Trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch trên thế giới và Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội định nghĩa: "Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ HOÀNG TÂN
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ HOÀNG TÂN
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ NHƯ LIÊM
Đà Nẵng - Năm 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là do tôi thực hiện
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những điều đã trình bày trong luận văn
Tác giả
Lê Hoàng Tân
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH 4
1.1.1 Khái niệm và các đặc trưng của hoạt động du lịch 4
1.1.2 Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội 10
1.1.3 Các loại hình du lịch và các lĩnh vực kinh doanh trong du lịch 11
1.1.4 Các điều kiện phát triển du lịch 13
1.2 NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH 20
1.2.1 Phân tích môi trường 20
1.2.2 Xác định quan điểm 21
1.2.3 Thiết lập hệ thống mục tiêu 24
1.2.4 Chiến lược phát triển theo ngành và theo lãnh thổ 25
1.2.5 Xác định các giải pháp thực hiện chiến lược 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG THỜI GIAN QUA (GIAI ĐOẠN 2006 – 2010) 32
2.1 VỊ TRÍ CỦA DU LỊCH QUẢNG NGÃI 32
2.1.1 Vị trí của du lịch Quảng Ngãi trong chiến lược phát triển du lịch quốc gia32 2.1.2 Vị trí của du lịch trong quy hoạch phát triển KT - XH của tỉnh 33
2.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 33
2.2.1 Tài nguyên du lịch 33
2.2.2 Điều kiện tự nhiên 36
2.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
Trang 52.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH QUẢNG NGÃI 39
2.3.1 Khách du lịch 41
2.3.2 Doanh thu du lịch 43
3.3.3 Hoạt động lưu trú và kinh doanh lữ hành 44
2.3.4 Cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch và khai thác các tuyến du lịch 45
2.3.5 Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch 48
2.3.6 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 50
2.3.7 Đầu tư cho ngành du lịch 51
2.3.8 Nguồn nhân lực ngành du lịch 57
2.4 NHẬN ĐỊNH NHỮNG ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI, THÁCH THỨC60 2.4.1 Điểm mạnh 60
2.4.2 Điểm yếu 61
2.4.3 Cơ hội 62
2.4.4 Thách thức 64
CHƯƠNG 3: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẾN NĂM 2020 66
3.1 CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC 66
3.1.1 Chiến lược phát triển du lịch quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 66
3.1.2 Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 – 2020 67
3.1.3 Đánh giá môi trường 71
3.1.4 Phân tích các nguồn lực phát triển du lịch 74
3.2 NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH 82
3.2.1 Quan điểm và định hướng phát triển 82
3.2.2 Mục tiêu cơ bản 85
3.2.3 Thiết kế phương án chiến lược phát triển du lịch 89
3.2.4 Giải pháp thực hiện chiến lược phát triển du lịch 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
Trang 72.3 Doanh thu du lịch Quảng Ngãi giai đoạn 2006 – 2010 43
2.4 Tỷ trọng GDP du lịch trong cơ cấu GDP của Quảng Ngãi 44
2.5 Tình hình thu hút đầu tư phát triển giai đoạn 2006 – 2010 52
2.6 Cơ cấu vốn đầu tư vào ngành du lịch Quảng Ngãi giai đoạn
3.2 Dự báo nhu cầu và khả năng huy động vốn đầu tư toàn xã
3.3 Dự báo nguồn lao động tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 -
3.4 Dự báo một số chỉ tiêu phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển KT - XH của đất nước và ngày càng khẳng định vị trí là ngành kinh tế “mũi nhọn” trong nền kinh tế quốc dân Do những đặc trưng của ngành, sự phát triển du lịch còn có những tác động thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh
tế khác, có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực về văn hóa, xã hội, môi trường, hợp tác và đối ngoại Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, ngành du lịch đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi phải có những quyết sách phù hợp trong hoạch định chiến lược
Quảng Ngãi là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Miền Trung, có tiềm năng để phát triển du lịch, nhất là các loại hình du lịch sinh thái; nghỉ dưỡng biển, đảo; tham quan di tích lịch sử - văn hóa và thắng cảnh Năm 2001, tỉnh đã tiến hành xây dựng và tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2010 Đây
là cơ sở quan trọng định hướng cho các hoạt động du lịch trong giai đoạn này Trong những năm gần đây, du lịch Quảng Ngãi đã đạt được những kết quả bước đầu, thể hiện ở nhận thức về du lịch của các cấp, ngành được nâng lên; cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật từng dần được cải thiện; từng bước hình thành các sản phẩm du lịch; lượng khách du lịch tăng qua các năm; doanh thu du lịch tăng đều hàng năm, đóng góp vào GDP của tỉnh ngày càng lớn; thu hút được một số dự án lớn và giải quyết hàng nghìn lao động Ngành du lịch đã dần khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển KT - XH của tỉnh
Tuy nhiên, ngành du lịch tỉnh vẫn còn chậm phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng, thể hiện ở lượng du khách và doanh thu từ du lịch còn thấp; sản phẩm, dịch vụ chưa hấp dẫn; năng lực thu hút đầu tư, cơ sở hạ tầng và sức cạnh tranh còn hạn chế; mức đóng góp vào GDP của tỉnh chưa cao; công tác quản lý nhà nước, môi trường kinh tế, pháp luật, xã hội và chính sách thực hiện chưa thúc đẩy sự phát triển, chưa khai thác hiệu quả được tiềm năng và chưa theo kịp với tình hình mới
Trang 9Hiện nay, du lịch đang đứng trước những vận hội mới, được kế thừa những thành tựu nhưng cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức do tình hình thế giới, bối cảnh đất nước và những yếu tố nội tại của địa phương Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng ngành du lịch Quảng Ngãi trong thời gian qua để làm cơ sở xây dựng chiến lược phát triển phù hợp, đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển KT - XH của tỉnh là một yêu cầu thực tế Xuất
phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn đề tài: "Chiến lược phát triển du lịch tỉnh
Quảng Ngãi đến năm 2020" để nghiên cứu là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về du lịch và chiến lược phát triển du lịch
- Đánh giá thực trạng ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2006 - 2010
- Xây dựng chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 và đề
ra giải pháp để thực hiện chiến lược
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi + Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2006 - 2010 Xây dựng chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm
2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
- Phương pháp thống kê, khảo sát, phân tích và tổng hợp
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Về lý luận: Hệ thống lý luận cơ bản về du lịch và chiến lược phát triển du lịch
Trang 10- Về thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn
2006 - 2010, trên cơ sở đó xây dựng chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 và đề xuất giải pháp thực hiện chiến lược
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về du lịch và chiến lược phát triển du lịch
Chương 2: Thực trạng ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua (giai
đoạn 2006 - 2010)
Chương 3: Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020
Trang 11Tuy nhiên, khái niệm “du lịch” được hiểu rất khác nhau [2, tr 5-7], như:
- Xuất phát từ ngữ nghĩa của từ "Du lịch": Trong ngôn ngữ tiếng Anh, Pháp,
Nga sử dụng các từ Tourism, Le Toursime, Typuzm Do đó "du lịch" có nghĩa: khởi hành, đi lại, chinh phục không gian Ở Đức sử dụng từ Derfremdenverkehrs có nghĩa là lạ, đi lại và mối quan hệ
- Xuất phát từ các đối tượng và nhiệm vụ của các đối tượng tham gia "Hoạt
động du lịch": Đối với người đi du lịch thì đó là cuộc hành trình và lưu trú ở một
địa danh ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mình Đối với chủ cơ sở kinh doanh du lịch thì đó là quá trình tổ chức các điều kiện sản xuất, dịch vụ phục vụ người đi du lịch nhằm đạt lợi nhuận tối đa Đối với chính quyền địa phương thì đó là việc tổ chức các điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, kỹ thuật để phục vụ du khách; tổ chức các hoạt động đa dạng giúp đỡ việc lưu trú, hành trình của du khách; tổ chức tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại địa phương, tăng nguồn thu cho ngân sách, nâng cao mức sống của dân cư; tổ chức các hoạt động quản lý hành chính nhà nước bảo vệ môi trường tự nhiên, xã hội của vùng
- Xuất phát từ quan niệm và giác độ quan tâm của những người đưa ra định nghĩa: Theo GS.TS Hunziker cho rằng: "Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, hiện
tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan
Trang 12đến hoạt động kiếm lời" Bổ sung cho quan niệm trên, Trường Tổng hợp kinh tế thành phố Varna (Bungari) định nghĩa: "Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội được lặp đi lặp lại đều đặn; chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ, hàng hoá của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập; đó là tổ chức các xí nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên môn nhằm bảo đảm sự đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích thoả mãn các nhu cầu cá thể về vật chất, tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên mà không có mục đích kiếm lời" Ở Mỹ, ông Michael Coltman quan niệm: "Du lịch là sự kết hợp của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch"
Trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch trên thế giới
và Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) định nghĩa: "Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lich Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước (địa phương) làm du lịch và bản thân doanh nghiệp" [2, tr 16]
Qua nghiên cứu các khái niệm, định nghĩa về du lịch từ trước đến nay, luận văn xét thấy định nghĩa về du lịch của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là phù hợp với xu thế phát triển ngành du lịch hiện nay và phù hợp với đề tài nghiên cứu
1.1.1.2 Các đặc trưng của hoạt động du lịch
Theo các khái niệm về “du lịch” cho thấy du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội
a) Du lịch là tổng hợp của nhiều hoạt động
Du khách trong một chuyến du lịch, bên cạnh các nhu cầu đặc trưng từ mục đích chủ yếu: tham quan, giải trí, nghỉ ngơi còn nhiều nhu cầu khác: như: ăn, ngủ,
đi lại, mua sắm, điện thoại, chuyển tiền Các hoạt động trên được cung ứng từ
Trang 13nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, giao thông, bưu chính Do đó, để hoạt động
du lịch có hiệu quả cao cần phải coi trọng, phối hợp đồng bộ các hoạt động, xử lý tốt các quan hệ nảy sinh giữa các bên: khách du lịch, đơn vị tổ chức, kinh doanh dịch vụ, cơ quan QLNN và dân cư địa phương
Du lịch còn là một hoạt động có nội dung văn hóa, một cách mở rộng không gian văn hoá của du khách trên nhiều mặt: thiên nhiên, lịch sử, văn hóa qua các thời đại, của từng dân tộc
b) Sản phẩm du lịch và những đặc trưng của nó
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó
Theo Luật Du lịch của Việt Nam (năm 2005) quy định: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi
du lịch Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” [9]
Các đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch [2, tr 27-29]:
- Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể, trong đó yếu tố hữu hình (là hàng hoá chỉ chiếm khoảng 10 - 20%) và yếu tố vô hình (là dịch vụ du lịch, thường chiếm khoảng 80 - 90% Dịch vụ là kết quả hoạt
động không thể hiện bằng sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và
có giá trị kinh tế Chất lượng dịch vụ chính là sự phù hợp với nhu cầu của khách hàng, được xác định bằng việc so sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ là: sự tin cậy, tinh thần trách nhiệm, sự bảo đảm, sự đồng cảm và tính hữu hình
- Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố TNDL TNDL bao
gồm các thành phần và những kết hợp của cảnh quan thiên nhiên và thành quả lao động sáng tạo của con người nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch TNDL có thể trực tiếp
Trang 14hay gián tiếp tạo ra các sản phẩm du lịch Sản phẩm du lịch thường không dịch chuyển được, mà khách du lịch phải đến địa điểm có các sản phẩm du lịch tiêu dùng các sản phẩm đó, thoả mãn nhu cầu của mình
- Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa khác
Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch
- Hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ Việc tiêu thụ sản
phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, có thể chỉ tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của một
số loại hình du lịch như: du lịch nghỉ biển, núi…)
- Có 3 yếu tố tham gia vào quá trình cung ứng và tiêu dùng sản phẩm du lịch: khách du lịch, nhà cung ứng và phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật
+ Khách du lịch: Theo khoản 2 điều 4 Luật Du lịch (năm 2005) của Việt Nam:
“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [9]
+ Các nhà cung ứng du lịch bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức cung cấp dịch vụ cho du khách Các tổ chức chuyên trách về du lịch thường được tổ chức
theo mục tiêu tài chính hay theo quá trình Các tổ chức này có nhiệm vụ tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch (về sinh lý, an toàn, giao tiếp xã hội, ) để cung ứng dịch
vụ thoả mãn sự trông đợi của họ (sự tao nhã, sự sẵn sàng, kiến thức ); chăm lo đến việc đảm bảo đi lại và phục vụ trong thời gian lưu trú của khách du lịch và phạm vi hoạt động bao gồm: kinh doanh khách sạn, lữ hành, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ du lịch khác
+ Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch: Là toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội bảo đảm
các điều kiện phát triển cho du lịch và phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức
du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và
Trang 15hàng hoá thoả mãn nhu cầu của du khách Các yếu tố đặc trưng là hệ thống khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển, các công trình kiến trúc bổ trợ
c) Thị trường du lịch và những đặc trưng của nó
Thị trường du lịch có ba chức năng, gồm: thực hiện và công nhận; thông tin và điều tiết, kích thích Đối với cơ quan QLNN, thị trường là công cụ để hoạch định chính sách quản lý du lịch Thông qua định hướng, điều tiết cung, cầu nhằm sử dụng hợp lý TNDL, thiết lập môi trường pháp lý thuận lợi, bảo đảm hoạt động đạt hiệu quả KT - XH, bảo vệ môi trường thiên nhiên, cảnh quan
Thị trường du lịch có những đặc thù riêng, như: xuất hiện muộn; hàng hoá không thể vận chuyển đến nơi có nhu cầu; đối tượng mua bán không có dạng vật chất hiện hữu; đối tượng mua bán rất đa dạng; quan hệ thị trường bắt đầu từ khi mua cho đến khi khách về nơi thường trú và có tính thời vụ rõ rệt
- Cầu và xu hướng phát triển của Cầu du lịch [2, tr 39-43]:
+ Cầu trong du lịch:
Cầu trong du lịch là một bộ phận nhu cầu của xã hội có khả năng thanh toán
về hàng hoá vật chất và dịch vụ du lịch đảm bảo sự đi lại, lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi ở thường xuyên của họ, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu văn hoá, chữa bệnh, tham gia các chương trình đặc biệt và các mục đích khác Cầu du lịch có nét khác biệt, như: Nhu cầu du lịch có thể được thoả mãn trên phạm vi quốc gia và quốc tế trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá; Phải có sự tương xứng giữa khối lượng hàng hoá, dịch vụ du lịch với nhu cầu có khả năng thanh toán; Cầu du lịch được cấu thành bởi: Cầu về dịch vụ du lịch và Cầu về hàng hoá vật chất Cầu dịch vụ là chủ yếu, đa dạng và tính linh hoạt cao; Cầu thì phân tán trong khi cung lại cố định nên giữa cung, cầu có khoảng cách Cầu du lịch có tính chu kỳ; Cầu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố về tự nhiên, văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, đô thị hóa
+ Xu hướng phát triển của Cầu Du lịch:
Sự phát triển của cầu du lịch dự đoán theo 6 xu hướng sau:
Trang 16Nhu cầu du lịch ngày càng tăng, du lịch trở thành một tiêu chuẩn đánh giá mức sống của dân cư
Du lịch quốc tế phát triển, phân bố các luồng khách, hướng du lịch thay đổi Châu Á ngày càng thu hút nhiều khách du lịch, trong khi lượng khách đến châu Âu, châu Mỹ có xu hướng giảm tương đối
Cơ cấu chi tiêu của du khách thay đổi theo hướng tỷ trọng chi tiêu cho các dịch vụ cơ bản giảm tương đối, trong lúc tỷ trọng chi tiêu cho các dịch vụ bổ sung tăng lên
Du khách có nhu cầu thay đổi hình thức tổ chức chuyến đi theo hướng tự do hơn, đa dạng hơn
Sự hình thành các nhóm du khách theo độ tuổi với các mục đích và nhu cầu khác nhau
Du khách có nhu cầu đi du lịch nhiều địa điểm trong một chuyến du lịch
- Cung và xu hướng phát triển Cung du lịch [2, tr 43-45]:
+ Xu hướng phát triển Cung du lịch:
Những năm đến, dự đoán các xu hướng phát triển cung du lịch như sau:
Danh mục sản phẩm du lịch mở rộng, phong phú, có nhiều sản phẩm độc đáo
Hệ thống tổ chức bán sản phẩm du lịch cũng phát triển, có nhiều hình thức tổ chức du lịch phù hợp với nhu cầu du lịch đa dạng
Vai trò của tuyên truyền quảng cáo trong du lich ngày càng nâng cao
Ngành du lịch ngày càng được hiện đại hoá trên tất cả các khâu
Trang 17Xu hướng quốc tế hoá trong phát triển du lịch là tất yếu khách quan Các quốc gia, các địa phương có xu hướng giảm thiểu các thủ tục hành chính tạo điều kiện cho du lịch phát triển
Tính thời vụ trong du lịch ngày càng được khắc phục
- Cân bằng Cung - Cầu và giá cả thị trường:
Mối quan hệ tác động qua lại giữa cung, cầu về số lượng hàng hoá với giá cả thị trường hình thành nên quy luật cung, cầu Quy luật cung cầu có tác dụng điều tiết sản xuất và tiêu dùng, biến đổi dung lượng, cơ cấu thị trường du lịch và quyết định giá cả thị trường
Việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp cơ quan QLNN xác định hai vấn đề: Nội dung nào nhà nước cần điều tiết, kích thích thì tốt, nội dung nào dành cho thị trường Nhà nước thực hiện điều tiết, kích thích nhưng không thể sử dụng mệnh lệnh hành chính thuần túy mà vẫn phải sử dụng các công cụ thị trường
1.1.2 Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế - xã hội
Hiện nay, ngành du lịch đóng góp rất lớn cho nền kinh tế mỗi nước cũng như toàn cầu Ngành du lịch không những mang lại nguồn thu ngoại tệ mà còn thu hút nhiều lao động, tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự đổi mới và phát triển các ngành khác Thông qua du lịch mà việc mở rộng giao lưu văn hóa được dễ dàng hơn, làm tăng sự đoàn kết hiểu biết giữa các vùng, các dân tộc khác nhau
1.1.2.1 Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế
Góp phần tạo nguồn thu nhập quốc dân, thông qua sản xuất ra đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng… sẽ làm tăng tổng sản phẩm quốc nội
Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, tác động làm cân đối cấu trúc thu nhập và chi tiêu của nhân dân
Là ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, nông lâm thủy sản có hiệu quả cao
Khuyến khích, thu hút vốn đầu tư nước ngoài do suất đầu tư thấp, tỷ suất sinh lợi cao, thu hồi vốn nhanh và xu hướng phát triển ngành dịch vụ
Trang 18Góp phần củng cố và phát triển mối quan hệ kinh tế quốc tế, tạo sự kết nối giao thông, các đầu mối xuất nhập khẩu và quan hệ ngoại hối quốc tế
Thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh
tế, như: giao thông công cộng, điện, nước, truyền thông - thông tin
Làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương thông qua các nguồn thu từ
vé tham qua, chi phí thuê phòng, tiêu dùng của du khách
1.1.2.2 Vai trò của du lịch đối với phát triển xã hội
Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người dân, sử dụng từ nguồn lao động phổ thông đến lao động chất lượng cao
Làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước kinh tế phát triển do TNDL thường phân bổ ở những vùng xa đô thị nên qua việc đầu tư khai thác TNDL sẽ làm giảm
sự tập trung dân cư ở đô thị
Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho các nước chủ nhà về những thành tựu kinh tế, xã hội, chính trị, nét đẹp văn hóa đan tộc
Đánh thức các nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền của các dân tộc, làm tăng thêm tầm hiểu biết chung về phong cách sống, thẩm mỹ, ngôn ngữ, thắc chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa các vùng, các quốc gia với nhau
1.1.3 Các loại hình du lịch và các lĩnh vực kinh doanh trong du lịch
1.1.3.1 Các loại hình du lịch
a) Khái niệm loại hình du lịch:
Theo Tiến sĩ Trương Sĩ Quý “Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó ”
b) Các loại hình du lịch:
Dựa vào các tiêu thức khác nhau để phân loại các loại hình du lịch để làm căn
cứ cho việc xây dựng sản phẩm du lịch, phân khúc thị trường,…có thể phân các loại hình du lịch theo các loại sau:
Trang 19- Theo phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch: gồm: Du lịch quốc tế là hình
thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các
quốc gia khác nhau; Du lịch nội địa là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và
điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
- Theo nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch: gồm: Du lịch chữa bệnh; nghỉ
ngơi, giải trí; thể thao; văn hóa; công vụ; thương gia; tôn giáo; thăm hỏi, du lịch quê
hương; quá cảnh
- Theo đối tượng khách du lịch: gồm: Du lịch thanh, thiếu niên; Du lịch dành
cho những người cao tuổi; Du lịch phụ nữ, du lịch gia đình
- Theo hình thức tổ chức chuyến đi: gồm: Du lịch theo đoàn; Du lịch cá nhân
- Theo phương tiện giao thông: gồm: du lịch bằng xe đạp; xe máy; ô tô; máy
bay; tàu thủy
- Theo phương tiện lưu trú được sử dụng: gồm: Du lịch ở khách sạn – Hotel;
khách sạn ven đường – Motel; lều; trại – Camping; làng du lịch - Tourism village)
- Theo thời gian đi du lịch: Gồm: Du lịch dài ngày; du lịch ngắn ngày
- Theo vị trí địa lý của nơi đến du lịch: gồm: Du lịch nghỉ núi; nghỉ biển; sông;
hồ; du lịch thành phố; đồng quê
1.1.3.2 Các lĩnh vực kinh doanh trong du lịch
Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch đòi hỏi cần phải có các loại hình kinh doanh du lịch tương ứng Về phương diện lý thuyết cũng như thực tế có 4 loại hình kinh doanh du lịch tiêu biểu [2, tr 69-72]:
- Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business): Là việc thực hiện các hoạt
động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọng gói hay từng phần; quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch Kinh doanh đại lý lữ hành là việc thực hiện các dịch vụ đưa đón, đăng ký nơi lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn tham quan, bán các chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành, cung cấp thông tin và tư vấn du lịch nhằm hưởng hoa hồng trong quá trình hợp tác kinh doanh
Trang 20- Kinh doanh khách sạn (Hospitality Business): Là hoạt động kinh doanh du
lịch làm nhiệm vụ tổ chức việc đón tiếp, phục vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, bán hàng cho khách du lịch
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch (Transportation): Là hoạt động kinh
doanh nhằm giúp cho du khách dị chuyển được từ nơi cư trú của mình đến điểm du lịch cũng như dịch chuyển tại điểm du lịch Để thực hiện hoạt động này, cần ó nhiều phương tiện vận chuyển khác nhau như: ô tô, tàu thủy, máy bay, mô tô… Trên thực
tế, ít có doanh nghiệp du lịch nào đáp ứng toàn bộ nhu cầu vận chuyển mà chủ yếu phương tiện giao thông đại chúng
- Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác (Other Tourism Business): Ngoài các
hoạt động trên, còn có một số hoạt động bổ trợ như: các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí, tuyên truyền, quảng cáo du lịch, tư vấn đầu tư du lịch… Với xu hướng phát triển của nhu cầu đa dạng của khách, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, hoạt động kinh doanh du lịch có xu hướng ngày càng phát triển mạnh
1.1.4 Các điều kiện phát triển du lịch
1.1.4.1 Điều kiện chung
Có thể chia một cách tương đối các điều kiện chung để phát triển du lịch thành hai nhóm như sau [2, tr.75-82]:
- Nhóm điều kiện chung đối với hoạt động đi du lịch:
Có thể chia làm 4 yếu tố sau:
+ Thời gian rỗi của nhân dân:
Hiện nay, quỹ thời gian trong ngày của hoạt động con người gồm 2 phần: thời gian làm việc (không quá 8 tiếng/ngày) và thời gian ngoài giờ làm việc (từ 16 tiếng trở lên) Nhờ có các thành tựu khoa học kỹ thuật, năng suất lao động tăng lên, xu hướng chung sẽ giảm bớt thời gian làm việc Thời gian rỗi thông thường được sử dụng cho các hoạt động sau: tham gia vào các hoạt động xã hội; tự học nâng cao hiểu biết và hoạt động sáng tạo; nghỉ ngơi tinh thần một cách tích cực; nghỉ ngơi thụ động; vui cùng gia đình, bạn bè, người quen; và thời gian dành cho việc phát triển thể lực hồi phục và cũng cố sức khỏe như chơi thể thao, đi dạo hay đi du lịch
Trang 21+ Mức sống về vật chất và trình độ văn hóa chung của người dân:
Thu nhập của người dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để con người có thể tham gia du lịch Thu nhập càng cao thì động cơ và khả năng tham gia
du lịch càng cao Nếu trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao thì động cơ đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt Mặc khác, nếu trình độ văn hóa chung của một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh và làm hài lòng du khách
+ Điều kiện giao thông vận tải phát triển:
Giao thông vận tải phát triển phải đảm bảo tăng về mặt số lượng và chất lượng Phát triển về số lượng là việc tăng chủng loại và số lượng các phương tiện vận chuyển Phát triển về chất lượng là sự đảm bảo các yếu tố về tốc độ vận chuyển; đảm bảo an toàn trong vận chuyển; đảm bảo tiện lợi và vận chuyển với giá rẻ
+ Không khí chính trị hòa bình và ổn định trên thế giới:
Đây là điều kiện đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ vè kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên thế giới Trong mối quan hệ kinh tế, sự giao lưu về du lịch giữa các nước trên thế giới và trong khu vực có xu hướng không ngừng phát triển
- Nhóm điều kiện chung đối với hoạt động kinh doanh du lịch:
+ Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước:
Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ở mức độ lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế ở đó Tình hình và xu hướng phát
triển của một đất nước được phân tích và đánh giá chủ yếu theo các hướng về: Thực
trạng và xu hướng phát triển tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và GDP theo đầu người; cơ cấu phát triển theo ngành; xu hướng phát triển hướng nội, hướng ngoại, tỷ trọng dân trong độ tuổi lao động…
+ Tình hình chính trị hòa bình và các điều kiện an toàn cho du khách:
Đây là tiền đề cho sự phát triển (đời sống) kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước Một quốc gia dù có nhiều TNDL cũng không thể phát triển du lịch nếu luôn xảy ra bất ổn, xung đột chính trị hay thiên tai
Trang 221.1.4.2 Điều kiện đặc trưng
Hệ thống các điều kiện cần thiết đối với từng nơi, từng vùng hoặc từng đất nước để phát triển du lịch, bao gồm: Điều kiện về TNDL, sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch và những tình hình, sự kiện đặc biệt
a) Điều kiện về tài nguyên du lịch
Nếu chúng ta xem các điều kiện chung là điều kiện đủ thì các điều kiện về TNDL là các điều kiện cần để phát triển du lịch Một quốc gia, một vùng dù có nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phát triển cao, song nếu không có các TNDL thì cũng không thể phát triển được du lịch Tiềm năng về TNDL là có hạn, nhất là tài nguyên thiên nhiên và chỉ ban cho một số vùng, một số nước nhất định TNDL có thể do thiên nhiên hoặc con người tạo ra Có thể phân các TNDL làm 2 nhóm sau:
- Tài nguyên thiên nhiên:
Các điều kiện về môi trường tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên về du lịch, như: Địa hình đa dạng; khí hậu ôn hòa; động, thực vật phong phú, giàu nguồn nước và vị trí địa lý thuận lợi
+ Địa hình: Địa hình ở một nơi thường chế định cảnh đẹp và sự đa dạng của
phong cảnh ở nơi đó Đối với du lịch, điều kiện quan trọng nhất là địa hình phải đa dạng và có những đặc điểm tự nhiên như: biển, rừng, sông, hồ…
+ Khí hậu: Những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa
thích Nhiều cuộc thăm dò đã cho kết quả là khách du lịch thường tránh những nơi quá lậnh hoặc quá nóng Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau phù hợp với loại hình và đối tượng du lịch
+ Thực vật: Thực vật đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch nhờ vào
sự đa dạng và số lượng rừng, loài hoa… Thực vật là nơi sản sản xuất oxy, nơi yên tĩnh… Nếu thực vật phong phú và quý hiếm sẽ thu hút được nhiều loại du khách với ham muốn nghiên cứu, khám phá và nghỉ dưỡng
+ Động vật: Động vật cũng là một nhân tố góp phần thu hút khách du lịch
Nhiều loài động vật có thể là đối tượng săn bắt du lịch, có những loài động vật quý hiếm trở thành đối tượng nghiên cứu và để lập vườn bách thú
Trang 23+ Tài nguyên nước: Các nguồn tài nguyên nước như: ao, hồ, sông ngòi,
đầm… vừa tạo điều kiện để điều hòa không khí, phát triển mạng lưới giao thông đường thủy, vừa là điều kiện phát triển nhiều loại hình du lịch Đặc biệt, các nguồn nước khoáng là tiền đề không thể thiếu đối với phát triển du lịch chữa bệnh
+ Vị trí địa lý: gồm: điểm du lịch trong khu vực phát triển du lịch; khoảng
cách từ điểm du lịch đối với các nguồn gửi khách du lịch Khoảng cách này có ý nghĩa quan trọng đối với địa phương nhận khách du lịch Nếu nơi nhận khách ở xa điểm gửi khách thì ảnh hưởng về chi phí tăng thêm cho đi lại và thời gian lưu trú
- Tài nguyên nhân văn:
Giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch ở một địa điểm, một vùng hoặc một đất nước Chúng
có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục đích khác nhau của chuyến du lịch
Các giá trị lịch sử có sức hút đặc biệt đối với khách du lịch có hứng thú hiểu biết, bao gồm: Những giá trị lịch sử gắn với nền văn hóa chung của loài người thường đánh thức những hứng thú chung và thu hút khách du lịch với nhiều mục đích khác nhau và những giá trị lịch sử đặc biệt thường không nổi tiếng lắm và thường chỉ được các chuyên gia cùng lĩnh vực quan tâm
Các giá trị văn hóa cũng thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu và các mục đích khác Các giá trị văn hóa thường có nhiều ở các thành phố thủ
đô Ở đó thường có các thư viện quốc gia, viện khoa học,nhiều tòa nhà kiến trúc đẹp, thường tổ chức các hoạt động văn hóa - nghệ thuật
Các phong tục tập quá cổ truyền (phong tục lâu đời, cổ lạ) luôn là cáctafi nguyên có sức thu hút cao đối với khách du lịch
Các thành tựu kinh tế cũng có sức hấp dẫn đối với nhiều du khách muốn đến tham quan để tìm hiểu cơ hội đầu tư, trao đổi kinh nghiệm qua các cuộc triển lãm hoặc thiết lập quan hệ làm ăn
Các thành tựu chính trị cũng có vai trò thu hút khách như: chính sách xã hội về văn hóa, đời sống, vai trò của đất nước hoặc vùng dân cư đối với đời sống chính trị
Trang 24b) Điều kiện về sẵn sàng phục vụ khách du lịch
- Các điều kiện về tổ chức:
Các điều kiện về tổ chức bao gồm những nhóm điều kiện cụ thể sau:
+ Bộ máy QLNN về du lịch: Đây là bộ máy quản lý vĩ mô về du lịch, bộ máy
gồm: Cấp trung ương: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các Bộ, ngành liên quan; Tổng cục Du lịch; các phòng, ban trực thuộc Chính phủ có liên quan đến các vấn đề
du lịch Cấp địa phương: UBND tỉnh thống nhất quản lý, Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch và các Sở, ngành liên quan đến vấn đề du lịch
+ Quản lý nhà nước về du lịch ở cấp tỉnh: Theo quy định tại mục 4 điều 11
của Luật Du lịch (năm 2005): UBND tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện QLNN về du lịch tại địa phương: cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại KDL, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch [9]
Luận văn tập trung 3 nội dung QLNN về du lịch ở tỉnh như sau:
Định hướng phát triển ngành du lịch: là xác định trước hướng mục tiêu, nhiệm
vụ và giải pháp phát triển của ngành ở địa phương trong khoảng thời gian nhất định (thường là dài từ 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa)
Tạo lập khuôn khổ pháp luật thuận lợi cho sự phát triển của ngành du lịch ở địa
phương: Chỉ đạo thực hiện các quy định pháp luật, chính sách của Trung ương có
hiệu quả ở địa phương (nghiên cứu đặc điểm, hoàn cảnh địa phương, ra văn bản hướng dẫn, tổ chức thực thi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực thi chính sách ), ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương xuất phát từ yêu cầu quản lý
và điều kiện phát triển ngành ở địa phương, nhưng không trái với luật pháp của Nhà nước quy định
Tổ chức chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm soát hoạt động ngành du lịch ở địa
phương: Chức năng tổ chức và điều hành là quan trọng, then chốt Nếu thực hiện
được tốt sẽ huy động mọi nguồn lực cho phát triển; tạo ra sự thống nhất, kỷ cương
Trang 25do đó tạo nên sức mạnh tổng hợp; động lực phát triển Do đó cần lưu ý một số nội
dung: tổ chức hệ thống đối tượng quản lý; tổ chức quy hoạch hệ thống các điểm
du lịch, KDL, tuyến du lịch; tổ chức hệ thống doanh nghiệp Đồng thời, cần có cách nhìn tổng thể trong việc thu hút, cấp giấy phép, quản lý, kiểm tra để bảo đảm hiệu
quả phục vụ và lợi ích của doanh nghiệp; Tổ chức và điều hành tốt hoạt động của
đối tượng và chủ thể quản lý Kiểm soát, điều chỉnh sự phát triển du lịch nhằm phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, khó khăn, những cơ hội để thúc đẩy ngành du lịch địa phương phát triển mạnh mẽ và đúng hướng
+ Các tổ chức và doanh nghiệp chuyên trách về du lịch (đó là bộ máy quản lý
vi mô về du lịch):
Các tổ chức này có nhiệm vụ chăm lo đến việc đảm bảo sự đi lại và phục vụ trong thời gian lưu trú của khách du lịch Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp gồm: kinh doanh khách sạn, kinh doanh lữ hành, kinh doanh vận chuyển khách du lịch và kinh doanh các dịch vụ khác Sự tinh nhạy của bộ máy tổ chức nhà nước chung và chuyên ngành với hệ thống thể chế quản lý đầy đủ, hợp lý và đội ngũ cán
bộ với trình độ cao trong ngành du lịch cùng với phương thức hoạt động chuyên nghiệp của các tổ chức kinh doanh du lịch là điều kiện tốt để phát triển du lịch
- Các điều kiện về kỹ thuật:
Các điều kiện về kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch, bao gồm: cơ sở vật chất du lịch (của một cơ sở, một vùng hay một đất nước) và cơ
sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:
Cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức du lịch bao gồm: toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của du khách như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu giải trí, cửa hàng, công viên đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong cơ sở kinh doanh du lịch (có thể là của một cơ sở du lịch hay của một KDL) Ngoài ra, còn có còn có một số công trình mà tổ chức du lịch đầu tư, xây dựng bằng nguồn vốn của mình để
đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ (rạp chiếu bóng, sân thể thao…)
Trang 26Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm Sự tận dụng hiệu quả các tài nguyên du lịch và việc thỏa mãn các nhu cầu của du khách phục thuộc phần lớn vào cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội:
Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội là những phương tiện vật chất không phải do các tổ chức du lịch xây dựng lên mà là của toàn xã hội, đó là: Hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, công viên, các trung tâm thương mại, hệ thống thông tin viễn thông, mạng lưới điện, hệ thống cấp thoát nước, rạp chiếu bóng, nhà hát, viện bảo tàng, hệ thống thư viện…
Cơ sở vật chất kỹ thuật xã hội là đòn bẩy thúc đẩy mọi hoạt động KT - XH của đất nước, địa phương Đối với ngành du lịch, cơ sở vật chất hạ tầng xã hội là yếu tố
cơ sở nhằm khai thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Mặt khác, phát triển du lịch cũng là yếu tố thúc đẩy, nâng cao mở rộng hạ tầng kỹ thuật của một vùng, địa phương hay đất nước Trong cơ sở vật chất kỹ thuật xã hội phục vụ đắt lực nhất và có tầm quan trọng nhất đối với du lịch là hệ thống giao thông vận tải) Tiếp đến là hệ thống điện, viễn thông, cấp thoát nước… Hệ thống này ngoài việc phục vụ cư dân địa phương thì nó còn phục vụ cho du khách đến thăm quan Đây là cơ sở quan trọng đặc biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, quyết định nhịp độ phát triển du lịch và trong chừng mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch
- Các điều kiện về kinh tế:
Các điều kiện kinh tế liên quan đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch:
Việc đảm bảo các nguồn vốn để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh du lịch (bởi vì ngành du lịch là một ngành luôn đi đầu về phương diện tiện nghi hiện đại và là ngành liên tục đổi mới)
Việc thiết lập các mối quan hệ kinh tế với các bạn hàng Trong việc cung ứng vật tư cho tổ chức du lịch, việc cung ứng phải đảm bảo thường xuyên và có chất lượng tốt Việc cung ứng thường xuyên có ý nghĩa vừa thỏa mãn đầy đủ hàng hóa cho nhu cầu vừa tăng thu nhập (hàng hóa, dịch vụ càng phong phú thì khách hàng
Trang 27chi tiêu nhiều hơn) Bên cạnh đó cũng cần chú trọng đến giá cả đảm bảo khả năng cạnh tranh
- Các điều kiện, sự kiện đặc biệt:
Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt có thể thu hút khách du lịch Đây là những điều kiện, sự kiện gắn liền với sự năng động sáng tạo của chính quyền, ngành du lịch và đội ngũ doanh nghiệp kinh doanh du lịch tạo nên, có thể thu hút khách du lịch và là điều kiện đặc trưng để phát triển du lịch Đó là: các hội nghị, đại hội, các cuộc hội đàm dân tộc hoặc quốc tế, các cuộc thi Olympic, các cuộc kỷ niệm tín ngưỡng hoặc chính trị, các dạ hội liên hoan
Vai trò và ý nghĩa của những sự kiện đó thể hiện ở hai hướng: Tuyên truyền, quảng cáo cho những giá trị văn hóa - lịch sử của địa phương nơi đón khách và khắc phục tính không đồng đều trong việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, góp phần kéo dài thời vụ du lịch, sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hợp lý hơn
1.2 NỘI DUNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Theo Giáo sư, tiến sĩ Đoàn Thị Hồng Vân “Chiến lược là tập hợp các mục tiêu
cơ bản dài hạn, được xác định phù hợp với tầm nhìn, sứ mệnh của tổ chức và các cách thức, phương tiện để đạt được những mục tiêu đó một cách tốt nhất, sau cho phát huy được những điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu của tổ chức, đón nhận được các cơ hội, né tránh hoặc giảm thiểu thiệt hại do những nguy cơ từ môi trường bên ngoài” [16]
Quá trình, nội dung xây dựng chiến lược gồm các bước: Phân tích bối cảnh,
môi trường phát triển (xác định các cơ hội và thách thức); xác định mục tiêu chiến lược; quan điểm phát triển, xây dựng chiến lược phát triển của một lĩnh vực chủ yếu, và vùng điểm du lịch, các giải pháp chủ yếu để thực thi chiến lược
1.2.1 Phân tích môi trường
Mục đích của việc phân tích môi trường hoạt động du lịch là nhằm tìm kiếm
cơ hội và phát hiện ra những thách thức đặt ra cho cho nhà hoạch định chiến lược Phân tích môi trường hoạt động du lịch là quá trình mà nhà chiến lược tiến hành kiểm tra, xem xét cá nhân tố môi trường khác nhau về các yếu tố vĩ mô và vi mô và
Trang 28xác định các cơ hội và thách thức
Muốn thực hiện được việc phân tích môi trường, các nhà chiến lược phải thực hiện cách thức dự báo, các nghiên cứu chính thức, hệ thống thông tin quản lý và hệ thống các thông tin thu thập
Phân tích môi trường bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường ngành [11]: Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô là các yếu tố về môi trường toàn cầu, yếu
tố chính trị, chính sách pháp luật, kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường tự nhiên Các yếu tố thuộc môi trường ngành là các yếu tố tác động trực tiếp đến ngành như yếu tố nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các đối thủ tiềm năng, các sản phẩm thay thế
Các yếu tố trong nội bộ tổ chức, của ngành là các yếu tố mà tổ chức có thể quản lý, kiểm soát được, như: tình hình phát triển ngành, nguồn lực đầu tư, sản phẩm, hạ tầng kỹ thuật, nhân sự, xúc tiến, quảng bá, công tác QLNN và các chính sách phát triển… Việc phân tích các yếu tố bên trong sẽ giúp cho nhà hoạch định chiến lược thấy được điểm mạnh, điểm yếu trong bản thân tổ chức, ngành so với đối thủ cạnh tranh cũng như khả năng phát triển của ngành Nhìn nhận tổng thể về quá trình quản lý, điều hành ngành, các tiềm lực trong phát triển để từ đó có sự điều chỉnh hợp lý với tình hình hiện tại cũng như yêu cầu phát triển trong tương lai Việc phân tích môi trường giúp tổ chức xác định được các cơ hội cũng như thách thức mà tổ chức và bản thân ngành đang phải đối mặt Qua đó, có thể điều chỉnh trong quản lý bằng tổ chức thực hiện cũng như ban hành các chính sách nhằm nắm lấy cơ hội và hạn chế các thách thức một cách có hiệu quả
1.2.2 Xác định quan điểm
1.2.2.1 Quan điểm về phát triển du lịch
Phát triển du lịch có thể được nhận thức đầy đủ với 5 nội dung cơ bản như sau:
- Thứ nhất: Là sự tăng trưởng Những chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện sự tăng
trưởng: mức gia tăng lượng khách du lịch; thu nhập từ du lịch; quy mô cơ sở vật chất
kỹ thuật; việc làm tăng thêm từ phát triển du lịch
- Thứ hai: Mức độ thay đổi phương thức tiến hành các hoạt động du lịch theo
Trang 29hướng ngày càng hiện đại và hiệu quả đem lại từ du lịch Cụ thể là những sản phẩm
du lịch, những hướng phát triển hiệu quả có tốc độ nhanh; những công nghệ, phương thức phục vụ hiện đại có năng suất cao được phát triển; cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch được đầu tư có hiệu quả, bảo đảm phát triển có tính bền vững cao
- Thứ ba: Mức độ và chất lượng tham gia của du khách, dân cư và chính quyền
địa phương cũng như các nhà kinh doanh du lịch; quá trình phát triển ngày càng tự giác, tích cực hơn trên cơ sở tinh thần cộng đồng và sự hài hòa về lợi ích
- Thứ tư: Phát triển du lịch hiện tại không làm tổn hại đến khả năng hưởng thụ
du lịch của các thế hệ tương lai
- Thứ năm: Phát triển du lịch phải bảo đảm sự hài hoà giữa 3 mục tiêu về kinh
tế, xã hội và môi trường Trong đó, về kinh tế, phải bảo đảm duy trì nhịp tăng trưởng dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động Về mặt xã hội, phải dựa trên quan điểm toàn diện và bình đẳng giữa những người, giữa các bên tham gia trên tất cả các phương diện, mở rộng cơ hội và không làm tổn hại đến cơ hội của thế hệ sau Về mặt môi trường, khai thác TNDL cần phải bảo tồn, tái sinh các hệ sinh thái, bảo đảm chất lượng môi trường; bảo đảm sự phối hợp giữa hoạt động du lịch với các hoạt động kinh tế, xã hội khác
1.2.2.2 Quan điểm về chiến lược phát triển du lịch
Hệ thống quan điểm được tiếp cận trên cơ sở đánh giá thực trạng, các điều kiện phát triển, định vị vị trí của ngành du lịch trong sự phát triển chung về KT -
XH và mong muốn về kết quả đạt được trong tương lai [2]
- Chiến lược phải đảm bảo phát triển du lịch như một thể thống nhất:
Nguyên lý cơ bản khi xây dựng chiến lược là phải nhìn nhận hoạt động du lịch như một thể thống nhất các mối quan hệ tương tác giữa cung và cầu trong du lịch Các yếu tố cung bao gồm các điểm hấp dẫn và các hoạt động tại đó, các cơ sở lưu trú, tiện nghi, cơ sở hạ tầng và tất cả các dịch vụ phục vụ cho du khách Các yếu tố cầu là thị trường khách du lịch quốc tế, khách nội địa và cư dân địa phương có tiêu dùng các sản phẩm du lịch
Chiến lược phải nhằm mục đích phát triển hài hòa tất cả các thành phần cung
Trang 30và cầu của hệ thống Hệ thống sẽ hoạt động có hiệu quả khi chiến lược phối hợp được sự phát triển của tất cả các bộ phận cấu thành của hệ thống
Chiến lược phải đảm bảo tính thống nhất giữa các yếu tố trong du lịch là cần thiết và quan trọng khi quy hoạch phát triển du lịch đặt trong quy hoạch phát triển
KT - XH ở mỗi vùng, mỗi quốc gia
- Chiến lược phải đảm bảo phát triển du lịch bền vững:
Quan điểm phát triển bền vững được đề cập đến tất cả các lĩnh vực KT - XH của mỗi vùng, mỗi quốc gia Đối với lĩnh vực du lịch, phát triển bền vững có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì phần lớn sự phát triển du lịch phụ thuộc vào các điểm hấp dẫn và các hoạt động có liên quan đến môi trường tự nhiên, giá trị văn hóa của địa phương Nếu các tài nguyên tự nhiên và nhân văn bị xuống cấp hay bị hủy hoại thì các điểm đến du lịch sẽ không thu hút được du khách nên sự phát triển du lịch sẽ không đạt được kết quả mong muốn Hơn thế nữa, người dân địa phương sẽ phải hứng chịu các tác động xấu của môi trường và những vấn đề tiêu cực về xã hội do hoạt động du lịch gây ra
Lợi ích lớn nhất của phát triển du lịch bền vững là đánh giá đúng vai trò và phát huy được sự quan tâm cho việc bảo tồn các TNDL tự nhiên và nhân văn tại địa phương Như vậy, du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn và tôn tạo cảnh quan môi trường và các giá trị nhân văn cho các địa phương
Những nội dung cơ bản trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững gồm: Thực hiện các quy hoạch về môi trường Tất cả các yếu tố môi trường cần được khảo sát, phân tích và cân nhắc để xác định những loại hình du lịch và những địa bàn phát triển phù hợp Xây dựng các luận chứng về phát triển du lịch phải dựa trên cơ sở cộng đồng, tập trung vào lợi ích cộng đồng Sự phát triển du lịch trước hết cần đem lại những lợi ích cho người dân địa phương, khi đó họ sẽ tích cực hơn và ủng hộ việc bảo tồn các TNDL, đảm bảo cho mục tiêu phát triển
- Chiến lược định hướng quy hoạch dài hạn và quy hoạch chiến lược:
Quy hoạch dài hạn tập trung vào việc xác định các mục tiêu, mục đích và các
mô hình phát triển, chuẩn bị cho một thời gian dài trong tương lai Các quy hoạch
Trang 31và chính sách phát triển du lịch thường được xây dựng cho giai đoạn 10, 15 hoặc 20 năm phụ thuộc vào khả năng dự báo những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai Quy hoạch chiến lược tập trung vào việc xác định những tình huống thay đổi trong tương lai và chỉ ra phương hướng giải quyết có hệ thống những thay đổi đó
- Chiến lược phải phát huy vai trò của công chúng đối với chiến lược:
Xây dựng và thực hiện chiến lược trước hết là vì lợi ích của cư dân sở tại Do vậy, họ cần có vai trò nhất định trong việc xây dựng quy hoạch, chiến lược, cũng như phát triển du lịch tại địa phương Thông qua sự tham gia vào chiến lược, người dân địa phương sẽ thể hiện sự mong muốn của họ, hiểu rõ những lợi ích mà du lịch
có thể đem lại và họ sẽ tích cực ủng hộ chiến lược
1.2.3 Thiết lập hệ thống mục tiêu
1.2.3.1 Các loại mục tiêu
Mục tiêu là khái niệm dùng để chỉ những kết quả cụ thể mà tổ chức mong muốn đạt được trong một giai đoạn nhất định và là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng, hình thành chiến lược Mục tiêu phải phù hợp với thực tế và phải xác định được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc cũng như những căn cứ để xác định thứ
tự ưu tiên trong việc phân bổ nguồn lực
Trong xây dựng chiến lược phát triển du lịch, mục tiêu thường được xác định thành 2 nhóm: mục tiêu tổng quát (hoặc có thể là mục tiêu chiến lược) và mục tiêu
1.2.3.2 Phương thức xác định mục tiêu
Tùy vào góc độ quan sát và cách tiếp cận mà có các phương pháp hình thành khác nhau về mục tiêu chiến lược phát triển Song, dù tiến hành theo phương pháp nào việc xác định các mục tiêu phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau [11, tr.43]:
Trang 32- Các mục tiêu phải xác định rõ ràng trong từng thời gian tương ứng và có các mục tiêu chung, mục tiêu riêng cho từng lĩnh vực hoạt động
- Các mục tiêu phải đảm bảo tính liên kết, tương hỗ lẫn nhau Mục tiêu này không cản trở mục tiểu khác Phải kết hợp hài hòa các mục tiêu với nhau
- Phải xác định rõ mục tiêu ưu tiên Điều đó thể hiện tính thứ bậc của hệ thống mục tiêu Như vậy, có mục tiêu cần được ưu tiên và có mục tiêu mang tính hỗ trợ Trên cơ sở thống kê, điều tra, đánh giá các yếu tố, điều kiện phát triển của ngành (đánh giá các điều kiện phát triển, thực trạng, điểm xuất phát của ngành, những vấn đề mâu thuẫn cần giải quyết, phân tích yêu cầu cạnh tranh sản phẩm chính, khả năng thu hút vốn…) và trên cơ sở dự báo thị trường, các mục tiêu của chiến lược sẽ được thiết lập một cách phù hợp cho phát triển
Khi xác định mục tiêu cần quan tâm đến sự cân bằng giữa các yếu tố về kinh
tế, môi trường tự nhiên, văn hóa và xã hội trong sự phát triển của du lịch Các mục tiêu phát triển du lịch cần phải phản ánh và tăng cường các mục tiêu KT - XH nói chung trên một địa bàn cụ thể Tuy nhiên, mục tiêu có thể được xác định ở dạng sơ
bộ ban đầu, sau đó có chỉnh sửa trên cơ sở các nghiên cứu, phân tích và thiết lập các
kế hoạch Trong một số trường hợp, một số mục tiêu chung có thể được sửa đổi để đạt được các mục tiêu phát triển du lịch nếu các mục tiêu này hợp lý và đóng góp vào sự phát triển chung của địa bàn
1.2.4 Chiến lược phát triển theo ngành và theo lãnh thổ
1.2.4.1 Khảo sát và phân tích, tổng hợp thông tin
a) Thực hiện khảo sát thông tin
Công tác khảo sát bao gồm việc thu thập các thông tin (cả định lượng và định tính) về tất cả các lĩnh vực của hoạt động du lịch cũng như các khía cạnh có liên quan đến du lịch
Các nội dung cơ bản cần được khảo sát bao gồm: Các mô hình, xu hướng phát triển của du lịch trong khu vực và thế giới; Các đặc điểm hiện có và những khả năng cạnh tranh tiềm ẩn của những điểm đến du lịch cung cấp những sản phẩm du lịch tương tự và cùng hướng vào các thị trường như nhau; Số lượng đặc điểm và các
Trang 33xu hướng vận động của các nguồn khách du lịch đến địa bàn đang được nghiên cứu; Các điều kiện về tài nguyên du lịch (đặc điểm và thực trạng khai thác sử dụng); Các điểm hấp dẫn và khả năng sẵn sàng phục vụ khách du lịch hiện có và tiềm năng; Hiện trạng về kinh tế và lực lượng lao động (bao gồm cả lao động trong ngành du lịch) Kế hoạch phát triển kinh tế và nguồn nhân lực; Chất lượng môi trường: sự ô nhiễm không khí, tiếng ồn, tắc nghẽn giao thông, cảnh quan; Các cơ sở và chương trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch hiện có và đã được quy hoạch phát triển; Bộ máy QLNN về du lịch hiện có và các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch; Các chính sách về đầu tư và khả năng thu hút vốn đầu
tư cho du lịch; Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch; Các thông tin
về các nội dung cần được khảo sát trên có thể được thu thập từ các nguồn thông tin
sơ cấp và thứ cấp
b) Phân tích và tổng hợp thông tin
Phân tích và tổng hợp cả về định tính và định lượng đối với các kết quả được khảo sát cần tiến hành thận trọng, với những nội dung chính sau:
- Phân tích thị trường thông qua các kết quả khảo sát về: các mô hình phát triển và xu hướng vận động của thị trường du lịch trong khu vực và trên thế giới; khả năng tiếp cận điểm đến du lịch từ các thị trường khách chủ yếu; các điểm du lịch và khả năng sẵn sàng phục vụ khách trên địa bàn; các mục tiêu phát triển du lịch Việc phân tích thị trường bao gồm việc xác định các mục tiêu du lịch về số lượng và các thể loại khách du lịch tiềm năng có thể thu hút, thường được xác định trong thời kỳ 5 năm của thời hạn quy hoạch
- Trên cơ sở phân tích thị trường cần tính toán một số chỉ tiêu như: số lượng và chủng loại của các cơ sở lưu trú; các cơ sở vật chất và dịch vụ du lịch cần có; số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực du lịch cần có
- Trên cơ sở dữ kiện nhu cầu về cơ sở vật chất và dịch vụ du lịch, nhu cầu vận chuyển khách du lịch xác định các phương tiện và dịch vụ vận chuyển cũng như các
cơ sở hạ tầng khác
- Phân tích, tổng hợp các yếu tố vật chất, kinh tế, xã hội là cơ sở cho việc hình
Trang 34thành một quy hoạch khung cũng như chỉ ra tính khả thi của quy hoạch, làm cơ sở cho việc xây dựng các quy hoạch chi tiết cho từng bộ phận
- Phân tích, đánh giá tất cả các yếu tố về thể chế làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách và đưa ra các kiến nghị
- Đánh giá các nơi đến cạnh tranh đồng đẳng Nếu như địa bàn có thể tạo ra một số lợi thế so sánh hơn các đối thủ của mình trong việc mở rộng phát triển các điểm hấp dẫn, các tiện nghi và dịch vụ du lịch thích hợp thì sẽ đạt vị thế cạnh tranh tốt hơn trong việc thu hút đầu tư, thị trường khách du lịch mong muốn
1.2.4.2 Các công cụ chủ yếu để xây dựng và lựa chọn chiến lược
Để hình thành chiến lược, phải phân tích môi trường bên ngoài và bên trong nhằm xác định mục tiêu, từ đó đưa ra và lựa chọn chiến lược phù hợp
Một trong những phương pháp được sử dụng trong việc phân tích, xây dựng
và lựa chọn chiến lược đó là dựa trên việc phân tích ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE: External Factors Evaluation), ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (Internal Factors Evaluation), từ đó xây dựng ma trận về các điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội và nguy cơ (SWOT: Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats) làm căn
cứ để xây dựng và lựa chọn chiến lược [11, tr 247-257]
a) Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE)
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài cho phép các nhà chiến lược tóm tắt và đánh giá các thông tin kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân khẩu, địa lý, chính trị, luật pháp, công nghệ, cạnh tranh và môi trường toàn cầu Việc đánh giá ma trận này cho phép các nhà chiến lược đánh giá được sự tác động của các yếu tố đối với hoạt động của tổ chức trong hiện tại và tương lai Từ đó cho thấy những cơ hội (O), cũng như các nguy cơ (T) Có 5 bước trong việc phát triển một ma trận đánh giá các yếu
tố bên ngoài :
- Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đối với sự thành công như đã nhận diện trong quá trình kiểm tra các yếu tố bên ngoài, gồm tổng số từ 10-20 yếu
tố, gồm vận hội và mối đe dọa đến tổ chức và ngành du lịch
- Phân loại tầm quan trọng của các yếu tố, từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0
Trang 35(rất quan trọng) cho mỗi yếu tố Tổng số các mức phân loại phải bằng 1 Sự phân loại ở bước này dựa theo ngành
- Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố quyết định sự thành công để cho thấy cách thức mà các chiến lược hiện tại của tổ chức phản ứng với các yếu tố này, trong
đó 4 là phản ứng tốt, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung bình, và 1 là phản ứng ít
- Nhân tầm quan trọng của mỗi biến số với loại của nó để xác định tổng số điểm về tầm quan trọng
- Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi biến số để xác định số điểm quan trọng cho tổ chức Tổng số điểm quan trọng cao nhất mà một tổ chức có thể có
là 4,0 và thấp nhất là 1,0 Tổng số điểm quan trọng trung bình là 2,5 Tổng số điểm quan trọng trên mức trung bình càng cao cho thấy tổ chức đang phản ứng tốt với các
cơ hội, các nguy cơ và ngược lại
b) Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE)
Đây là bước cuối cùng trong việc thực hiện kiểm soát quản trị chiến lược bên trong Công cụ hình thành chiến lược này tóm tắt và đánh giá những mặt mạnh và yếu quan trọng của các bộ phận chức năng, từ đó xác định những điểm mạnh (S) và điểm yếu (W) của tổ chức đó Cũng tương tự như ma trận EFE, ma trận IFE cũng có thể được thực hiện theo năm bước như trên
c) Ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ (SWOT)
Ma trận SWOT là một trong những công cụ kết hợp quan trọng từ các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, và những đe doạ từ môi trường bên ngoài đã được nhận diện, giúp ta có thể xây dựng bốn loại chiến lược từ việc kết hợp các nhân tố này:
- Chiến lược kết hợp điểm mạnh - cơ hội (SO): Sử dụng những điểm mạnh bên trong và tận dụng các cơ hội bên ngoài
- Chiến lược kết hợp điểm yếu - cơ hội (WO): Cải thiện những điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng những cơ hội bên ngoài
- Chiến lược kết hợp điểm mạnh - nguy cơ (ST): Sử dụng các điểm mạnh bên trong để né tránh hay giảm thiểu các đe dọa bên ngoài
Trang 36- Chiến lược kết hợp điểm yếu - nguy cơ (WT): Là những chiến lược phòng thủ nhằm giảm đi những yếu điểm bên trong và né tránh những đe dọa bên ngoài Trên cơ sở phân tích trên, các nhà hoạch định sẽ lựa chọn cho mình một chiến lược hoặc kết hợp nhiều chiến lược phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của đối tượng cần hoạch định chiến lược
d) Các yêu cầu khi lựa chọn chiến lược
Khi đánh giá chiến lược lựa chọn, cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
Chiến lược lựa chọn phải đảm bảo phù hợp với điều kiện môi trường
Chiến lược lựa chọn phải phù hợp với chính sách phát triển chung trong quy hoạch phát triển tổng thể KT - XH của địa phương, quan điểm phát triển, mục tiêu
và phương pháp điều hành, quản lý
Chiến lược lựa chọn phải phù hợp với xu hướng phát triển, khả năng tài chính, điều kiện vật chất, nhân sự của địa phương và các nhân tố khác
1.2.4.3 Chiến lược phát triển theo ngành và theo lãnh thổ
Giai đoạn này bao gồm việc thiết lập chiến lược phát triển du lịch và chuẩn bị kết cấu của chiến lược Cách làm tốt nhất là phải chuẩn bị và đánh giá các phương
án phương án phát triển khác nhau để lựa chọn
Việc lựa chọn chiến lược thường được đánh giá theo một số tiêu chí cơ bản như: đáp ứng được các mục tiêu phát triển; tối ưu các lợi thế kinh tế; thúc đẩy các nhân tố tích cực, hạn chế tối đa các tác động tiêu cực về môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội; cạnh tranh có hiệu quả với các điểm đến thu hút khách tương tự Trên
cơ sở đánh giá, các chính sách và phương án cuối cùng sẽ được lựa chọn và hoàn chỉnh Phương án chiến lược là sự lựa chọn các phương án phân bố (hay tổ chức) ngành theo lãnh thổ, định hướng phát triển lĩnh vực chủ yếu
a) Chiến lược phát triển theo ngành
Chiến lược phát triển theo ngành hướng đến các nội dung cơ bản liên quan đến các yếu tố của ngành du lịch như: chiến lược về phát triển sản phẩm, dịch vụ du lịch; các loại hình kinh doanh du lịch; công tác xúc tiến, tuyên truyền quảng bá du lịch, thu hút thị trường; định hướng đầu tư; phát triển nguồn nhân lực; bảo vệ và bảo
Trang 37tồn TNDL, môi trường; đảm bảo an toàn cho du khách và đảo đảm bảo hướng đến hội nhập, hợp tác phát triển
b) Chiến lược phát triển theo lãnh thổ
Chiến lược phát triển theo lãnh thổ hướng đến các nội dung liên quan đến không gia du lịch như: chiến lược về xác định các vùng không gian du lịch, KDL, điểm du lịch, các tuyến du lịch; phát triển du lịch gắn với nguồn lực TNDL, không gian kinh tế, đô thị và các vùng động lực tại địa phương và hướng đến sự phát triển
du lịch theo các vùng du lịch
Căn cứ vào chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ, nguồn lực và điều kiện thực tế mà
tổ chức lựa chọn các phương án chiến lược theo ngành và theo lãnh thổ phù hợp trong những chiến lược được hình thành Ngoài ra, chiến lược còn phải đáp ứng hiệu quả kinh tế, xã hội Việc lựa chọn chiến lược đúng đắn, phù hợp sẽ là “kim chỉ nam” cho sự thành công của tổ chức đó
1.2.5 Xác định các giải pháp thực hiện chiến lược
1.2.5.1 Căn cứ xác định các giải pháp
Việc thiết lập các giải pháp thực hiện chiến lược là những những nguyên tắc chỉ đạo, điều hành, những phương pháp thủ tục, quy tắc, hình thức và những công việc hành chính được thiết lập để hỗ trợ và thúc đẩy công việc theo những mục tiêu
đã đề ra để cơ sở thực hiện
Các giải pháp là những công cụ thực thi chiến lược, các chính sách giải pháp đặt ra những phạm vi quy chế ép buộc và những giới hạn đối với những hành động quản trị, chúng làm rõ những gì có thể hoặc không thể theo đuổi các mục tiêu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá hiện trạng về sự phát triển của ngành du lịch, các nguồn lực phát triển, chiến lược phát triển ngành của quốc gia và quy hoạch phát triển KT - XH, cùng với những đặc điểm cụ thể của địa phương… Dựa trên các quan điểm phát triển, mục tiêu và các chiến lược đã chọn, tổ chức tiến hành thiết lập các giải pháp tối ưu, theo thứ tự ưu tiên để tổ chức thực hiện chiến lược có hiệu quả
1.2.5.2 Lựa chọn các giải pháp triển khai chiến lược
Trong nghiên cứu về chiến lược phát triển du lịch, các giải pháp thực hiện
Trang 38chiến lược được chọn liên quan đến các nội dung gồm: giải pháp tăng cường đầu tư phát triển du lịch; chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch; chính sách xúc tiến, quảng bá du lịch; chính sách phát triển nguồn nhân lực; chính sách tổ chức và QLNN về du lịch và hợp tác phát triển vùng Trong và sau khi triển khai thực hiện chiến lược, việc phát triển du lịch cần phải được kiểm soát để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu và theo đúng chiến lược đã được xác lập Kiểm soát sẽ phát hiện kịp thời các nguy cơ có thể nảy sinh để có biện pháp điều chỉnh bằng các công cụ cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả các giải pháp, đảm bảo mục tiêu đặt ra
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG NGÃI
TRONG THỜI GIAN QUA (GIAI ĐOẠN 2006 – 2010)
2.1 VỊ TRÍ CỦA DU LỊCH QUẢNG NGÃI
2.1.1 Vị trí của du lịch Quảng Ngãi trong chiến lược phát triển du lịch quốc gia
Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam theo Quyết định số
97/2002/QĐ-TTg ngày 22/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược
phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010, toàn quốc có 3 vùng du lịch, gồm: Bắc Bộ;
Bắc Trung Bộ; Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Quảng Ngãi nằm trong vùng du lịch Bắc Trung Bộ, gồm các tỉnh, thành phố từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi Trong đó, Huế và Đà Nẵng là trung tâm, địa bàn động lực tăng trưởng du lịch của vùng Sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng là du lịch thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng biển, tham quan các di tích lịch sử văn hoá, cách mạng, di sản văn hoá thế giới
Ngoài ra, theo Quyết định số 194/2005/QĐ-TTg ngày 04/8/2005 của Thủ
tướng Chính phủ Phê duyệt đề án, phương hướng và giải pháp phát triển du lịch
khu vực miền Trung - Tây Nguyên, gồm 19 tỉnh, thành phố: Thanh Hoá, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, TP Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng)
Với vị trí này đã đặt Quảng Ngãi vào không gian du lịch đa dạng và có sức hấp dẫn, là một trong những điểm du lịch quan trọng trên tuyến du lịch xuyên Việt Hành lang kinh tế Đông - Tây đã đi vào hoạt động, Quảng Ngãi trở thành một điểm thu hút du lịch quan trọng trong tuyến của du lịch miền Trung và Tây Nguyên và có tầm chiến lược đối với du lịch Việt Nam trong xu thế hội nhập khu vực Châu Á mà trước mắt là các nước nằm trên trục hành lang Đông Tây như: Myanmar, Lào và Thái Lan
Trang 402.1.2 Vị trí của du lịch trong quy hoạch phát triển KT - XH của tỉnh
Theo quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2001 - 2010
xác định: Du lịch trở thành ngành kinh tế góp phần nâng cao đời sống nhân dân,
làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch vào tổng thu nhập của tỉnh Góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, nâng cao nhận thức văn hóa và đời sống tinh thần của nhân dân, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tỉnh đã chuyển đổi cơ cấu kinh tế dựa trên cơ sở lợi thế so sánh theo hướng giảm tỷ trọng ngành Nông - Lâm - Thủy sản và tăng tỷ trọng ngành Dịch vụ và Công nghiệp - Xây dựng Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, tỉnh đang trở thành một điểm nóng trong phát triển các ngành kinh tế quan trọng như: lọc hóa dầu, đóng tàu, dịch vụ cảng biển Phát triển kinh tế đã tác động tích cực đến phát triển du lịch và ngược lại khi du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển các ngành khác, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
Năm 2010, doanh thu từ du lịch đã đạt 215 tỷ đồng năm 2010 (so với 34 tỷ đồng năm 2001), đóng góp tích cực vào GDP của tỉnh, chiếm tỷ trọng 1,2% GDP của tỉnh, giải quyết được trên 6.000 lao động trực tiếp và gián tiếp, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân Du lịch cũng đã tác động tích cực đến mọi mặt kinh tế, văn hoá và xã hội, mở cửa hội nhập, cầu nối hợp tác hữu nghị
2.2 TÀI NGUYÊN DU LỊCH, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -
XÃ HỘI CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.2.1 Tài nguyên du lịch
Quảng Ngãi là vùng đất hình thành gần 200 năm, hòa trong dòng chảy lịch sử 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Tỉnh có vị thế đặc biệt với việc hình thành và phát triển một số nền văn hóa lâu đời như Văn hóa Sa Huỳnh, Chăm Pa, có giá trị lịch sử và phục vụ nghiên cứu, nhiều di tích, hiện vật với nghệ thuật tuyệt vời
và cảnh quan độc đáo, tạo nên đề tài nghiên cứu về văn hóa, lịch sử chiến tranh và những địa danh hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu và khách du lịch [15] Nhìn chung, TNDL Quảng Ngãi rất phong phú (xem Phụ lục 01)