINH VIÊN NÊN THAM KHẢO:
Môn học này có rất nhiều sách của các tác giả trong và ngoài nước biên soạn Các bạn có thể tham khảo bất kỳ cuốn sách Kinh tế vi
mô nào bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Anh mà các bạn có Ngoài ra các bạn còn có thể sự dụng thêm phương tiện hỗ trợ như băng cassette, đĩa VCD, Internet, radio, truyền hình… Tuy nhiên, theo chương trình đào tạo năm thứ nhất thì nội dung của môn học này dừng lại ở trình độ đại cương nên những tài liệu sau đây sẽ giúp bạn học dễ dàng hơn
1 Tài liệu hướng dẫn học tập kinh tế vi mô của các tác giả Lê Bảo
Lâm, Hồ Hữu Trí, Vũ Việt Hằng, Đoàn Thị Mỹ Hạnh, NXB Giáo dục, năm 2006
2 Hỏi – Đáp Kinh tế học vi mô của các tác giả Đoàn Thị Mỹ Hạnh
và Vũ Việt Hằng, Hồ Hữu Trí, tài liệu lưu hành nội bộ của trường Đại học Mở Tp.Hồ Chí Minh, năm 2006
3 Kinh tế học vi mô của các tác giả Đoàn Thị Mỹ Hạnh và Vũ
Việt Hằng, NXB Giáo dục, năm 2006
Trang 8VI CÁCH HỌC VÀ DÙNG TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Cuốn “Tài liệu hướng dẫn học tập Kinh tế vi mô” có nội dung được chia thành 12 bài, thời lượng của mỗi bài là 5 tiết Trong mỗi bài đều có phần giới thiệu mục tiêu, yêu cầu của bài để các bạn biết cần phải chuẩn bị gì trước khi học và sau khi học xong biết mình đạt được yêu cầu đến đâu Phần nội dung chính của bài được trình bày theo kiểu chỉ nhấn mạnh và giải thích những điểm cốt lõi mà người học trung bình có thể nắm được Phần câu hỏi và bài tập chỉ tập trung và giới thiệu những câu hỏi và bài tập có độ khó ở mức độ trung bình Vì thế bạn nên tham khảo cuốn “Kinh tế học vi mô” để tăng thêm kiến thức Nội dung cuốn sách này chỉ thiết kế thành 6 phần và biên soạn theo chương trình chính quy tập trung Mỗi chương có phần lý thuyết diễn giải nội dung chính đầy đủ hơn, phần câu hỏi trắc nghiệm, bài tập phong phú hơn và có giải đáp Vì nội dung Kinh tế vi mô chứa đựng nhiều chi tiết nên bạn khó có hiểu ngay một cách thấu đáo, do đó cuốn
“Hỏi – Đáp Kinh tế học vi mô” với những câu hỏi tự luận và có đáp
án giúp bạn giải đáp những thắc mắc của mình
Để tránh nhàm chán, bạn có thể sử dụng đồng thời nhiều loại học liệu như nghe băng cassette hoặc xem đĩa VCD bài giảng, nghe bài giảng qua radio hoặc theo dõi bài giảng qua truyền hình
Bạn cũng có thể vào mạng Internet, đến địa chỉ trang web của trường (www.ou.edu.vn) để tải về các trang tóm tắt bài giảng với nhiều màu sắc và hình ảnh động ở mục E-learning, hoặc đến trang web www.google.com.vn gõ các từ khóa muốn tham khảo để có thêm thông tin về những sự kiện đã diễn ra trong thực tế có liên quan đến nội dung môn học
Trang 9Bạn cũng nên thường xuyên đọc các tờ báo và tạp chí như Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Thời Báo Kinh Tế Việt Nam, Tạp chí khoa học của trường Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh, Tạp chí phát triển kinh tế của trường Đại học Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh… để có thêm thông tin Nhờ những thông tin và kinh nghiệm trong thực tế cuộc sống bạn sẽ lý giải được những vấn đề thuộc về kinh tế học vĩ mô được bàn luận trên thông tin đại chúng
Cuối cùng, các bạn đừng quên rằng môn học này còn có giảng viên trực tiếp hướng dẫn và giải đáp thắc mắc cho các bạn Nếu các bạn đã chuẩn bị kỹ trước khi đến dự buổi hướng dẫn thì bạn sẽ thấy môn học này không quá khó Nếu sau đó, các bạn vẫn còn những điều chưa rõ, các bạn có thể tham gia “Diễn đàn tư vấn học tập” của Khoa Kinh tế để trao đổi với giảng viên và với các bạn đồng học
Chắc chắn các bạn sẽ thành công như mong đợi nếu tổ chức việc học của mình đúng theo hướng dẫn
Chúc các bạn thành công Nhóm biên soạn tài liệu hi vọng nhận được những góp ý của các bạn để lần tái bản sau quyển sách hoàn thiện hơn
Địa chỉ liên lạc của nhóm biên soạn: vuviethang@yahoo.com
Trang 10BÀI 1:
KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC
Bài này sẽ cung cấp cho các bạn kiến thức căn bản về sự vận hành của nền kinh tế thị trường, lý do của sự tồn tại của môn Kinh tế
vi mô nói riêng và của môn Kinh tế học nói chung, vai trò của Kinh tế học trong hệ thống môn khoa học kinh tế Vì vậy, nội dung của bài này giới thiệu các khái niệm như đường giới hạn khả năng sản xuất, kinh tế học vi mô và vĩ mô, kinh tế học thực chứng và chuẩn tắc
I MỤC TIÊU:
Sau khi học xong bài này các bạn phải biết được:
- Lý do môn kinh tế học ra đời và phát triển
- Khái niệm, ý nghĩa của “đường giới hạn khả năng sản xuất”
- Phân biệt được Kinh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô
- Phân biệt được Kinh tế học thực chứng và Kinh tế học chuẩn tắc
II NỘI DUNG CHÍNH:
1 Sự khan hiếm:
Trang 11Trong bất cứ một nền kinh tế nào, sản xuất hàng hóa cũng là một hoạt động chính yếu mang tính chất sống còn Để sản xuất ra
hàng hóa, phải sử dụng các yếu tố sản xuất (hay còn gọi là các nguồn
lực) như: lao động, đất đai, vốn, tài nguyên thiên nhiên, kiến thức…
Các loại tài nguyên này có đặc điểm chung là khan hiếm, tức là số
lượng tồn tại của chúng không đủ cho nhu cầu sử dụng của con người Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ các hàng hóa và dịch vụ được làm ra từ
các loại tài nguyên này của con người là vô hạn
Như vậy, để có sự mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu thụ (vô hạn) và khả năng đáp ứng cho nhu cầu đó (có hạn) Đây là mâu thuẫn tồn tại ở bất kỳ nền kinh tế nào và không thể giải quyết triệt để được
Tuy nhiên, con người có thể điều hòa được mâu thuẫn trên, tức
là có thể thực hiện một số các biện pháp để có thể giảm bớt sự khác biệt giữa nhu cầu tiêu thụ và việc sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ
để đáp ứng cho nhu cầu đó Bạn hãy hình dung rằng: với một nguồn lực có hạn của nền kinh tế, nếu chúng ta sử dụng chúng một cách vô nguyên tắc, lãng phí thì sẽ không tạo ra được một số lượng hàng hóa
và dịch vụ lớn nhất để có thể thỏa mãn tốt nhất cho nhu cầu tiêu thụ Ngược lại, cũng với nguồn lực có hạn như vậy, nhưng chúng ta sử dụng chúng một cách có hiệu quả, theo một nguyên tắc khoa học thì sẽ
tạo ra một số lượng hàng hóa và dịch vụ lớn nhất để có thể thỏa mãn
tốt nhất cho nhu cầu tiêu thụ của con người
Như vậy, vấn đề ở đây là tìm ra các nguyên tắc khoa học và có hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực có hạn của một nền kinh tế
và Kinh tế học nghiên cứu vấn đề này
Trang 12Kinh tế học được định nghiã là môn khoa học nghiên cứu cách thức sử dụng và phân phối tốt nhất các nguồn lực để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của con người Đây là một định nghĩa rất tổng quát của
Kinh tế học và chúng ta có thể thấy rằng kinh tế học ra đời xuất phát
từ nguyên nhân sâu xa là tính khan hiếm của các nguồn lực
2 Đường giới hạn khả năng sản xuất:
Hầu hết các mô hình kinh tế đều được thiết lập dựa trên các công cụ toán học Ở đây, chúng ta sẽ xem xét một mô hình rất đơn giản biểu thị các ý tưởng kinh tế căn bản, được biết dưới tên gọi đường giới hạn khả năng sản xuất
Trong thực tế, một nền kinh tế sản xuất ra hàng ngàn loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau Tuy nhiên để đơn giản hóa vần đề, chúng ta hãy tưởng tượng một nền kinh tế chỉ sản xuất ra hai loại sản phẩm là
xe hơi và máy vi tính và cũng giả định rằng cả hai ngành công nghiệp
xe hơi và máy tính sử dụng toàn bộ các yếu tố sản xuất của nền kinh
tế Đường giới hạn khả năng sản xuất là một đồ thị mô tả tất cả các
phương án kết hợp về sản lượng (trong trường hợp này là xe hơi và
máy tính) mà nền kinh tế có khả năng thực hiện được với một số
lượng các yếu tố sản xuất và kỹ thuật sản xuất cho trước mà các doanh nghiệp có thể sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ
Trang 13Hình 1.1 mô tả một đường giới hạn khả năng sản xuất Trong nền kinh tế này, nếu tất cả các nguồn lực chỉ được sử dụng cho ngành công nghiệp xe hơi thì cả nền kinh tế sẽ sản xuất ra được 1000 chiếc
xe Nếu tất cả các nguồn lực chỉ được sử dụng cho ngành công nghiệp máy vi tính thì cả nền kinh tế sẽ sản xuất ra được 3000 máy Nếu nền kinh tế này phân bố các nguồn lực cho cả hai ngành công nghiệp thì
có rất nhiều khả năng về cơ cấu sản lượng có thể thực hiện được Điểm A (700 xe hơi và 2000 máy tính) là một trong các khả năng đó Tuy nhiên mức sản lượng không thể đạt đến điểm D vì nguồn lực của nền kinh tế là có hạn: nền kinh tế không thể có đủ các yếu tố sản xuất
để sản xuất ra mức sản lượng này Nói cách khác, nền kinh tế chỉ có
thể sản xuất ra các mức sản lượng nằm trên hoặc bên trong đường giới
hạn khả năng sản xuất, nhưng không thể sản xuất ra các mức sản lượng nằm bên ngoài đường này
Một nền kinh tế được gọi là hoạt động có hiệu quả nếu nó đạt
được một mức sản lượng cao nhất có thể,tương ứng với nguồn lực cho
trước Những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất biểu
thị sự hiệu quả của hoạt động sản xuất Một khi nền kinh tế đang sản
xuất tại điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất (như điểm
A), nếu muốn sản xuất thêm một số lượng sản phẩm nào đó thì chỉ có
Trang 14cách là phải giảm sản lượng của các sản phẩm khác Điểm B biểu thị
sự kém hiệu quả của nền sản xuất Vì một lý do nào đó có thể là do
thất nghiệp gia tăng, nền kinh tế chỉ sản xuất được mức sản lượng thấp hơn mức cao nhất mà nền kinh tế có thể đạt được tương ứng với nguồn lực cho trước: chỉ sản xuất ra được 300 xe hơi và 1000 máy tính Nếu loại trừ được các nguyên nhân làm cho hiệu quả kém, phối hợp về sản lượng của nền kinh tế có thể dịch chuyển từ điểm B đến điểm A làm gia tăng sản lượng của cả hai ngành công nghiệp xe hơi
Một nguyên tắc kinh tế căn bản là: chi phí của một hoạt động bất kỳ chính là những gì mà chúng ta phải từ bỏ để đạt được kết quả của hoạt động này Đây chính là chi phí cơ hội Đường giới hạn khả năng sản xuất cho thấy chi phí cơ hội của một hàng hóa được đo lường bằng một hàng hóa khác Khi xã hội thay đổi cơ cấu sử dụng các yếu tố sản xuất, cụ thể là tăng sử dụng các yếu tố sản xuất trong ngành công nghiệp vi tính và giảm tương ứng việc sử dụng này trong ngành công nghiệp xe hơi, tức là di chuyển từ điểm A sang điểm C trên đường giới hạn khả năng sản xuất, xã hội phải từ bỏ 100 xe hơi để nhận thêm 200 máy tính Nói cách khác, khi nền kinh tế hoạt động tại điểm A thì chi phí cơ hội của 200 máy vi tình là 100 xe hơi
Trang 15Lưu ý rằng đường giới hạn khả năng sản xuất trên hình 1.1 có dạng một đường cong lồi Điều này có nghĩa là chi phí cơ hội của xe hơi đo lường bằng số lượng máy vi tính phụ thuộc vào số lượng của mỗi loại hàng hóa đang được sản xuất trong nền kinh tế Khi xã hội đang sử dụng phần lớn các nguồn lực để sản xuất xe hơi, đường giới hạn khả năng sản xuất có độ dốc khá lớn, bởi vì có khả năng là nhân công và máy móc thích hợp hơn cho việc sản xuất máy vi tính lại được
sử dụng để sản xuất xe hơi…
Đường giới hạn khả năng sản xuất cho thấy sự đánh đổi trong việc sản xuất các hàng hóa khác nhau tại một thời điểm Tuy nhiên, sự đánh đổi này có thể thay đổi theo từng thời điểm khác nhau Chẳng hạn như khi công nghệ sản xuất của ngành công nghiệp vi tính phát triển cho phép gia tăng số lượng máy vi tính do một công nhân sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, thì nền kinh tế vẫn có thể sản xuất
ra nhiều máy vi tính hơn trong khi vẫn giữ nguyên sản lượng xe hơi như cũ Trong trường hợp này, có thể dịch chuyển khả năng sản xuất
từ điểm A sang điểm E, tức là cả sản lượng xe hơi và máy vi tính đều tăng
Đường giới hạn khả năng sản xuất đơn giản hóa cách giải thích
sự hoạt động của một nền kinh tế vốn dĩ phức tạp và làm sáng tỏ một
Trang 16số ý tưởng căn bản Chúng ta sử dụng đường giới hạn khả năng sản xuất để minh họa cho các khái niệm kinh tế rất căn bản: sự khan hiếm, tính hiệu quả, sự đánh đổi, chi phí cơ hội và tăng trưởng kinh tế
3 Sơ đồ các dòng chu chuyển kinh tế:
Một nền kinh tế bao gồm hơn triệu người, thực hiện các hoạt động kinh tế rất da dạng: mua bán, sản xuất, lao động, thuê mướn…
Để hiểu được một nền kinh tế hoạt động như thế nào, ta phải tìm cách đơn giản hóa các hoạt động đó và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định
Trang 17Hình 1.3 mô tả hình của một nền kinh tế, thường được gọi là sơ
đồ các dòng chu chuyển Trong mô hình này, nền kinh tế có hai nhóm người ra quyết định: các hộ gia đình và các doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ, sử dụng các yếu tố đầu vào như lao động, đất đai và vốn
(bao gồm nhà xưởng và máy móc) Các yếu tố đầu vào
này gọi là các yếu tố sản xuất
- Các hộ gia đình sở hữu các yếu tố sản xuất này và họ tiêu dùng toàn bộ các hàng hóa và dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra
Các doanh nghiệp và các hộ gia đình tác động qua lại với nhau trên hai loại thị trường Trên thị trường các hàng hóa và dịch vụ, các
hộ gia đình là người mua và các doanh nghiệp là người bán Trên thị trường các yếu tố sản xuất, các hộ gia đình là người bán và các doanh nghiệp là người mua Trên thị trường này, hộ gia đình cung cấp cho các doanh nghiệp các yếu tố đầu vào để các doanh nghiệp sản xuất ra các hàng hóa và dịch vu Sơ đồ các dòng chu chuyển cho chúng ta cái nhìn đơn giản về cách thức tổ chức của các giao dịch kinh tế xảy ra giữa các hộ gia đình và các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Các mũi tên biểu thị các dòng hàng hóa và dịch vụ chu chuyển giữa các hộ gia đình và các doanh nghiệp Các hộ gia đình bán quyền sử dụng lao động, đất đai và vốn cho các doanh nghiệp trên thị trường các yếu tố sản xuất Sau đó, các doanh nghiệp sử dụng các yếu
tố này để sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ, để rồi lại bán các hàng hóa và dịch vụ này lại cho các hộ gia đình Do đó, các yếu tố sản xuất dịch chuyển từ các hộ gia đình đến các doanh nghiệp sản xuất; các
Trang 18hàng hóa và dịch vụ dịch chuyển từ các doanh nghiệp đến các hộ gia đình
Các mũi tên biểu thị các dòng tiền tương ứng Các hộ gia đình trả tiền để mua các hàng hóa và dịch vụ từ các doanh nghiệp Các doanh nghiệp sử dụng một phần doanh thu bán hàng để chi trả cho các yếu tố sản xuất như tiền lương cho người lao động chẳng hạn Phần còn lại chính là lợi nhuận của chủ doanh nghiệp, chính họ cũng là thành viên của các hộ gia đình Do đó, dòng tiền chi trả cho các doanh nghiệp và thu nhập dưới dạng tiền lương, tiền thuê, lợi nhuận dịch chuyển từ các doanh nghiệp đến hộ gia đình
Bây giờ chúng ta hãy theo dõi cách thức di chuyển của một đồng tiền trong sơ đồ chu chuyển của chúng ta như thế nào Hãy tưởng tượng rằng đơn vị tiền này bắt đầu từ một hộ gia đình Nếu họ muốn mua một đôi giày từ tiệm bán giày thì họ đã bỏ một số tiền vào thị trường các hàng hóa và dịch vụ Khi việc mua bán xảy ra, một số
tiền dịch chuyển từ hộ gia đình đến nhà sản xuất giày (doanh nghiệp)
và trở thành doanh thu của nhà sản xuất này Tuy nhiên, số tiền này không dừng lại lâu ở nhà sản xuất giày bởi vì họ sẽ sử dụng nó để mua
các yếu tố đầu vào trong thị trường các yếu tố sản xuất (trả tiền thuê
mặt bằng, trả lương cho công nhan, mua vật liệu…) Trong trường
hợp này, số tiền trên sẽ trở thành thu nhập của các hộ gia đình khác Một lần nữa, số tiền này lại được chi tiêu cho các nhu cầu khác và một vòng luân chuyển khác lại bắt đầu
Sơ đồ các vòng chu chuyển kinh tế trên đây là một mô hình đơn giản về một nền kinh tế Mô hình các dòng chu chuyển sẽ phức tạp và sát với thực tế hơn nếu chúng ta thêm vào mô hình này vai trò của nhà
Trang 19không cần thiết phải đưa vào vì chúng ta đang nghiên cứu sự vận hành rất căn bản của một nền kinh tế Vì đây là một sơ đồ chu chuyển đã được đơn giản hóa nên nó chỉ giúp cho chúng ta hình dung được một cách khái quát sự tác động qua lại như thế nào của các bộ phận trong một nền kinh tế
4 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô:
Kinh tế học được nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau Chúng
ta có thể nghiên cứu việc ra quyết định của các hộ gia đình và các doanh nghiệp, hoặc nghiên cứu tác động qua lại của các doanh nghiệp
và các hộ gia đình trên thị trường của một loại hàng hóa và dịch vụ nhất định, hoặc chúng ta có thể nghiên cứu hoạt động của tất cả những người ra quyết định trong tất cả các loại thị trường
Thông thường, Kinh tế học được chia thành hai nhánh lớn:
- Kinh tế học vi mô nghiên cứu cách thức ra quyết định và
sự tác động qua lại giữa các doanh nghiệp và các hộ gia đình trên các loại thị trường nhất định
- Kinh tế học vĩ mô: nghiên cứu các hiện tượng trong tổng thế của một nền kinh tế Một nhà kinh tế vi mô có thể nghiên cứu các tác động của chính sách kiểm soát giá cả đối với một sản phẩm, tác động của cạnh tranh nước ngoài đối với một loại hàng hóa nội địa, hoặc tác động của chính sách thuế đối với giá cả và sản lượng của một loại sản phẩm Nhà kinh tế học vĩ mô có thể nghiên cứu tác động của các khoản nợ đối với một quốc gia, hoặc nghiên cứu tỷ lệ thất nghiệp của một nền kinh tế, hoặc
Trang 20các chính sách để có thể làm gia tăng mức sống của các tầng lớp dân cư trong một quốc gia
Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô có quan hệ rất chặt chẽ với nhau Các biến động trong một nền kinh tế đều là kết quả của hàng triệu các quyết định của các cá nhân trong nền kinh tế đó Sẽ không thể hiểu được sự phát triển về mặt vĩ mô của một nền kinh tế nếu không biết được các quyết định thuộc về kinh tế vi mô Ví dụ như một nhà kinh tế học vĩ mô có thể nghiên cứu tác động của việc giảm thuế thu nhập của một quốc gia đối với sản lượng của các hàng hóa và dịch
vụ Để phân tích được điều này, họ phải xem xét tác động của sự giảm thuế đối với quyết định chi tiêu của các hộ gia đình như thế nào
5 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc:
Nhà kinh tế học thường được yêu cầu giải thích nguyên nhân của các hiện tượng kinh tế, ví dụ như tại sao tỷ lệ thất nghiệp trong giới trẻ lại cao hơn so với người lớn tuổi hơn? Đôi khi, các nhà kinh tế học còn được yêu cầu đưa ra một số chính sách nhằm cải thiện nền kinh tế, chẳng hạn như nhà nước phải làm thế nào để cải thiện tình trạng thất nghiệp trong giới trẻ? Khi nhà kinh tế học tìm ra cách giải thích các hiện tượng kinh tế thì họ là một nhà khoa học, còn khi họ tìm cách cải thiện nền kinh tế thì học là nhà tư vấn về chính sách kinh
Trang 21P: Quy định tiền lương tối thiểu gây ra nạn thất nghiệp
N: Chính phủ nên tăng lương tối thiểu
Chúng ta khoan hãy nói đồng ý hay không các tuyên bố trên của hai người này mà hãy chú ý đến sự khác biệt của việc họ muốn làm P tuyên bố như nhà khoa học, anh ta muốn giải thích một hiện tượng khách quan N phát biểu như một nhà tư vấn, anh ta muốn đưa một giải pháp để thay đổi một thực trạng
Một cách tổng quát, có hai loại phát biểu: Loại thứ nhất gọi là phát biểu thực chứng, đó là một sự mô tả, một sự giải thích các hiện tượng Loại thứ hai gọi là phát biểu chuẩn tắc, đó là một đòi hỏi, một yêu cầu mà chúng ta cần phải làm
Sự khác biệt căn bản giữa hai loại phát biểu trên là ở chỗ làm thế nào để kiểm chứng tính đúng đắn của chúng Về mặt nguyên tắc, chúng ta có thể chấp nhận hay bài bác phát biểu thực chứng trên bằng cách xem xét các chứng cứ Một nhà kinh tế học có thể đánh giá phát biểu của P bằng cách phân tích các số liệu về mức thay đổi của tiền lương tối thiểu và mức thất nghiệp trong hai giai đoạn khác nhau Ngược lại, để đánh giá một phát biểu chuẩn tắc cần đòi hỏi phải phân tích trên bằng nhiều mặt chứ không thể chỉ sử dụng các số liệu thống
kê Việc đánh giá một chính sách là tốt hay không tốt không phải là công việc của riêng một nhà khoa học mà nó còn phụ thuộc phạm trù đạo đức, tôn giáo và tư tưởng chính trị
Đương nhiên là các phát biểu thực chứng và chuẩn tắc có liên quan với nhau Quan điểm thực chứng về các hiện tượng khách quan
có tác động liên quan đến quan điểm chuẩn tắc về lựa chọn chính sách Trong ví dụ trên, phát biểu của P về việc tiền lương tối thiểu gây
Trang 22ra nạn thất nghiệp có thể dẫn đến việc loại bỏ đề xuất của N là Chính phủ phải tăng lương tối thiểu Các kết luận chuẩn tắc chưa thể xác lập được nếu chỉ nhờ vào các phân tích thực chứng, mà nó còn đòi hỏi phải có sự kiểm chứng
Khi nghiên cứu kinh tế học, chúng ta phải hiểu rõ sự khác biệt giữa các phát biểu thực chứng và các phát biểu chuẩn tắc Phần lớn các nhà kinh tế học chỉ cần tìm cách giải thích các hiện tượng kinh tế, nhưng mục tiêu chính yếu của kinh tế học lại là cải thiện tình trạng kinh tế Khi một nhà kinh tế học đưa ra một phát biểu mang tính chuẩn tắc thì ta biết rằng họ đang chuyển từ tư cách một nhà khoa học sang tư cách một nhà tư vấn chính sách
6 Cơ cấu thị trường:
Đến đây các bạn đã có một số khái niệm về Kinh tế học Do Kinh tế học vi mô được học trước Kinh tế học vĩ mô nên chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về cơ cấu thị trường trong bài này để có thể học bài 2 – bài đầu tiên của môn Kinh tế vi mô
Để nghiên cứu những vần đề của Kinh tế học vi mô, các nhà kinh tế thường chia thị trường thành 4 loại:
1 Cạnh tranh hoàn toàn
2 Độc quyền hoàn toàn
3 Cạnh tranh độc quyền
4 Thiểu số độc quyền
Trang 23Trong 4 loại cơ cấu thị trường kể trên thì thị trường cạnh tranh hoàn toàn hầu như không tồn tại trong thực tế mà được coi như là điều kiện tiêu chuẩn trong phòng thí nghiệm Đó là thị trường có những đặc điểm như sau:
- Có nhiều người bán và nhiều người mua
- Hàng hóa được mua bán trên thị trường là đồng nhất về kiểu dáng và số lượng
- Sự rút lui khỏi thị trường và gia nhập vào thị trường của các doanh nghiệp rất dễ dàng
- Không có những can thiệp mang tính chất chủ quan của một cá nhân, của một tổ chức hay của Nhà nước đối với cung – cầu – giá cả của sản phẩm và thông tin trên thị trường là hoàn hảo
Nhưng vậy dù với tư cách là người bán hay người mua, không
ai có thể có quyền quyết định mức giá bán mà chỉ là người chấp nhận giá hình thành trên thị trường Thị trường của một số loại nông sản được coi là rất gần giống với thị trường cạnh tranh hoàn toàn
Ngược lại với thị trường cạnh tranh hoàn toàn, thị trường độc quyền hoàn toàn chỉ có một doanh nghiệp duy nhất nên doanh nghiệp
có quyền chủ động rất lớn trong việc định giá sản phẩm Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp độc quyền hoàn toàn có thể định giá tùy ý cao bao nhiêu cũng được Doanh nghiệp phải dựa vào nhu cầu của người mua để định mức giá thích hợp, tức phải tính đến khả năng chi trả của người mua Thị trường điện, nước được coi là thị trường độc quyền hoàn toàn
Trang 24Thị trường cạnh tranh độc quyền và thiểu số độc quyền là hai loại cơ cấu thị trường thường gặp trong thực tế Cạnh tranh độc quyền
là cơ cấu thị trường có những đặc điểm giống với thị trường cạnh tranh hoàn toàn hơn trong khi thị trường thiểu số độc quyền có những đặc điểm giống với thị trường độc quyền hoàn toàn hơn Nói cách khác, cạnh tranh độc quyền là cơ cấu thị trường được pha trộn hai yếu
tố cạnh tranh và độc quyền nhưng phần cạnh tranh nhiều hơn và ngược lại thiểu số độc quyền có yếu tố độc quyền nhiều hơn là cạnh tranh Thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều người bán trong khi thị trường thiểu số độc quyền chỉ có một số ít hãng Vì thế, việc gia nhập vào thị trường cạnh tranh độc quyền dễ dàng hơn là gia nhập vào thị trường thiểu số độc quyền
Trang 25TÓM TẮT BÀI 1
1 Sự khan hiếm là nguyên nhân chính của sự ra đời và phát triển
của Kinh tế học
2 Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu cách thức sử dụng và
phân phối tốt nhất các nguồn lực để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của con người
3 Để giải thích các hiện tượng kinh tế, các nhà kinh tế học đưa ra
các giả thuyết và xây dựng các mô hình kinh tế thích hợp Sơ đồ các dòng chu chuyển kinh tế và đường giới hạn khả năng sản xuất là một trong số các mô hình đó
4 Kinh tế học được chia thành hai nhánh lớn là Kinh tế vi mô và
Kinh tế vĩ mô, nghiên cứu hành vi của các hộ gia đình, các doanh nghiệp và sự tác động qua lại của hai nhóm người này trên thị trường Kinh tế vĩ mô nghiên cứu các hiện tượng trong tổng thể một nền kinh tế
5 Kinh tế học thực chứng giải thích các hiện tượng kinh tế, còn
kinh tế học chuẩn tắc thể hiện các đòi hỏi, yêu cầu phải thực hiện để nền kinh tế có thể hoạt động tốt hơn
Trang 26CÂU HỎI TỰ LUẬN
1 Nêu lý do tồn tại của Kinh tế học Trong điều kiện nào thì môn
học này không tồn tại?
2 Vì sao đường giới hạn khả năng sản xuất có dạng là một đường
cong lồi?
3 Kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô khác nhau như thế nào?
4 Tại sao doanh nghiệp hoạt động trên thị trường cạnh tranh hoàn
toàn không có quyền quyết định giá bán sản phẩm?
Trang 27CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
1 Hãy cho biết ý nào dưới đây thuộc lĩnh vực kinh tế vi mô?
a Giá xăng tăng làm cho nhu cầu về xe máy giảm xuống
b Tác động của sự điều chỉnh chính sách tiền lương đối với sức mua của xã hội
c Tác động của việc gia tăng tiết kiệm quốc gia đối với việc tăng trưởng kinh tế
d Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và lượng tiền trong lưu thông
2 Phát biểu nào dưới đây thuộc về kinh tế học thực chứng?
a Giảm tỷ lệ tăng của lượng tiền đưa vào lưu thông sẽ làm giảm tỷ lệ lạm phát
b Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải giảm tỷ lệ tăng của lượng tiền đưa vào lưu thông
c Nhà nước phải điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao thông qua chính sách thuế thu nhập
d Lạm phát là nguyên nhân làm cho thu nhập thực tế của dân cư giảm
Trang 28TRẢ LỜI
A Câu hỏi tự luận:
1 Kinh tế học ra đời và phát triển là do có sự khan hiềm nguồn
lực Nếu không có sự khan hiếm thì Kinh tế học không tồn tại
2 Vì độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất biểu thị cho
chi phí cơ hội, mà chi phí cơ hội tăng dần khi tăng sản lượng của một trong hai loại sản phẩm được biểu thị trên đồ thị Do một đường cong lõm có độ dốc giảm dần nên sẽ không biểu thị được điều này
3 Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô khác nhau ở cách tiếp
cận vấn đề nghiên cứu Cùng nghiên cứu giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn lực nhưng Kinh tế học vi mô nghiên cứu cách lựa chọn sử dụng nguồn lực của các cá nhân, người tiêu dùng và các doanh nghiệp trên từng thị trường Nói cách khác kinh tế học vi mô chỉ nghiên cứu những hoạt động diễn ra trong từng phần của nền kinh tế Trong khi đó, Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế như là một tổng thể nên quan tâm đến các hoạt động diễn ra trong toàn bộ nền kinh tế
4 Do quy mô của mỗi doanh nghiệp là rất nhỏ so với quy mô của
thị trường, hay nói cách khác số lượng hàng mà mỗi doanh nghiệp bán ra thị trường là rất nhỏ so với tổng số lượng hàng được bán trên thị trường nên doanh nghiệp không đủ khả năng chi phối giá bán trên thị trường
Trang 29B Câu hỏi trắc nghiệm:
1 a: vì chỉ đề cập đến hành vi của người tiêu dùng gắn với một
loại hàng hóa cụ thể
2 d: vì chỉ đưa ra lý do để giải thích vì sao thu nhập thực tế của
dân cư giảm mà không đưa ra lời chỉ dẫn nên làm thế nào để giải quyết vấn đề thu nhập thực tế giảm
Trang 30PHẦN I:
VẬN HÀNH CỦA THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH
BÀI 2:
CẦU, CUNG VÀ GIÁ THỊ TRƯỜNG
Với bài “Cầu, cung và giá thị trường” các bạn bắt đầu những bước đi đầu tiên trên con đường tìm hiểu môn Kinh tế vi mô Như tựa
đề, bài này giới thiệu khái quát 3 khái niệm căn bản trong lý thuyết Kinh tế vi mô là:
1 Cầu thị trường của một hàng hóa
2 Cung thị trường của một hàng hóa
3 Giá thị trường của một hàng hóa
Trong bài này các bạn cũng sẽ thấy giá thị trường của một hàng hóa hình thành như thế nào và thay đổi ra sao khi cầu và cung của hàng hóa thay đổi
I MỤC TIÊU:
Sau khi học xong bài này, các bạn phải có khả năng giải thích được các hiện tượng xảy ra trên thị trường của các loại hàng hóa Vì
Trang 31II YÊU CẦU:
Để học bài này dễ dàng hơn, bạn cần trang bị trước những kiến thức sau:
- Về toán: hàm số, cách vẽ đồ thị, giải phương trình bậc 1, đạo hàm
- Về kinh tế học: đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn toàn
- Về kiến thức tổng quát: diễn biến giá trị thị trường của một số loại hàng hóa
III NỘI DUNG CHÍNH:
1 Cầu thị trường của một loại hàng hóa:
Khái niệm cầu của một loại hàng hóa gồm 3 ý chính:
Trang 32- Những số lượng mà người mua sẵn lòng mua tương ứng với những mức giá khác nhau của hàng hóa đó Thông
thường nếu giá tăng, số lượng mua hay số lượng cầu sẽ giảm và ngược lại Mối quan hệ nghịch biến giữa giá và
số lượng cầu có tính quy luật và được gọi là quy luật cầu
- Trong một khoảng thời gian xác định, nếu không giới hạn
thời gian thì không thể xác định được số lượng cầu vì với cùng một mức giá, số lượng mua trong khoảng thời gian dài thường sẽ nhiều hơn trong khoảng thời gian ngắn
- Giả định những điều kiện khác giữ nguyên, những số
lượng mua một hàng hóa nào đó cũng không chịu tác động của yếu tố giá mà còn chịu tác động của nhiều yếu
tố khác nữa Khi phân tích tác động của giá đến số lượng cầu cần giả định các yếu tố khác không đổi mới thấy được giá ảnh hưởng như thế nào đến cầu
2 Hàm cầu, biểu cầu và đường cầu:
Hàm cầu có dạng tổng quát là:
Q D = f(P) hoặc P= f(Q D )
Trong đó P là giá của hàng hóa đó và QD là số lượng cầu
Ví dụ: QD = -10P + 100 hay P = -1/10 QD +10
Trang 33Bảng 2.1: Biểu cầu hàng hóa X
Hàm cầu còn có thể được biểu thị dưới dạng một biểu cầu, ví dụ như bảng 2.1 Đường cầu thường có dạng là một đường dốc xuống
phản ánh quy luật cầu: “khi giá giảm thì lượng cầu tăng và ngược
lại” Ví dụ như hình 2.1
3 Đường cầu dịch chuyển:
Đường cầu chỉ cho thấy mối quan hệ giữa những số lượng cầu với giá của hàng hóa đó Nhưng những số lượng mua trong một thời
kỳ nào đó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nữa Bất kỳ yếu
tố nào có ảnh hưởng đến cầu không phải là giá của chính hàng hóa
đó đều làm cho đường cầu dịch chuyển sang vị trí khác
Các bạn hãy xem hình 2.2, chẳng hạn như do thu nhập bình quân của dân cư tăng nên ở mức giá P1 , những người mua sẽ mua số lượng Q’1 nhiều hơn Q1 và ở mức giá P2, những người mua sẽ mua số lượng Q’2 nhiều hơn Q2 Điều này sẽ diễn ra tương tự ở những mức
Trang 34giá khác, tức là khi thu nhập tăng số lượng mua sẽ nhiều hơn ứng với những mức giá như trước Do vậy đường cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải đường cũ
Đến đây, các bạn cần phân biệt sự khác nhau giữa số lượng cầu
và cầu Khi số lượng mua thay đổi do tác động của giá hàng hóa đó thì
sự thay đổi này được biểu thị trên chính đường cầu hiện có, đó là sự thay đổi của số lượng cầu
Khi các yếu tố khác không phải là giá hàng hóa đó thay đổi thì đường cầu sẽ dịch chuyển sang vị trí khác, đó là sự thay đổi của cầu
Để xem mình đã phân biệt được cầu và số lượng cầu hay chưa, các bạn hãy thử trả lời câu hỏi này Khi giá của thịt gà tăng, cầu thịt
bò thay đổi hay số lượng cầu thịt bò thay đổi? Đường cầu thịt bò dịch chuyển hay ở nguyên vị trí cũ? Do giá thịt gà thay đổi có ảnh hưởng đến số lượng mua thịt bò chứ không phải do giá thịt bò thay đổi nên cầu thịt bò thay đổi và đường cầu thịt bò sẽ dịch chuyển
Trang 354 Cung thị trường của một loại hàng hóa:
Khái niệm cung cũng gồm có 3 ý chính như khái niệm cầu nhưng những số lượng mà các doanh nghiệp dự định bán gọi là số lượng cung có quan hệ đồng biến với giá của hàng hóa đó Mối quan
hệ này có tính quy luật và được gọi là quy luật cung
Bảng 2.2: Biểu cung hàng hóa X
Ví dụ: Hàm cung của hàng hóa X là QS = 5P + 2 S
Khác với hàm cầu, trước biến số P của hàm cung không có dấu trừ Do đó đường cung có dạng là một đường dốc lên chứ không dốc xuống như đường cầu
5 Đường cung dịch chuyển:
Tương tự như đường cầu, đường cung cũng sẽ dịch chuyển đi vị trí khác do tác động của các yếu tố khác với giá của chính hàng hóa
Trang 36Hình 2.4 cho thấy đường cung dịch chuyển sang bên phải nên cung tăng chứ không phải là số lượng cung tăng Vậy yếu tố nào có thể làm cho cung tăng? Có thể là do điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn nên cung tăng vì trúng mùa
6 Giá cân bằng của thị trường:
Trong ngắn hạn, khi các yếu tố khác được giữ nguyên, giá thị trường thường thay đổi sẽ làm cho số lượng cầu thay đổi theo quy luật cầu và số lượng cung thay đổi theo quy luật cung Khi số lượng cầu và
số lượng cung bằng nhau, thị trường đạt được cân bằng Giá tương ứng với số lượng cầu và số lượng cung bằng nhau là giá cân bằng
Trên đồ thị, giá cân bằng được xác định tại giao điểm của hai đường cung và cầu Các bạn xem hình 2.5 sẽ thấy P là giá cân bằng Vậy ở những mức giá khác, thị trường sẽ như thế nào?
Bất kỳ mức giá nào cao hơn P thị trường cũng bị thừa hàng hóa
và bất kỳ mức giá nào thấp hơn P thị trường cũng bị thiếu hàng hóa
Trang 377 Thay đổi giá cân bằng:
Khi không còn áp lực của giá làm thay đổi số lượng cầu và số lượng cung, nếu có sự thay đổi của các yếu tố khác làm cho đường cầu, đường cung dịch chuyển thì giá cân bằng sẽ thay đổi
Ví dụ: Hình 2.6 cho thấy: nếu cầu tăng mà cung không đổi thì giá cân
bằng và số lượng cân bằng đều tăng
Trang 38
Hình 2.7 cho thấy nếu cung tăng mà cầu không đổi thí giá cân bằng giảm, nhưng số lượng cân bằng tăng
Theo các bạn, có thể nào xảy ra trường hợp cả hai đường cung
và cầu đều dịch chuyển mà giá cân bằng không đổi hay không? Đó là khi hai đường cầu và cung dịch chuyển sang cùng một bên phải hoặc trái của chúng với khoảng cách như nhau Bạn hãy vẽ đồ thị và sẽ thấy ngay điều này
Trang 39TÓM TẮT BÀI 2
1 Đường cầu cho biết mối quan hệ giữa những số lượng cầu và
giá của hàng hóa đó Đường cung cho biết mối quan hệ giữa những số lượng cung và giá của hàng hóa đó
2 Đường cầu, đường cung dịch chuyển khi có tác động của các
yếu tố không phải giá của hàng hóa đó
3 Mức giá tương ứng với số lượng cung cầu bằng số lượng gọi là
giá cân bằng Giá cân bằng sẽ thay đổi khi đường cung, đường cầu dịch chuyển
Sau khi đã nắm vững nội dung chính của bài này, các bạn hãy trả lời các câu hỏi và làm bài tập để tự đánh giá kết quả học tập của mình Những câu hỏi tự luận giúp các bạn khai thác sâu hơn nội dung bài học và những câu hỏi trắc nghiệm giúp các bạn rèn luyện kỹ năng làm bài thi Những câu hỏi và bài tập giới thiệu ở đây chỉ ở mức trung bình Các bạn có thể tìm thêm những câu hỏi và bài tập ở mức khó theo hướng dẫn ở phần tài liệu tham khảo
Trang 40CÂU HỎI TỰ LUẬN
1 Tại sao đường cung của một loại hàng hóa thường có dạng là
một đường dốc lên?
2 Bạn hãy giải thích tình trạng “trúng mùa, rớt giá” của một số
loại nông sản
3 Vì sao giá các loại hoa vào ngày lễ cao hơn ngày thường, nhưng
người mua vẫn mua nhiều hơn?
4 Giá P trên hình 2.8 có phải là giá cân bằng hay không? Giải
thích cho câu trả lời của bạn