1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu

125 439 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Tác giả TS. Trần Thị Nhàn, ThS. Đỗ Thị Hồi, TS. Lưu Hữu Thục, KS. Vũ Ngọc Giang, KS. Nguyễn Thị Hường
Trường học Viện Nghiên Cứu Da Giầy
Chuyên ngành Công Nghệ Bảo Quản Da
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài: Sử dụng nguồn da nguyên liệu trong nước, áp dụng công nghệ mới về bảo quản xử lý gia công cải tạo bề mặt da thuộc để tạo ra hai loại sản phẩm là da Nappa làm mũ giầy

Trang 1

Bộ công thương viện nghiên cứu da giày

báo cáo kết quả nghiên cứu Đề tài cấp nhà nước

nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo bề mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu

M∙ số đề tài KC 06.10 CN

Chủ nhiệm đề tài: TS trần thị nhàn

6843

15/5/2008

Trang 2

Danh sách các tổ chức và cá nhân tham gia thực hiện đề tài KC.06.10CN

1.Ban chủ nhiệm đề tài:

Ths Đỗ Thị Hồi - Viện trưởng - Trưởng Ban

TS Trần Thị Nhàn - Phó Viện trưởng - Chủ nhiệm đề tài

TS Lưu Hữu Thục - Trưởng phòng NCKH - Phó chủ nhiệm đề tài

KS Vũ Ngọc Giang - Quản đốc xưởng thuộc da - Thư ký đề tài

KS Nguyễn Thị Hường - Trưởng phòng TCKT - Uỷ viên

2 Phòng NCKH - Viện nghiên cứu Da Giầy

3 Phòng KHĐT - Viện nghiên cứu Da Giầy

4 Xưởng thuộc da - Viện nghiên cứu Da Giầy

5 Nhà máy thuộc da Vinh - Công ty Da Giầy Việt Nam

Danh sách cộng tác viên:

1 TS Nguyễn Thanh Sơn - Cục khuyến nông Bộ NN&PTNT

2 TS Phạm Lục - Cục khuyến nông Bộ NN&PTNT

3 TS Đặng Thị Tám - Cục khuyến nông Bộ NN&PTNT

4 TS Vũ Văn Nội - Cục khuyến nông Bộ NN&PTNT

5 TS Nguyễn Quốc Đạt - Cục khuyến nông Bộ NN&PTNT

6 Ông Lee Chang Hee - Chuyên gia Hàn Quốc

7 Ông G Gary - Chuyên gia hãng Stahl

8 KS Nguyễn Khôi - Chuyên gia thuộc da - Cty Da Giầy Sài Gòn

9 KS Nguyễn Huy Mẫn - Chuyên gia hãng Piercolor

10 KS Đào Thanh Sơn - Phó GĐ Nhà máy thuộc da Vinh

11 KS Lê Văn Kha - Quản đốc xưởng thuộc da Viện NCDG

12 KS Nguyễn Hữu Cường - Phòng NCKH Viện NCDG

Trang 3

Bài tóm tắt

Nhằm nâng cao chất lượng da thuộc từ nguồn da nguyên liệu trong nước để sản xuất các loại sản phẩm da cao cấp phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Từ tháng 11 năm 2001 Viện nghiên cứu Da Giầy đã tiến hành thực hiện Đề tài

"Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản, xử lý da công cải tạo bề mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu" theo Hợp đồng số 10CN/2001/HĐ-ĐTCT- KC.06 với Ban chủ nhiệm chương trình trọng điểm cấp Nhà nước KC 06

Mục tiêu của đề tài: Sử dụng nguồn da nguyên liệu trong nước, áp dụng công nghệ mới về bảo quản xử lý gia công cải tạo bề mặt da thuộc để tạo ra hai loại sản phẩm là da Nappa làm mũ giầy và da làm cặp túi ví đạt chất lượng làm hàng cao cấp phục vụ tiêu dùng nội địa và thay thế nhập khẩu

Để góp phần giải quyết vấn đề chất lượng da nguyên liệu, đặc biệt là loại da

có phẩm cấp thấp, nhiều khuyết tật trên bề mặt, làm ảnh hưởng đến chất lượng da thành phẩm, đề tài đã tiến hành triển khai nghiên cứu ứng dụng một số hoá chất mới, công nghệ mới của thế giới vào điều kiện thực tế sản xuất da thuộc trong nước hiện nay

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài là: gắn nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu thực nghiệm, đồng thời áp dụng những kinh nghiệm thực tiễn của sản xuất trong điều kiện sử dụng nguồn da nguyên liệu trâu bò của Việt Nam

Đưa ra các giải pháp công nghệ phù hợp, nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại của công nghệ và chất lượng sản phẩm trước đây, tạo ra được 13 công nghệ, trong đó

01 công nghệ bảo quản da nguyên liệu và 12 công nghệ về thuộc lại, nhuộm, xử lý cải tạo và trau chuốt cho hai loại sản phẩm da mềm làm mũ giày và da cặp túi ví

đáp ứng được mục tiêu của đề tài

Kết quả nghiên cứu đề tài đã mang lại những ý nghĩa về khoa học, kinh tế - xã hội và thực tiễn có giá trị, đặc biệt mở ra hướng mới trong việc tận dụng tối đa nguồn da nguyên liệu trong nước có chất lượng bề mặt xấu, tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu

Trang 4

Mục lục

Bài tóm tắt 2

Lời nói đầu 5

Phần 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 7

1.1 Ngành công nghiệp thuộc da thế giới và trong nước 7

1.2 Da nguyên liệu và vấn đề xử lý cải tạo mặt da 9

1.2.1 Da nguyên liệu 9

1.2.2 Vấn đề xử lý cải tạo mặt da 10

Phần 2: Phương pháp và nội dung nghiên cứu 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Sản phẩm nghiên cứu 21

2.3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 22

2.3.1 Cách tiếp cận 22

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 24

2.4 Nội dung nghiên cứu 25

2.4.1 Khảo sát, đánh giá nguồn da nguyên liệu và công nghệ bảo quản 25

2.4.2 Xử lý cải tạo và trau chuốt da 26

Phần 3: Thực nghiệm và biện luận 28

3.1 Da nguyên liệu và công nghệ bảo quản 28

3.1.1 Số lượng đàn trâu bò trong cả nước 28

3.1.2 Sản lượng da trâu bò nguyên liệu 29

3.1.3 Quy mô chăn nuôi trâu bò trong gia trại 31

3.1.4 Phương thức chăn nuôi và ảnh hưởng của yếu tố này đến chất lượng da trâu bò 33

3.1.5 Điều tra, đánh giá sơ bộ chất lượng da nguyên liệu trâu bò tại các lò mổ và cơ sở bảo quản da 33

3.1.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn da và nâng cao chất lượng da nguyên liệu 35

3.2 Xử lý cải tạo mặt da 37

3.2.1 Nguyên liệu đưa vào thực nghiệm 37

3.2.2 Địa điểm và máy móc thiết bị sử dụng 41

3.2.3 Phương pháp tiến hành và các giải pháp công nghệ 41

3.3 Tổng hợp Qui trình công nghệ của Đề tài 59

3.4 Tổng quát hoá và đánh giá kết quả nghiên cứu 78

Phần 4: Kết luận và kiến nghị 86

Tài liệu tham khảo 88

Phụ lục 90

Trang 5

Bảng chú giải và các chữ viết tắt

1 Crust Da sau khi thuộc lại sấy khô gọi là da mộc

2 Da váng Lớp kế tiếp cật sau khi xẻ

3 Finishing Trau chuốt (hoàn thành)

4 Fullgrain Da thành phẩm giữ nguyên mặt cật

12 Pigment Chất mầu sử dụng trong quá trình trau chuốt

13 Resin Nhựa tanin sử dụng trong quá trình thuộc lại

15 Sqft (Squere feet) Là đơn vị đo diện tích da gọi là bia da (30x30)mm

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc

18 UNIDO United Nations Industrial Development Organization

Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc

Trang 6

Lời nói đầu

Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nhiều ngành công nghiệp của nước ta đã có những bước phát triển mạnh, trong đó ngành

Da Giầy cũng đã có sự tăng trưởng tương đối nhanh Hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp Da Giầy thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đã được xây dựng và đi vào hoạt động có hiệu quả Ngành Da Giầy đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế đất nước, kim ngạch xuất khẩu năm 2002 đạt 1,846 tỷ USD, năm

2003 đạt 2,26 tỷ USD đứng thứ ba sau Dầu khí và Dệt may; dự kiến năm 2005 đạt 3,1 tỷ USD và đến năm 2010 tăng lên 6,2 tỷ USD Cùng với sự phát triển của Xã hội, ngành Da Giầy ngày càng được quan tâm đầu tư phát triển và có vị trí xứng

đáng trong nền kinh tế Quốc dân

So với công nghiệp sản xuất giầy dép, thuộc da còn nhiều yếu kém, sự phát triển chưa được đồng đều trong cả nước, tập trung nhiều ở phía Nam và đặc biệt là

Tp Hồ Chí Minh Sản phẩm da thuộc phần lớn dùng làm hàng tiêu dùng nội địa còn xuất khẩu chỉ có rất ít nhưng chủ yếu được làm từ da nguyên liệu nhập ngoại Một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng da thành phẩm thấp cấp, đó là chất lượng da nguyên liệu có những vấn đề tồn tại, đặc biệt là mặt da có nhiều khuyết tật do điều kiện chăn nuôi, giết mổ và bảo quản chưa đúng qui cách và yêu cầu kỹ thuật

Vấn đề đặt ra cho ngành là làm thế nào để nâng cao chất lượng da thuộc của nước ta, đạt yêu cầu thay thế da nhập ngoại hiện nay khi nguồn da nguyên liệu còn nhiều vấn đề về chất lượng chưa thể giải quyết trong một thời gian ngắn

Để góp phần giải quyết vấn đề này, ngày 16 tháng 11 năm 2001 Ban chủ nhiệm chương trình trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 5 năm 2001-2005 "ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm chủ lực" đã ký hợp đồng số 10CN/2001/HĐ-ĐTCT-KC06, giao cho Viện

nghiên cứu Da Giầy thực hiện đề tài: "Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử

lý gia công cải tạo mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu" Mã số: KC.06.10CN

Trang 7

Mục tiêu của đề tài: sử dụng da nguyên liệu trong nước, áp dụng công nghệ

mới về bảo quản, xử lý cải tạo bề mặt da thuộc để tạo ra hai loại sản phẩm là da Nappa làm mũ giầy và da làm cặp túi ví đạt chất lượng làm hàng cao cấp phục vụ tiêu dùng nội địa và thay thế nhập khẩu

Báo cáo đề tài: ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục được chia

làm 4 phần:

Phần 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Phần 2: Phương pháp và nội dung nghiên cứu

Phần 3: Thực nghiệm và biện luận

Phần 4: Kết luận và kiến nghị

Thông qua kết quả nghiên cứu đề tài, tạo ra hướng mới trong việc tận dụng tối

đa nguồn da nguyên liệu trong nước để sản xuất các sản phẩm cao cấp phục vụ tiêu dùng nội địa và thay thế da nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước đồng thời tạo lợi thế cho sản phẩm xuất khẩu có xuất xứ nội địa

Trang 8

Phần 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1 Ngành công nghiệp thuộc da thế giới và trong nước

Ngành công nghiệp thuộc da đã và đang chuyển dịch mạnh từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và các nước công nghiệp mới của châu á Nếu như vào những năm 90, các nước phát triển chiếm 61% sản lượng da thuộc thế giới thì 10 năm sau chỉ còn lại 44% Các nước châu Âu cũng vậy, sản lượng da thuộc giảm từ 38% xuống còn 26% [10] Hiện nay ở các nước này đang có xu hướng chỉ tập trung sản xuất các sản phẩm da thuộc có chất lượng cao từ nguyên liệu bán thành phẩm - da phèn, da mộc nhằm giảm nhẹ chi phí xử lý môi trường

Thực tế này đã thúc đẩy ngành công nghiệp thuộc da của các nước đang phát triển giữ vai trò quan trọng trên thị trường thế giới và dần dần loại bỏ truyền thống xuất khẩu da sống, nhập khẩu da thuộc, xuất khẩu da bán thành phẩm, mở ra khả năng xuất khẩu da thành phẩm và các sản phẩm chế biến từ da thuộc

Trong những năm gần đây, một số nước như: Trung Quốc, ấn Độ, và Hàn Quốc vv đang dẫn đầu về sản xuất da thuộc, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trên thị trường thế giới là da bò mềm (Nappa) Dự báo đến năm 2005 sản lượng da thuộc của thế giới khoảng 17 tỷ bia và 2010 khoảng 18 tỷ bia da các loại [4]

Theo dự báo từ 5- 10 năm tới các nước phát triển phải nhập khẩu da phèn và

da mộc từ các nước đang phát triển khoảng 350 triệu bia da bò, 400 triệu bia da dê, cừu và xu thế còn tiếp tục kéo dài đến ngoài 2020 [4]

Hiện nay ngành công nghiêp thuộc da ở các nước phát triển đã đạt đến mức

độ cao về trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm gần như hoàn hảo, tập trung chủ yếu vào các loại sản phẩm mẫu thời trang, còn các nước đang phát triển giữ vai trò chủ đạo về sản xuất da thuộc, ước tính chiếm khoảng 60 - 70% sản lượng da trên toàn cầu [5] Đây cũng là thách thức và cơ hội thuận lợi để thúc đẩy ngành công nghiệp thuộc da nước nhà phát triển mạnh trong những giai đoạn sắp tới

Trong nước: cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, chính sách mở cửa

của nhà nước, những năm qua ngành Da Giầy Việt Nam từ một ngành kinh tế kỹ

Trang 9

thuật non trẻ, khiêm tốn trong nền kinh tế quốc dân, mới trở thành một ngành kinh

tế kỹ thuật độc lập từ năm 1987, ngành Da Giầy ngày nay đã trở thành một ngành

có sức phát triển mạnh, kim ngạch xuất khẩu lớn, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế chung của đất nước Giá trị xuất khẩu toàn ngành Da Giầy tăng lên theo từng năm: năm 2001 đạt 1,575 tỷ USD, năm 2002 đạt 1,846USD, năm 2003 tăng lên 2,260 tỷ USD đứng thứ ba sau Dầu khí và Dệt May, dự kiến năm 2005 đạt 3,1 tỷ đô la Mỹ, năm 2010 tăng lên 6,2 tỷ đô la Mỹ [HHDG] Cùng với sự phát triển của xã hội, ngành Da Giầy ngày càng được quan tâm đầu tư phát triển và có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân

So với công nghiệp sản xuất giầy dép, thuộc da còn nhiều yếu kém, tuy ngành này đã có từ lâu nhưng cho đến những năm 90 vẫn còn rất lạc hậu, sản phẩm chủ yếu là da dùng trong công nghiệp và quốc phòng như: da coroa, da tắcke da vòng dùng trong ngành dệt, da bao súng bao đạn, da bảo hộ lao động vv Sản phẩm để sản xuất hàng tiêu dùng còn rất ít và chất lượng thấp Miền Bắc có Nhà máy da Thuỵ Khuê (nay đã giải thể) miền Trung có Nhà máy da Vinh - Nghệ An

và Tam Kỳ - Đà Nẵng, miền Nam có Nhà máy da Sài Gòn và một số cơ sở thuộc da tư nhân ở khu vực Phú Thọ Hoà, Tp Hồ Chí Minh Riêng chỉ có Nhà máy da Tây

Đô - Cần Thơ liên doanh với Hồng Kông là nổi nhất trong thời gian đó, nhà máy này đã xuất da phèn với một khối lượng lớn và đã sản xuất da thành phẩm có chất lượng cao phục vụ nội địa

Trong thời gian này ngành công nghiệp thuộc da chưa đươc quan tâm đúng mức, chưa có quan hệ với nước ngoài, máy móc, công nghệ còn rất lạc hậu, hoá chất thiếu và chủ yếu các cơ sở tự pha chế lấy

Sau năm 1990 ngành công nghiệp thuộc da mới bắt đầu có sự chuyển biến,

đặc biệt sau khi thực hiện dự án: tăng cường năng lực nghiên cứu công nghệ thuộc

da cho Viện Nghiên cứu Da Giầy (1989 - 1992) do UNIDO - UNDP tài trợ Các khoá đào tạo được tổ chức tại Viện cho cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề trong cả nước do chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm đã thu nhiều kết quả tốt Một

số hãng hoá chất đã đặt văn phòng đại diện tại Tp Hồ Chí Minh và chuyên gia

Trang 10

công nghệ trực tiếp hướng dẫn cho các nhà máy và cơ sở thuộc da nhờ đó cán bộ kỹ thuật được tiếp cận thường xuyên với sự đổi mới công nghệ và thiết bị trên thế giới

Đến nay ngành thuộc da đã có nhiều tiến bộ, năm 2003 cả nước sản xuất khoảng 30 triệu bia da các loại (số liệu điều tra) Sản xuất tuy có tăng hơn nhiều so với những năm trước đây nhưng so với nhu cầu còn rất ít Hiện nay nước ta đang phải nhập da thành phẩm trên 100 triệu bia/ năm để cung cấp cho các nhà máy và cơ sở chế biến giầy dép và đồ da xuất khẩu Dự kiến đến năm 2010 sản xuất da thuộc trong nước sẽ đạt 80 triệu bia [5]

Năng lực sản xuất da thuộc chủ yếu phân bố tại Tp Hồ Chí Minh nơi đang sản xuất trên 70% số lượng da thuộc của cả nước, trong đó 2/3 sản lượng được thực hiện tại làng thuộc da Phú Thọ Hoà Tp Hồ Chí Minh Vấn đề đặt ra cho ngành thuộc da là làm sao để phát triển sản lượng và chất lượng da thuộc đạt yêu cầu xuất khẩu tại chỗ, thay thế nhập ngoại tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước đồng thời tạo lợi thế cho sản phẩm xuất khẩu có xuất xứ nội địa

1.2 Da nguyên liệu và vấn đề xử lý cải tạo mặt da

1.2.1 Da nguyên liệu:

Da nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp thuộc da là nguyên liệu sống, nên chất lượng không đồng đều, do sự khác nhau về trọng lượng, độ tuổi, giống, ngoài ra còn khác nhau về điều kiện chăn nuôi và vùng sinh trưởng Điều

đáng quan tâm trong khuôn khổ đề tài này là vấn đề chất lượng da nguyên liệu, đặc biệt là mức độ khuyết tật trên bề mặt da, hay nói cách khác là da có bề mặt xấu cần phải đưa ra các giải pháp công nghệ: bảo quản, xử lý cải tạo bề mặt, biến da có bề mặt xấu trở thành da thành phẩm có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu thay thế

da nhập ngoại

Đối với da nguyên liệu ở những nước có khí hậu ôn đới và nền kinh tế phát triển, điều kiện chăn nuôi gia súc tốt, nên chất lượng da tốt hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển mà khí hậu nhiệt đới như: Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan,

ấn Độ vv… Sự khác nhau không chỉ là ở chất lượng bề mặt được thể hiện bằng mức độ khuyết tật, mà còn khác nhau cả về cấu trúc của các vùng trên một tấm da

Trang 11

Điều này được thể hiện rõ qua thực tế ở các cơ sở thuộc da tại Tp Hồ Chí Minh Một số cơ sở thuộc da sử dụng da nguyên liệu trong nước đồng thời nhập da nguyên liệu từ nước ngoài như: Mỹ, úc vv… da nguyên liệu nhập có bề mặt đẹp, tỷ

lệ da không cần cải tạo trong một lô xuất thuộc chiếm từ 55-60% (điều tra) số còn lại tuy có khuyết tật nhưng cũng dễ xử lý do khuyết tật không nhiều và sâu như da nguyên liệu nước ta Ngoài ra, da có độ đầy tương đối đồng đều trên các vùng mông, cổ, lưng và bụng của con da Trong khi đó, da nguyên liệu trong nước chỉ có khoảng 10-15% (theo số liệu điều tra) có bề mặt tương đối đẹp không cần xử lý cải tạo, còn lại 85-90% phải xử lý cải tạo tốt mới đáp ứng yêu cầu thị trường về chất lượng Chất da nghèo (rỗng), các phần như mông, cổ, bụng, có sự khác nhau nhiều

về cấu trúc sợi, phần mông cấu trúc sợi chặt, phần bụng, nách và cổ cấu trúc sợi lỏng lẻo Qua khảo sát, điều tra về nguồn da nguyên liệu và thực tế sản xuất da

thuộc trong nước, có thể nói rằng: đối với da động vật ở nước ta, do điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, điều kiện chăn nuôi còn thiếu thốn, hiện nay vẫn còn một số vùng chăn nuôi trâu bò với mục đích sử dụng sức kéo, ý thức của người chăn nuôi chưa quan tâm chú trọng bảo vệ da, việc giết mổ lột da và bảo quản chưa

đúng qui cách và yêu cầu kỹ thuật, dẫn đến da nguyên liệu chất lượng rất kém Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng da thuộc của nước ta vẫn còn thấp chưa thể xuất khẩu được

1.2.2 Vấn đề xử lý cải tạo mặt da

Trên cở sở hiểu biết về những đặc điểm của da nguyên liệu theo từng khu vực và từng vùng khác nhau, các nhà chuyên gia của các hãng cung cấp hoá chất thuộc da và các nhà công nghệ trên thế giới đã nghiên cứu, đưa ra các loại hoá chất

và công nghệ phù hợp cho việc xử lý cải tạo bề mặt đối với từng mức độ khuyết tật của da nguyên liệu Tạo ra các sản phẩm da có nhiều khuyết tật trở thành sản phẩm

có chất lượng cao từ nguyên liệu thấp cấp

Ngoài nước: ở các nước phát triển như ý, Pháp, Đức vv… vấn đề xử lý cải

tạo mặt da đã đạt đến trình độ hoàn thiện ở mức công nghệ cao, một mặt do sự phát triển của trình độ công nghệ, mặt khác do nguồn da nguyên liệu có chất lượng tốt,

Trang 12

bề mặt ít khuyết tật Nghiên cứu hiện nay của họ là tìm ra các loại thiết bị mới, hoá chất mới và đưa ra các công nghệ hiện đại nhằm đa dạng hoá bề mặt các sản phẩm

da thuộc, đáp ứng yêu cầu phong phú về mẫu mốt thời trang, tạo ra các loại hình vân hoa trên bề mặt da dùng may quần áo, giầy dép và các mặt hàng đồ da khác Các nước đang phát triển như ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan vv…hiện đang phát triển mạnh ngành công nghiệp thuộc da do xu thế chuyển dịch của ngành này từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển[10]

Để có được da thành phẩm cao cấp đồng đều về chất lượng, ngoài công nghệ thuộc và thuộc lại cần phải tập trung quan tâm đến xử lý cải tạo mặt da và mục tiêu của nó là làm sao để sau khi xử lý cải tạo da vẫn giữ được dáng vẻ tự nhiên, có độ mềm, độ dẻo tốt và nâng cao được chất lượng da thành phẩm Tại các nước này vấn

đề xử lý cải tạo mặt và trau chuốt da đã đạt đến trình độ cao, tạo ra được nhiều loại sản phẩm đa dạng về kiểu dáng trên bề mặt, hiện nay họ tiếp tục nghiên cứu cải tiến để ngày càng hoàn thiện công nghệ và nâng cao chất lượng da thành phẩm Trình độ công nghệ thuộc da nói chung và công nghệ xử lý cải tạo mặt da nói riêng

đã vượt hơn hẳn so với nước ta

Biện pháp thông dụng về xử lý bề mặt đối với loại da có nhiều khuyết tật ở các nước là: trước hết thực hiện phương pháp cơ học- chà mặt cật bằng máy đánh mặt (Buffing machine), trong đó việc lựa chọn các loại giấy nhám thích hợp cho từng loại khuyết tật của bề mặt da được chú trọng trước tiên, tiếp theo xử lý bằng phương pháp hoá học (ngâm tẩm, phun che phủ ) và thực hiện công nghệ trau chuốt phù hợp với từng loại sản phẩm Để đáp ứng được yêu cầu về mẫu mốt thời trang ngày càng phát triển, một số nước đã tiến hành các phương pháp xử lý mặt và trau chuốt mới, tạo ra được các sản phẩm da hấp dẫn bằng các kiểu hình vân hoa khác nhau trên bề mặt, nhằm phục vụ nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của thị trường

và người tiêu dùng

Trong nước: như đã trình bầy ở trên, ngành công nghiệp thuộc da nước ta

thực sự mới chuyển biến hơn 10 năm nay, kể từ sau khi dự thực hiện dự án tăng cường năng lực nghiên cứu công nghệ thuộc da cho Viện nghiên cứu Da Giầy do UNIDO-UNDP tài trợ (1990-1992) Từ đó các nhà máy và các cơ sở thuộc da có sự

Trang 13

tiếp cận thường xuyên với các hãng cung cấp hoá chất, thiết bị và các chuyên gia công nghệ của một số nước trên thế giới Trình độ công nghệ và sản phẩm da thuộc cũng thay đổi dần theo chiều hướng ngày càng phát triển Do chất lượng da nguyên liệu kém cả về chất da và bề mặt (nhiều khuyết tật) nên xử lý cải tạo mặt da luôn là vấn đề bức xúc ở các nhà máy và cơ sở thuộc da Thực tế công nghệ thuộc và công nghệ xử lý mặt da còn yếu nên chất lượng da thành phẩm còn ở mức thấp ở các tỉnh phía Bắc, các cơ sở sản xuất đều nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, phần xử lý cải tạo

và trau chuốt da chủ yếu là sơn màu lên da mộc, còn công nghệ xử lý cải tạo chưa tốt, chưa che phủ được các khuyết tật tự nhiên của da, sản phẩm da hoàn thành thường bị cứng, hai vỏ ở phía Nam, mấy năm gần đây một số cơ sở thuộc da nhập

da nguyên liệu ngoại từ: Mỹ, úc, Newzealand vv… chất lượng da thành phẩm có tăng hơn nhiều so với sản xuất từ da nguyên liệu trong nước Công nghệ xử lý cải tạo mặt da ở phía Nam đặc biệt là Tp Hồ Chí Minh phát triển hơn so với ở khu vực phía Bắc Điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là cán bộ kỹ thuật được tiếp cận thường xuyên với công nghệ và hoá chất mới thông qua các đại diện của các hãng hoá chất và thiết bị đặt tại Tp Hồ Chí Minh Tuy nhiên, một khối lượng lớn da có bề mặt xấu vẫn xử lý cải tạo bằng phương pháp in sần trên mặt làm da bảo hộ lao động hoặc xử lý bằng cách ngâm tẩm làm giầy cho quân đội

Ngày nay khi ngành công nghiệp sản xuất và chế biến các mặt hàng da thuộc ngày càng phát triển thì nhu cầu về sản xuất da thuộc đòi hỏi ngày càng cao cả về

số lượng và chất lượng Một vấn đề đặt ra hết sức cấp bách là làm thế nào để nâng cao chất lượng da thuộc của nước ta để tiến tới đạt chất lượng thay thế da nhập ngoại hiện nay, khi nguồn da nguyên liệu còn có nhiều vấn đề về chất lượng chưa thể giải quyết ngay trong một thời gian ngắn

Trước tình hình đó, việc triển khai thực hiện đề tài: "Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản, xử lý gia công cải tạo bề mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu"

là yêu cầu cấp bách và thiết thực

Trang 14

Trong khuôn khổ đề tài này, vấn đề xử lý cải tạo bề mặt da thuộc không chỉ hiểu đơn thuần là thực hiện bằng phương pháp cơ học (chà mặt) đối với loại da mộc có khuyết tật trên bề mặt, rồi phủ lên đó các loại hoá chất trau chuốt, mà đây

là một quá trình ảnh hưởng liên quan của các công đoạn trong công nghệ thuộc da

và đặc biệt là sự liên quan giữa: thuộc lại, xử lý cải tạo và trau chuốt bề mặt đến chất lượng sản phẩm

Để thực hiện việc nghiên cứu thực nghiệm một cách có hiệu quả, trước hết

cần phải nghiên cứu phần cơ sở lý thuyết có liên quan đến các quá trình thực hiện công nghệ: Thuộc lại, xử lý cải tạo và trau chuốt mặt da

Nghiên cứu lý thuyết liên quan đến đề tài

- Thuộc lại (Retanning):

Quá trình thuộc lại bao gồm: trung hoà, thuộc lại, nhuộm và ăn dầu Đây là quá trình có tính quyết định đến chất lượng và loại mặt hàng da thành phẩm Nguyên liệu của quá trình thuộc lại là da Wetblue nhận được sau quá trình thực hiện phần chuẩn bị thuộc và thuộc Crôm

+ Trung hoà: trước khi thực hiện các công đoạn thuộc lại, nhuộm và ăn dầu,

da Wetblue cần phải trung hoà để loại bỏ axit sunfuarich tự do có trong da thuộc Crôm, đồng thời điều chỉnh giá trị pH của da phù hợp với các công đoạn tiếp theo

Các tác nhân trung hoà hiện nay đang được sử dụng phổ biến bao gồm: các loại muối của axit yếu và các syntan trung hoà như: bicarbonate natri (NaHCO3); formiate natri (HCOONa) và các loại tanin trợ có tác dụng ổn định pH trung hoà, tạo độ xốp cho da đồng thời làm tăng khả năng khuyếch tán của các chất thuộc lại, nhuộm vào trong da Tỷ lệ sử dụng các loại hoá chất này phụ thuộc vào yêu cầu độ mềm, xốp, dẻo của từng loại mặt hàng da Thông thường giá trị pH của dung dịch trung hoà thường dao động trong khoảng từ 4,2 - 5,2 cho các loại da mũ giầy và từ 5,2 đến 6,2 cho các loại da mềm khác [7]

+ Thuộc lại: để có sản phẩm chế biến đồ dùng bằng da, cần phải xử lý tiếp ở quá trình thuộc lại nhằm tạo cho da đạt các chỉ tiêu cơ lý hoá đối với từng mặt hàng Việc sử dụng hoá chất trong công đoạn thuộc lại nhằm làm cho da có độ đầy

đồng đều ở các vùng của con da (mông, bụng, cổ và nách) thông qua sự kết hợp

Trang 15

giữa các tanin tổng hợp (syntan), tanin thực vật và các hoá chất khác với các nhóm chức colagen da (COOH, NH2) Một số hoá chất khác nh− nhựa tanin (Resins) không có khả năng kết hợp với da nh−ng sử dụng chúng với mục đích lấp chỗ trống trong da và làm đầy các phần có cấu trúc lỏng lẻo

Tác nhân thuộc lại bao gồm:

• Chất thuộc lại vô cơ (mineral tanning material)

• Tanin tổng hợp (syntan)

• Nhựa tanin (resins)

• Các loại Aldehit

• Tanin thảo mộc (vegetable tanning material)

• Thuộc lại bằng chất vô cơ:

Thuộc lại với chất thuộc vô cơ:

Chất thuộc này chủ yếu là muối Crôm đ−ợc sản xuất ở các dạng khác nhau

về độ kiềm và nồng độ hoặc kết hợp giữa muối Crôm và muối nhôm vv , chúng có thể ở dạng bột hay dung dịch, da thuộc lại Crôm mềm mại, bề mặt màu sáng, mịn nh−ng bị lỏng, có nhiều nếp nhăn trên mặt Do đó cần phải thuộc lại da thuộc Crôm với tanin tổng hợp, tanin thực vật và các loại hoá chất khác, nhằm đạt đ−ợc những yêu cầu về độ đầy đồng đều, độ mềm dẻo, độ xốp và các tính chất khác của da thành phẩm

Thuộc lại với tanin tổng hợp (syntan):

Chất thuộc tổng hợp là hợp chất hữu cơ, có khả năng kết hợp với các nhóm chức của colagen làm cho da đầy đặn, đồng đều, tăng độ xốp, độ dẻo, độ bền.v.v…

Có 2 loại syntan:

Syntan thay thế: là sản phẩm trùng ng−ng của phenol, có khả năng thuộc

đ−ợc da và thay thế các chất thuộc khác đồng thời có khả năng làm đầy các khoảng trống giữa các bó sợi

Syntan trợ: là sản phẩm trùng ng−ng của naphtalin, loại này không có khả năng kết hợp với da mà chỉ có khả năng tạo giúp một số tính chất nh− ổn định pH

Trang 16

trung hoà, làm tăng khả năng khuyếch tán các chất thuộc lại khác, làm đầy khoảng trống giữa các bó sợi.v.v…

Khả năng hấp thụ của da đối với tanin tổng hợp được thể hiện ở hình dưới

đây [21]

Hình trên cho thấy phần có cấu trúc sợi colagen đầy chặt (lưng, mông) hấp thụ nhiều tanin tổng hợp, còn phần bụng cổ nách có cấu trúc sợi colagen lỏng, hấp thụ ít tanin tổng hợp hơn

Thuộc lại với tanin thảo mộc:

Thuộc lại da đã thuộc Crôm với tanin thảo mộc làm tăng độ xốp của da, kể cả phần có cấu trúc lỏng lẻo, tuy vậy da thu được thường có bề mặt thô và khô, nếu dùng lượng nhiều sẽ bị nặng, độ đàn hồi giảm, độ bền ánh sáng kém, song phù hợp cho loại da cải tạo mặt cật[15]

Nếu sau khi thuộc, tanin thực vật có đọng lại trên bề mặt da, mặt cật sẽ trở nên giòn, dễ gẫy Việc lựa chọn quá trình trung hoà phù hợp rất cần thiết và việc ăn dầu sơ bộ sẽ thuận lợi cho quá trình thuộc lại với tanin thảo mộc Các chất thuộc thảo mộc hay dùng nhất: Quebracho có nhiều ở Nam mỹ; Mimoza có nhiều ở Châu phi, ấn độ; Chestnut có nhiều ở Pháp, ý, Nam Tư.v.v…[7]

Thuộc lại với nhựa tanin (resins):

Nhựa tanin là chất đa tụ từ các axit acrylic, melamine, diciamid.vv… có khả năng làm đầy cấu trúc da, đặc biệt là phần có cấu trúc sợi lỏng lẻo như nách, cổ,

Vùng hấp thụ ít

Vùng hấp thụ nhiều

Trang 17

bụng Các loại resins được sử dụng nhiều trong công nghệ thuộc lại là acrylic và melamine vì hai loại này có tính chất làm đầy da và vẫn đảm bảo độ mềm mại, độ dẻo tốt [21]

Khả năng hấp thụ của da đối với nhựa tanin (Resins) được thể hiện ở hình dưới đây [21]

Hình trên cho thấy ở những phần có cấu trúc lỏng lẻo như: bụng, cổ nách hấp thụ nhiều resins hơn là phần mông có cấu trúc chặt, do vậy, trong đề tài này cần quan tâm đến việc xác định lượng và loại resins sử dụng trong công nghệ thuộc lại

để đảm bảo độ đầy đồng đều ở các phần của tấm da mà vẫn giữ được độ mềm mại của da

Thuộc lại với Aldehit:

Ngày nay trong công nghệ thuộc da mềm được sử dụng nhiều chất thuộc lại bằng aldehit, chất thường dùng là glutaraldehit (CHO – (CH2)3 CHO) có 2 nhóm aldehit trong phân tử có thể kết hợp với các nhóm amin (NH2) và hydroxyn (OH) trong mạch peptid của colagen da làm cho da có độ mềm mại, đàn hồi dẻo tốt, làm

đầy da và nhuộm đồng đều [7]

Để có sản phẩm da Nappa đáp ứng được yêu cầu về độ mềm dẻo, đề tài đã sử dụng hoá chất Retanal PE của hãng Chroma Chemical Corp trong công nghệ thuộc lại Thực chất hoá chất này là glutaraldehit được hãng BASF của Đức nghiên cứu và

đưa vào sử dụng những năm 90 với tên thương mại là Relugan GT 50 [20] Những

Vùng hấp thụ nhiều

Vùng hấp thụ ít

Trang 18

năm gần đây đã có một số hãng sản xuất với loại hoá chất tương tự với giá thành rẻ hơn, tuy nhiên Relugan GT 50 vẫn được các nhà thuộc da đánh giá cao và chuyên

sử dụng sản xuất mặt hàng da mềm cao cấp [20] Cơ chế phản ứng của da với glutaraldehit như sau [7]:

Kết hợp với nhóm hydroxin (OH)

Trang 19

- Xử lý cải tạo và trau chuốt:

Là phương pháp cơ học kết hợp với hoá học thực hiện trên máy đánh mặt (Buffing machine) đối với da mộc (crust), với mục đích là loại bỏ lớp bề mặt da có khuyết tật, tạo cho mặt da phẳng đều, sau đó tiếp tục xử lý bằng hoá chất và thực hiện công nghệ trau chuốt Da thành phẩm nhận được, bề mặt không còn nhìn thấy khuyết tật và đảm bảo yêu cầu chất lượng Tuy nhiên với mức độ khuyết tật khác nhau, thực hiện các phương pháp xử lý và trau chuốt khác nhau đồng thời chọn loại giấy nhám có kích cỡ phù hợp

Hình: mặt cắt ngang của da động vật [19]

Hình trên cho thấy với mức độ khuyết tật nhẹ trên mặt da, việc xử lý

Hình trên thể hiện mặt cắt ngang của da động vật gồm: mặt da, phần

Trên đây là mặt cắt ngang của da động vật, trong quá trình thuộc, phần bạc nhạc

được loại bỏ, phần sợi còn lại chủ yếu là sợi colagen Khuyết tật thường có trên mặt, mức

độ nặng nhẹ phụ thuộc vào bề rộng và bề sâu của từng loại khuyết tật Với mức độ khuyết

Trang 20

tật nhẹ, chỉ nằm ở phần mặt da, việc xử lý không phức tạp và không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng bề mặt, còn nếu khuyết tật bị ăn sâu vào đến phần sợi vấn đề xử lý sẽ khó hơn, phải có sự kết hợp thật tốt giữa cơ học và hoá học để tránh tình trạng da hai vỏ, gãy mặt

và màng trau chuốt quá dày và cứng Quá trình chà mặt đối với loại da cải tạo cần chọn loại giấy nhám phù hợp kết hợp phương pháp xử lý hoá chất, chà không ăn sâu vào phần sợi của da để cho da không bị mất mặt cật hoàn toàn, tạo điều kiện dễ dàng cho quá trình trau chuốt đồng thời đảm bảo chất lượng

Để giải quyết vấn đề xử lý cải tạo mặt đối với loại da có khuyết tật, thời gian gần đây, các nhà chuyên nghiên cứu các loại hoá chất xử lý và trau chuốt da của các hãng cung cấp hoá chất cho công nghệ thuộc da đã đưa ra một số hoá chất mới phục vụ cho việc xử lý khuyết tật da, đối với các nước có khí hậu nhiệt đới và có

chất lượng da nguyên liệu kém như Việt Nam, Thái Lan, ấn Độ vv… Đề tài đã áp dụng các hoá chất mới đó vào công nghệ xử lý cải tạo và trau chuốt đạt kết quả tốt (xem phần thực nghiệm)

Một điều luôn được nhắc nhở đối với các nhà công nghệ thuộc da là: trước khi đưa da vào xử lý cải tạo, da mộc cần có độ dầy đồng đều, mặt da phẳng, đầy và

đặc biệt là đanh và chặt, vì nếu da mộc không đạt được yêu cầu trên việc cải tạo sẽ không thực hiện tốt được, điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng da thành phẩm như: trau chuốt không đều, da bị lỏng, hai vỏ, không che phủ được khuyết tật v.v…

Sau khi da được xử lý tốt các khuyết tật bằng phương pháp cơ học và hoá học tiếp tục thực hiện công nghệ trau chuốt

Mục đích trau chuốt da là nhằm tăng khả năng sử dụng của da thành phẩm tạo cho da có bề mặt đẹp đồng đều về màu sắc, khắc phục các khuyết tật, đa dạng hoá các vân hoa và tăng khả năng bảo vệ mặt da đối với các tác động của môi trường xung quanh (va quệt, cọ xát, nước, khí hậu, bẩn.vv…)

Các sản phẩm da thuộc khác nhau tương ứng với các phương pháp trau chuốt phù hợp

Hoá chất sử dụng trong quá trình xử lý mặt và trau chuốt da:

- Hoá chất mới xử lý mặt da:

Trang 21

• Stucco R của hãng Clariant là chất polyme đã được nhũ hoá, có độ

đậm đặc cao, có khả năng che phủ và kết hợp tốt với da và các hoá chất kết dính khác Phương pháp sử dụng là bôi hoá chất này lên các khuyết tật trên mặt da [tài liệu hãng Clariant]

• XLAA 04355 và AA4637 của hãng Piercolor là chất resin Acrylic đã

được nhũ hoá, có khả năng che phủ khuyết tật và kết hợp tốt với da và các hoá chất trau chuốt khác Phương pháp sử dụng là: hoà hoá chất này với nước và chất màu, phun lên mặt da [tài liệu hãng Piercolor]

• Rc 18075 của hãng Stahl là nhựa Acrylic đã nhũ hoá, tạo màng mờ trên mặt, đây là loại hoá chất có khả năng che phủ tốt, tạo màng mềm dẻo (tài liệu của hãng Stahl)

• Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số chất khác của các hãng Stahl, Samsung, Piercolor, mang lại hiệu quả cao

- Hoá chất trau chuốt:

• Chất kết dính (Resins) gồm: Acrylíc, Butadien, Urethane là những chất sử dụng trong công nghệ trau chuốt da với những đặc tính như: độ bám dính tốt đối với da và các loại hoá chất khác, độ mềm dẻo tốt, có khả năng chống lại sự mài mòn, va đập và các tác động của môi trường xung quang trong quá trình sử dụng, ngoài ra tăng khả năng in

là vv [19]

• Chất trợ gồm: Filler, Binder là những chất được sử dụng trong lớp trau chuốt cơ bản với mục đích làm tăng các tính chất như: cảm giác, che phủ, in là, độ xốp, độ dẻo của màng vv [19]

• Chất màu (pigment) được sử dụng trong công nghệ trau chuốt với mục

đích tạo màu và che phủ khuyết tật

• Chất bóng gồm: hệ nước và hệ dung môi, sử dụng trong công nghệ trau chuốt với mục đích bảo vệ lớp trau chuốt cơ bản (base coat) tăng tính chất cơ lý, chống lại tác động của môi trường như: nước, bụi , bẩn, các dung môi vv

Trang 22

Phần 2 Phương pháp và nội dung nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

ở nước ta, nguồn nguyên liệu chính cung cấp cho công nghiệp thuộc da là da trâu và da bò, sản phẩm từ hai loại da nguyên liệu này luôn được ưa chuộng trên thị trường trong nước và thế giới từ trước đến nay, tuy nhiên trong đó da bò được sản xuất nhiều hơn Trước đây cũng như hiện nay các nhà máy và cơ sở thuộc da trong cả nước chủ yếu sản xuất da bò mũ giầy, còn da trâu chỉ sản xuất một số mặt hàng

da mềm cao cấp như da bọc đệm ghế trang trí nội thất, da làm cặp túi Ngoài ra, da trâu còn dùng để sản xuất giầy bảo hộ lao động và các loại sản phẩm da cứng như

da làm thắt lưng, da đế, da phục vụ quốc phòng và da công nghiệp vv… Những năm gần đây phần lớn nguyên liệu da trâu đựơc xuất khẩu sang Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia vv… theo con đường tiểu ngạch

ở nước ta sản lượng da trâu và bò tương đương nhau và là nguồn nguyên liệu chủ yếu sử dụng trong công nghiệp thuộc da từ trước tới nay, do đó việc lựa chọn hai loại nguyên liệu này làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài là phù hợp với yêu cầu thực tế

và cặp, túi, ví phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Trong nước, mấy năm trước

đây phải nhập khẩu hàng năm trên 100 triệu bia da các loại, riêng năm 2003 nhập khẩu khoảng 200 triệu bia Số lượng da nhập khẩu này chủ yếu dùng để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu Trong số da nhập khẩu da Nappa chiếm khoảng 60-65% [HHDG]

Trang 23

Nhìn chung thị trường giầy dép và các mặt hàng đồ da trên thế giới và trong nước ngày càng có xu hướng phát triển mạnh sản phẩm da mềm (Nappa) đồng thời giảm bớt các loại da cứng, do yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao về mẫu mốt thời trang

và chất lượng hàng hoá của người tiêu dùng Do vậy, việc lựa chọn hai loại sản phẩm da Nappa làm mũ giầy và làm cặp, túi,ví cho nghiên cứu đề tài là phù hợp và

Trong khuôn khổ đề tài này những điểm trọng yếu cần giải quyết trong vấn

đề công nghệ thuộc da nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc là những vấn

đề về mối liên quan ảnh hưởng giữa các công nghệ: công nghệ bảo quản, thuộc lại, nhuộm da, xử lý cải tạo và trau chuốt

Về công nghệ bảo quản da nguyên liệu, cách tiếp cận là nghiên cứu tài liệu, thông tin về phương pháp bảo quản của trong nước và nước ngoài, đặc biệt là các nước có điều kiện khí hậu và chăn nuôi giống nước ta như: Thái Lan, Trung Quốc,

đến đề tài cả về phần lý thuyết và thực tiễn

Kế thừa những kết quả nghiên cứu mà Viện đã triển khai từ trước tới nay có liên quan đến nội dung của đề tài như: Đề tài "Nghiên cứu công nghệ sản xuất da wetblue chu kỳ ngắn", đề tài "Chống nhăn cho da mũ giầy", đề tài Kc.07.02:

"Nghiên cứu công nghệ sản xuất da trâu chun bọc đệm" vv

Trang 24

Tiếp cận với các hãng nước ngoài cung cấp hoá chất sử dụng trong công nghệ thuộc da hiện đang có đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh để tìm hiểu về hoá chất phục vụ cho các công nghệ cần nghiên cứu: (Stahl, Bayer, Basf, Piercolor, Samsung, Clariant, Smit&Zoon by Cromogenia - Units.SA, Croma Chemical Copr

vv…) Quá trình tiếp xúc đó đã tìm ra được một số hoá chất mới, phương pháp xử

lý và trau chuốt mới phục vụ cho vấn đề nghiên cứu đề tài Tên thương mại các hoá chất đó là: Stucco R; AA4637, XLAA 04355; Rc 18075, FI 18151, Instan USF, Retanol PE, Unitan AB, TanicorAPF vv

Tiếp cận với các Patent đã công bố có liên quan đến nội dung của đề tài thông qua mạng internet [14,15,16]

Tiếp cận thông qua việc thực hiện chương trình hợp tác quốc tế của đề tài tháng 11 năm 2002 tại Hội chợ Tanning Tech ở Bologna và một số nhà máy sản xuất da tại tỉnh Santa croce vùng Tuscany - Ytaly Ngoài ra, việc tiếp cận ở các cơ

sở sản xuất trong nước và Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Da Giầy đến năm

2010 đã giúp cho đề tài có những tư liệu về thực tế sản xuất và định hướng phát triển ngành trong tương lai [2]

Từ cách tiếp cận trên đề tài cần tập trung giải quyết những vấn đề sau :

- Nghiên cứu đưa ra công nghệ bảo quản da nguyên liệu nhằm nâng cao chất lượng, giảm bớt khuyết tật trên bề mặt, phù hợp với điều kiện Việt Nam

- Nghiên cứu xử lý, cải tạo bề mặt da thuộc:

• Các vấn đề liên quan đến qui trình thuộc lại;

• Các vấn đề liên quan đến qui trình nhuộm;

• Các vấn đề liên quan đến qui trình xử lý cải tạo và trau chuốt;

• Các vấn đề liên quan đến sử dụng hoá chất trong các qui trình trên;

• Các vấn đề liên quan đến tác động cơ học và hoá học trong quá trình thực hiện;

Trang 25

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

2.3.2.1 Phần da nguyên liệu và công nghệ bảo quản:

- Thu thập số liệu đàn trâu bò và sản lượng da nguyên liệu thông qua số liệu thứ cấp tại các chi cục thông kê, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh và phòng nông nghiệp huyện, đồng thời tiến hành điều tra mẫu bổ sung

- Các chỉ tiêu về quy mô, phương thức chăn nuôi và ý thức của người chăn nuôi trong việc bảo vệ bề mặt da được thu thập thông qua điều tra và phỏng vấn trực tiếp

- Đánh giá sơ bộ về chất lượng da nguyên liệu tại một số lò mổ bằng cách kiểm tra trực tiếp và phỏng vấn chủ lò mổ, chủ cơ sở buôn bán da nguyên liệu

- Nghiên cứu các thông tin, tài liệu, các phương pháp lột mổ và bảo quản da nguyên liệu của một số nước và thực tế trong nước, trên cơ sở đó đưa ra công nghệ bảo quản phù hợp điều kiện thực tế Việt Nam

2.3.2.2 Phần công nghệ xử lý cải tạo mặt da:

- Nghiên cứu tổng quan về tài liệu, thông tin, patent liên quan đến các vấn đề của đề tài trong và ngoài nước, trên cơ sở đó thu thập tài liệu, thiết kế công nghệ và lập kế hoạch chi tiết cho chương trình thực hiện đề tài

- Sử dụng tanin thực vật và nhựa tanin với loại và tỷ lệ thích hợp trong công

đoạn thuộc lại có tác dụng đặc biệt đối với da cải tạo mặt

- Sử dụng glutaraldehit trong công đoạn thuộc lại có tác động làm thay đổi trực tiếp cấu trúc colagen do glutaraldehit có hai nhóm aldehit tham gia phản ứng với hai nhóm chức của colagen tạo thành mối liên kết ngang trong mạch peptid, tạo cho da có độ mềm, dẻo đó là những tính chất đặc trưng của da Nappa

- Sử FP 124 và Tanicor APF là hai loại hoá chất mới thuộc dạng Protein làm cho da đầy và mềm mại

- Sử dụng phẩm aniline không chứa Azo độc tính trong công nghệ nhuộm,

đảm bảo yêu cầu về sức khoẻ và môi trường của thị trường xuất khẩu Thực hiện phương pháp nhuộm hai lần để đạt độ xuyên tốt và tạo được mầu đồng đều trên toàn bộ tấm da Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối với yêu cầu chất lượng của da Nappa

Trang 26

- Sử dụng phương pháp tiền ăn dầu, nghĩa là trước khi cho da ăn dầu chính cần cho một lượng dầu khoảng từ 0,5% đến 1% trong công đoạn thuộc lại hoặc trung hoà với mục đích làm mềm cấu trúc sợi bên trong phần thiết diện tạo cho da thành phẩm có độ mềm dẻo tốt, tránh hiện tượng bị cứng khi để lâu trong kho hoặc trong quá trình sử dụng

- ứng dụng các loại hoá chất mới, công nghệ mới trong quá trình xử lý, cải tạo và trau chuốt da để xử lý các mức độ khuyết tật trên bề mặt phù hợp với yêu cầu của từng loại sản phẩm

+ Xử lý da có khuyết tật nhẹ: xử lý và trau chuốt theo phương pháp kết hợp anion và cation có đánh bóng tạo cho da có độ mềm dẻo và khả năng phủ tốt

+ Xử lý da có khuyết tật trung bình và khuyết tật nặng: thực hiện phương pháp hoá học kết hợp với cơ học: bôi tay, phun bằng tay, phun tự động, chà mặt và

sử dụng thiết bị cán tráng màng, tạo cho da thành phẩm không còn nhìn thấy khuyết tật nhưng vẫn đạt độ mềm mại và tự nhiên

- Sau từng đợt thí nghiệm các sản phẩm nghiên cứu được đem đến các cơ sở chế thử và phân tích chất lượng sản phẩm, lấy ý kiến nhận xét, tiếp tục điều chỉnh công nghệ cho phù hợp với yêu cầu chất lượng sản phẩm đồng thời sản phẩm nghiên cứu được đem ra thị trường chào bán

- So sánh, lựa chọn các công nghệ phù hợp nhất cho hai loại sản phẩm da Nappa làm mũ giầy và da làm cặp túi ví tiếp tục triển khai thực hiện ở quy mô mở rộng và sản xuất thử

2.4 Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Khảo sát, đánh giá nguồn da nguyên liệu và công nghệ bảo quản:

- Khảo sát, điều tra, đánh giá tình hình thực trạng nguồn da nguyên liệu trâu

bò trong cả nước Đưa ra được các số liệu về đàn trâu bò và sản lượng da nguyên liệu ở 8 vùng sinh thái trong cả nước

- Đề xuất các giải pháp phát triển đàn gia súc đối với những vùng có lợi thế, tiềm năng nhằm tăng sản lượng nguồn da nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp thuộc da

Trang 27

- Khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng da nguyên liệu hiện nay và nghiên cứu đưa ra được công nghệ bảo quản phù hợp với điều kiện Việt Nam, góp phần nâng cao tỷ lệ da không xử lý cải tạo, giảm bớt loại da có chất lượng kém, nhằm nâng cao toàn diện chất lượng sản phẩm da thuộc Thực hiện điều tra khảo sát tại các lò mổ, những cơ sở thu mua và bán da nguyên liệu đồng thời tìm hiểu tình hình sản xuất da thuộc ở các cơ sở thuộc da trong nước

- Báo cáo tổng quan về nguồn da nguyên liệu và công nghệ bảo quản

2.4.2 Xử lý cải tạo và trau chuốt da:

- Nghiên cứu các thí nghiệm thăm dò ở quy mô nhỏ, bắt đầu từ công đoạn thuộc lại, mỗi lô khoảng 20 đến 30 kg da Wetblue bào, tập trung xử lý các vấn đề còn tồn tại về chất lượng đối với hai loại sản phẩm da mũ giầy và da làm cặp túi ví

mà từ trước tới nay chưa giải quyết được như: lỏng mặt, hai vỏ, đét, cứng, nhàu, rạn mặt và không đều màu vv…

+ Thuộc lại: thực hiện các thí nghiệm ở các thùng quay bằng sắt, so sánh kết quả bằng cách sử dụng nhiều loại hoá chất của các hãng khác nhau, trên cơ sở đó

so sánh kết quả và chọn các loại hoá chất phù hợp với chất lượng sản phẩm và giá thành Đặc biệt quan tâm đến hoá chất làm đầy và đanh, chặt mặt da (resin, mimoza và protein), cho loại da cải tạo và hoá chất làm tăng độ mềm dẻo của da Nappa (glutaraldehit) Xác định các thông số kỹ thuật phù hợp với công nghệ và loại sản phẩm (nhiệt độ, pH, hoá chất, thời gian, hệ số lỏng)

+ Thực hiện các giải pháp về công nghệ nhuộm và ăn dầu có sự kết hợp tốt trong quá trình thuộc lại làm sao để tạo ra sản phẩm da mộc phẳng, đầy đồng đều, mềm mại, đàn hồi dẻo nhưng mặt da đanh chắc Da nhuộm xuyên tốt, đối với loại

da nhuộm đen đạt yêu cầu mặt trái không phai

+ Xử lý cải tạo mặt da: thực hiện nhiều phương pháp cơ học và dùng nhiều loại giấy nhám có kích cỡ khác nhau, lựa chọn phương pháp phù hợp nhất cho từng sản phẩm da mũ giầy và da cặp túi ví đối với mức độ khuyết tật khác nhau trên bề mặt Xử lý hoá học bằng các phương pháp bôi tay (martit) hoặc phun tay, phun tự

động nhằm phủ lên mặt da các loại hoá chất khác nhau, với mục đích che khuyết

Trang 28

tật, sau đó kết hợp với phương pháp cơ học (chà mặt) tạo cho bề mặt da có độ phẳng và tiếp tục thực hiện công nghệ trau chuốt

+ Trau chuốt da: thử nhiều mẫu thí nghiệm theo các phương pháp khác nhau

đối với từng loại sản phẩm và sử dụng các loại hoá chất của các hãng khác nhau, chọn phương pháp và các loại hoá chất thích hợp nhất cho chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế

+ Các sản phẩm thí nghiệm được chuyển đến các cơ sở chế thử mẫu và phân tích các chỉ tiêu cơ lý hoá để được góp ý kiến và tiếp tục điều chỉnh, hoàn thiện công nghệ

- Thực hiện các lô thí nghiệm ở quy mô mở rộng, mỗi lô 80-100kg da Wetblue bào, trên cơ sở kết quả của thí nghiệm thăm dò nhằm kiểm chứng lại công nghệ và chất lượng sản phẩm, ổn định các thông số kỹ thuật, ổn định quá trình cải tạo mặt và công nghệ trau chuốt ở quy mô thí nghiệm lớn hơn Các bước tiến hành

được thực hiện giống như thí nghiệm thăm dò Sản phẩm của thí nghiệm tiếp tục

được gửi đi chế thử và phân tích các chỉ tiêu cơ lý hoá và cung cấp theo yêu cầu khách hàng

- Triển khai thực hiện ở quy mô sản xuất thử, mỗi lô có trọng lượng khoảng 120-150kg da Wetblue bào, với mục đích tiếp tục ổn định các thông số kỹ thuật trong các công nghệ, ổn định chất lượng sản phẩm ở quy mô sản xuất Việc triển khai sản xuất thử được thực hiện theo đơn đặt hàng của khách

Trên cơ sở kết quả của các giai đoạn thí nghiệm, so sánh, lựa chọn các công nghệ thích hợp nhất cho 2 loại sản phẩm đáp ứng được yêu cầu mục tiêu của đề tài

là sản phẩm đạt chất lượng thay thế da nhập ngoại hiện nay

Trang 29

Phần 3 thực nghiệm và biện luận

3.1 Khảo sát điều tra về da nguyên liệu

3.1.1 Số lượng đàn trâu bò trong cả nước

- Số lượng đàn bò:

Năm 2002, tổng đàn bò của cả nước đạt 4163,4 ngàn con Trong đó Bắc

Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ là hai vùng có số lượng bò lớn nhất đạt

tương ứng là 755,9 và 793,6 ngàn con, chiếm 19,5% và 21,1% so với tổng đàn bò

cả nước Tiếp đến là vùng Đông Bắc có 595,9 ngàn con, chiếm 16,1%; Đông Nam

Bộ 516,3 ngàn con, chiếm 12,7%; Tây nguyên 491 ngàn con, chiếm 9,6%; đồng

bằng sông Hồng có 350,0 ngàn con, chiếm 8,6% Hai vùng còn lại là Tây Bắc và

đồng bằng sông Cửu Long có số lượng bò ít nhất: 282,0 và 378,3 ngàn con, chiếm

4,4% và 7,9% tổng số bò cả nước Nếu tính riêng rẽ theo tỉnh thì Nghệ An và

Thanh Hóa là hai tỉnh có tổng đàn bò (tương ứng 294,7 và 236,2 ngàn con) , chiếm

Trang 30

- Số lượng đàn trâu:

Tổng đàn trâu cả nước năm 2002 là 2814,6 ngàn con Trong đó, vùng Đông Bắc có số lượng trâu lớn nhất cả nước: 867,8 ngàn con, chiếm 30,8%, tiếp theo là Bắc Trung Bộ: 689,4 ngàn con, chiếm 24,5%, Tây Bắc: 390,4 ngàn con, chiếm 13,9%, duyên Hải Nam Trung bộ: 229,9 ngàn con, chiếm 8,0%; ĐB sông Hồng và

Đông Nam Bộ có số lượng bò: 125,8 ngàn con và 126,4 ngàn con chiếm 4,5% và 8,0% Tây Nguyên và ĐB sông Cửu long có số lượng trâu ít nhất tương ứng 147,6 ngàn con và 137,3 ngàn con chiếm 1,7% và 1,3%

Bảng 2: Số lượng đàn trâu tại 8 vùng sinh thái trong 3 năm 2000 - 2002

(1000con)

Năm 2001 (1000con)

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu điều tra (Bộ NN&PTNT)

3.1.2 Sản lượng da trâu bò nguyên liệu

- Sản lượng da bò nguyên liệu:

Năm 2002, sản lượng da bò tươi nguyên liệu nước ta ước đạt 14.675 tấn Trong đó cao nhất là Bắc trung Bộ: 3.196 tấn, chiếm 21,7%, Đông Nam bộ: 2.287 tấn, chiếm 15,6%, Vùng Đông Bắc đạt 1.756 tấn, chiếm 12%, Tây Bắc 1.169 tấn

Trang 31

chiếm 8% Đồng bằng sông cửu Long 1.030 tấn chiếm 7% và cuối cùng là đồng

bằng sông Hồng là 899 tấn chiếm 6,1% Kết quả điều tra còn cho thấy, sản lượng

da bò nguyên liệu ở miền Trung và miền Nam lớn hơn ở miền Bắc vì trên thực tế

tổng đàn bò của các tỉnh miền Trung và miền Nam nhiều hơn miền Bắc Sản lượng

da thể hiện trong bảng dưới đây là da tươi sau khi lột ra khỏi con vật Ước tính tỷ lệ

thất thoát trong quá trình giết mổ vận chuyển khoảng 4-6%, trước khi bảo quản cắt

loại bỏ các phần không sử dụng được (mỡ, bạc nhạc, diềm vv ) khoảng 15-20% và

sau khi bảo quản bằng muối lượng da bị giảm đi khoảng 20-25%, do vậy theo tính

toán lượng da bò muối cung cấp đến các cơ sở thuộc da chỉ còn khoảng 7-8 ngàn

tấn da muối

Bảng 3: ước tính sản lượng da bò tươi nguyên liệu sản xuất tại 8 vùng sinh thái

Sản lượng da bò năm 2002 (tấn)

- Sản lượng da trâu nguyên liệu:

Năm 2002, sản lượng da trâu nguyên liệu trong nước đạt 11.516 tấn, trong đó

Đông Bắc là vùng có sản lượng lớn nhất: 3.243 tấn, chiếm 28,3 %, tiếp đến là Bắc

Trang 32

Trung Bộ: 1.910 tấn, chiếm 16,6%, Tây Bắc: 1.412 tấn, chiếm 12,2 %, ĐB sông

Hồng: 975 tấn, chiếm 8,4%; chiếm 7,6%; Duyên hải Nam Trung bộ: 1.230 tấn,

chiếm 10,6%; Tây Nguyên: 880 tấn, chiếm 7,6%; ĐB sông Cửu Long: 832 tấn

chiếm 7,3% Khác với da bò, sản lượng da trâu tại các vùng sinh thái miền Bắc

(7.543 tấn) lớn hơn gần 2 lần so với miền Nam (3.976 tấn) Cách tính toán tương tự

như đối với da bò, sản lượng da trâu muối có được hàng năm khoảng 5-6 ngàn tấn

Kết quả điều tra cho thấy, số hộ nuôi bò và quy mô chăn nuôi bò tại gia trại

ở các vùng sinh thái khác nhau cũng khác nhau Các vùng Duyên Hải Nam Trung

bộ, Bắc Trung bộ, Đông Bắc và Tây Nguyên là những vùng không những có tỷ lệ

hộ nuôi bò lớn mà quy mô nuôi bò trong gia trại cũng lớn hơn các vùng còn lại Số

liệu cụ thể thể hiện ở bảng sau:

Trang 33

Bảng 5: Quy mô chăn nuôi bò bình quân trong gia trại

Nguồn :Tính toán theo số liệu điều tra của chi cục thống kê các tỉnh

- Quy mô chăn nuôi trâu:

Tại hai vùng Tây Bắc và Đông Bắc, số hộ nuôi trâu chiếm tỷ lệ khá lớn từ 42-43 % tổng số hộ trong vùng, tiếp đến là 2 vùng Bắc Trung bộ và DH Nam Trung

bộ Tuy nhiên, so với quy mô nuôi bò thì quy mô chăn nuôi trâu trong gia trại tại các vùng thấp hơn, biến động từ 1,5 - 4 con/gia trại; DH Nam Trung bộ và ĐB sông Cửu Long có quy mô thấp nhất: 1,6-1,8 con/gia trại

Bảng 6: Quy mô chăn nuôi trâu bình quân trong trong gia trại

Trang 34

3.1.4 Phương thức chăn nuôi và ảnh hưởng của yếu tố này đến chất lượng da trâu bò:

Tuyệt đại đa số trâu, bò ở nước ta được nuôi tại hộ nông dân với quy mô nhỏ, với phương thức chăn nuôi quảng canh là chủ yếu, nhất là tại các vùng Tây Bắc,

Đông Bắc, trâu bò được chăn thả tự do Có khoảng 8% số lượng trâu bò được nuôi theo phương thức bán thâm canh, trong đó khoảng 6% là bò sữa Nguồn thức ăn chính cho trâu, bò gồm cỏ tự nhiên ven đường, bờ mương, bờ ruộng, sườn đê, sườn

đồi, bìa rừng và rơm lúa, thân cây ngô, thân đậu đỗ, thân cây lạc và dây khoai lang Tuy vậy, nguồn cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp dần Rơm lúa là nguồn phụ phẩm quan trọng cho chăn nuôi trâu bò, nhưng ước tính mới chỉ 50% sản lượng được đưa vào sử dụng, hơn nữa lại không qua chế biến, nên hiệu quả sử dụng không cao Da thường bị xây xát bề mặt da do vết cào rách, vết cắn của các loại cồn trùng vv để lại một số vết sẹo, vết xước trên mặt da, ảnh hưởng xấu đến chất lượng da nguyên liệu

3.1.5 Điều tra, đánh giá sơ bộ chất lượng da nguyên liệu trâu bò tại các lò mổ và cơ sở bảo quản da

- Thực trạng giết mổ và bảo quản:

Kết quả điều tra cho thấy hầu hết trâu bò được giết mổ tại các điểm giết mổ của tư nhân, cả nước duy nhất chỉ có lò mổ VISSAN, Tp Hồ Chí Minh là lò mổ quốc doanh Mục đích giết mổ trâu bò chủ yếu là lấy thịt Mặc dù da cũng là nguồn lợi lớn, nhưng đại bộ phận các chủ điểm giết mổ chưa có ý thức bảo vệ tốt nguồn

da quý giá này Việc giết mổ chủ yếu bằng các công cụ thủ công do đó con da thường bị phạm nhiều vết dao bên mặt thịt làm hạn chế chất lượng da thành phẩm

Da váng thường bị rách nát, do đó tỷ lệ thu hồi thấp, chỉ đạt tỷ lệ 15-20% so với da cật Diện tích trung bình của da váng chỉ đạt 4-5 Bia/mảnh, trong khi da nhập khẩu 15-20 Bia/mảnh Da lột thường bị lệch một bên do người mổ sử dụng da vùng cổ để

đựng tiết

Việc bảo quản da sau khi mổ lẽ ra phải rất cẩn thận bởi vì trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như nước ta, vi khuẩn dễ phát sinh, phát triển gây thối rữa da Thế nhưng trên thực tế, một số lò mổ không bảo quản da kịp thời, mà thường là sau 6-

Trang 35

10 giờ mới xử lý, thậm chí có lò mổ, sau 1 ngày mới tiến hành bảo quản da Bên cạnh đó còn có hiện tượng, một số lò mổ vì mục đích lợi nhuận còn trộn muối với cát hoặc tiết phủ lên da để làm tăng trọng lượng Những việc làm đó đã làm giảm chất lượng da nguyên liệu

Kết quả phỏng vấn một số chủ lò mổ cho thấy phần lớn họ đều đánh giá

được giá trị của nguồn da nguyên liệu, nhưng việc giết mổ và bảo quản da nguyên liệu rất tuỳ tiện, chưa phù hợp với quy trình kỹ thuật

- Chất lượng da nguyên liệu:

Từ thực trạng chăn nuôi, giết mổ và bảo quản da nguyên liệu như trên, chất lượng da nguyên liệu ở nước ta rất thấp, độ dày của da không đều giữa các phần trên con da: phần lưng và phần đầu rất dày, phần bụng thì lại mỏng Do đó tỷ lệ diện tích da cật thu được trên 1 kg da muối thấp (chỉ đạt 1,3-1,4 Bia da cật/kg da muối đã cắt gọn) Trong khi đó da muối nhập khẩu có tỷ lệ 1,7-1,8 Bia/kg da muối Con da lớn thường có gù lớn, ngay cả khi cắt đôi con da, thì phần chỗ có gù cũng phải cắt bỏ (khoảng 0,5-1,0 Bia) Vì lý do đó da bò của ta không thể sản xuất các sản phẩm có diện tích bề mặt lớn (như da bọc đệm) Bề mặt da có nhiều khuyết tật, theo số liệu điều tra tại các cơ sở sản xuất da thuộc trong cả nước cho thấy: da không cải tạo chỉ có 10-15% trong tổng số da đưa vào sản xuất, còn lại 85-90% là

da có khuyết tật cần phải cải tạo bề mặt tốt mới đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của thị trường

Các khuyết tật trên mặt da có thể phân loại như sau:

• Khuyết tật trước khi lột mổ: vết gai cào, nấm mốc, dính bẩn, ve, ruồi, muỗi đốt, sẹo do đóng dấu, vết chai cứng do sử dụng sức kéo, vết roi đánh vv

• Thời kỳ mổ con vật: vết dao phạm sâu vào da, vết xước do kéo lê trên sàn lúc lột, mổ, da bị lẹm một bên không cân đối do lúc mổ sử dụng một bên da để dựng tiết

• Sau khi mổ: không bảo quản kịp thời, để quá lâu vi khuẩn phát triển làm mất mặt cật, vận chuyển và bảo quản không đúng kỹ

Trang 36

• Ngoài ra một số vết trên bề mặt do ảnh hưởng của tác động cơ học như: vết rạn mặt do ty, bào, ép và mất mặt cật do quá trình hồi tươi, tẩy lông ngâm vôi không đạt yêu cầu vv

3.1.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn da và nâng cao chất lượng da nguyên liệu

- Một số giải pháp phát triển nguồn da nguyên liệu:

Da sống là phụ phẩm của công nghiệp chế biến thịt, nhưng lại là nguyên liệu chính của công nghiệp thuộc da, chiếm 60-65% giá thành của da thành phẩm Để tạo nguồn da trâu bò nhằm đáp ứng nhu cầu cho các nhà máy và cơ sở sản xuất da

thuộc trong nước Cần đẩy mạnh phát triển chăn nuôi trâu bò tại một số vùng sinh thái có tiềm năng và lợi thế theo hướng công nghiệp hoá, lai tạo rộng rãi đàn trâu

bò, đảm bảo mức tăng trưởng bình quân từ 2-3% năm, nâng cao tầm vóc, tăng sản lượng thịt đồng thời tăng diện tích da sử dụng Khuyến khích hộ tư nhân chăn nuôi gia súc theo mô hình trang trại tập trung, cần có chương trình phổ biến về các phương pháp giữ gìn, bảo quản nguồn da động vật có giá trị mà từ trước tới nay chưa mấy được quan tâm

• Giải pháp nâng cao chất lượng da nguyên liệu:

Chất lượng da nguyên liệu là vấn đề bức xúc trong ngành công nghiệp thuộc

da nước ta hiện nay Đây là vấn đề chiến lược lâu dài, để giải quyết cần có sự phối hợp liên bộ ngành (Bộ NN&PTNN, ngành công nghiệp thuộc da, ngành chế biến thịt, sữa vv…) Nhà nước cần đầu tư công nghiệp hoá khâu giết mổ và lột da vừa

đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm vừa gia tăng chất lượng da nguyên liệu

Về bảo quản da nguyên liệu:

Các chủ hộ giết mổ và các cơ sở bảo quản cần phải thực hiện các phương pháp bảo quản theo đúng yêu cầu kỹ thuật Da sau khi lột khỏi con vật chịu sự tác

động của sự thay đổi chất đó là quá trình mà da bị phá hoại do vi khuẩn hoặc sự lên men trong da Đây cũng là nguyên nhân gây nên các khuyết tật làm giảm giá trị của da nguyên liệu và thu hồi da thành phẩm

Trang 37

Mục đích của việc bảo quản da tươi là: hạn chế tối đa sự tác động của vi khuẩn

và quá trình lên men, làm giảm lượng nước có trong da và đảm bảo yêu cầu cho da

nguyên liệu

Có nhiều phương pháp bảo quản da động vật mà các nước đã áp dụng từ trước

tới nay nhưng bảo quản bằng phương pháp ướp muối là được dùng nhiều nhất đặc

biệt đối với da trâu bò ở Việt Nam từ trước tới nay thường sử dụng bảo quản da

bằng phương pháp này song chưa tuân thủ theo đúng yêu cầu kỹ thuật nên làm ảnh

hưởng xấu đến chất lượng da nguyên liệu

Quá trình thực hiện đề tài đã tiến hành nghiên cứu công nghệ bảo quản da

nguyên liệu ngay tại xưởng thuộc da Viện NCDG Phương pháp tiến hành: thực

hiện nhiều thí nghiệm bằng cách mua da tươi từ các lò mổ và tiến hành công nghệ

bảo quản tại Viện sau đó xuất thuộc và so sánh kết quả với các thí nghiệm bằng da

muối mua từ các cơ sở bảo quản trên thị trường Kết quả cho thấy chất lượng da

thành phẩm làm từ nguyên liệu bảo quản tại Viện tốt hơn nhiều so với da muối mua

ở các cơ sở kinh doanh da nguyên liệu bên ngoài, đặc biệt là chất lượng bề mặt

Sau đây là kết quả phân loại da mộc từ các thí nghiệm da nguyên liệu được bảo

quản theo công nghệ đề tài và da nguyên liệu mua trên thị trường (tính theo một tấn

da muối)

Bảng 7: So sánh phương pháp bảo quản của đề tài và da trên thị trường

Phân loại da mộc Da muối bảo quản

theo công nghệ đề tài

Da muối trên thị trường Loại A (không khuyết tật hoặc rất ít) 20-25% 10-15%

Bảng trên cho thấy rõ sự khác nhau về chất lượng da nguyên liệu đối với

phương pháp bảo quản của đề tài và da mua trên thị trường hiện nay Sau đây là sơ

Trang 38

3.2 Xử lý cải tạo mặt da

Công nghệ thuộc da có những đặc thù khác với các công nghệ khác là: công nghệ gồm nhiều công đoạn (trên 20 công đoạn) sử dụng nhiều loại hoá chất (trên 50 loại), có nhiều thông số kỹ thuật (hệ số lỏng, thời gian, nhiệt độ,

pH, hoá chất) thời gian thực hiện dài ngày và đặc biệt là nguyên liệu khác nhau khi đưa vào thực hiện công nghệ (nguyên liệu sống) nhưng yêu cầu kết quả da thành phẩm tương đương nhau

Trong khuôn khổ đề tài này, chủ yếu tập trung giải quyết các công đoạn: thuộc lại, nhuộm, xử lý cải tạo và chau chuốt, còn các công đoạn khác trong công nghệ thực hiện theo công nghệ thông thường đã lựa chọn

3.2.1 Nguyên liệu đưa vào thực nghiệm

- Da trâu bò:

Nguyên liệu chính sử dụng trong đề tài này là: da trâu, bò

Có hai loại: da tươi và da muối, quá trình thí nghiệm đã tiến hành cho cả hai loại

Sơ đồ công nghệ bảo quản da

Da tươi

sau khi mổ

Bảo quản tại chỗ

Chuyển đến

nơi bảo

quản

Phân loại theo chất lượng

Phân loại theo trọng lượng

Phân loại theo giống (Đực, cái)

Bảo quản

bằng ướp

muối

Vắt mễ ráo nước 40-60 phút

Xả nước Rửa sạch

Xén diềm bạc nhạc

mỡ

Trang 39

+ Da tươi:

Da được lột ra từ các con vật ở các lò mổ, các điểm giết mổ chưa qua quá trình bảo quản gọi là da tươi Da trâu, bò tươi đưa vào thí nghiệm hoặc sản xuất có một số ưu điểm:

*Không mất chi phí cho quá trình bảo quản

*Rút ngắn thời gian hồi tươi (rút ngắn thời gian công nghệ)

*Chất lượng da thuộc tốt hơn so với da muối

Để có da tươi đáp ứng cho nhu cầu nghiên cứu thí nghiệm không có gì khó khăn vì lượng da yêu cầu không lớn nhưng trong thực tế sản xuất ở các nhà máy và các cơ sở thuộc da việc sử dụng da tươi không dễ dàng, bởi vì các điểm giết mổ, lò mổ không thể cùng một lúc giết mổ một lượng lớn đủ cho sản xuất liên tục của nhà máy Mặt khác các điểm giết mổ không tập trung, ở rải rác cách xa nhau, việc giết

mổ không cùng một thời gian nên việc cung cấp da tươi cho các cơ sở sản xuất là không thể thực hiện được

+ Da muối: da muối là loại nguyên liệu được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành

công nghiệp thuộc da Hầu hết các cơ sở sản xuất da thuộc trên thế giới và trong nước đều sử dụng nguyên liệu đã qua phân loại, bảo quản rồi mới xuất thuộc Nguyên liệu da động vật phong phú và đa dạng, chúng khác nhau về loài giống, độ tuổi, nơi sinh trưởng và điều kiện chăn nuôi Để đảm bảo chất lượng da thành phẩm tương đối đồng đều, trước khi cho vào thuộc cần phải kiểm tra và lựa chọn nguyên liệu sao cho đảm bảo cả về mặt trọng lượng và chất lượng

Trang 40

Phụ lục 1

Da nguyên liệu Hồi tươi Tẩy lông - ngâm vôi

Nạo Xẻ

Cân

Bào Cân

Thuộc lại nhuộm ăn dầu

Vắt mễ Ty Sấy chân không Sấy khô

Xén diềm

Xử lý cải tạo – Trau chuốt

Đo bia - Đóng gói Nhập kho

Tẩy vôi – làm mềm

Vò mềm

Sơ đồ công nghệ sản xuất da thuộc

Ngày đăng: 08/05/2014, 08:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trên cho thấy phần có cấu trúc sợi colagen đầy chặt (l−ng, mông) hấp  thụ nhiều tanin tổng hợp, còn phần bụng cổ nách có cấu trúc sợi colagen lỏng, hấp  thụ ít tanin tổng hợp hơn - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Hình tr ên cho thấy phần có cấu trúc sợi colagen đầy chặt (l−ng, mông) hấp thụ nhiều tanin tổng hợp, còn phần bụng cổ nách có cấu trúc sợi colagen lỏng, hấp thụ ít tanin tổng hợp hơn (Trang 16)
Hình trên cho thấy ở những phần có cấu trúc lỏng lẻo nh−: bụng, cổ nách hấp  thụ nhiều resins hơn là phần mông có cấu trúc chặt, do vậy, trong đề tài này cần  quan tâm đến việc xác định l−ợng và loại resins sử dụng trong công nghệ thuộc lại - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Hình tr ên cho thấy ở những phần có cấu trúc lỏng lẻo nh−: bụng, cổ nách hấp thụ nhiều resins hơn là phần mông có cấu trúc chặt, do vậy, trong đề tài này cần quan tâm đến việc xác định l−ợng và loại resins sử dụng trong công nghệ thuộc lại (Trang 17)
Hình trên cho thấy với mức độ khuyết tật nhẹ trên mặt da, việc xử lý - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Hình tr ên cho thấy với mức độ khuyết tật nhẹ trên mặt da, việc xử lý (Trang 19)
Bảng 2: Số l−ợng đàn trâu tại 8 vùng sinh thái trong 3 năm 2000 - 2002 - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Bảng 2 Số l−ợng đàn trâu tại 8 vùng sinh thái trong 3 năm 2000 - 2002 (Trang 30)
Bảng 5: Quy mô chăn nuôi bò bình quân trong gia trại - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Bảng 5 Quy mô chăn nuôi bò bình quân trong gia trại (Trang 33)
Sơ đồ công nghệ bảo quản da - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Sơ đồ c ông nghệ bảo quản da (Trang 38)
Sơ đồ công nghệ sản xuất da thuộc - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Sơ đồ c ông nghệ sản xuất da thuộc (Trang 40)
Sơ đồ trên cho thấy công nghệ thuộc lại là một sự kết hợp hài hoà, nhuần  nhuyễn trong các quá trình: trung hoà, thuộc lại, nhuộm và ăn dầu - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Sơ đồ tr ên cho thấy công nghệ thuộc lại là một sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn trong các quá trình: trung hoà, thuộc lại, nhuộm và ăn dầu (Trang 45)
Bảng 9: Kết quả phân tích các chỉ tiêu cơ lý hoá  của da mộc làm cặp túi ví - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Bảng 9 Kết quả phân tích các chỉ tiêu cơ lý hoá của da mộc làm cặp túi ví (Trang 51)
Bảng trên cho thấy rõ sự khác nhau về chất lượng da nguyên liệu đối với phương pháp bảo - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Bảng tr ên cho thấy rõ sự khác nhau về chất lượng da nguyên liệu đối với phương pháp bảo (Trang 108)
Sơ đồ trên cho thấy công nghệ thuộc lại là một sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn  trong các quá trình: trung hoà, thuộc lại, nhuộm và ăn dầu - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Sơ đồ tr ên cho thấy công nghệ thuộc lại là một sự kết hợp hài hoà, nhuần nhuyễn trong các quá trình: trung hoà, thuộc lại, nhuộm và ăn dầu (Trang 111)
Bảng 6:   Phân loại da mộc và ph−ơng án sản phẩm - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Bảng 6 Phân loại da mộc và ph−ơng án sản phẩm (Trang 113)
Bảng 7: Các ph−ơng pháp trình bày trên có thể tóm tắt trong bảng sau đây: - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Bảng 7 Các ph−ơng pháp trình bày trên có thể tóm tắt trong bảng sau đây: (Trang 116)
Bảng 9: Kết quả phân tích các chỉ tiêu cơ lý hoá - Nghiên cứu áp dụng công nghệ bảo quản xử lý gia công cải tạo về mặt da thuộc phục vụ xuất khẩu
Bảng 9 Kết quả phân tích các chỉ tiêu cơ lý hoá (Trang 120)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w