1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

130 700 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc Việt Nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Tác giả ThS. Vũ Ngọc Giang
Trường học Viện nghiên cứu da-giầy, Bộ công thương
Chuyên ngành Kỹ thuật Công nghệ Da Thuộc
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 720,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lý luận khoa học vận dụng trong đề tài là hệ thống lý luận về sản phẩm, chất lượng, chất lượng sản phẩm, các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc, đánh giá trì

Trang 1

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học

“Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc Việt Nam đáp ứng nhu cầu tiêu dùng

trong nước và xuất khẩu”

Chủ nhiệm đề tài: ThS Vũ Ngọc Giang

Trang 2

PHầN Mở ĐầU

1 Tính cấp tiết của việc thực hiện đề tài……… 1

2 Mục đích của đề tài……… 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 2

4 Phương pháp nghiên cứu……… 2

5 Những đóng góp của đề tài….……… 2

6 Kết cấu của đề tài ……… 2

Phần I - cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về chất lượng sản phẩm 1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm, công nghệ và chất lượng sản phẩm……… ………

3 1.1.1 Sản phẩm……… 3

1.1.1.1 Khái niệm sản phẩm……… 3

1.1.1.2 Phân loại sản phẩm……… 3

1.1.1.3 Cấp sản phẩm……… 4

1.1.2 Chất lượng sản phẩm……… 4

1.1.2.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm……… 4

1.1.2.2 Định nghĩa chất lượng sản phẩm……… 4

1.1.2.3 Các thuộc tính chất lượng sản phẩm……… 5

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm……… 5

1.1.4 Một số khái niệm cơ bản về công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần của công nghệ……… 6

1.1.4.1 Định nghĩa công nghệ……… 6

1.1.4.2 Các bộ phận cấu thành một công nghệ……… 7

1.1.4.3 Đánh giá trình độ công nghệ……… 8

1.2 Cơ sở thực tiễn về sản phẩm da……… 9

Trang 3

Nam……… 11

1.2.3 Chiến lược ngành công nghiệp thuộc da nước ta đến năm 2010 ……… 12

1.2.4 Khái quát về công nghệ thuộc da……… 12

1.2.5 Các sản phẩm da thuộc……… 15

1.2.6 Chất lượng sản phẩm da thuộc……… 16

1.2.7 Nhận xét về phần I và nhiệm vụ của phần II………… 28

Phần II - Thực trạng ngành công nghiệp thuộc Da Việt nam 19 2.1 Vị trí của ngành công nghiệp thuộc da……… 19

2.1.1 Vai trò, vị trí của ngành công nghiệp sản xuất da thuộc và các sản phẩm từ da……… 19

2.1.2 Khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp thuộc da nước ta……… 19

2.2 Thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam……… 21

2.2.1 Về cơ cấu sở hữu, quy mô và năng lực sản xuất……… 21

2.2.2 Nhận xét chung về thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam……… 22

2.2.2.1 Theo vị trí địa lý……… 22

2.2.2.2 Theo quy mô và năng lực sản xuất……… 23

2.2.2.3 ảnh hưởng của công nghệ thuộc da đối với môi trường…… 26

2.3 Đánh giá trình độ công nghệ ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam……… 27

2.3.1 Thành phần kỹ thuật (T)……… 28

2.3.2 Thành phần con người (H)……… 36

2.3.3 Thành phần thông tin (I)……… 43

2.3.4 Thành phần tổ chức (O)……… 47 2.4 Phân tích và đánh giá việc sử dụng các nguồn nguyên liệu

Trang 4

2.4.1 Về nguồn da nguyên liệu……… 52

2.4.1.1 Số lượng đàn trâu bò trong cả nước……… 52

2.4.1.2 Sản lượng da trâu bò nguyên liệu……… 52

2.4.1.3 Quy mô chăn nuôi trâu bò trong gia trại ……… 53

2.4.1.4 Phương thức chăn nuôi và ảnh hưởng của yếu tố này đến chất lượng da trâu bò……… 54

2.4.1.5 Đánh giá về chất lượng da nguyên liệu tại các lò mổ và cơ sở bảo quản da……… 54

2.4.2 Về hoá chất……… 57

2.4.2.1 Tình hình chung……… 57

2.4.2.2 Thực trạng về hoá chất……… 58

2.5 Đánh giá chung về chất lượng của sản phẩm da thuộc Việt Nam và một số vấn đề của ngành công nghiệp thuộc da 59

2.6 Những nhiệm vụ cần thực hiện của đề tài ở phần 3… …… 61

Phần III: Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc 63 3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển của ngành thuộc da 63

3.1.1 Cơ sở xác định mục tiêu ……… 63

3.1.2 Chính sách phát triển ngành thuộc da ……… 63

3.1.3 Mục tiêu của ngành và dự báo nhu cầu về da thuộc thành phẩm………

63 3.1.3.1 Mục tiêu chung……… 64

3.1.3.2 Mục tiêu cụ thể……… 64

3.1.3.3 Dự báo nhu cầu về da thuộc thành phẩm……… 64

3.1.3.4 Phương hướng phát triển……… 64

3.2 Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm của ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam……… 64

3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao trình độ công nghệ ngành công

Trang 5

liÖu vµ hãa chÊt cho ngµnh c«ng nghiÖp thuéc da ………… 71

Trang 6

Những người thực hiện đề tài

Trang 7

Từ viết tắt Diễn giải Giải thích

iso International Standard

Organization

Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế

eoqc European Organization for

Quality Control

Tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu

escap Economic Social Commission

for Asia and the Pacific

ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu á-Thái Bình Dương

BOD5 Biological Oxygen Demand Nhu cầu ôxy sinh học sau 5 ngày COD Chemical Oxygen Demand Nhu cầu ôxy hóa học

UNDP United National Development

Programe

Chương trình phát triển Liên hợp quốc

UNIDO United National Industrial

Cr (III) Chrome(III) Crôm có hóa trị 3

thuộc lại da

lại da phèn xanh, hoặc thuộc da cứng

DA PHèN

XANH

Da động vật thuộc bằng chất thuộc crôm

Trang 8

Hình 1 Sơ đồ tổng hợp các công đoạn trong công nghệ thuộc 24 Hình 2 Tính hiện đại của máy móc thiết bị lĩnh vực thuộc da 49 Hình 3 Trình độ nghiệp vụ chuyên môn của lao động lĩnh vực

Trang 9

Trang

Bảng 1 Cấp bậc tinh xảo của các thành phần công nghệ 14

Bảng 3 Năng lực sản xuất theo thành phần kinh tế 34

Bảng 4 Năng lực sản xuất thực tế huy động qua các năm 1997 -

Bảng 5 Kết quả phân tích một số thành phần trong nước thải tại

“Làng thuộc da” Phú Thọ Hoà - thành phố Hồ Chí Minh

Bảng 6 Giới hạn cho phép nước thải theo tiêu chuẩn Việt Nam và

tiêu chuẩn chung của khu vực……… 41

Bảng 7 Dự tính máy móc thiết bị toàn ngành thuộc da năm 2006… 43

Bảng 8 Nhập khẩu máy móc thiết bị thuộc da những năm gần đây 46

Bảng 9 Máy móc thiết bị nhập theo nước năm 2004……… 47

Bảng 10 Máy móc thiết bị nhập theo thành phần kinh tế năm 2004 47

Bảng 11 Kết quả đánh giá nguồn thông tin của các doanh nghiệp… 64

Bảng 12 Quy mô chăn nuôi bò, trâu bình quân trong gia trại……… 79

Bảng 13 Kết quả khảo sát về mức độ quan tâm mặt da……… 80

Bảng 14 ước về lượng hóa chất cho thuộc da nhập khẩu năm 2005 85

Bảng 15 Sơ đồ công nghệ bảo quản da nguyên liệu……… 110

Trang 10

Trong xu thế toàn cầu hóa, với cơ chế mở cửa của nền kinh tế đất nước, việc nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc trong nước nhằm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, làm cho sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng để phục vụ xuất khẩu tại chỗ, hạn chế một phần da nhập khẩu là một thách thức lớn đối với ngành và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế Việc lựa chọn và tiến hành

đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản

phẩm da thuộc Việt Nam đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ” là hướng đi đúng đắn và cần thiết

Cơ sở lý luận khoa học vận dụng trong đề tài là hệ thống lý luận về sản phẩm, chất lượng, chất lượng sản phẩm, các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc, đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức)

Cơ sở thực tiễn của đề tài nêu rõ việc cung rất không đủ cầu các sản phẩm da thuộc phục vụ xuất khẩu tại chỗ; những thách thức sắp tới của ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam như: mới phát triển, không có quy hoạch, tự phát; trình độ công nghệ lạc hậu khoảng 20 - 30 năm so với thế giới Phải nâng cấp trình độ công nghệ của ngành nhưng nguồn tài chính hạn hẹp; Chất lượng da nguyên liệu quá xấu; chăn nuôi, giết mổ không công nghiệp; ngành công nghiệp hóa chất thuộc da hầu như không có gì; nhân lực thuộc da yếu cả chất lẫn lượng Do vậy, việc tìm những giải pháp hữu hiệu để ngành công nghiệp thuộc da phát triển nhằm nâng cao chất lượng của da thành phẩm đạt chất lượng xuất khẩu là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết

Qua phân tích và đánh giá thực trạng của ngành, ta thấy những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc của nước ta là:

Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp không đồng đều, còn thấp so với khu vực và thế giới Phát triển sản xuất chưa triển khai quy hoạch tổng thể

cụ thể cho từng vùng, miền

Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tương đương với các nước trong khu vực Phần lớn 40% máy móc thiết bị

đồng bộ, hiện đại của ngành nằm trong khu vực này, đảm bảo thực hiện những quy trình công nghệ tiên tiến và chất lượng sản phẩm đạt xuất khẩu Cần phải

có các chính sách và tạo điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư và công nghệ của nước ngoài để tăng sản lượng sản phẩm da xuất khẩu tại chỗ

Trang 11

trình độ công nghệ cho khu vực này và giúp đỡ các cơ sở nhỏ

Ngoài ra, thực trạng chăn nuôi, giết mổ và bảo quản nguồn da nguyên liệu của ta còn nhiều yếu kém, bất cập Phải có những giải pháp đồng bộ giữa các ngành để tăng số lượng và chất lượng da nguyên liệu cho ngành

Mặt khác, hướng ưu tiên của chúng ta là lựa chọn và nhập khẩu hóa chất cho sản xuất da mới đảm bảo chất lượng của da thành phẩm xuất khẩu

Đề tài đã làm rõ những nội dung chính của hai giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản da thuộc của ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam Đưa

ra được hai giải pháp cơ bản song song, có yếu tố quyết định tăng chất lượng

da thành phẩm của ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam Đó là:

1 Nâng cao trình độ công nghệ ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam bằng cách thu hút đầu tư và công nghệ tiên tiến của nước ngoài; tăng cường năng lực và trình độ công nghệ cho các doanh nghiệp, cơ sở có vốn đầu tư trong nước

2 Khai thác tối ưu nguồn nguyên liệu và hóa chất, yếu tố đầu vào cũng quyết định rất lớn đến chất lượng da thành phẩm

Nếu làm tốt hai giải pháp này, da thuộc thành phẩm Việt Nam chắc chắn

sẽ tăng cả về chất lượng và số lượng

Trang 12

Phần Mở đầu

1 Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài

Ngày nay, trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa về kinh tế, chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có một vai trò hết sức quan trọng và đang trở thành một thách thức to lớn đối với mọi quốc gia Trong quá trình hội nhập, thị trường thế giới

đã không ngừng mở rộng và trở nên tự do hơn Chất lượng sản phẩm và dịch vụ lại càng có vị trí quyết định trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

Trong cơ chế mở cửa của nền kinh tế đất nước, ngành công nghiệp thuộc da

đã có những bước tiến bộ, chất lượng da thuộc dần tăng lên, các sản phẩm được sản xuất, chế biến từ da thuộc đã bắt đầu có sức canh tranh trên thị trường Tuy nhiên chất lượng da thuộc thành phẩm còn hạn chế, chưa ổn định, nên ảnh hưởng đến việc cung cấp tại chỗ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giầy dép xuất khẩu,

ảnh hưởng đến sự phát triển chung của ngành

Việc nghiên cứu đề ra các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm của da thuộc là thực hiện định hướng phát triển ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc trong nước nhằm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, làm cho sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng để phục vụ xuất khẩu tại chỗ, hạn chế một phần da nhập khẩu là một thách thức lớn đối với ngành

và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế Đây cũng là một tiêu chí giúp các doanh nghiệp trong ngành phát triển bền vững

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, mong muốn ngành công nghiệp thuộc da nước nhà phát triển, các doanh nghiệp, cơ sở dần khẳng định được mình bằng thương hiệu và chất lượng da thành phẩm, góp phần cho ngành Da - Giầy khẳng định là một trong những ngành có sản phẩm xuất khẩu chủ lực trong nền

kinh tế đất nước, việc lựa chọn và tiến hành đề tài: ““Nghiên cứu đề xuất một số

giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc Việt Nam đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu” là hướng đi đúng đắn và cần thiết

2 Mục đích của đề tài

- Nghiên cứu và phân tích một số lý luận cơ bản về sản phẩm, chất lượng, chất lượng sản phẩm, đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức)

- Phân tích thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam; các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc của ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất da thuộc trên phạm vi cả nước

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng chăn nuôi, giết mổ trâu, bò trên cả nước; thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm da thuộc của các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da từ khâu nguyên liệu đầu vào đến da thành phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp hồi cứu số liệu từ các tài liệu có liên quan đến đề tài

+ Phương pháp khảo sát điều tra thu thập dữ liệu

+ Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, dự báo

+ Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia

+ Từ việc phân tích, đánh giá, nhận xét, rút ra các kết luận cần thiết, các yếu

tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc, từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc

5 Những đóng góp của đề tài

- Đề tài sẽ hệ thống hóa các lý luận về sản phẩm, chất lượng, chất lượng sản phẩm, đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần công nghệ, ảnh hưởng của

các yếu tố đến chất lượng sản phẩm da thuộc

- Đề xuất được một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc Việt Nam

- Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức và cá nhân quan tâm đến ngành công nghiệp thuộc da nước nhà

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bầy gồm có 3 phần:

+ Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về sản phẩm, công nghệ và chất lượng sản phẩm

+ Phần II: Thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam

+ Phần III: Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc Việt Nam

Trang 14

Phần I - Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về sản phẩm, công nghệ và chất lượng sản phẩm

1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm, công nghệ và chất lượng

1.1.1 Sản phẩm

1.1.1.1 Khái niệm về sản phẩm

Theo Mác: “Sản phẩm là kết tinh của lao động”,[1,19]

Theo tiêu chuẩn của hệ thống quản lý chất lượng về cơ sở và từ vựng ISO

9000 : 2000, sản phẩm được định nghĩa là “kết quả của các hoạt động hay các quá trình” Mặt khác, trong phần thuật ngữ lưu ý: “Sản phẩm cũng có nghĩa là dịch vụ”,[1,19]

Theo ngôn ngữ marketing, sản phẩm là tất cả những gì có thể thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và được chào bán trên thị trường

Sản phẩm được hình thành từ các thuộc tính vật chất hữu hình và vô hình tương ứng với hai bộ phận cấu thành là phần cứng, phần mềm của sản phẩm

Phần cứng của sản phẩm là các thuộc tính vật chất hữu hình thể hiện dưới một hình thức cụ thể rõ ràng bao gồm những vật thể bộ phận và những sản phẩm

được lắp ráp, nguyên vật liệu đã chế biến

Phần mềm của sản phẩm bao gồm các loại dịch vụ cung cấp cho khách hàng các yếu tố như thông tin, khái niệm các dịch vụ đi kèm… đáp ứng những nhu cầu tinh thần, tâm lý xã hội của khách hàng.[1,19],[12,5-7]

1.1.1.2 Phân loại sản phẩm

Để tạo điều kiện dễ dàng trong công tác quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh trên thị trường, người ta đưa ra những căn cứ khác nhau để phân loại sản phẩm như: Theo chức năng, công dụng của sản phẩm; theo đặc điểm công nghệ sản xuất; theo nguyên liệu sản xuất; theo thành phần hóa học…

Dưới góc độ quản lý chất lượng, người ta phân loại theo chức năng, công dụng của sản phẩm

Ngoài ra, những sản phẩm có cùng chức năng, nhưng xuất xứ khác nhau, người ta yêu cầu phải có nhãn hiệu sản phẩm riêng biệt Trên ghi các thông tin về chất lượng, số đăng ký, tiêu chuẩn, các quy định về điều kiện và phạm vi, thời hạn

sử dụng để quản lý và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.[1,20].[12,7-8]

Trang 15

- Cấp 2: Sản phẩm thực hay sản phẩm cụ thể là những sản phẩm, ngoài

những đặc tính kỹ thuật cơ bản, còn có những thông tin khác về nhãn hiệu, mẫu mã, bao bì, cấp chất lượng, thời hạn sử dụng…

- Cấp 3: Sản phẩm gia tăng bao gồm thêm những thông tin và dịch vụ

chuyên biệt khác, như: cách bán và giao hàng, cách lắp đặt, cam kết dịch vụ hậu mãi (cách bảo trì, cách liên hệ với khách hàng…).[1,21]

1.1.2 Chất lượng sản phẩm

1.1.2.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm

Tùy theo đối tượng sử dụng, từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả,[5, 1]

Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ

về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau

ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ sản phẩm, từ người sản xuất hay từ đòi hỏi của thị trường cho phù hợp.[12,9-10]

1.1.2.2 Định nghĩa chất lượng sản phẩm

Theo quan niệm của các nhà sản xuất: “Chất lượng là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn các yêu cầu định trước cho

nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định”[1,23]

Trong nền kinh tế thị trường, định nghĩa về chất lượng gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả:

- “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng” (Tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu - European Organization for Quality Control),[1,24]

- “Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thể tin cậy

được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận” (W Edwards Deming),[1,24],[2,2]

- “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (Philip B Crosby),[1,24],[2,2]

- “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng” (J.M Juran)

Định nghĩa này khác với định nghĩa thường dùng là “phù hợp với quy cách đề ra”,[1,24],[2,2]

- “ Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản phẩm, dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụ đáp ứng mong đợi của khách hàng” (A Feigeinbaum),[1,24],[2,2]

- Theo ISO 9000 : 2000: “Chất lượng là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thoả mãn các yêu cầu của khách hàng

Trang 16

và các bên có liên quan” “Yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi đã được công

bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc”,[1,25],[2,2],[9],[12]

Như vậy, việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng là điều quan trọng nhất trong việc đánh giá chất lượng của bất cứ sản phẩm hay dịch vụ nào và chất lượng

là phương diện quan trọng nhất của sức cạnh tranh

1.1.2.3 Các thuộc tính chất lượng sản phẩm[1,25]

Dưới góc độ kinh doanh có thể phân loại thành hai nhóm thuộc tính sau:

- Thuộc tính công dụng - phần cứng (giá trị vật chất) - là bản chất, cấu tạo

của sản phẩm, các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ Phần này chiếm khoảng

10 - 40% giá trị của sản phẩm

- Thuộc tính được cảm thụ bởi người tiêu dùng - phần mềm (giá trị tinh thần)

- là uy tín của sản phẩm, xu hướng, thói quen tiêu dùng, đặc biệt là các dịch vụ trước và sau khi bán Phần này chiếm khoảng 60 - 80% giá trị của sản phẩm, thậm chí có thể lên tới 90% giá trị sản phẩm

Như vậy, chất lượng của sản phẩm được tạo ra bởi toàn bộ thuộc tính của sản phẩm có khả năng thoả mãn nhu cầu vật chất hữu hình và vô hình của người tiêu dùng [1, 25-27],[9],[11],[12,13-16]

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm[1,35-39]

Có thể chia thành hai nhóm yếu tố chủ yếu, đó là nhóm yếu tố bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong tổ chức, doanh nghiệp

1.1.3.1 Nhóm yếu tố bên ngoài tổ chức, doanh nghiệp

a) Nhu cầu của nền kinh tế

Chất lượng sản phẩm luôn phụ thuộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của của nền kinh tế, thể hiện ở các mặt:

- Nhu cầu của thị trường: Trước khi thiết kế, sản xuất sản phẩm, phải

nghiêm túc nghiên cứu thị trường, môi trường kinh tế - xã hội, yêu cầu chất lượng, thói quen tiêu dùng, phong tục tập quán, văn hóa, lối sống, khả năng thanh toán của khách hàng…để có đối sách đúng đắn

- Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: Đó là khả năng kinh tế (tài nguyên,

tích lũy, đầu tư…) và trình độ kỹ thuật (chủ yếu là trang thiết bị công nghệ và kỹ năng)

- Chính sách kinh tế: hướng đầu tư, hướng phát triển loại sản phẩm, mức

thỏa mãn các loại nhu cầu được thể hiện trong các chính sách kinh tế

b) Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật

Hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:

- Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế: Bằng nghiên cứu, xác lập

các loại vật liệu mới hoặc tạo nên những tính chất đặc trưng mới cho sản phẩm tạo thành, hoặc thay thế cho sản phẩm cũ nhưng duy trì tính chất cơ bản của sản phẩm

Trang 17

- Cải tiến hay đổi mới công nghệ: Công nghệ chế tạo càng tiến bộ, càng có

khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng cao hơn

- Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới: bằng cách cải tiến, nâng

cao tính năng kỹ thuật hay giá trị sử dụng của sản phẩm hiện có

c) Hiệu lực của cơ chế quản lý

Khả năng nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi tổ chức, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào cơ chế quản lý, chính sách của Nhà nước như: chính sách đầu tư, chính sách giá, chính sách thuế, tài chính, chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển, cách thức tổ chức quản lý của Nhà nước về chất lượng…

1.1.3.2 Nhóm yếu tố bên trong tổ chức, doanh nghiệp

a) Con người

Bao gồm tất cả các thành viên trong tổ chức, doanh nghiệp từ cán bộ lãnh

đạo đến nhân viên thừa hành Năng lực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm

d) Phương pháp

Với phương pháp công nghệ thích hợp, với trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác tốt nhất các nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm

Ngoài các yếu tố trên, chất lượng sản phẩm còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như: thông tin, môi trường, đo lường, hệ thống.[1,34-38],[12,40]

Nhìn chung chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng chủ yếu của trình độ công nghệ Chất lượng sản phẩm tốt hay xấu phụ thuộc vào mức độ tinh xảo, tính hiện

đại của các thành phần công nghệ: kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức

1.1.4 Một số khái niệm cơ bản về công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần của công nghệ

1.1.4.1 Định nghĩa công nghệ

Công nghệ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên những căn

cứ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau

Theo ủy ban kinh tế và xã hội khu vực châu á - Thái Bình Dương

(ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế

Trang 18

biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ,[3,10]

Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất ra vật chất mới dùng công nghệ mà

được mở rộng như: công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng…

Trong Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam, quan niệm: “ Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng

để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”,[3,11]

Căn cứ vào tính chất phổ biến và nguồn gốc của công nghệ, các công nghệ

có thể chia thành 2 nhóm: công nghệ mới và công nghệ truyền thống:

- Công nghệ truyền thống là công nghệ đã được áp dụng từ lâu quen thuộc có

tính truyền thống Tiêu biểu cho các công nghệ này là những công nghệ cổ truyền sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống

- Công nghệ mới là những công nghệ được đưa vào ứng dụng chưa lâu, thậm

chí hoàn toàn mới, đang trong giai đoạn thử nghiệm

Công nghệ thuộc da thực hiện tại các cơ sở sản xuất hiện nay là một dạng công nghệ truyền thống cải tiến thông qua sử dụng các thiết bị mới, hoá chất mới tạo ra các sản phẩm mới có tính thời trang theo yêu cầu thị trường

1.1.4.2 Các bộ phận cấu thành một công nghệ,[27,11-14],[4,7]

Công nghệ gồm bốn thành phần cơ bản có sự tác động đồng bộ qua lại với nhau để tạo ra bất kỳ một sự biến đổi mong muốn, đó là:

a) Thành phần kỹ thuật (Technoware - T): phần công nghệ hàm chứa

trong các vật thể như các phương tiện kỹ thuật, công cụ, máy móc thiết bị, vật liệu, các cấu trúc hạ tầng khác… gọi là phần cứng của công nghệ Đây là cốt lõi của hoạt động chuyển hoá, nhưng do con người lắp đặt, vận hành

b) Thành phần con người (Humanware - H): gồm những kinh nghiệm,

kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề thành thạo, khéo léo, có tính sáng tạo, khả năng phối hợp và đạo đức nghề nghiệp Đây là yếu tố chìa khoá của hoạt động sản xuất

c) Thành phần thông tin (Inforware-I): bao gồm các dữ liệu về phần kỹ

thuật, phần con người và phần tổ chức.Ví dụ, dữ liệu kỹ thuật như: các thông số về

đặc tính thiết bị, số liệu về vận hành và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu

để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật

d) Thành phần tổ chức (Orgaware - O): bao gồm các thiết chế tổ chức,

các thẩm quyền, trách nhiệm, sự liên kết, phối hợp, quản lý, kể cả quy trình đào tạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần con người

Trang 19

Hình 1: Mối quan hệ giữa các thành phần công nghệ,[4,7],[27,15],[14,8]

- T là cốt lõi, do H triển khai, lắp đặt, vận hành

- H là chìa khóa của hoạt động sản xuất, chịu chi phối của I và O

- I là cơ sở cho H ra quyết định

- O liên kết các thành phần, tạo môi trường và động lực cho con người hoạt động

Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào Nhờ máy móc, thiết bị, phương tiện, con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ, vì so với con người trong quá trình biến đổi, máy móc: nhanh hơn, mạnh hơn, phức tạp hơn và chính xác hơn Để dây chuyền công nghệ có thể hoạt động được, cần có sự liên kết giữa phần kỹ thuật, phần con người và phần thông tin Phần thông tin biểu hiện các tri thức được tích lũy trong công nghệ , nó giúp trả lời câu hỏi: “Làm cái gì” và “Làm như thế nào” Phần tổ chức đóng vai trò điều hòa, phối hợp ba thành phần trên của công nghệ để thực hiện hoạt động biến đổi một cách hiệu quả Đây là động lực của một công nghệ,[27,11-14],[4,7]

1.1.4.3 Đánh giá trình độ công nghệ

Thông thường người ta đánh giá trình độ công nghệ trên hai phần:

- Đánh giá định tính đặc trưng công nghệ dựa trên cấp bập tinh xảo (sophistication) của bốn thành phần công nghệ (T-H-I-O) được thể hiện ở bảng dưới đây:

Bảng 1: Cấp bậc tinh xảo của các thành phần công nghệ,[4,7]

Kỹ thuật (T) Con người (H) Thông tin (I) Tổ chức (O)

Phương tiện thủ công Khả năng vận hành Dữ kiện phổ biến Cơ cấu đứng vữngPhương tiện động lực Khả năng lắp đặt Dữ kiện mô tả Cơ cấu ràng buộc Phương tiện đa dụng Khả năng sửa chữa Dữ kiện đặc trưng hóa Cơ cấu mạo hiểm

Trang 20

Phương tiện chuyên dụng Khả năng sao chép Dữ kiện ứng dụng Cơ cấu bảo vệ

Phương tiện tự động Khả năng thích ứng Dữ kiện nhận thức Cơ cấu ổn định Phương tiện vi tính hóa Khả năng cải tiến Dữ kiện tổng quát Cơ cấu triển vọng Phương tiện tích hợp Khả năng đổi mới Dữ kiện đánh giá Cơ cấu lãnh đạo

- Đánh giá định lượng hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) và hàm lượng công nghệ tăng thêm (TCA):

+ Hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) của một công ty cho biết sự đóng góp của công nghệ trong toàn bộ hoạt động chuyển đổi vào đầu ra của công ty, là hàm lượng công nghệ tăng thêm (TCA) trên một đơn vị đầu ra

Cường độ đóng góp của một thành phần công nghệ thể hiện tiềm năng của thành phần công nghệ đó trong việc nâng cao giá trị của hàm hệ số đóng góp TCC

1.2.1 Một số nét về ngành công nghiệp thuộc da trên thế giới

Da thuộc được dùng chủ yếu để sản xuất giầy và đồ da Công nghiệp thuộc

da và chế biến các sản phẩm từ da thuộc ngày một phát triển, nhất là ở những nước

đang phát triển và một số nước công nghiệp mới

Với các nước đang phát triển như nước ta, công nghiệp thuộc da chiếm một

vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi các nguyên nhân sau:

Trang 21

Thứ nhất, công nghiệp thuộc da phát triển sẽ giúp các nước này dần loại bỏ việc xuất khẩu da sống, các loại da bán thành phẩm, làm giảm việc nhập khẩu da thuộc thành phẩm, tạo điều kiện tăng giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu chế biến từ da thuộc

Các công đoạn đến thuộc phèn xanh, nửa hoàn thành và hoàn thành da đều

có cơ hội sử dụng linh hoạt các nguyên nhiên liệu, hóa chất trong nước và của các nước đang phát triển

Thứ hai, ngành da không nhất thiết đòi hỏi quy mô lớn Từng doanh nghiệp, cơ sở vừa và nhỏ có thể tập trung trong cụm công nghiệp để phân công sản xuất có tính chuyên môn hóa nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng và mang tính cạnh tranh

Thứ ba, do nhu cầu da thuộc ngày càng tăng cho chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu nên thúc đẩy các nước đang phát triển phải chú trọng chăn nuôi đại gia súc, giết mổ lấy thịt, lột da theo phương pháp công nghiệp, dần khắc phục tình trạng vừa phung phí nguyên liệu da sống,[13,9-10]

Người ta chia các nước cung cấp sản phẩm da thành bốn nhóm:

- Các nước phát triển trong khoảng thập niên cuối của thế kỷ XX như Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu

- Các nước đã có ngành công nghiệp thuộc da phát triển một thời gian và đã

có những kinh nghiệm và thành công nhất định như: Braxin, Hàn Quốc, Đài Loan

- Các nước có ngành công nghiệp thuộc da phát triển như: ý, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ và một vài nước khác

- Nhóm các nước thuộc da còn lại

Ngày nay sản xuất da thuộc có xu hướng chuyển từ châu Âu và Bắc Mỹ (nơi

có ngành công nghiệp thuộc da phát triển) sang các nơi khác trên thế giới do một

Trong những năm gần đây, một số nước như: Trung Quốc, ấn Độ, và Hàn Quốc vv đang dẫn đầu về sản xuất da thuộc, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trên thị

Trang 22

trường thế giới là da bò mềm (Nappa) Dự báo đến năm 2010 sản lượng da thuộc của thế giới khoảng 18 tỷ sqft da các loại

Theo dự báo từ 5-10 năm tới các nước phát triển phải nhập khẩu da phèn và

da mộc từ các nước đang phát triển khoảng 350 triệu sqft da bò, 400 triệu sqft da

dê, cừu và xu thế còn tiếp tục kéo dài đến ngoài 2020

Hiện nay ngành công nghiệp thuộc da ở các nước phát triển đã đạt đến mức

độ cao về trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm gần như hoàn hảo, tập trung chủ yếu vào các loại sản phẩm mẫu thời trang, còn các nước đang phát triển giữ vai trò chủ đạo về sản xuất da thuộc, ước tính chiếm khoảng 60 - 70% sản lượng da trên toàn cầu Đây cũng là thách thức và cơ hội thuận lợi để thúc đẩy ngành công

nghiệp thuộc da nước nhà phát triển mạnh trong những giai đoạn sắp tới.[25,7-9] 1.2.2 Những thách thức của ngành thuộc da Việt Nam

Ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam là ngành còn non trẻ, mới phát triển khoảng gần 20 năm lại đây Nhưng sự phát triển không có quy hoạch, tự phát và

đôi chỗ manh mún Hiện nay, ngành đang phải đối chọi với rất nhiều vấn đề lớn:

- Phải quy hoạch lại các doanh nghiệp thuộc da vào các khu công nghiệp và nâng cấp, cải tạo lại một số cơ sở

- Trình độ công nghệ lạc hậu khoảng 20 - 30 năm so với thế giới Phải nâng cấp trình độ công nghệ của ngành nhưng nguồn tài chính hạn hẹp

- Chất lượng da nguyên liệu quá xấu và số lượng không đủ, lại bị xuất lậu theo đường tiểu ngạch ước tới 40%

- Chăn nuôi, giết mổ không công nghiệp và bảo quản da nguyên liệu tùy tiện Diện tích da nhỏ, chất lượng kém

- Ngành công nghiệp hóa chất cho thuộc da hầu như không có gì

- Nguồn nhân lực quản lý, kỹ thuật viên, công nhân lành nghề quá mỏng và hàng năm ít được nâng cấp và không được cung cấp thêm

- Chất lượng da thành phẩm đi từ da nguyên liệu trong nước thấp, chủ yếu phục vụ tiêu dùng nội địa

- Nhu cầu da thành phẩm cho xuất khẩu tại chỗ rất lớn

- Việc xử lý các chất thải trong công nghiệp thuộc da rất nan giải do có khó khăn về tài chính

- Nước láng giềng có ngành công nghiệp thuộc da tương đối phát triển, thu hút phần lớn da nguyên liệu sống và cũng bằng đường tiểu ngạch những sản phẩm

từ da của họ chất lượng vừa phải, mẫu mã đẹp, đa dạng, giá rẻ đã chiếm lĩnh thị trường nước ta

Do vậy, việc tìm những giải pháp hữu hiệu để ngành công nghiệp thuộc da phát triển nhằm nâng cao chất lượng của da thành phẩm đạt chất lượng xuất khẩu là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết

Trang 23

1.2.3 Chiến lược phát triển ngành thuộc da nước ta đến 2010

- Khai thác tối đa mọi nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu (cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)

- Tăng nhanh đàn gia súc; khuyến khích phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại; hướng tới chăn nuôi, giết mổ công nghiệp và bảo quản da sống đúng kỹ thuật nhằm đáp ứng nguồn da nguyên liệu cả về số lượng và chất lượng Trước mắt, khai thác và sử dụng tốt mọi nguồn da sẵn có

- Thực hiện nhanh việc sắp xếp lại lĩnh vực thuộc da nhằm đáp ứng nhu cầu

da thuộc thành phẩm (cả về số và chất lượng) cho giầy dép xuất khẩu

- Quy hoạch, xây dựng khu công nghiệp thuộc da xa khu dân cư Di dời các cơ sở thuộc da vào các khu công nghiệp chuyên ngành

- Tập trung đầu tư chiều sâu, bổ sung máy móc thiết bị đồng bộ, hiện đại Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý nhằm khai thác tốt hơn năng lực thuộc da hiện có Đặc biệt là nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa các mặt hàng da thuộc

- Bổ sung nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cho độ ngũ quản lý, kỹ thuật

và công nhân lành nghề

- Lựa chọn công nghệ tiên tiến, hạn chế tối đa và không gây ô nhiễm môi

trường trong lĩnh vực thuộc da

1.2.4 Khái quát về công nghệ thuộc da

Thuộc da là quá trình cơ, lý, hóa để bảo quản protein colagen trước các tác

động của môi trường, nói cách khác: quá trình thuộc da là quá trình đưa chất thuộc vào trong cấu trúc sợi da, làm biến đổi tính chất và tăng độ bền của cấu trúc sợi da,

da thu được gọi là da thuộc

Sau khi thuộc, da còn phải trải qua công đoạn hoàn thành (ướt và khô) để tăng cường các tính chất hữu ích của da thuộc

Phần việc cuối cùng trong công đoạn hoàn thành khô là trau chuốt da [32,9],[22,6]

Công nghệ thuộc da có tính đặc thù khác với các công nghệ khác là:

- Nguồn nguyên liệu da động vật sống, rất khác nhau về chất lượng, trọng lượng giữa các con da, cấu trúc, độ dầy của các phần trong một con, độ tuổi, giống (đực cái), vùng chăn nuôi Sự khác nhau này gây nên sự không đồng đều về nguyên liệu đầu vào trong khi yêu cầu của sản phẩm đầu ra phải đồng đều về chất lượng

- Thời gian thực hiện công nghệ dài ngày (10-15 ngày), triển khai trên 20 công đoạn, sử dụng khoảng 40-50 loại hoá chất và trên 20 loại máy móc thiết bị, sử dụng rất nhiều nước (khoảng 50 m3 nước/tấn da nguyên liệu)

Trang 24

- Để biến đổi từ nguồn da sống sang da thành phẩm, công nghệ thuộc da cần phải trải qua hàng loạt quá trình xử lý cơ- lý- hoá với tính chất nhạy cảm cao và thao tác kỹ thuật tỷ mỉ, chính xác

- Yêu cầu của công nghệ phải xử lý sao cho từ nguồn da nguyên liệu không

đồng đều trở thành sản phẩm da hoàn thành có chất lượng tương đương nhau ở các phần trong cùng một con và đều đặn trong cùng một lô xuất thuộc đồng thời đáp ứng được các tính chất phù hợp với từng loại sản phẩm (da mũ giầy, da áo, da túi ) Đây chính là điểm mấu chốt trong chuyển đổi từ da sống sang da thuộc, yêu cầu trình độ công nghệ cao, kinh nghiệm và lòng yêu nghề mới tạo ra được sản phẩm đạt chất lượng

- Đây là loại công nghệ khó thực hiện chuẩn xác và gây ô nhiễm,[14,4] Các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da trong nước chủ yếu đang tập trung quan tâm về nâng cao chất lượng sản phẩm, chưa chú ý nhiều đến an toàn vệ sinh môi trường và xử lý các chất thải do doanh nghiệp gây ra làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động và gây ô nhiễm môi trường xung quanh

Việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát các công đoạn trong công nghệ

ở các doanh nghiệp còn lỏng lẻo, chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của công nghệ gây ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp

Thực trạng phát triển sản xuất và trình độ công nghệ không đồng đều hiện nay ở các loại hình doanh nghiệp (tư nhân, cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) dẫn đến chất lượng da thành phẩm rất khác nhau ở các khu vực Chỉ các doanh nghiệp được đầu tư đầy đủ mới có đầu ra đạt chất lượng xuất khẩu

Do đó, cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ công nghệ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng da thành phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp

Trang 25

Hình 1: Sơ đồ tổng hợp các công đoạn trong công nghệ thuộc da [21,86]

- Nguyên liệu

- Hồi tươi -Tẩy lông - Ngâm vôi -Tẩy lông - Làm mềm

- Axit hoá

- Thuộc (crôm, kết hợp,

tanin tổng hợp, tanin thực vật )

đo bia đóng gói, nhập kho

Da mộc bán thành phẩm

Da hoàn thành

Trang 26

Sơ đồ trên biểu thị toàn bộ công nghệ thuộc da nêu ở trên thể hiện công nghệ gồm 24 công đoạn chính, những công đoạn đó thực hiện sự biến đổi từ da nguyên liệu đến da thành phẩm thông qua những tác động hoá học, cơ học và hoá lý

Quy trình công nghệ sản xuất được chia thành ba phần chính: Chuẩn bị thuộc

- Thuộc - Hoàn thành

Phần chuẩn bị thuộc và phần thuộc gồm các công đoạn nặng nhọc và độc hại

do sử dụng nhiều hoá chất có độc tố cao như: sunphua natri (Na2S), chất thuộc crôm làm tăng lượng BOD, COD và crôm trong nước thải, gây ô nhiễm đến nguồn nước và thuỷ sinh vật

Phần hoàn thành ít gây ô nhiễm môi trường nhưng đòi hỏi công nghệ ở mức

cao hơn đồng thời phải có kinh nghiệm nghề nghiệp và sáng tạo trong công việc, phẩm cấp của sản phẩm được thể hiện chủ yếu ở phần công nghệ này Đây cũng là

lý do vì sao trong hơn thập kỷ qua các nước phát triển có xu hướng chuyển dịch phần chuẩn bị thuộc và phần thuộc sang các nước đang phát triển và chỉ gĩư lại thực hiện phần hoàn thành của công nghệ.[14,18-19]

Qua đây ta thấy quy trình công nghệ sản xuất da thuộc rất phức tạp, kéo rất dài thời gian Chất lượng của da thành phẩm phụ thuộc vào hàng loạt điều kiện như: chất lượng da nguyên liệu sống, hóa chất, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất và những người quản lý, thực hiện quy trình…

1.2.5 Các sản phẩm da thuộc

Thuộc da chủ yếu tạo ra hai sản phẩm chính:[33,4]

- Sản phẩm da mềm: phương pháp thuộc chủ yếu là thuộc crôm, còn gọi là thuộc xanh Da thành phẩm là nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất giầy, dép, cặp, túi, ví, bọc đệm, quần áo…

- Sản phẩm da cứng: phương pháp thuộc chủ yếu là thuộc tanin Da thành phẩm chủ yếu làm đế giầy, phục vụ ngành dệt như da take, da gông…

Hiện nay, các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da nước ta sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào hầu hết là da bò, một ít da trâu và da lợn Hầu hết các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu sản xuất các loại da mềm để phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu tại chỗ Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, các doanh nghiệp thuộc da chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu xuất khẩu tại chỗ cho các doanh nghiệp sản xuất giầy và chế biến đồ da trong nước

Năm 2007, các nhà máy thuộc da của Việt Nam và nước ngoài đầu tư tại Việt Nam mới chỉ sản xuất và đáp ứng được khoảng gần 30% nhu cầu da thuộc của cả nước, 70% còn lại phải nhập khẩu Mục tiêu phát triển ngành thuộc da ở trong nước đến 2010 khiêm tốn ở mức 80 triệu sqft từ nguyên liệu ban đầu là quá

bé nhỏ so với tổng nhu cầu dự báo là 350 triệu sqft Đây là vừa là cơ hội, vừa là

thách thức lớn cho các cơ sở thuộc da vươn lên khẳng định mình

Trang 27

1.2.6 Chất lượng sản phẩm da thuộc

ở các nước có ngành công nghiệp thuộc da phát triển, việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cho da thuộc được tiến hành rất cơ bản và luôn được soát xét, bổ sung cho phù hợp với chất lượng sản phẩm mà khách hàng yêu cầu ngày càng cao

và đúng theo thông lệ quốc tế nhằm hướng dẫn việc sản xuất, sử dụng và kiểm tra chất lượng sản phẩm đúng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng

Ngành công nghiệp Da - Giầy Việt Nam nói chung và công nghiệp thuộc da nói riêng là ngành mới phát triển, nên thời gian qua công tác tiêu chuẩn hóa và quản lý chất lượng vẫn chưa được quan tâm đúng mức Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, việc nâng cao chất lượng của sản phẩm da thuộc là yêu cầu, thách thức lớn đối với ngành Bởi tại chất lượng sản phẩm da thuộc của Việt Nam mới ở mức đạt mức chất lượng da thành phẩm xuất khẩu tại chỗ, nhưng chỉ một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất da thuộc đạt được chất lượng này

Chất lượng sản phẩm da thuộc thông thường được xem xét trên hai khía cạnh:

- Các chỉ tiêu cơ, lý, hóa được xác định theo các tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành, ISO hoặc theo các yêu cầu của khách hàng tùy theo loại sản phẩm

+ Các mẫu được phân tích trên các thiết bị phân tích chuyên ngành

- Các chỉ tiêu cảm quan như: độ mềm mại, độ bóng, độ đàn hồi, độ thẩm thấu hơi nước…chủ yếu theo kinh nghiệm của các chuyên gia giỏi nghề, có thâm niên cao và chuyên môn sâu

Hiện tại, chất lượng sản phẩm da thuộc ở đa số các cơ sở sản xuất da của ta còn chưa đạt yêu cầu xuất khẩu tại chỗ, thậm chí người tiêu dùng khó tính trong nước còn khó chấp nhận:

- Các chỉ tiêu cơ, lý, hóa của da chưa đạt yêu cầu

- Sau khi thuộc (đối với da phèn xanh): chủ yếu phân loại chất lượng theo mặt da để làm các mặt hàng tương thích

Trang 28

- Trước khi hoàn thành: phân loại chủ yếu theo chất lượng bề mặt da để đưa

ra phương pháp xử lý trước khi đưa vào trau chuốt và định hướng quy trình công nghệ trau chuốt

- Da thành phẩm: phân loại chất lượng để định giá sản phẩm để đưa ra thị trường

Việc phân loại thường là những công nhân có thâm niên và có kinh nghiệm, lành nghề đảm nhận

Theo lý thuyết và kinh nghiệm chuyên gia, ngoài một số yếu tố khác, hiện tại có những yếu tố chính tác động đến chất lượng da thuộc Việt Nam của quá trình sản xuất da là:

1 Trình độ công nghệ của ngành

2 Nguyên vật liệu và hóa chất đầu vào

Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả chỉ xét trên những khía cạnh cơ bản

có ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến chất lượng đầu ra của sản phẩm

1.2.7 Nhận xét về phần 1 và nhiệm vụ của phần 2

Phần 1 đã khái quát những lý luận cơ bản về:

- Sản phẩm, chất lượng sản phẩm, các thuộc tính của chất lượng sản phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm,

- Đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức),

- Sản phẩm da thuộc và quy trình công nghệ sản xuất da thuộc, các khía cạnh xem xét về sản phẩm da thuộc

Có thể tóm tắt như sau:

Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay một quá trình Nó thoả mãn nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và được chào bán trên thị trường Sản phẩm gồm hai phần: phần cứng và phần mềm Phần cứng thể hiện dưới một hình thức cụ thể như sản phẩm da thuộc là dạng nguyên liệu đã qua chế biến Phần mềm của sản phẩm là các loại thông tin, dịch vụ đi kèm đáp ứng nhu cầu tinh thần, tâm lý xã hội của khách hàng

Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công

cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ gồm bốn thành phần: kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ do con người điều hành để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu của xã hội

Công nghệ thuộc da của ta hiện nay là dạng công nghệ truyền thống cải tiến thông qua việc sử dụng nguyên liệu, thiết bị, hóa chất mới tạo ra các sản phẩm theo nhu cầu của thị trường Là yếu tố quyết định chính cho chất lượng da thành phẩm

Trang 29

Chất lượng của sản phẩm có thể hiểu là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc một quá trình thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan, như sản phẩm da xuất khẩu phải đảm bảo các yêu cầu về đặc tính kỹ thuật, yêu cầu cảm quan và dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng

Chất lượng da thuộc thành phẩm phụ thuộc rất nhiều vào hàng loạt các điều kiện như da nguyên liệu sống, hóa chất đầu vào, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất, những người nghiên cứu, đề xuất, giám sát và thực hiện các quy trình công nghệ… (các thành phần công nghệ)

Như vậy nhiệm vụ của phần 2 là phân tích thực trạng ngành công nghiệp thuộc da theo các thành phần công nghệ, thực trạng việc sử dụng nguyên liệu và hóa chất đầu vào và từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc ở phần 3

Trang 30

Phần II Thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam

2.1 Vị trí của ngành công nghiệp thuộc da

2.1.1 Vai trò, vị trí của ngành công nghiệp thuộc da và các sản phẩm từ da thuộc

Thuộc da và sản xuất các sản phẩm từ da thuộc được phát triển mạnh trong giai đoạn phát triển kinh tế mà ngành công nghiệp này cần nhiều nhân công, giá nhân công tương đối rẻ để hướng mạnh về xuất khẩu như nước ta hiện nay Chất lượng sản phẩm của cả hai đều lệ thuộc nhiều vào tính nghiêm túc và tay nghề của công nhân, sự nhậy bén về đổi mới sản phẩm Đặc biệt là việc tổ chức quản lý sản xuất chặt chẽ và trình độ công nghệ cao

Da thuộc và các sản phẩm chế biến từ da thuộc có tiềm năng xuất khẩu lớn, giá trị cao hơn nhiều so với các sản phẩm cùng loại được sản xuất từ các vật liệu khác

Ngày nay, nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, mức sống của người dân được nâng lên, nhu cầu về các sản phẩm chế biến từ da thuộc trên thị trường nội địa cũng tăng lên như:

+ Khi đời sống càng cao thì các sản phẩm tiêu dùng từ da thuộc là thời trang không thể thiếu của trang phục đúng mốt, hiện đại của nhiều người

+ Nhu cầu bảo hộ lao động và phục vụ cho các lực lượng có nhu cầu sắc phục, đồng phục

+ Một số mặt hàng da phục vụ cho các ngành công nghiệp chưa thay thế

được bằng các vật liệu khác một cách thuyết phục

+ Da thuộc là nguồn khởi đầu giải quyết được nhiều công ăn việc làm tiếp theo cho người lao động làm giầy, dép và chế biến đồ da

+ Thuộc da phát triển đồng hành với sự tăng trưởng chăn nuôi đại gia súc, dần dần loại bỏ được việc xuất khẩu da nguyên liệu muối với giá trị thấp và giảm dần lượng da thành phẩm phải nhập khẩu cho công nghiệp sản xuất giầy dép

Như vậy, về tổng thể thuộc da phát triển được trên mọi vùng kinh tế trọng

điểm, trong khu công nghiệp nếu đáp ứng đủ các điều kiện riêng của nó như: Không đòi hỏi quy mô sản xuất lớn, có thể phát triển từng xí nghiệp riêng lẻ nhưng theo chuyên môn hóa

Ngành công nghiệp thuộc da của nước ta phát triển vừa có ý nghĩa kinh tế lại vừa có ý nghĩa xã hội rất lớn.[13,3-5]

2.1.2 Khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp thuộc da nước ta

Nghề thuộc da đã tồn tại ở nước ta trên 500 năm, chủ yếu ở trình độ thủ công và làng nghề Năm 1912 chủ tư bản Pháp mới cho đầu tư xây dựng Nhà máy

Trang 31

Da Thụy Khuê (Hà Nội) để sản xuất da công nghiệp phục vụ cho nhà máy Dệt Nam Định, đến gần cuối những năm 90 của thế kỷ trước toàn bộ nhà máy đã di chuyển vào thành phố Vinh (Nghệ An)

Những năm 50 và 60 của thế kỷ trước, song song với sự phát triển của các làng nghề thủ công ở Hải Dương, Hưng Yên, Chợ Lớn, một số chủ tư nhân người Việt Nam lập ra các nhà máy Vina Da, Bình Lợi Da, Đôna Da (ở Sài Gòn và Biên Hòa) và đã cùng với nhà máy Da Thụy Khuê sản xuất da thuộc để đóng giầy da quân sự, buôn bán da muối và một phần phục vụ người tiêu dùng khác

Đến năm 1986 Công ty Cổ phần da Tây Đô (thành phố Cần Thơ) chập chững bước vào làng thuộc Da Việt Nam với quy trình sản xuất ban đầu rất thủ công, sản phẩm duy nhất là da phèn xanh Sau đó đã vươn lên dẫn đầu về năng suất và chất lượng trong một thời gian

Từ đó thuộc da Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp trải qua nhiều thăng trầm cho tới ngày nay

Khi đó, công nghệ sản xuất da thuộc chủ yếu là sử dụng công nghệ truyền thống đơn giản, làm bằng thủ công, thiết bị thô sơ, lạc hậu và hoá chất đa phần tự

điều chế lấy từ nguyên liệu trong nước Sản phẩm tạo ra ở mức thấp cấp, cung cấp cho nhu cầu quốc phòng và sản xuất công nghiệp như: da làm bao súng, bao đạn, giầy quân đội, da curoa, da vòng phục vụ ngành dệt

Các cơ sở sản xuất còn ít, nhỏ lẻ, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm da động vật chưa nhiều, mặt khác ngành này còn ít được quan tâm từ phía Nhà nước và chưa có giao lưu với nước ngoài, do đó trình độ công nghệ còn rất thấp

Năm 1989 các tổ chức phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đã tài trợ cho Viện Nghiên cứu Da - Giầy dự án VIE 85/013 Một xưởng thực nghiệm thuộc da mini tương đối hoàn chỉnh, hiện đại vào lúc đó đã ra đời Đây là bước ngoặt đánh dấu cho ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam tiếp xúc, sử dụng hóa chất và công nghệ tiên tiến của nước ngoài

Nhìn chung, ngành công nghiệp thuộc da nước ta còn nhiều yếu kém, sự phát triển chưa được đồng đều trong cả nước, tập trung nhiều ở phía Nam Sản phẩm da thuộc phần lớn phục vụ tiêu dùng nội địa, khoảng gần 20% da thành phẩm xuất khẩu tại chỗ nhưng chủ yếu từ da nguyên liệu nhập ngoại

Vấn đề đặt ra cho ngành là làm thế nào để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc của nước ta, đáp ứng dần việc thay thế da nhập ngoại hiện nay khi nguồn da nguyên liệu còn nhiều vấn đề về chất lượng chưa thể giải quyết trong một thời gian ngắn

Từ hơn 10 năm trở lại đây, khi Đảng và Nhà nước có chính sách đổi mới, mở cửa các nhà máy và các cơ sở thuộc da trong cả nước có điều kiện tiếp xúc, quan hệ

Trang 32

với nước ngoài, đặc biệt là các chuyên gia công nghệ, các hãng hoá chất và thiết bị của các nước trên thế giới, do đó sản phẩm da thuộc ngày một nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng Năm 2004 cả nước sản xuất được 39 triệu sqft da các loại, chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng nội địa và một phần xuất khẩu tại chỗ.[15,9],[13] Năm 2005 đạt 43,7 triệu sqft.[21,PL] Năm 2007 đã đạt 75 triệu sqft

Hàng năm, ngành sản xuất Giầy phải nhập khẩu một lượng lớn da thuộc các loại cung cấp cho các nhà máy và các cơ sở sản xuất chế biến sản phẩm xuất khẩu

Các cơ sở thuộc da trong nước trước đây thường xây dựng ở vị trí ven đô, gần sông ngòi để tiện nguồn nước sử dụng và thải chất lỏng ra sông Hiện nay do quá trình

đô thị hóa rất nhanh các cơ sở này đều nằm trong nội đô, diện tích chật hẹp không thể xây dựng hệ thống xử lý chất thải hoàn chỉnh hoặc đầu tư đơn giản do chi phí không sinh lợi

Việc phát triển sản xuất tự phát, manh mún, đầu tư chiều sâu không đồng bộ, trình độ công nghệ trung bình khá, không đều, quản lý công nghệ còn yếu, nguồn nhân lực làm công tác R & D, kỹ thuật cao…rất ít và chưa sâu dẫn đến chất lượng

da thành phẩm chưa đạt đồng đều, việc tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc là một yêu cầu rất cấp bách và cần thiết,[19,13-15],[14],[22]

2.2 Thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam

2.2.1 Về cơ cấu sở hữu, quy mô và năng lực sản xuất

Trước năm 1990, cả nước chỉ có 2 doanh nghiệp thuộc da Trung ương (Da Thụy Khuê và Da Sài Gòn), 3 doanh nghiệp thuộc da địa phương (Da Vinh - Nghệ

An, Da Thái Bình và Da Tây Đô - Cần Thơ); một số cơ sở tư nhân như: làng thuộc

da Phú Thọ Hòa (thành phố Hồ Chí Minh), Da Đại Lợi (Hà Nội) và làng thuộc da Phố Nối (Hưng Yên) Năng lực sản xuất hạn chế, chất lượng không cao, chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa

Từ năm 1990 lại đây, cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường ngành công nghiệp thuộc da đang tồn tại và phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều hình thức sở hữu khác nhau

Bảng 1 Các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da cả nước.[19, Phụ lục]

Loại hình doanh nghiệp Số lượng

Trang 33

1 Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

2 Các Công ty cổ phần và các cơ sở tư nhân có năng lực và quy mô sản xuất lớn hơn

a) Khu vực phía Bắc và miền Trung

Chỉ có một doanh nghiệp lớn là công ty cổ phần Da Vinh - Nghệ An, công suất thiết kế khoảng 2,5 triệu sqft năm, tuy nhiên thực tế chỉ thực hiện được 50- 70%

Các cơ sở sản xuất da thuộc khác đều nhỏ, trang bị máy móc thiết bị không

đồng bộ

Sản phẩm da thuộc ở các cơ sở nhỏ lẻ phía Bắc và miền Trung phần lớn là:

da lót, da quai mũ, đế giầy, da thắt lưng, da làm mũ giầy bảo hộ lao động, da phèn Chỉ có công ty cổ phần Da Vinh, xưởng thực nghiệm của viện nghiên cứu Da Giầy, công ty TNHH Thương mại và sản xuất Da Đại Lợi đã sản xuất được một số mặt hàng da chất lượng tương đối cao phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa như:

da mũ giầy, da bọc đệm, da làm túi cặp, song chất lượng chưa ổn định, còn phải tiếp tục hoàn thiện công nghệ

Trang 34

b) Khu vực miền Nam

Năng lực sản xuất da thuộc của các doanh nghiệp lớn chủ yếu nằm ở phía Nam, tập trung một số vùng như: thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ Sản lượng da thuộc chiếm khoảng 75 - 80% tổng sản lượng trong cả nước

Các doanh nghiệp nổi trội hơn hẳn như: cơ sở thuộc Da Hưng Thái và công

ty TNHH thuộc Da Đặng Tư Ký - thành phố Hồ Chí Minh là hai doanh nghiệp

đang phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm, được các chuyên gia nước ngoài đánh giá rất cao và có nhiều triển vọng

Một số công ty 100% vốn nước ngoài như: Samwoo, Green Tech, Tong Hong chủ yếu thực hiện công nghệ cán tráng màng PU trên da váng nhập ngoại phục vụ cho xuất khẩu tại chỗ và tiêu thụ nội địa Riêng công ty Da Prime Asia ngoài sản xuất da váng phủ, còn sản xuất da phèn xanh xuất khẩu với tỷ lệ 20%-80%

Công ty liên doanh thuộc da Hào Dương hiện nay đang sản xuất gần 40 tấn

da nguyên liệu/ ngày (nguyên liệu nhập ngoại) chủ yếu da phèn xanh xuất khẩu Trong thời gian tới sẽ thực hiện công nghệ sản xuất da mộc và da hoàn thành

Công ty cổ phần Da Tây Đô - Cần Thơ là một trong những doanh nghiệp thuộc da phát triển sớm so với các cơ sở khác trong nước Từ những năm 90 của thế

kỷ trước, công ty này đã sản xuất các sản phẩm cao cấp và xuất khẩu da phèn xanh, hiện nay đang gia công cho ý sản phẩm da bò con với công suất 06 - 08 tấn da nguyên liệu/ ngày

Ngoài ra các cơ sở thuộc da vừa và nhỏ ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh cũng đang phát triển mạnh, tuy nhiên các cơ sở này sẽ di chuyển đến khu công nghiệp nằm ngoài thành phố vì lý do môi trường

2.2.2.2 Theo quy mô và năng lực sản xuất

a) Các cơ sở thuộc da có năng lực sản xuất và quy mô nhỏ

Là toàn bộ các cơ sở thuộc da khu vực Phố Nối (Hưng Yên) và một số hộ ở làng nghề Phú Thọ Hòa (thành phố Hồ Chí Minh), có năng lực sản xuất từ 20.000 - 300.000 sqft/năm

- Đây là mô hình sản xuất và quản lý của các hộ gia đình ở nông thôn trong cùng một làng, xã

- Diện tích nhà xưởng khoảng 300 - 1.000m2/cơ sở (vừa là nhà ở, vừa là nơi sản xuất, gia công da thuộc, thậm chí cả bảo quản da muối khi cần)

- Máy móc thiết bị được đầu tư chắp vá, rất thủ công và thô sơ Chỉ có một ít máy móc thiết bị nhỏ, cũ, lạc hậu, thiếu đồng bộ như: thùng quay (phu lông), bể ngâm, máy xẻ, máy bào có chiều dài trục làm việc là 300 mm, 600 mm Nhưng chỉ

Trang 35

một số hộ gia đình có các máy móc thiết bị này, lại rất khập khiễng và không có các phụ tùng dự trữ để thay thế

- Nhân lực cho sản xuất da thuộc có khoảng 3 - 15 người/cơ sở, chủ yếu là người thân trong gia đình, cùng làng, xã; không có kỹ thuật viên được đào tạo chính thống mà chủ yếu do bức xúc về công ăn việc làm và phong trào, tự học hỏi lẫn nhau

- Da nguyên liệu: sử dụng da nguyên liệu sống trong nước Các hộ gia đình mua thu gom trực tiếp da tươi giá rẻ, chất lượng xấu hoặc da muối có chất lượng thấp từ các điểm giết mổ hoặc thu gom và buôn bán da

- Hoá chất: Chỉ dùng các hóa chất tự điều chế từ các nguyên liệu trong nước

và trôi nổi trên thị trường như: chất thuộc crôm, men tụy tạng, dầu…Chỉ có một số cơ sở sử dụng ít hóa chất có nguồn gốc từ Trung Quốc và các nước khác mua từ các

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là thị trường tự do, chỉ có một cơ sở

có thị trường tiêu thụ lớn hơn và ổn định là các công ty sản xuất giầy dép của quân

đội Sản phẩm chủ yếu là da lót, chất lượng cũng khá hơn

b) Các công ty cổ phần và tư nhân lớn

Là các doanh nghiệp, cơ sở cung cấp sản phẩm da thuộc chủ yếu cho cả nước

từ khi thành lập đến đầu thế kỷ XXI Là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình

- Các công ty cổ phần: Da Sài gòn (Thành phố Hồ Chí Minh), Da Vinh (Nghệ An), Da Tây Đô (Cần Thơ), Da Đông Hải (Thái Bình)

- Các cơ sở thuộc da tư nhân lớn: Hưng Thái, Đặng Tư Ký, Kim Thanh, Cao Thắng, Hoà Ký…(thành phố Hồ Chí Minh), Đại Lợi (Hà Nội)

- Một số cơ sở sản xuất theo quy mô hộ gia đình ở làng thuộc da Phú Thọ Hòa và một số nơi khác tại thành phố Hồ Chí Minh

- Nhà xưởng đầu tư không cùng một thời điểm mà nâng cấp dần (trừ một vài doanh nghiệp có vốn Nhà nước trước đây Diện tích nhà xưởng khoảng 5000 - 30.000 m2/doanh nghiệp, cơ sở

- Máy móc thiết bị tương đối đồng bộ (đồng bộ từng phần) và đầy đủ (cả về

số lượng và mức hiện đại cho sản xuất thuộc da) đối với một số doanh nghiệp cổ phần và tư nhân lớn; các cơ sở nhỏ chỉ đầu tư những máy móc thiết bị thiết yếu, sau

đó gia công tiếp tại nơi có máy móc thiết bị khác để phù hợp với năng lực sản xuất thực tế

Trang 36

- Nhân lực cho sản xuất da thuộc:

+ Công nhân: 30 - 250 người/cơ sở, được đào tạo theo hình thức kèm cặp tại chỗ, tương đối thành thạo tay nghề

+ Kỹ thuật viên: Thường có ít nhất 3 kỹ thuật viên chủ chốt (có trình độ đại học, thành thạo nghề thuộc da) và một số công nhân kỹ thuật

+ Bộ máy quản lý khu vực các công ty cổ phần còn chịu ảnh hưởng nếp quản

lý thời kỳ bao cấp, chưa hiệu quả

+ Riêng khu vực các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da tư nhân quản lý theo mô hình gia đình, rất hiệu quả Tuy nhiên, nếu sản xuất lớn và đòi hỏi chất lượng cao hơn phải có những giám đốc điều hành, các chuyên gia kỹ thuật có kinh nghiệm và chuyên nghiệp hơn

- Da nguyên liệu: chủ yếu là nội địa Chỉ một số công ty cổ phần và tư nhân lớn nhập khẩu da nguyên liệu từ nước ngoài như: công ty cổ phần Da Sài Gòn nhập khẩu da váng phèn từ Liên Xô (cũ), công ty cổ phần Da Tây Đô nhập khẩu da bò muối từ úc, Pháp, cơ sở thuộc Da Hưng Thái và công ty TNHH thuộc Da Đặng Tư

Ký nhập khẩu khoảng 30% lượng da bò muối từ Mỹ, úc, Nam Mỹ, châu Âu… để sản xuất các sản phẩm da thuộc đạt chất lượng cao phục vụ nhu cầu xuất khẩu tại chỗ

Ngoài ra các doanh nghiệp, cơ sở còn nhập một lượng lớn da nguyên liệu muối từ Campuchia

- Hoá chất: Nhập khẩu trực tiếp hoặc mua của các hãng nước ngoài có đại lý Việt Nam Hóa chất nội chỉ sử dụng một ít như muối ăn, vôi bột, axit, dầu Như vậy hóa chất cho thuộc da hầu như nhập khẩu từ nước ngoài

- Quy trình công nghệ: chủ yếu do các hãng hoá chất giới thiệu, kết hợp chuyển giao từ nước ngoài

- Sản phẩm da thuộc: 5000 - 25.000 sqft./ngày/cơ sở; chất lượng đạt mức tương đối khá, chỉ khoảng một phần tư đạt chất lượng xuất khẩu

- Một số doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải nhưng ít hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả

c) Các cơ sở thuộc da có vốn đầu tư nước ngoài

- Doanh nghiệp liên doanh: công ty TNHH sản xuất Da Hào Dương (Đài Loan)

- Doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: công ty Da Green Tech (Hàn Quốc), công ty Da Prime Asia Vietnam (Hong Kong), công ty Da Samwoo (Hàn Quốc), công ty Da Tong Hong (Trung Quốc) Ngoài ra, công ty cổ phần đầu tư và phát triển Việt Hương đang tiếp nhận hai dự án thuộc da của Đài Loan tại Bình Dương

Trang 37

- Các doanh nghiệp này mới được thành lập những năm 2000 trở lại đây và

đều nằm trong các khu công nghiệp của các tỉnh phía Nam Diện tích nhà xưởng khoảng 30.000 - 70.000 m2/doanh nghiệp, được đầu tư mới, quy mô và liên hoàn, thuận lợi cho sản xuất

- Dây chuyền máy móc thiết bị mới, hoàn chỉnh, đồng bộ và tương đối hiện

đại của nước ngoài do phía đối tác đưa vào

- Nhân lực cho sản xuất da thuộc:

+ Công nhân là người Việt Nam Họ được công ty đào tạo bằng hình thức: cho học lý thuyết cơ bản và học thực hành trực tiếp trên dây chuyền công nghệ sản xuất theo từng công đoạn của quy trình công nghệ

+ Kỹ thuật viên là người nước ngoài do công ty thuê

+ Mô hình quản lý gọn nhẹ, hiện đại, tổ chức chặt chẽ, chủ doanh nghiệp bao quát tất cả mọi vấn đề của công ty

- Da nguyên liệu nhập của nước ngoài 100% Công ty liên doanh sản xuất da Hào Dương nhập da bò muối để sản xuất da phèn xanh xuất khẩu Các công ty có

100 % vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhập da váng mộc để sản xuất da váng phủ xuất khẩu tại chỗ Chỉ có công ty Da Prime Asia sản xuất cả da phèn xanh và da váng mộc với tỷ lệ 80%-20%

- Hoá chất: mua trực tiếp của các hãng hóa chất của nước ngoài

- Quy trình công nghệ sản xuất được chuyển giao từ nước ngoài (thường là của chính hãng sản xuất và bán hóa chất)

- Có hệ thống xử lý nước thải, có hệ thống quay vòng, tái sử dụng nước thải Theo đánh giá chung của các chuyên gia trình độ công nghệ thuộc da của nước ta mới chỉ đạt tương đương với khu vực và trung bình khá so với thế giới nhưng chỉ ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và một số công ty lớn trong nước

Do đó, chất lượng sản phẩm da mới đạt ở mức khiêm tốn là: xuất khẩu tại chỗ da

thành phẩm (da bò làm mũ giầy, da váng phủ, da lót), xuất khẩu da phèn xanh theo hình thức liên doanh và bao tiêu đầu ra với số lượng nhỏ

2.2.2.3 ảnh hưởng của công nghệ thuộc da đối với môi trường

Công nghệ thuộc da có tính đặc thù, sử dụng nguyên liệu sống và nhiều loại hoá chất, trong đó có cả hoá chất độc hại vì vậy gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hiện nay, ngoài các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số doanh nghiệp lớn trong nước, nước thải và các chất thải rắn, khí ở các doanh nghiệp còn lại đều thải tự do ra môi trường xung quanh, đặc biệt các doanh nghiệp còn nằm trong vùng dân cư đông đúc như: “Làng thuộc da” Phú Thọ Hoà - thành phố Hồ Chí Minh và “Làng thuộc da Phố Nối”- tỉnh Hưng Yên Ta hãy xem xét:

Trang 38

Bảng 4: Kết quả phân tích một số thành phần trong nước thải tại “Làng thuộc da” Phú Thọ Hoà - thành phố Hồ Chí Minh tháng 7/2006,[19,19]

Thông số pH

mg/l

COD mg/l

BOD 5 mg/l

SS mg/l

Cr (III) mg/l

Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Tp Hồ Chí Minh

Và so sánh với tiêu chuẩn cho phép:

Bảng 5: Giới hạn cho phép nước thải theo tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn chung của khu vực,[19,19]

mg/l

BOD 5 mg/l

SS mg/l

Cr (VI) mg/l

Cr (III) mg/l

Theo TCVN

5945-1995

Nguồn: Chương trình Môi trường US-AEP và HHDG Tp HCM

Bảng trên cho thấy các chỉ số: COD, BOD5 ,SS, Cr (III), Cr(VI) đều vượt quá

mức cho phép trên 10 lần Đây là tình trạng báo động đối với ngành công nghiệp

thuộc da Khi ngành công nghiệp này càng phát triển tình trạng ô nhiễm càng nghiêm trọng Do đó, khi phát triển mở rộng ngành công nghiệp thuộc Da phải luôn chú ý đến vấn đề xử lý môi trường

2.3 Đánh giá trình độ công nghệ ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam

Trong cơ chế hội nhập, hạn chế cạnh tranh cơ bản nhất của các doanh nghiệp

trong ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam chính là khả năng sáng tạo và chất lượng sản phẩm mà nguyên nhân chủ yếu là lạc hậu về công nghệ, yếu kém về tổ chức và quản lý doanh nghiệp

Đánh giá thực trạng công nghệ của ngành để có cơ sở khoa học đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc là một nhiệm vụ có

ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển của doanh nghiệp, của ngành

Việc đánh giá trình độ công nghệ góp phần giúp các doanh nghiệp, cơ sở trong ngành hiểu rõ hơn hiện trạng trình độ công nghệ sản xuất những sản phẩm chủ yếu của mình từ việc phân tích 4 thành phần công nghệ là kỹ thuật (T), con người (H), thông tin (I), tổ chức (O), để trên cơ sở đó đề ra chiến lược phát triển

Trang 39

nguồn nhân lực, sản phẩm, hướng đầu tư trang thiết bị, đổi mới công nghệ…, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp bằng chất lượng sản phẩm

- Đặc điểm ngành công nghiệp thuộc da:

+ Việc sản xuất sản phẩm được tiến hành qua nhiều công đoạn, bước công việc khác nhau và chúng có sự liên quan mật thiết đến nhau (xem sơ đồ công nghệ

2.3.1 Thành phần kỹ thuật (T)

- Tình hình chung

Máy móc thiết bị thuộc da được đầu tư ở khu vực các doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài tương đối đồng bộ, hiện đại Các doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư trong nước có tình trạng máy móc thiết bị đồng bộ từng phần, tuổi thọ cao Các cơ

sở khác đầu tư chắp vá, lạc hậu Theo điều tra chưa đầy đủ số lượng máy móc thiết

bị tại các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da hiện nay so với năm 1999 có thể ước tính như sau (vì các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa tiếp cận cụ thể được):

Bảng 6: Dự tính máy móc thiết bị ngành thuộc da năm 2007,[21,PL 6]

ý Đài

loan

Tiệp Khắc (cũ)

Hàn Quốc

Trung Quốc

Nguồn: ước tính theo khảo sát và kết quả điều tra

Máy móc thiết bị sử dụng trong công nghệ thuộc da là một trong những yếu

tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng da thành phẩm Phần lớn loại thiết bị này có giá trị cao, chủ yếu được cung cấp từ các hãng nước ngoài như ý, Đức, Tiệp Khắc (cũ), Trung Quốc… Trong nước có một hai nhóm ở thành phố Hồ Chí Minh (Nhóm OA và nhóm Quang Minh) đi sâu nghiên cứu, cải tiến và chỉ mới chế tạo

được một số thiết bị như: thùng quay gỗ, máy đo bia, máy phun xì tự động, thiết bị sinh hơi, máy bào da phèn nhỏ

Nhìn chung, ngành cơ khí chế tạo thiết bị thuộc da trong nước còn bỏ ngỏ lĩnh vực này

Trang 40

Hiện nay, số doanh nghiệp trong nước được trang bị máy móc thiết bị đồng

bộ, đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu công nghệ tiên tiến chưa có nhiều do việc đầu tư quá tốn kém Những năm gần đây chỉ có một số doanh nghiệp phát triển nổi trội như: cơ sở thuộc Da Hưng Thái, công ty TNHH thuộc Da Đặng Tư Ký, công ty cổ phần Da Tây Đô và các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài mới có đủ tiềm lực kinh tế đầu tư và ngày càng hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của công nghệ

Công ty cổ phần Da Vinh và công ty cổ phần Da Sài Gòn cũng được đầu tư ban đầu tương đối đầy đủ và đồng bộ nhưng không phát huy hết năng lực sản xuất của máy móc thiết bị , không có điều kiện để đầu tư thay thế hoặc tu sửa thường xuyên nên một số thiết bị đã bị hỏng và lạc hậu khó đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công nghệ

Xưởng thực nghiệm Viện Nghiên cứu Da - Giầy cũng đang trong tình trạng máy móc thiết bị đã cũ và lạc hậu vì đầu tư đã hơn 15 năm nay (do UNIDO - UNDP tài trợ), điều này đã hạn chế rất nhiều trong việc triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học

Các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da nhỏ còn lại thường đầu tư không đồng bộ, chắp vá, thiếu nhiều máy móc thiết bị và ngay cả các thiết bị đã được đầu tư, chất lượng cũng bị hạn chế vì lý do tài chính

So với miền Bắc, ngành công nghiệp thuộc Da ở phía Nam phát triển mạnh hơn rất nhiều, máy móc thiết bị ở một số doanh nghiệp được trang bị tương đối đầy

đủ, một số cơ sở đã hợp tác liên kết với nhau thực hiện chuyên môn hoá (phân công công việc theo năng lực từng cơ sở)

Nhận xét chung là máy móc thiết bị sử dụng trong lĩnh vực thuộc da ở mức khá đối với các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da tương đối phát triển Còn thiết bị có chất lượng kém thường rơi vào các cơ sở thuộc da có quy mô nhỏ và đặc biệt là các cơ sở phía Bắc (làng thuộc da Phố Nối, xã Liêu xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên).[14, 22-24]

- Đánh giá thực trạng về máy móc thiết bị của ngành công nghiệp thuộc da

Do đầu tư không có kế hoạch nên công suất máy không sử dụng tối đa

Phần lớn máy móc thiết bị có giá trị lớn nhưng dễ bị hư hỏng và xuống cấp,

đặc biệt là loại thiết bị sử dụng trong phần chuẩn bị thuộc và thuộc, do phải tiếp xúc thường xuyên với nước, các loại hoá chất (axit, kiềm và các loại muối vô cơ, hữu cơ) Vì vậy nếu việc quản lý thực hiện không nghiêm túc đúng yêu cầu đề ra sẽ gây tổn thất kinh tế cho doanh nghiệp

Mặt khác, máy móc thiết bị không hoạt động thường xuyên do thiếu đơn hàng và sản phẩm tiêu thụ chậm làm cho chúng nhanh xuống cấp hơn…

Hầu hết các doanh nghiệp, cơ sở đều có bộ phận (phòng, ban, tổ ) cơ điện

được phân công quản lý toàn bộ máy móc thiết bị trong dây chuyền công nghệ

Ngày đăng: 08/05/2014, 08:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mối quan hệ giữa các thành phần công nghệ,[4,7],[27,15],[14,8] - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Hình 1 Mối quan hệ giữa các thành phần công nghệ,[4,7],[27,15],[14,8] (Trang 19)
Hình 1: Sơ đồ tổng hợp các công đoạn trong công nghệ thuộc da [21,86] - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Hình 1 Sơ đồ tổng hợp các công đoạn trong công nghệ thuộc da [21,86] (Trang 25)
Bảng 1. Các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da cả n−ớc.[19, Phụ lục] - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 1. Các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da cả n−ớc.[19, Phụ lục] (Trang 32)
Bảng 5: Giới hạn cho phép n−ớc thải  theo tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn  chung của khu vực,[19,19] - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 5 Giới hạn cho phép n−ớc thải theo tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn chung của khu vực,[19,19] (Trang 38)
Bảng 4: Kết quả phân tích một số thành phần trong n−ớc thải  tại “Làng  thuộc da” Phú Thọ Hoà - thành phố Hồ Chí Minh tháng 7/2006,[19,19] - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 4 Kết quả phân tích một số thành phần trong n−ớc thải tại “Làng thuộc da” Phú Thọ Hoà - thành phố Hồ Chí Minh tháng 7/2006,[19,19] (Trang 38)
Bảng 6: Dự tính máy móc thiết bị ngành thuộc da năm 2007,[21,PL. 6]. - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 6 Dự tính máy móc thiết bị ngành thuộc da năm 2007,[21,PL. 6] (Trang 39)
Bảng 8: Máy móc thiết bị nhập theo n−ớc năm 2007,[6,6] - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 8 Máy móc thiết bị nhập theo n−ớc năm 2007,[6,6] (Trang 42)
Bảng 12: Kết quả đánh giá nguồn thông tin của các doanh nghiệp - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 12 Kết quả đánh giá nguồn thông tin của các doanh nghiệp (Trang 54)
Bảng 13: Ma trận SWOT thành phần thông tin - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 13 Ma trận SWOT thành phần thông tin (Trang 57)
Hình quản lý của  từng doanh nghiệp. - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Hình qu ản lý của từng doanh nghiệp (Trang 62)
Bảng 15: Quy mô chăn nuôi bò, trâu bình quân trong gia trại.[25,28-34]. - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 15 Quy mô chăn nuôi bò, trâu bình quân trong gia trại.[25,28-34] (Trang 64)
Bảng 17: −ớc về l−ợng hóa chất cho thuộc da nhập khẩu năm 2007 - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 17 −ớc về l−ợng hóa chất cho thuộc da nhập khẩu năm 2007 (Trang 68)
Hình 3: Sơ đồ công nghệ bảo quản da nguyên liệu - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Hình 3 Sơ đồ công nghệ bảo quản da nguyên liệu (Trang 86)
Bảng 18 : Tổng hợp lợi ích thực hiện 2 giải pháp - Đề tài : Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc việt nam đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Bảng 18 Tổng hợp lợi ích thực hiện 2 giải pháp (Trang 91)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w