1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu công nghệ sản xuất da cá đuối, da ếch làm hàng mỹ nghệ

39 532 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Công Nghệ Sản Xuất Da Cá Đuối, Da Ếch Làm Hàng Mỹ Nghệ
Trường học Học Viện Nghiên Cứu Da Giầy
Chuyên ngành Nghiên cứu công nghệ sản xuất da cá đuối, da ếch làm hàng mỹ nghệ
Thể loại báo cáo dự án
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 291,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất lượng da thành phẩm và mặt hàng dây lưng 2 lớp đã đạt yêu cầu đặt ra, xong da thành phẩm còn một số nhược điểm cần được khắc phục như lỏng mặt, đặc biệt phần nách, màu sắc và độ dầy

Trang 1

Bé c«ng th−¬ng ViÖn nghiªn cøu Da – GiÇy

B¸o c¸o tæng kÕt dù ¸n sxtn

Hoµn thiÖn c«ng nghÖ thuéc l¹i, trau chuèt da d©y l−ng 2 líp tõ da bß thuéc

Trang 2

3 Lê Văn Kha Kĩ sư thuộc da Quản đốc xưởng TN thuộc

da, thực hiện triển khai D/A

4 Bùi Đức Vinh Kĩ sư thuộc da Phòng kế hoạch, cung cấp

nguyên liệu, hoá chất

5 Nguyễn Thị Hường Kế toán trưởng Phụ trách kinh phí dự án

6 Hoàng Ngọc Phái Kĩ thuật viên Giám đốc XN da Đông Hải,

Thái Bình

7 Bùi Ngọc Nhu Kĩ thuật viên Giám đốc Cty TNHH SX-TM

da Đại lợi Gia lâm-HN

Trang 3

KHCN năm 2006, đề tài này thực hiện với da đã thuộc theo quy trình công nghệ thuộc, mà thu đ−ợc từ đề tài nghiên cứu công nghệ thuộc thay thế một phần chất thuộc Crôm, mã số 153-04 R-D/HĐ-KHCN năm 2004 Đề tài đã bảo vệ đạt kết quả loại khá và da thành phẩm thu hồi của đề tài đã đ−ợc khách hàng làm hàng xuất khẩu sang Mỹ, đ−ợc khách hàng Mỹ chấp nhận về mặt chất l−ợng và đặt mua

Xuất phát từ lý do trên, Viện nghiên cứu Da – Giầy đã xây dựng dự án sản xuất thử nghiệm từ công nghệ đã thu đ−ợc của đề tài

b Mục tiêu của dự án

Mục tiêu của dự án là hoàn thiện công nghệ thuộc lại, công nghệ trau chuốt,

đồng thời khắc phục những nh−ợc điểm còn tồn tại, qua đó có thể khẳng định

đ−ợc tính khả thi của công nghệ khi áp dụng vào sản xuất

c Thực hiện dự án

Qua 2 năm sản xuất thử nghiệm, dự án đã xuất thuộc 31.863 Kg da bò muối,

da thành phẩm thu và đã bán là 40.925,75 bia các loại Tong đó da thành phẩm loại A thu đ−ợc nh− sau:

+ Da loại A là 16.640,50 bia, bình quân chiếm 41,38%/25%, v−ợt 16,38%

so với kế hoặch, bình quân kế hoặch là 25%

Trang 4

+ Da loại B là 21.964,50 bia, bình quân chiếm 53,16%, v−ợt kế hoặch

5,66%, bình quân kế hoặch là 47,5%

+ Da loại C là 2.233,50 bia, chiếm bình quân 5,46%, giảm 9,54% so với kế

hoặch, bình quân kế hoặch là 15%

+ Da phải chuyển mặt hàng bình quân chiếm 0,36%, v−ợt kế hoặch 24,64%,

kế hoặch là 25%

d Kết quả

Dự án đã hoàn thành và đạt mục tiêu đặt ra:

+ Hoàn thiện và ổn định đ−ợc công nghệ thuộc lại và công nghệ trau chuốt + Dự án khẳng định đ−ợc tính khả thi của công nghệ và có khả năng triển khai

sản xuất hàng loạt (hiện nay khách hàng tiếp tục đặt mua ) đó là kết quả quan

trọng nhất

+ Dự án đã khắc phục đ−ợc những nh−ợc điểm còn tồn tại nh− không đồng

đều về màu sắc và độ dầy, riêng độ lỏng mặt ở vùng nách chỉ khắc phục đ−ợc

một phần, ch−a thể khắc phục đ−ợc 100%

+ Tạo ra đ−ợc loại da thành phẩm mới, tỷ lệ các loại da thành phẩm đều v−ợt

kế hoặch đặt ra

+ Nâng cao đ−ợc giá trị nguồn da nguyên liệu nội địa

+ Dự án không hoàn thành kế hoặch đặt ra về số l−ợng da nguyên liệu xuất

thuộc và l−ợng da thành phẩm Nguyên nhân chính không phải do công nghệ,

mà do nhu cầu của khách hàng làm hàng xuất khẩu ch−a nhiều

Trang 5

2.3 Lý thuyết và giải pháp hoàn thiện công nghệ 7

2.5.3 Tổng quan đánh giá kết quả

Trang 6

1 mở đầu

Năm 2005 Viện nghiện cứu Da – Giầy nhận được mẫu hàng của cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ Viện nghiên cứu mẫu da và đã thí nghiệm đạt yêu cầu của khách hàng

Năm 2006 Viện được cấp đề tài nghiên công nghệ thuộc lại và trau chuốt loại da này từ da đã thuộc kết hợp Crôm – syntan Kết quả xác lập được 2 quy trình công nghệ:

+ Công nghệ thuộc lại

+ Công nghệ trau chuốt

Da thành phẩm thu hồi trong thời gian triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu mã số 160-06/R-D, năm 2006, đã được Công ty TNHH Hùng quang ( HUNG QUANG Co, Ltd ), mua để sản xuất dây lưng 2 lớp xuất khẩu sang thị trường

Mỹ Chất lượng da thành phẩm và mặt hàng dây lưng 2 lớp đã đạt yêu cầu đặt

ra, xong da thành phẩm còn một số nhược điểm cần được khắc phục như lỏng mặt, đặc biệt phần nách, màu sắc và độ dầy chưa đạt độ đồng đều Để da thành phẩm tạo ra ngày càng hoàn thiện hơn về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của việc sản xuất hàng xuất khẩu một cách ổn định và chất lượng ngày càng nâng cao hơn Do vậy công nghệ cần phải được hoàn thiện và phải ổn

định trước khi triển khai sản xuất ở các cơ sở thuộc da

Xuất phát từ các yêu cầu trên, Viện nghiên cứu Da – Giầy xây dụng dự án sản xuất thử nghiệm là nhằm mục đích:

1 Hoàn thiện 2 công nghệ – công nghệ thuộc lại và công nghệ trau chuốt, để 2 quy trình công nghệ đạt được tính ổn định cao, qua đó da thành phẩm thu được sẽ ổn định về chất lượng

2 Khẳng định tính khả thi và khả năng áp dụng vào sản xuất đại trà của

2 công nghệ trên, một khi chuyển giao công nghệ hoặc liên doanh sản xuất

Trang 7

3 Khắc phục những nh−ợc điểm còn tồn tại để chất l−ợng sản phẩm thu

đ−ợc càng một cao hơn

Để đạt đ−ợc mục tiêu đề ra, trong 2 năm triển khai thực hiện Dự án ( 2007 –

2008 ), dự án đã xuất thuộc 31.863 kg da bò muối và thu đ−ợc 40.925,75 bia

da thành phẩm các loại Số da thành phẩm mà dự án thực hiện đã cung cấp hết cho nhà sản xuất dây l−ng xuất khẩu

Dự án đã thực hiện đúng nội dung và mục đích đề ra là đã hoàn thiện và ổn

định công nghệ thuộc lại và trau chuốt da dây l−ng 2 lớp, có khả năng triển khai sản xuất hoặc liên doanh sản xuất

Trang 8

2 Nội dung

2.1 Xuất xứ và luận cứ của dự án

+ Xuất phát từ yêu cầu của khách hàng về chủng loại da thành phẩm đã chào hàng, mà nó thu được trong thời gian triển khai nghiên cứu đề tài, ( xem phụ lục các đơn đặt hàng )

+ Dự án được thực hiện từ những kết quả thu được của đề tài nghiên cứu R-D số 160-06 năm 2006

+ Hợp đồng triển khai thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm số 03-07 SX-TN/HĐ-KHCN, ký ngày 24 tháng 01 năm 2007

2.2 Mục tiêu của dự án

+ Hoàn thiện công nghệ thuộc lại và công nghệ trau chuốt

+ Khắc phục những nhược điểm còn tồn tại như độ dầy, sắc màu của mặt da, độ lỏng mặt

+ Quy trình công nghệ phải đạt được tính ổn định, để có thể khẳng định

được tính khả thi khi áp dụng vào sản xuất hoặc chuyển giao công nghệ

2.3 Lý thuyết và giải pháp hoàn thiện công nghệ

Kết luận và kiến nghị của báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu “ Nghiên cứu công nghệ thuộc lại và trau chuốt da dây lưng từ da bò thuộc kết hợp Crôm – Syntan để sản xuất dây lưng 2 lớp phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu “ bao hàm các nội dung sau:

Kết quả nghiên cứu đã đạt được:

+ Đã xác lập được 2 công nghệ: Công nghệ thuộc lại và công nghệ trau chuốt

+ Đã tạo ra được sản phẩm da thuộc mới, chất lượng đạt yêu cầu của cơ

sở sản xuất dây lưng 2 lớp xuất khẩu sang thị trường Mỹ

Trang 9

+ Đã nâng cao được giá trị nguồn da nguyên liệu nội địa

Kết quả nghiên cứu chưa đạt được:

+ Độ dầy chưa đồng đều, vùng bụng mỏng hơn so với vùng lưng

+ Sắc màu của mặt da chưa đồng đều

+ Da thành phẩm còn bị lỏng mặt ở vùng nách

Xuất phát từ những kết luận trên, việc thực hiện dự án là cần thiết, vì trong quá trình thực hiện dự án là điều kiện để tìm và xác định được các nguyên nhân tạo nên những nhược điểm nêu trên, qua đó để kiện toàn công nghệ và khắc phục những nhược điểm còn tồn tại, qua đó nâng cao chất lượng da thành phẩm, đồng thời khẳng định được tính ổn định và tính khả thi của quy trình công nghệ

Để khắc phục được những nhược điểm nêu trên, dự án cần phân tích nguyên

nhân tạo ra những những nhược điểm, từ đó làm cơ sở để đưa ra giải pháp công nghệ nhằm khắc phục nhược điểm và hoàn thiện công nghệ nhằm nâng cao chất lượng da thành phẩm

2.3.1 Về độ lỏng mặt cật

Có 3 nguyên nhân tạo nên độ lỏng mặt cật, đặc biệt vùng nách là do:

a Công đoạn trung hoà chưa phù hợp

b Các khoảng trống giữa các bó sợi, đặc biệt các bó sợi của vùng nách chưa được làm đầy, vì cấu trúc sợi của vùng nách là lỏng hơn vùng mông

c Phần giáp gianh giữa lớp nhú ( papillary layer ) và lớp lưới ( reticular layer ) của lớp bì ( corium layer ) chưa được làm đầy ( xem hình 1 )

Giải quyết được 3 vấn đề trên sẽ khắc phục được những điểm còn tồn tại, cho nên cần phân tích một cách tỷ mỷ và khoa học từng vấn đề đã nêu ở trên,

từ đó có thể đưa ra được giải pháp công nghệ phù hợp hơn

Trang 11

tiết diện là các tác nhân như Formiat Natri, Syntan trung hoà, hai tác nhân này rất phù hợp để trung hoà da, mà nó cần độ chặt, độ đầy và độ mềm dẻo

Trên cơ sở quy trình công nghệ thuộc lại đã thu được từ báo cáo đề tài, công

đoạn trung hoà là phù hợp Bởi tỷ lệ và loại tác nhân trung hoà như Formiat Natri, Neutraktan – NT, mà nó được xử dụng trong công đoạn trung hoà là phù hợp, 2 tác nhân trung hoà này không phải là các nhân trung hoà mạnh, mặt khác lượng dùng chỉ là 2% Formiat Na và 1,5% Neutraktan – NT, cho nên pH sau khi kết thúc trung hòa không thể cao, mà chỉ đạt được khoảng từ 4,3 – 4,5,

độ lỏng mặt chỉ xảy ra khi pH cao sau công đoạn trung hoà [1,3,7] như vậy giá trị pH đạt 4,3 – 4,5 là không cao, cho nên không thể tạo ra độ lỏng mặt ở

pH = 4,3 – 4,5 Với giá trị pH không cao, các chất thuộc lại xuyên chủ yếu vào phần giáp gianh giữa lớp nhú và lớp lưới ( xem hình 2 – thể hiện mật độ chất thuộc lại xuyên vào), khi các chất thuộc lại xuyên nhiều vào lớp giáp gianh,

sẽ tạo được độ đầy ở phần giáp gianh, lớp nhú và lớp lưói sẽ trở thành gần như một lớp đồng nhất, khi lớp nhú và lớp lưới đã trở thành gần như mộ lớp đồng nhất, 2 lớp sẽ không bị tách khi bị uốn nhiều lần, kết quả thu được là giảm

được độ lỏng mặt cật

Cho nên độ lỏng mặt hiện còn tồn tại chủ yếu là do sự khác nhau về độ chặt

của cấu trúc sợi ở các vùng da khác nhau của tấm da, không phải là do công

đoạn trung hoà, công đoạn trung hoà đang thực hiện là phù hợp cho loại da thành phẩm cần độ đầy và dẻo

Tổng quan đánh giá công đoạn trung hoà mà nó đã thực hiện ở phần nghiên cứu là phù hợp, cần được duy trì khi triển khai sản xuất thử nghiệm, không nên thay đổi hoặc bổ xung thêm hoá chất

Trang 12

Hình 2

Độ chặt của lớp giáp gianh

theo lượng chất thuộc lại

pH=5,0 pH=4,0

-

Lớp nhú -

Phần giáp gianh x x x x x x x xxxxxxxxxx

x x x x x x x xxxxxxxxxx

x x x x x x x xxxxxxxxxx

-

Lớp lưới

-

b Khắc phục khoảng trống giữa các bó sợi

Cấu tạo của da động vật được tạo bởi 3 lớp, lớp biểu bì ( Epidermis ), lớp bì ( Dermis ) và lớp bạc nhạc ( Subcutis ) Lớp biểu bì và lớp bạc nhạc sẽ bị loại bỏ trước khi thuộc, vì 2 lớp này không tạo nên da thuộc, da thuộc chỉ được tạo từ lớp bì, lớp bì được tạo bởi 2 lớp – lớp nhú và lớp lưới [3] Về thành phần cấu tạo của các vùng da khác nhau của tấm da là như nhau, chỉ khác nhau về độ rỗng, độ chặt của bó sợi và độ lớn của các khoảng trống giữa các bó sợi, đó là nguyên nhân tạo nên sự chênh lệch về độ chặt và độ lỏng mặt của các vùng da

Trang 13

khác nhau của tấm da, đồng thời cũng là nguyên nhân tạo nên chênh lệch về

độ dầy khi da khô

Vùng da có khoảng trống càng rỗng và lớn, vùng da đó càng lỏng mặt hơn,

đồng thời cũng bị co ngót nhiều hơn khi khô ví như vùng nách Đó là lý do gây nên độ lỏng mặt, đặc biệt vùng nách và độ dầy không đồng đều của da thành phẩm

Trong quá trình chuẩn bị thuộc, các protein không có cấu trúc sợi ở khoảng trống giữa các bó sợi sẽ bị loại bỏ như như Albumin, Globumin [2,3], đồng thời cũng làm trương nở cấu trúc sợi

Việc loại bỏ các protein không có cấu trúc sợi trước khi thực hiện quá trình thuộc là cần thiết và bắt buộc, vì chúng không tạo nên da thuộc,mà cản trở các chất thuộc xuyên vào trong da Loại bỏ các protein này sẽ tạo điều kiện tốt cho các chất thuộc xuyên vào cấu trúc sợi, để liên kết với các nhóm chức của sợi

da, đồng thời cũng là nguyên nhân mở rộng các khoảng trống giữa các bó sợi, tạo cho da càng lỏng mặt và độ dầy càng co ngót khi khô

Cấu trúc sợi bị trương nở sẽ mở rộng các khoảng trống giữa các bó sợi, các khoảng trống này không được lấp đầy bởi các hoá chất trong quá trình thuộc,

đặc biệt trong quá trình thuộc lại, sẽ là nguyên nhân gây nên độ lỏng mặt Trên cơ sở phân tích trên, trong quá trình thực hiện công nghệ thuộc lại một cách phù hợp theo yêu cầu của da thành phẩm cần, lượng chất thuộc lại phải

được đưa nhiều vào các khoảng trống giữa các bó sợi nhiều hay ít, sẽ tạo cho

da thành phẩm có các tính chất cơ - lý – hoá khác nhau Vì quá trình thuộc lại

sẽ tạo cho da thành phẩm các chỉ tiêu sau:

Trang 14

Từ vai trò và mục đích của quá trình thuộc lại ở trên, da thành phẩm thu đ−ợc

rất phụ thuộc vào quá trình thuộc lại những vùng da có cấu trúc sợi càng rỗng,

vùng đó cần phải đ−ợc lấp đầy bởi các chất thuộc lại, kết quả sẽ giảm đ−ợc độ

rỗng giữa các bó sợi, giảm đ−ợc độ rỗng giữa các bó sợi sẽ giảm đ−ợc độ lỏng

mặt Đó là giải pháp logíc của công nghệ, vấn đề còn lại là chủng loại và

l−ợng chất thuộc lại sẽ sử dụng phù hợp ở mức độ nào, co nên trong thời gian

triển khai dự án nên nghiên cứu sử dụng một cách phù hợp

Các chất thuộc lại đ−ợc sử dụng nhiều nhất là các chất Syntan, Tanin thảo

mộc, các chất nhựa tanin và chất thuộc lại chuyên dụng nh− các chất thuộc lại

hệ Aldehyt

+ Chất thuộc thảo mộc

Chất thuộc thảo mộc là hợp chất Polyphenol, chúng đ−ợc chiết xuất từ vỏ,

thân, dễ và quả của một số loại thực vật Nhờ có nhóm OH nên các chất thuộc

thảo mộc có khả năng kết hợp đ−ợc với nhóm chức của da thông qua liên kết

Hydro, mặt khác chất thuộc thảo mộc còn đ−ợc dùng để thuộc lại Trong quá trình thuộc lại, chất thuộc thảo mộc xuyên chủ yếu vào vùng da có

cấu trúc sợi chặt nh− vùng mông, tạo độ đầy và chặt cho cấu trúc sợi Kết quả

da thành phẩm thu đ−ợc sẽ đạt độ chặt, độ đầy, hạn chế độ lỏng mặt

Trong các chất thảo mộc đ−ợc sử dụng nhiều nhất là Mimosa, Quebracho,

Gambir v.v Trong quy trình công nghệ thuộc lại thu đ−ợc từ nghiên cứu đề tài,

đề tài sử dụng chủ yếu là Mimosa, Việc sử dụng Mimosa là phù hợp, vì

Mimosa không tạo da thành phẩm trở nên nặng so với các chất thuộc thảo mộc

Trang 15

khác, nhưng tạo cho da thành phẩm đầy hơn Lượng dùng từ 8- 10% là phù hợp với yêu cầu của mặt hàng, cần duy trì khi thực hiện dự án

+ Syntan

Syntan là sản phẩm trùng ngưng của Polyphenol, Naphtalen với Formol trong môi trường axit sulphuric Thuỳ theo yêu cầu về độ hoà tan trong nước, nhóm Sulphô nhiều hay ít, khi cần nhiều nhóm Sulphô trong phân tử, công

đoạn Sulphô hoá sẽ thực hiện trứơc khi trùng ngưng, ngược lại sẽ cho sản phẩm ít nhóm Sulphô

Tuỳ theo chất được dùng để trùng ngưng, Syntan thu được là Syntan thay thế hay là Syntan phụ trợ Syntan thay thế là Syntan có thể thuộc được da, có nghĩa

là Syntan đó có thể tạo được liên kết với nhóm chức của da, như các Syntan sản xuất từ Phenol, Naphtol Các Syntan này kết hợp được với da nhờ có nhóm

OH trong phân tử, tạo nên cầu liên kết Hydro Syntan phụ trợ là các Syntan có tác dụng khuyếch tác các chất thuộc lại khác, chúng không có khả năng tạo liên kết với nhóm chức của da như các Syntan sản xuất từ Naphtalen

Syntan dùng trong thuộc lại sẽ tạo độ xốp cho da thành phẩm, đồng thời cũng tăng khả năng khuyếch tán chất thuộc thảo mộc Trong công nghệ thuộc lại đã sử dụng lượng 3% Syntan thay thế ( Synektan TF ) là phù hợp, với lượng 3% Syntan sẽ không tạo ra độ xốp cao, nhưng vẫn tăng được mức độ khuyếch tán chất thuộc thảo mộc Ngoài ra công nghệ còn sử dụng 2% Syntan phụ trợ ( Synektan ACNN ) để khuyếch tác các chất thuộc lại Như vậy việc sử dụng các Syntan là phù hợp, không cần thay đổi hoặc bổ xung thêm

Để tăng khả năng liên kết giữa lớp nhú và lớp lưới, công nghệ cần sử dụng thêm Syntan, mà nó có thể liên kết chặt lớp nhú và lớp lưới Trong các Syntan hiện có, nên sử dụng Syntan hệ Aldehyt như Synektan PTA Syntan PTA có khả năng liên kết với da và 2 lớp, tạo cho 2 lớp không bị tách khi uốn nhiều lần, độ lỏng mặt cật sẽ giảm hoặc không bị lỏng

+ Nhựa tanin

Trang 16

Nhựa tanin hiện đang sử dụng phổ thông là các chất có nguồn gốc từ Acrylat, Uretan và Melamin Tuỳ theo yêu cầu sử dụng, độ dài của các Polymer của các chất nhựa này sẽ là khác nhau Tính chất chung của các chất nhựa là tạo cho da thành phẩm có được độ dẻo và mềm, mặt khác chất nhựa tanin có khả năng làm đầy các khoảng trống giữa các bó sợi, đồng thời khả năng xuyên của chúng vào các vùng da là khác nhau Tanin thảo mộc xuyên chủ yếu vào vùng mông, các chất nhựa tanin như các chất hệ Melamin, Acrylat, chủ yếu xuyên vào vùng có cấu trúc sợi lỏng nhiều hơn so với vùng

có cấu trúc sợi chặt như vùng mông [1,3] Do vậy việc sử dụng 2 chất thuộc lại

hệ này cần kết hợp phù hợp để có thể giảm độ ngót khi khô và mức độ lỏng mặt

Ngoài giải pháp tăng chất thuộc lại cho vùng có cấu trúc sợi lỏng, độ dầy của tấm da cần được hiệu chỉnh trong công đoạn bào Việc hiệu chỉnh bằng cách bào bớt 0,2mm ở vùng da có cấu trúc sợi chặt so với vùng da có cấu trúc sợi lỏng, khi da khô độ dầy sẽ tương đối đồng đều độ dầy tiếp tục được hiệu chỉnh thông qua công đoạn trà nháp, để sản phẩm cuối cùng thu được đạt được

đồng đều về độ dầy

c Phần giáp gianh giữa lớp nhú và lớp lưới

Lớp bì được tạo bởi lớp nhú và lớp lưới, giữa chúng được ngăn cách bởi lớp mỏng, mà nó được gọi là phần giáp gianh Khi phần giáp gianh này không

được làm chặt bằng chất thuộc và chất thuộc lại, lớp này sẽ trở thành lớp ngăn cách giữa lớp nhú và lớp lưới, 2 lớp sẽ bị tách ra nếu chúng bị uốn đi uốn lại nhiều lần Việc tách 2 lớp này là nguyên nhân gây nên độ lỏng mặt cật da, cho nên trong công nghệ cần phải liên kết phần giáp gianh giữa lớp nhú và lớp lưới, để tạo thành một lớp gần như đồng nhất Khi đã tạo được một lớp đồng nhất, mặt da cật sẽ không bị lỏng, mặc dù mặt da bị uốn đi uốn lại nhiều lần,

đó là giải pháp phù hợp nhất trong công nghệ

Trang 17

Để đạt được mục đích trên, trong công nghệ thuộc lại, nên xử dụng các chất thuộc lại có khả năng kết hợp mạnh với nhóm chức của da như các chất thuộc

hệ Aldehyt [3,7], vì các chất thuộc hệ này có khả năng kết hợp mạnh hơn nhiều so với các chất thuộc hệ thảo mộc hoặc hệ tanin tổng hợp ( Syntan ), chất thuộc hệ Aldehyt không những được sử dụng trong công đoạn thuộc, mà còn được sử dụng trong công đoạn thuộc lại, đó cũng là ưu điểm thứ 2 của chất thuộc hệ này Trong nghiên cứu R-D chưa sử dụng chất thuộc lại hệ Aldehyt, cho nên trong thời gian thực hiện dự án, nên sử dụng chất thuộc lại

hệ này, lượng sử dụng sẽ được xác định trong thời gian thực hiện dự án

2.3.2 Về sắc màu

Các nguyên nhân tạo nên sắc màu không đồng đều là do:

+ Chất mang màu của màng trau chuốt chưa đủ lượng để tạo độ đồng

ắ Chất mang màu

Hiện nay chất mang màu đang xử dụng trong nghành thuộc da gồm pigment

và phẩm nước ( liquid dyestuff ) Pigment được làm từ Oxyt kim loại, có khả năng che phủ và tạo sắc màu đồng đều hơn, xong pigment làm giảm tính tự nhiên của mặt cật của da động vật, đồng thời giảm độ tươi của sắc màu và làm

mờ sắc màu Do vậy để đảm bảo tính tự nhiên của mặt cật da động vật mà khách hàng yêu cầu ( da thành phẩm là da không cải tạo mặt cật ), do vậy trong thành phần của màng trau chuốt không được dùng nhiều pigment, dùng

Trang 18

nhiều pigment sẽ làm giảm tính tự nhiên của mặt cật, chỉ cần sử dụng lượng vừa phải, khoảng 30-40g/l đủ để tăng độ đồng đều sắc màu, trong nghiên cứu R-D, lượng pigment đã sử dụng là phù hợp

Phẩm nước dùng trong trau chuốt nhằm tăng độ tươi của sắc màu và tính tự nhiên của mặt cật Phẩm nước không che phủ tốt khuyết tật, cho nên lượng sử dụng không nhiều, khoảng 30-50g/l là đủ, nghiên cứu R-D sử dụng 50g/l là phù hợp, vì sắc màu đã đạt sắc màu của khách hàng yêu cầu

Hiện tượng màu sắc chưa đồng đều không phải do lượng chất mang chưa đủ,

có thể do phương pháp thực hiện trau chuốt chưa phù hợp hoặc chưa đúng hoặc màu nhuộm của mặt da chưa thật sự đồng đều v.v

ắ Phun dung dịch trau chuốt

Quá trình phun dung dịch trau chuốt lên mặt da rất quyết định đến độ đồng

đều của sắc màu, với một lượng dung dịch trau chuốt như nhau, nhưng tốc độ phun không đều hoặc khoảng cách từ súng phun đến mặt da quá xa, đều là nguyên nhân gây không đồng đều về sắc màu Do tốc độ phun không đồng

đều, lượng chất trau chuốt phun lên mặt da sẽ không như nhau, vùng nhiều vùng ít, kết quả thu được là sắc màu không đều, vùng quá nhạt, vùng quá đậm Khoảng cách giữa súng phun và mặt da quá xa, sẽ tiêu hao dung dịch trau chuốt, vì dung dịch trau chuốt bị phun ra ngoài mặt da nhiều, kết quả sắc màu không đều Do vậy khi phun dung dịch trau chuốt, cần lưu ý khoảng cách giữa súng phun và mặt da phải xác định phù hợp, khoảng cách phù hợp nhất là từ

15 – 20cm, tuỳ theo lượng dung dịch trau chuốt được phun ra, mà điều chỉnh tốc độ phun một cách thích hợp, với lượng dung dịch trung bình ( không nhiều, không quá ít ), tốc độ phun là từ từ và phải là tốc độ đều, có được như vậy lượng chất trau sẽ được phủ đều trên toàn bộ bề mặt của tấm da, kết quả sắc màu sẽ đạt được độ đồng đều

ắ Màu nhuộm nền

Trang 19

Màu nhuộm nền của mặt da đóng vai trò quyết định đến độ đồng của sắc mău và độ dầy của màng trau chuốt, màng trau chuốt càng mỏng, chất lượng của da thành phẩm càng cao Vì mặt da được nhuộm màu càng giống màu của

da thành phẩm yêu cầu, quá trình trau chuốt sẽ thuận lợi hơn rất nhiều và màng trau sẽ mỏng hơn, da thành phẩm thu được sẽ đạt tính tự nhiên cao hơn, chất lượng da thành phẩm thu được sẽ cao hơn nhiều so với da thuộc cùng loại nhưng màng trau chuốt dầy Vì quá trình trau chuốt là quá trình vừa tạo màng bảo vệ cho mặt da, mà còn hiệu chỉnh màu của mặt da theo yêu của mặt hàng

Do vậy mặt da cần được nhuộm màu càng giống màu của mặt hàng yêu cầu càng tốt, việc hiệu chỉnh màu sẽ thuận lợi và đơn giản hơn so với trường hợp màu nhuộm của mặt da qúa lệch màu yêu cầu

Để khắc phục nhược điểm này, trong công nghệ cần thực hiện nhuộm mặt,

để tạo cường độ màu tốt hơn

2.3.3.Về độ dầy

Độ dầy của da sau khi bào là đồng đều ( mục đích của công đoạn bào là làm

đồng đều độ dầy )Nguyên nhân gây nên độ dầy không đồng đều là do:

+ Mức độ co ngót của vùng của tấm da sau khi khô là không như nhau Trong quá trình thuộc lại, các khoảng trống giữa các bó sợi sẽ được lấp đầy bởi các hoá chất thuộc lại, khoảng trống giữa các bó sợi được lấp càng nhiều,

da thành phẩm càng đầy sẽ càng giảm mức chênh lệch về độ co ngót [3], khi mức chênh lệch về độ co ngót không lớn, sẽ không chênh lệch nhiều về độ dầy giữa các vùng khác nhau của tấm da sau khi da khô

Trong số các chất thuộc lại, chất thuộc lại thảo mộc có khả năng lấp đầy các khoảng trống tốt nhất, nhưng các chất thảo mộc xuyên chủ yếu vào vùng có cấu trúc sợi chặt như vùng mông ( hình 3 ) Cho nên độ dầy ở vùng nách sẽ bị ngót nhiều khi da khô Để giải quyết vấn đề này cần giải quyết theo giải pháp cơ học, không giải quyết theo hướng công nghệ, có nghĩa là sẽ tạo ra sự chênh

Ngày đăng: 08/05/2014, 08:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bayer, Tanning, Dyeing, Finishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tanning, Dyeing, Finishing
Tác giả: Bayer
[6] Leather Finihs, Stahl. N¨m 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leather Finish
Tác giả: Stahl
Năm: 2007
[7] Tanning and Retanning, Stahl. N¨m 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tanning and Retanning
Tác giả: Stahl
Năm: 2006
[3] Technologia pieilor si bl¨nurilor, 1968 vol.1,2. G. Chirita Khác
[4] Leather Technician- Hand book, J.H. Sharphouse, B.Sc, 1989 Khác
[5] Sổ tay kỹ thuật thuộc da, TS. Lưu Hữu Thục, Nguyễn Hữu Cường Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w