1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long

90 980 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Xuân Mến
Trường học Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Vĩnh Long
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Vĩnh Long
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 4,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghề chăn nuôi, trong đó chăn nuôi gia cầm hiện đang là một trong những lĩnh vực có ưu thế lớn để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long, với m

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG

-

-BÁO CÁO KHOA HỌC KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ PROTEIN TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN LÊN NĂNG SUẤT SINH TRƯỞNG GÀ TA VÀNG NUÔI THẢ VƯỜN THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH HỌC TẠI HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG

Chủ nhiệm đề tài

NGUYỄN THỊ THUÝ HẰNG

Vĩnh Long, tháng 05 năm 2013

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG

-

-BÁO CÁO KHOA HỌC

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC ĐỘ PROTEIN TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN LÊN NĂNG SUẤT SINH TRƯỞNG GÀ TA VÀNG NUÔI THẢ VƯỜN THEO HƯỚNG AN TOÀN SINH HỌC TẠI HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG

Chủ nhiệm đề tài: NGUYỄN THỊ THUÝ HẰNG Đơn vị: Trường Cao đẳng Cộng đồng Vĩnh Long

Cố vấn đề tài: PGS.TS BÙI XUÂN MẾN Đơn vị: Trường Đại Học Cần Thơ

Trang 3

XÁC NHẬN THÔNG QUA CỦA HỘI ĐỒNG

- Tên đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên

năng suất sinh trưởng gà Ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long”

- Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Thúy Hằng, Giảng viên khoa Nông nghiệp

Nguyễn Thị Xuân Linh Võ Thị Mai Hoa

Lê Lan Anh Nguyễn Đa Phúc

Vĩnh Long, ngày tháng năm 2013

Chủ Tịch Hội Đồng

Trần Thanh Tùng

Trang 4

MỤC LỤC Trang

PHẦN MỞ ĐẦU -1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI - 1

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - 2

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - 2

4 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU - 2

PHẦN NỘI DUNG - 3

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU - 3

1.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI GÀ Ở VIỆT NAM - 3

1.2 NGUỒN GỐC CỦA GÀ TA VÀNG - 4

1.3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ SINH LÝ HỆ TIÊU HOÁ Ở GÀ - 4

1.3.1 Mỏ và xoang miệng - 5

1.3.2 Thực quản và diều - 5

1.3.3 Dạ dày - 6

1.3.4 Ruột - 6

1.3.5 Lỗ huyệt - 7

1.4 CHỌN LỌC THEO NGOẠI HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN BIỆT TRỐNG MÁI - 7

1.4.1 Chọn lọc gà con 1 ngày tuổi - 7

1.4.2 Chọn lọc kết thúc giai đoạn úm - 7

1.4.3 Phân biệt trống mái - 7

1.5 CÁC PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI GÀ - 8

1.5.1 Nuôi chăn thả - 8

1.5.2 Nuôi bán thâm canh (bán chăn thả) - 9

1.5.3 Nuôi thâm canh (nuôi nhốt hoàn toàn) - 9

Trang 5

6.1 Địa điểm, hướng và kiểu chuồng nuôi gà con - 10

1.6.2 Lồng úm gà con - 11

1.6.3 Kỹ thuật úm gà con - 13

1.6.4 Giai đoạn nuôi tăng trưởng - 16

1.7 NHU CẦU DINH DƯỠNG - 18

1.7.1 Nhu cầu năng lượng - 18

1.7.2 Nhu cầu protein và acid amin - 20

1.7.3 Nhu cầu chất béo - 23

1.7.4 Nhu cầu xơ - 24

1.7.5 Nhu cầu vitamin - 25

1.7.6 Nhu cầu khoáng - 26

1.8 MỘT SỐ LOẠI THỰC LIỆU THỨC ĂN ĐỂ NUÔI GIA CẦM - 28

1.8.1 Bắp - 28

1.8.2 Tấm - 28

1.8.3 Cám gạo - 29

1.8.4 Bột đậu nành - 29

1.8.5 Gạo lức - 29

1.8.6 Bột cá - 30

1.8.7 Bột cá tra - 31

1.8.8 Thức ăn cung cấp vitamin - 31

1.8.9 Phối hợp khẩu phần cho gia cầm - 39

1.9 NHỮNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT THỊT - 34

1.9.1 Những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt trên gia cầm sống - 34

1.9.2 Những chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt khi giết mổ - 34

1.10 PHÒNG BỆNH CHO GÀ - 35

1.11 CHĂN NUÔI AN TOÀN SINH HỌC - 36

Trang 6

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM - 38

2.1 THỜI GIAN - 38

2.2 ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN - 38

2.2.1 Vị trí địa lí của huyện Long Hồ - 38

2.2.2 Điều kiện khí hậu - 39

2.2.3 Điều kiện chăn nuôi địa điểm thí nghiệm - 40

2.3 NỘI DUNG THÍ NGHIỆM - 41

2.3.1 Đối tượng thí nghiệm - 41

2.3.2 Phương pháp thí nghiệm - 41

2.3.3 Chuồng nuôi gà thí nghiệm - 42

2.3.4 Máng ăn, máng uống - 43

2.3.5 Các dụng cụ khác - 43

2.3.6 Thức ăn thí nghiệm - 43

2.3.7 Cách phối trộn và bảo quản thức ăn - 45

2.3.8 Chăm sóc nuôi dưỡng - 45

2.3.9 Vệ sinh phòng bệnh - 48

2.3.10 Quy trình nuôi gà theo hướng an toàn sinh học - 48

2.3.11 Chỉ tiêu theo dõi - 49

2.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MẪU THỨC ĂN - 50

2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU - 51

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ – THẢO LUẬN - 52

3.1 TĂNG TRỌNG TRUNG BÌNH/CON/NGÀY - 52

3.2 LƯỢNG THỨC ĂN TIÊU THỤ, LƯỢNG DƯỠNG CHẤT TIÊU THỤ HÀNG NGÀY VÀ HỆ SỐ CHUYỂN HOÁ THỨC ĂN CỦA GÀ THÍ NGHIỆM - 54

Trang 7

3.4 CHỈ TIÊU MỔ KHẢO SÁT - 59

3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA CÁC NGHIỆM THỨC THÍ NGHIỆM - 63

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 65

KẾT LUẬN - 65

KIẾN NGHỊ - 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 66

PHỤ LỤC - 70

Trang 8

DANH MỤC BẢNG – HÌNH Trang

Bảng 1.1: Phương pháp phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình - 8

Bảng 1.2: Nhiệt độ tại vùng ủ úm phải phù hợp với độ tuổi của gà con (oC) - 14

Bảng 1.3 Nhiệt độ thích hợp nuôi gà theo tuần tuổi - 14

Bảng 1.4: Kích thước máng ăn, máng uống cho gà - 16

Bảng 1.5: Một số nhu cầu acid amin lý tưởng đối với gà thịt - 23

Bảng 1.6: Nhu cầu vitamin tính cho 1 kg thức ăn hỗn hợp của gia cầm - 26

Bảng 1.7: Nhu cầu khoáng cho 1 kg thức ăn của gia cầm - 27

Bảng 1.8: Nhu cầu dinh dưỡng cho gà thả vườn nuôi thịt - 28

Bảng 1.9: Thành phần dinh dưỡng gạo lức (100g) - 30

Bảng 1.10: Nhu cầu các chất khoáng và vitamin trong khẩu phần của gà thịt (90 % VCK) - 32

Bảng 1.11: Giới hạn sử dụng một số loại thực liệu trong khẩu phần của gia cầm - 33

Bảng 1.12: Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp cho gà thịt thương phẩm - 33

Bảng 1.13: Lịch phòng bệnh cho gà - 36

Bảng 2.1: Bố trí thí nghiệm - 41

Bảng 2.2: Thành phần hoá học % VCK của các thực liệu dùng trong thí nghiệm 44

Bảng 2.3: Công thức thành phần (%) và giá trị dinh dưỡng của nghiệm thức - 44

Bảng 2.4: Lịch tiêm vacine phòng bệnh - 48

Bảng 3.1: Tăng trọng trung bình của gà qua các tuần tuổi (g/con) - 52

Bảng 3.2: Tăng trọng trung bình của gà từ 5 - 16 tuần tuổi (g/con/ngày) - 53

Bảng 3.3: Tăng trọng của gà từ 5 - 16 tuần tuổi (g/con/ngày) - 53

Bảng 3.4: Lượng thức ăn gà ăn vao g/con/ngày - 55

Bảng 3.5: Dưỡng chất tiêu thụ của gà Ta vàng (số lượng/con/ngày) - 56

Trang 9

Bảng 3.7: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm - 58

Bảng 3.8: Năng suất thịt gà nuôi thí nghiệm lúc 16 tuần tuổi - 60

Bảng 3.9: Kết quả ảnh hưởng của của từng nghiệm thức lên khả năng cho thịt của gà Ta vàng - 61

Bảng 3.10: Hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức - 63

Bảng 3.11: Chênh lệch lợi nhuận thu được giữa các nghiệm thức (con) ………64

Hình 1.1: Cấu tạo hệ tiêu hóa cùa gà - 5

Hình 1.2: Lồng úm gà con - 12

Hình 1.3: Quây úm gà con - 13

Hình 1.4: Máng ăn và máng uống gà con - 15

Hình 1.5 Sơ đồ chuyển hóa năng lượng ở gia cầm - 19

Hình 2.1: Bản đồ hành chính của huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long - 39

Hình 2.2: Chuồng để gà ngủ ban đêm - 42

Hình 2.3: Gà con trong giai đoạn úm - 46

Hình 2.4: Gà thí nghiệm lúc 16 tuần tuổi - 48

Hình 3.1: Gà thí nghiệm 16 tuần tuổi - 54

Hình 3.2: Gà mổ khảo sát - 59

Hình 3.3: Thịt đùi gà mổ khảo sát - 62

Hình 3.4: Thịt ức gà mổ khảo sát - 63

Biểu đồ 3.1: Tăng trọng trung bình của gà qua các tuần tuổi (g/con) 52

Biểu đồ 3.2: Lượng thức ăn gà ăn vào trong ngày (g/con/ngày) ……… 55

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Theo Hiệp hội Gia Cầm Việt Nam (2011) Việt Nam là nước thứ 15 trong tổng

số 47 nước ở Châu Á về sản lượng thịt gà sản xuất đạt 380 ngàn tấn năm 2010 Hiện nay, chăn nuôi gia cầm không ngừng phát triển, tập trung sử dụng thức ăn công nghiệp đã và đang phổ biến nhưng do chi phí thức ăn công nghiệp cao từ đó làm giảm lợi nhuận cho nhà chăn nuôi Hiện nay 75 - 80% chăn nuôi gà ở nước ta sử dụng các giống địa phương Chăn nuôi gà chăn thả với các giống truyền thống địa phương không ngừng phát triển và hiệu quả ngày càng tăng, các giống gà địa phương được đầu tư để bảo tồn quỹ gen nhằm chọn lọc để nâng cao năng suất Theo Cục chăn nuôi tại Hội nghị “Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi gia cầm” mục tiêu đến năm 2020 tạo bước đột phá về phương thức sản xuất chăn nuôi gia cầm, tăng tỷ trọng chăn nuôi trang trại qui mô vừa và lớn, từng bước tổ chức lại chăn nuôi nhỏ lẻ theo hướng có kiểm soát, bảo đảm an toàn sinh học và giảm dần tỷ trọng sản phẩm Chăn nuôi gia cầm cần nâng cao năng suất hiệu quả và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, đưa giá trị của sản phẩm gia cầm từ 23% năm 2008 lên 30% năm 2010, 40% vào năm

2015 và 50% vào năm 2020 trong tổng giá trị ngành chăn nuôi

Theo Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Long, chăn nuôi chiếm

tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh trong đó riêng chăn nuôi lợn và gà có tốc độ phát triển mạnh trên 80%/năm Trên địa bàn tồn tại 3 phương thức chăn nuôi là gia trại, trang trại và nhỏ lẻ, trong đó chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm 80% số

hộ chăn nuôi Nghề chăn nuôi, trong đó chăn nuôi gia cầm hiện đang là một trong những lĩnh vực có ưu thế lớn để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long, với mục tiêu tổ chức ngành chăn nuôi theo hướng quản lý chuỗi sản phẩm từ chuồng nuôi đến thị trường tiêu thụ, năm 2012 ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long triển khai xây dựng 10 mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, ứng dụng quy trình thực hành chăn nuôi tốt (VietGAHP) trên 2 đối tượng là đàn lợn và đàn gà

Nhằm định hướng cho sự phát triển ngành chăn nuôi gia cầm tỉnh Vĩnh Long

và trước vấn đề bức xúc giá thức ăn, tình hình dịch bệnh, hiện tượng nóng lên của trái đất thì phương thức nuôi gà Ta vàng thả vườn là giải pháp thiết thực để tạo ra sản phẩm an toàn, không gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là giống gà Ta vàng đang được

Trang 12

quan tâm phát triển Vì thế chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà Ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long”

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định khẩu phần nuôi gà Ta vàng tăng trọng nhanh nhất

- Chênh lệch chi phí giữa các mức độ đạm lên tăng trọng

- Xác định khẩu phần nuôi gà Ta vàng cho tỷ lệ thịt cao

- Quy trình chăn nuôi gà Ta vàng theo hướng an toàn sinh học

- Khuyến cáo kết quả đạt được đến các hộ chăn nuôi nhằm cung cấp các thông tin về khẩu phần thích hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thả vườn ở tỉnh Vĩnh Long nói riêng và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là giống gà Ta vàng (120 con) từ 5 - 16 tuần tuổi

Phạm vi nghiên cứu là gà thí nghiệm được chăm sóc nuôi dưỡng theo quy trình chăn nuôi gà theo hướng an toàn sinh học và được tiêm phòng đầy đủ các bệnh trên gà tại xã Phước Hậu huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long

4 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên, 4 nghiệm thức (NT)

và 3 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 đơn vị thí nghiệm (lô), mỗi lô gồm 10 con gà được bố trọng lượng đầu gần bằng nhau Nghiệm thức 1 (đối chứng) cho gà ăn hoàn toàn lúa, nghiệm thức 2, 3, 4 sử dụng thức ăn tự phối trộn với các mức độ protein tương ứng (13%, 15%, 18%), mức năng lượng trao đổi (ME) ngang bằng nhau 2850 kcal/kg, bằng các thực liệu: bắp vàng, gạo lức, cám ép, bánh dầu nành

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI GÀ Ở VIỆT NAM

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có điều kiện tự nhiên đa dạng nên rất thích hợp cho ngành chăn nuôi gia cầm quy mô nông hộ nhỏ đến những cơ sở chăn nuôi với quy mô tập trung Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta Chăn nuôi gà phát triển mạnh nhất là các vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Bắc Sản lượng đầu con của các vùng này năm 2003 tương ứng là 50,13; 34,58 và 26,57 triệu con, chiếm 60% đàn gà của cả nước Các vùng phát triển tiếp theo là Đông Nam bộ và Bắc Trung bộ, chiếm 26%, các vùng có sản lượng gia cầm tính theo đầu con thấp nhất là Tây Bắc và Tây Nguyên, chỉ chiếm từ 4 - 5% về số lượng đầu con (Dương Thanh Liêm, 2003)

Theo số liệu thống kê 1997, đàn gà ở nước ta phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở phía Bắc (66%), Trung du phía Bắc (27,5%) và vùng đồng bằng sông Hồng (24,7%) Đàn gà phía Nam không nhiều (34%) và chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (15,6%) Chăn nuôi gà chăn thả với các giống gà địa phương không ngừng phát triển và hiệu quả ngày càng tăng bởi các giống địa phương đã được đầu tư để bảo tồn quỹ gen nhằm chọn lọc để nâng cao năng suất Việc kết hợp

sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tự chế biến đảm bảo các nhu cầu dinh dưỡng và các biện pháp vệ sinh thú y, sử dụng vaccin phòng bệnh đối với các đàn gà ta đã nâng cao đáng kể hiệu quả trong chăn nuôi nông hộ Nhiều giống gà thả vườn, lông màu,

dễ nuôi, khả năng cho thịt cao, khả năng sinh sản tốt thịt thơm ngon

Hiện nay cũng như lâu dài, ngành gia cầm nước ta cần phát triển nhanh hơn để đáp ứng yêu cầu tiêu thụ nội địa ngày càng tăng và để tạo ra sản phẩm gia cầm xuất khẩu Nhằm khai thác tối đa tiềm năng của đất nước, chăn nuôi gia cầm cần đẩy mạnh phong trào chăn nuôi, tận dụng ở nông thôn, kết hợp phương thức nuôi bán công nghiệp và thả vườn ở mọi vùng đồng bằng, trung du, miền núi dần dần hình thành các trang trại quy mô lớn nhằm tạo sản phẩm hàng hoá về gia cầm, năng suất khá, chất lượng thịt trứng thơm ngon, an toàn vệ sinh, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Đồng thời quy hoạch các vùng chăn nuôi công nghiệp theo

Trang 14

hướng thâm canh, tạo sản phẩm hàng hoá có năng suất cao, chất lượng tốt (Nguyễn Duy Hoan, 1999)

1.2 NGUỒN GỐC CỦA GÀ TA VÀNG

Gà Ta vàng là giống gà nội địa được phát triển rộng rãi ở miền Đông Nam bộ

và đồng bằng sông Cửu Long Đây là giống gà được nuôi chăn thả phổ biến và rộng khắp, nhất là ở vùng nông thôn được người dân địa phương ưa chuộng Đặc điểm ngoại hình: Gà mái thường có màu vàng rơm và nâu nhạt hoặc thẫm có điểm những đốm đen ở cổ, cánh, đuôi Gà trống có lông màu sặc sỡ trong đó màu vàng và màu đỏ tía chiếm tỷ lệ cao nhất, cánh và đuôi có điểm lông màu đen Gà Ta vàng có đầu thanh,

có mào đơn đôi khi có mào nụ, da và chân màu vàng Gà trưởng thành có trọng lượng

2000 - 2500g gà trống và 1500 - 1800g gà mái, tuổi gà mái đẻ trứng lần đầu tiên là 19

- 20 tuần tuổi Gà Ta vàng thích hợp với khí hậu và điều kiện nuôi quảng canh ở nước

ta, gà rất chịu khó kiếm ăn khi nuôi chăn thả trong vườn hay ngoài đồng Gà Ta có giá trị kinh tế cao, sức đề kháng bệnh lớn nên rất dễ nuôi và gà ít mắc bệnh Gà ta tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng bình quân 2,5 – 3,5kg (Dương Thanh Liêm, 2009)

1.3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ SINH LÝ HỆ TIÊU HOÁ Ở GÀ

Cơ quan tiêu hoá của gia cầm khác biệt rất nhiều so với động vật có vú Cấu tạo tổng quát bộ máy tiêu hoá của gia cầm bao gồm các bộ phận chủ yếu sau: Mỏ, xoang miệng, hầu, thực quản, diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, ruột già và lỗ huyệt (Dương Thanh Liêm, 2003)

Trang 15

Hình 1.1: Cấu tạo hệ tiêu hóa cùa gà

Chú thích: Esophagus: thực quản, Crop: diều, Proventriculus: dạ dày tuyến, Gizzard:

dạ dày cơ, Small intestine: ruột non, Large intestine: ruột già, Cloaca: lỗ huyệt, Gall bladder: túi mật, Liver: gan, Pancreas: Tụy tạng, caeca: manh tràng

1.3.1 Mỏ và xoang miệng

Gia cầm có mỏ được bọc bởi một lớp sừng có cấu tạo đặc biệt tuỳ theo loài Ở

gà mỏ nhọn thích nghi cho việc mổ rỉa lấy thức ăn trên cạn

Xoang miệng: Trong xoang miệng có lưỡi và một hệ thống tuyến nước bọt rất phong phú và phức tạp hơn động vật có vú Tuyến nước bọt tiết ra nước bọt nhưng trong đó không có enzyme tiêu hoá tinh bột Tác dụng của nước bọt là làm trơn để dễ nuốt thức ăn, thắm ướt thức ăn

1.3.2 Thực quản và diều

Ống thực quản dài, trước khi đổ vào xoang ngực nó được phình to thành một cái túi gọi là diều, sau đó trở lại như ống thực quản bình thường để đổ vào dạ dày tuyến Trên niêm mạc suốt ống thực quản và diều có rất phong phú tuyến nước nhờn Nhờ dịch nhờn tiết ra nhiều mà nó làm cho thức ăn trơn để gia cầm dễ nuốt thức ăn với thực quản rất dài của chúng Hình thái giữa thực quản và diều ở gà rất dễ phân biệt lúc

no cũng như lúc đói Diều có những chức năng sinh lý quan trọng như dự trữ và điều tiết lượng thức ăn đi trong ống tiêu hoá, tiết ra dịch diều để thấm ướt làm mềm thức

ăn, diều còn tiết ra sữa diều để nuôi con như chim bồ câu

Trang 16

1.3.3 Dạ dày

Dạ dày tuyến: Nằm trước dạ dày cơ, có dung tích rất nhỏ Thời gian thức ăn dừng lại ở dạ dày tuyến cũng rất ngắn Dạ dày tuyến tiết ra HCl và enzyme pepsin để bắt đầu tiêu hoá protein Thức ăn đi qua đây được thấm ướt bởi dịch vị và tiếp tục được chuyển xuống dạ dày cơ để tiêu hoá tiếp

Dạ dày cơ: Dạ dày cơ thường được gọi là mề, có dung tích lớn hơn dạ dày tuyến Trong niêm mạc dạ dày cơ có lót bởi lớp tế bào sừng hoá rất cứng để chống lại

sự va đập, xay xát khi mề nghiền thức ăn Phần dưới của lớp tế bào này là lớp tế bào tăng sinh để thay thế cho lớp tế bào bên trên bị bào mòn Trên bề mặt của lớp tế bào này có nhiều gai nhỏ nhô lên làm cho niêm mạc trở nên nhám Người ta gọi những gai nhỏ này là “răng mề” Dưới kính hiển vi mỗi “răng mề” có một tuyến nhờn rất nhỏ ở cạnh Qua khỏi lớp tế bào tăng sinh thì có mô cơ rất phát triển, màu đỏ sậm Nhờ có hệ thống cơ này giúp cho mề co bóp rất mạnh, nghiền nát thức ăn chuẩn bị cho tiêu hoá tiếp theo ở ruột Mề co bóp có chu kỳ, tuỳ theo tính chất thức ăn mà chu kỳ co bóp có thay đổi Để giúp cho việc nghiền thức ăn, loài chim thường ăn những hạt sỏi Nếu thiếu sỏi thì làm giảm khả năng tiêu hoá thức ăn hạt trên 10% Khi gà ăn nhiều xơ hoặc

ăn lông thì sỏi giúp nghiền nát nhanh hơn, gà tiêu thụ thức ăn nhiều hơn

1.3.4 Ruột

Ruột non là một ống dài có đoạn rộng hẹp khác nhau và chia làm 3 đoạn: Tá

tràng (duodenum), không tràng (jejunum) và hồi tràng (ileum) Dưới tác dụng của các

loại enzyme từ dịch vị, dịch ruột, dịch tuỵ và dịch mật do gan tiết ra, phần lớn các chất dinh dưỡng như carbohydrate, protein, lipid được tiêu hoá và hấp thu Những mảnh thức ăn còn cứng chưa được nghiền kỹ được đưa ngược lại dạ dày cơ nhờ nhu động ngược của ruột non để dạ dày cơ nghiền tiếp Vì lẽ đó nên niêm mạc của dạ dày cơ có màu vàng của mật Thời gian tiêu hoá ở ruột non khoảng 6 - 8 giờ

Ruột già chia làm ba phần: Manh tràng (ceacum), kết tràng (colon) và trực tràng (rectum) Manh tràng có cấu tạo thành hai nhánh đối xứng rất phát triển, chổ tiếp giáp giữa ruột non và ruột già có van gọi là van hồi manh tràng để không cho thức ăn đi ngược từ ruột già lên ruột non Ở manh tràng có quá trình lên men vi sinh vật, một phần chất xơ cũng được tiêu hoá ở đây Ở gà chỉ tiêu hoá được 1% chất xơ Protein

Trang 17

sinh nhiều chất độc Ngoài ra ở manh tràng còn có quá trình tổng hợp vitamin nhóm B, đặc biệt là vitamin B12 Kết tràng có tác dụng nhu động ngược đưa chất chứa lên manh tràng và từ manh tràng xuống trực tràng để đi vào lỗ huyệt, quá trình hấp thu chất khoáng và nước ở đây tương đối mạnh

1.3.5 Lỗ huyệt (cloaca) có cấu tạo gần giống như một cái túi, có các cửa đổ vào như

ruột già, hai ống dẫn niệu, đường sinh dục Phân và nước tiểu nằm ở lỗ huyệt một thời gian, ở đây có quá trình hấp thu muối và nước Vì vậy làm cho phân gia cầm được khô

đi Nước tiểu cũng bị cô đọng lại thành muối urate màu trắng ở đầu cục phân Nếu cho gia cầm ăn dư thừa protein thì muối urate sinh ra nhiều làm cho phân có màu trắng nhiều, nếu cho ăn thiếu protein thì phân có màu đen nhiều

1.4 CHỌN LỌC THEO NGOẠI HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN BIỆT TRỐNG MÁI

1.4.1 Chọn lọc gà con 1 ngày tuổi

Chọn ngay từ 1 ngày tuổi, dựa vào đặc điểm ngoại hình Chọn những con có khối lượng sơ sinh lớn, lông tơi xốp, bụng thon nhẹ, rốn kín, mắt to sáng, chân bóng, cứng cáp, đi lại bình thường, hai mỏ khép kín, tránh chọn những con gà khô chân, vẹo

mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn (Nguyễn Xuân Bình, 2000)

1.4.2 Chọn lọc kết thúc giai đoạn úm

Sau giai đoạn úm 21 ngày tuổi ta chọn những cá thể phát triển hoàn chỉnh, tầm vóc cân đối, mào và tích tai phát triển, bộ lông bóng mượt, hai chân vững chắc, đi đứng vững vàng, nhanh nhẹn, trọng lượng đồng đều chuyển lên nuôi lấy thịt (Nguyễn Thị Mai, 2009)

1.4.3 Phân biệt trống mái

Phương pháp soi lỗ huyệt: Khi chọn gà trống và gà mái, gà con được cầm ở tay trái lưng gà áp vào lòng bàn tay, đầu trút xuống dưới Khi quan sát cần bóp nhẹ vào bụng để cho phân ra ngoài, dùng ngón cái và ngón trỏ tay phải từ từ mở lỗ huyệt ra nếu con trống thấy có mấu lồi nhô lên, khi kéo căng mấu lồi nhỏ này không mất đi đó chính là mấu giao cấu

Trang 18

Bảng 1.1: Phương pháp phân biệt trống mái dựa vào đặc điểm ngoại hình

Lông Lông đuôi thường mọc muộn Lông đuôi mọc sớm

Tiếng

kêu

Hành vi Khi ăn thường bới ngang Ít bới ngang

Nguồn: Nguyễn Thị Mai ( 2009)

Phương pháp phân biệt trống mái qua tốc độ mọc lông cánh và màu sắc lông: Ở

gà thịt trong chọn giống người ta đã tạo ra những gà có gen quy định tốc độ mọc lông cánh và màu sắc lông liên kết với giới tính lúc gà mới nở Gà trống thì tốc độ mọc lông chậm hơn gà mái

Đối với gà ở các tuần tuổi 3 - 5 đặc biệt đối với gà thịt rất khó phân biệt trống mái nếu không có kinh nghiệm nghề nghiệp Để xác định trống mái ở giai đoạn này cần dựa vào những đặc điểm cơ bản như: Mào, tích tai, đầu, chân, tiếng kêu, lông…(Nguyễn Thị Mai, 2009)

1.5 CÁC PHƯƠNG THỨC CHĂN NUÔI GÀ

Theo Nguyễn Đức Hưng (2006) và Nguyễn Thị Mai và ctv(2009), có nhiều

hình thức chăn nuôi gia cầm và có thể khái quát thành 3 phương thức chính

1.5.1 Nuôi chăn thả

Gia cầm được thả tự do hoặc trong giới hạn không gian rộng như: Vườn nhà, đồi nhà, Ưu điểm của phương thức này là vốn đầu tư chuồng trại thấp, gà tận dụng được nguồn thức ăn trong thiên nhiên nên giảm được tiền chi phí thức ăn, chất lượng sản phẩm tốt (thịt, trứng thơm ngon) và có thể tận dụng được lao động nhàn rỗi ở nông thôn Nhược điểm là quy mô nuôi nhỏ, phân tán nên dễ phát sinh và lây lan dịch bệnh (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Theo số liêu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2004, có 65% hộ gia

Trang 19

đình ở nông thôn chăn nuôi gà theo phương thức này (trong tổng số 7,9 triệu hộ chăn nuôi gia cầm) với tổng số gà khoảng 110 - 115 triệu con và chiếm 50 - 52% tổng số gà

xuất chuồng của cả năm (Nguyễn Thị Mai và ctv(2009)

1.5.2 Nuôi bán thâm canh (bán chăn thả)

Theo Nguyễn Thị Mai và ctv(2009), đây là phương thức chăn nuôi tương đối tiên

tiến với quy mô đàn thường từ 200 - 500 con Gà được nuôi nhốt trong chuồng thông thoáng tự nhiên với hệ thống máng ăn uống bán tự động và sử dụng chủ yếu thức ăn công nghiệp Ước tính có khoảng 10 - 15% số hộ nuôi theo phương thức này với số lượng gà sàn xuất hàng năm khoảng 25 - 30% Theo Nguyễn Đức Hưng (2006), ngoài thức ăn do người chăn nuôi chủ động cung cấp, gia cầm còn tận dụng được thức ăn thiên nhiên trong quá trình thả ngoài sân, gia cầm được vận động nên sản phẩm có chất lượng cao Người chăn nuôi chủ động trong công tác thú y nên hạn chế được dịch bệnh Phương chăn nuôi này hiện đang được quan tâm và phát triển ở nước ta

1.5.3 Nuôi thâm canh (nuôi nhốt hoàn toàn)

Đây là phương thức chăn nuôi tiên tiến được ứng dụng phổ biến ở các nuớc có nền kinh tế và chăn nuôi công nghiệp phát triển Gia cầm được nuôi quy mô lớn và chất lượng sản phẩm theo chuẩn mực chung Gà thường thuộc giống cao sản và thức ăn thường là thức ăn công nghiệp Quy trình thú y và sản xuất được kiểm soát nghiêm ngặt

Đi theo phương thức nuôi này là các cơ sở chế biến thức ăn, chế biến sản phẩm, sản xuất các thiết bị phục vụ chăn nuôi có liên quan đều phát triển để hỗ trợ cho sản xuất thịt và trứng Tùy thuộc vào mức độ đầu tư và trình độ kỹ thuật mà quy mô có thể khác nhau Ở nước ta các cơ sở tư nhân giữ giống gốc và các doanh nghiệp chăn nuôi lớn đều nuôi gia

cầm theo phương thức này (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Theo Nguyễn Thị Mai và

ctv(2009), phương thức này chủ yếu là hình thức gia công của các trang trại với các

doanh nghiệp nước ngoài như: C.P Group, Japfa, Cargill, Proconco và phát triển mạnh

ở các tỉnh như: Hà Tây, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bình Dương,… Ngoài ra, nhiều hộ nông dân, trang trại có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm cũng tự chủ đầu tư chăn nuôi theo phương thức này

Trang 20

1.6 CHUỒNG TRẠI VÀ THIẾT BỊ DÙNG NUÔI GÀ

1.6.1 Địa điểm, hướng và kiểu chuồng nuôi gà con

Theo Nguyễn Thị Mai và ctv (2009) chọn địa điểm xây dựng chuồng trại trước

hết phải chú ý đến lượng gió và lượng ánh sáng chiếu đến địa điểm đó Nơi đó phải cao ráo, sạch sẽ, không đọng nước, không có cây cối rậm rạp quá dễ sinh ra có chuột, rắn Chuồng nuôi giữa các khu nuôi gà lớn phải cách xa ít nhất 300m, khoảng cách giữa các chuồng nuôi gà con với nhau nên từ 20 - 30m Chúng ta đã biết nhu cầu về ánh nắng của gà bao giờ cũng cao hơn những loại khác Đối với gà, ánh nắng giúp cơ thể tạo vitamin D đồng thời có tác dụng khử trùng môi trường nuôi và công cụ nuôi Tuy vậy không phải ánh nắng mặt trời lúc nào cũng thích hợp với gà con Ánh nắng gay gắt lúc 1h - 4h chiều cũng như ánh nắng yếu ớt lúc hoàng hôn đều không có lợi cho gà con Chính vì thế chúng ta phải chọn hướng chuồng làm sao để gà con có thể đón nhận được ánh nắng mặt trời mà không bị gió lùa Hướng Bắc là hướng gió lạnh, hướng Tây là hướng của những tia nắng xiên gay gắt Trong khi đó chúng ta lại thường hay phải chống gió mùa Đông - Bắc vào những này cuối thu thành ra chỉ còn lại hướng Nam là hướng tốt nhất Làm chuồng hướng Nam không khí mát mẻ lại lợi dụng được ánh nắng dịu của mặt trời và tránh được hướng gió bất lợi

Tuy nói như vậy không có nghĩa là nơi nào chúng ta cũng chọn hướng Nam làm chuồng mà chúng ta còn phải tuỳ theo địa điểm, đất đai cụ thể để có thể làm chuồng theo hướng Đông – Nam hoặc Tây – Nam, đồng thời có thể khắc phục gió lùa bằng cách trồng cây chắn gió Kiểu chuồng gà thì rất nhiều loại nhưng tuỳ từng nước, tuỳ từng nơi, tuỳ từng vùng khí hậu khác nhau để lựa kiểu chuồng cho thích hợp Hiện nay

ở nước ta chưa có công trình nghiên cứu kiểu chuồng nuôi gà con thích hợp Tuy vậy kiểu chuồng nào hợp với điều kiện của nước ta, tức là vừa rẻ tiền, vừa lâu hỏng, vừa dễ xây dựng, vừa đảm bảo vệ sinh vừa hạn chế được những điều kiện bất lợi của khí hậu trong 4 mùa thì kiểu chuồng đó chắc chắn sẽ thích hợp Nước ta tuy khí hậu nhiệt đới nhưng giữa miền Nam, miền Bắc lại khác nhau: miền Bắc mùa hè nhiệt độ trong ngày chênh lệch nhau nhiều có khi đến 5 - 6oC, miền Nam khí hậu ôn hoà hơn Các kiểu chuồng phổ biến:

+ Kiểu chuồng kín: Xây dựng bằng vật liệu cách nhiệt, hoàn toàn dùng ánh sáng điện, thông gió bằng quạt máy

Trang 21

+ Kiểu chuồng nửa kín nửa hở vừa có hệ thống quạt thông gió, vừa có cửa thông gió tự nhiên, dùng ánh sáng điện là chủ yếu

+ Kiểu chuồng hở hoàn toàn thông gió tự nhiên và dùng ánh sáng tự nhiên hoàn toàn

+ Kiểu chuồng nhỏ, thô sơ nuôi ở các gia đình thông thường làm cách mặt đất khoảng 0.50m cho phân lọt xuống dưới, có thể làm cầu đậu, máng ăn treo bên ngoài cho ga thò đầu ra ngoài ăn

Với kiểu chuồng như thế dù chọn bất kỳ kiểu chuồng nào chúng ta cũng cần chú ý thoả mãn những điều kiện sau đây:

+ Nền chuồng phải kiên cố, tránh được ẩm ướt, dễ sát trùng có độ dốc nhất định thuận tiện cho việc thoát nước khi rửa chuồng, nền có thể làm bằng ximăng, nền đất và nền gạch nhưng nền bằng xi măng vẫn tốt nhất vì nó dễ thoát nước, bền và không bị chuột đào khoét

+ Nóc chuồng có thể lợp bằng ngói, tôn hay lá, lợp bằng ngói là tốt nhất, bêton nóng và khi cần sửa chữa khó khăn, tôn thì hè nóng, đông lạnh, lá thì dễ bị chuột cắn làm tổ, mau hư Nóc chuồng gà con nên làm trần vì nó chống chuột và giữ ấm chống lạnh

+ Các cửa ra vào và cửa sổ phải có độ cao nhất định, độ rộng vừa phải để ra vào làm việc thuận tiện Cửa nên mở ra phía ngoài để khỏi mất diện tích chuồng Cửa sổ nên có lưới sắt để phòng thú hay chim xâm nhập vào

+ Chuồng phải có hệ thống thoát nước ngầm từ những hố đặt máng nước tự

động bên trong chuồng dẫn đến các cống rãnh thoát nước lớn bên ngoài (Lã Thị Thu

Minh, 2000)

1.6.2 Lồng úm gà con

Lồng úm nuôi 100 con có chiều dài 2m, rộng 1m, cao 0,5m Lồng úm để đứng chân cao 0,4m hoặc cách nền 0,1m, đáy lót bằng lưới ô vuông có kích thước cỡ 1cm, xung quanh lồng úm đóng nẹp tre, gỗ, lưới mắt cáo Mật độ úm từ 1 ngày tuổi đến 1 tuần là 100 con/m2, từ 1 - 2 tuần tuổi là 50 con/m2, từ 3 - 5 tuần tuổi là 25 con/m2

Trang 22

Hình 1.2: Lồng úm gà con

(www.hickmanseggs.com) Theo Lê Minh Hoàng (2002) gà con trong tuần đầu được úm trong quây có đèn sưởi ở ô chuồng nuôi và nới rộng dần quây ra theo tuần tuổi Ngoài ra còn có cách úm

gà con theo chuồng củi đóng bằng tre, gỗ có kích thước thường rộng 1,2 – 1,5 m, dài 1,5 - 2 m, cách mặt đất 0,4 – 0,5 m, xung quanh có song sắt, tre cách nhau 2 – 2,5 cm, cao 0,5 – 0,6 m, đáy bằng tre, gỗ, rải lưới ô vuông nhỏ có thể thêm chất độn như dăm bào, rơm, trấu, phía trên có nắp đậy, lưới mắt cáo để tránh chuột, mèo vào bắt gà Phía trên có chụp đèn sưởi ấm cho gà

Úm trên nền: Dùng cót cao 0,5 m quây tròn, khoảng 5 m2 cót cho 100 gà con Theo Nguyễn Hữu Vũ (1999) trước khi đưa gà về nuôi cần chuẩn bị chu đáo chuồng trại, các thiết bị dụng cụ chăn nuôi và đảm bảo khử trùng sạch sẽ như:

+ Khử trùng chuồng trại: Chuồng trại được quét sạch bụi bẩn, mạng nhện trên trần, lưới, sàn nhà Khử trùng nền chuồng bằng cách phun dung dịch formol 2 %, liều lượng 0,5 lít/1m2 nền chuồng hoặc quét một lớp nước vôi đặc lên trên nền chuồng (nền ximăng hoặc lát gạch), để khô trước khi cho vào lớp độn chuồng

+ Chuẩn bị rèm che: Quây quanh chuồng có thể làm bằng cót, vải bạt nhưng phải đảm bảo kín, linh hoạt khi mở ra hoặc đóng vào Rèm che treo cách trần 30 - 40

cm đảm bảo thông thoáng và phủ sát nền chuồng để tránh gió lùa

+ Chuẩn bị nguồn sưởi: Có thể là lò sưởi điện, bếp than, củi, trấu, bóng đèn điện… đảm bảo cung cấp nhiệt trong quây gà lên được 36 - 370C Phải được vận hành thử để kiểm tra trước khi đưa gà vào chuồng

Trang 23

+ Quây gà: Được làm băng cót, bìa cứng, hộp gỗ có đường kính 2,5 m, chiều cao 0,5 m dùng cho 300 gà 1 ngày tuổi Quây có thể mở rộng khi tuổi gà lớn lên

1.6.3 Kỹ thuật úm gà con

* Chuồng úm:

Một tuần trước khi nhận gà, chuồng trại phải được sát trùng kỹ lưỡng, có phủ bạt che kín xung quanh Trước khi vào gà 2-3 ngày nền chuồng được độn trấu hoặc dăm bào dày 8-10 cm và sát trùng formol 2%

Nếu nhận gà con vào mùa hè, nhiệt độ bên ngoài trên 300C thì không cần làm thêm phòng úm bên trong chuồng mà chỉ cần che kín bạt xung quanh là được Nếu nhận gà con vào mùa đông, nhiệt độ bên ngoài thấp thì bên trong chuồng cần làm thêm phòng úm để giữ nhiệt tốt cho gà Phòng úm được quây kín bằng bạt và có trần bên trên, bạt có thể mở dễ dàng để điều chỉnh độ thông thoáng trong phòng úm

Hình 1.3: Quây úm gà con

(www.self-sufficient-life.com)

* Nhiệt độ: Khi úm gà con điều quan tâm số 1 là nhiệt độ, bảo đảm cho gà con luôn đủ

ấm Vì vậy trước khi nhận gà con về nuôi cần sưởi ấm phòng úm 3 - 6 giờ tuỳ thộc vào nhiệt độ bên ngoài

Trang 24

Bảng 1.2: Nhiệt độ tại vùng ủ úm phải phù hợp với độ tuổi của gà con ( o C)

Chuồng có chụp sưởi Ngày tuổi

Nguồn: Nguyễn Thị Mai ( 2009)

Bảng 1.3 Nhiệt độ thích hợp nuôi gà theo tuần tuổi

gà tản đều, đi lại trong quây và ăn uống bình thường là nhiệt độ phù hợp

* Ánh sáng : Khi úm gà có thể sử dụng bóng điện vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm cho gà

Nếu sử dụng nguồn sưởi bằng bóng hồng ngoại, chụp gas thì cần bổ sung thêm bóng

Trang 25

sáng để kích thích khả năng tiêu thụ thức ăn của gà Chiếu sáng cả ngày lẫn đêm để kích thích gà ăn nhiều

* Thức ăn, nước uống

Cung cấp nước cho gà con uống ngay sau khi thả gà vào chuồng úm

Thức ăn cho gà ăn 2 giờ sau khi đưa gà vào úm, khi cho ăn cần rắc 1 lượng thức

ăn mỏng trên khay, mẹt để cho gà ăn hết lại rắc tiếp lần khác, trước khi cho ăn nếu còn thức ăn trong khay thì cần sàng loại bỏ phân và chất độn chuồng lẫn vào thức ăn Gà con úm tuần đầu cần cho ăn 9 - 10 lần/ngày

Nước uống : Khi gà con mới nhận về cho uống nước ngay, bổ sung 1 gam

Vitamin C + 50 gam đường Glucose/1 lít nước, cho gà con uống trong ngày đầu Sau

đó cho uống vitamin tổng hợp Cần lưu ý gà con lúc này uống rất ít nước nên khi pha nước thì pha ít một, gà uống hết ta lại pha tiếp để đảm bảo vệ sinh Gà con giai đoạn

úm cho uống bằng máng ga lon hoặc máng nhựa loại 2 lít Thay nước sạch cho gà 2 - 3 lần/ngày

Hình 1.4: Máng ăn và máng uống gà con

(www.chicken-yard.net) Máng ăn, máng uống: Gà mới nở vài ngày đầu thức ăn nên rải trên giấy xi măng, giấy báo, sau đó cho gà ăn trên khay nhôm, mẹt tre có gờ thấp 2 cm, khi gà lớn dần cho gà ăn máng có gờ cao 5 cm Có thể đặt các máng bằng gỗ, tôn Máng ăn, máng uống cho gia cầm con có thể hình trụ, hình ống có then dọc tròn xoay để gà không nhảy vào máng và cũng không đậu lên được Cần tính toán đủ máng ăn, máng uống cho đàn gà và phân bố nhiều trong quây gà Khay làm máng ăn, máng uống cở

40 x 60 cm, cao 5 cm cho 75 - 100 gà Máng uống đặt hoặc treo xen kẻ các máng ăn

Trang 26

Bảng 1.4: Kích thước máng ăn, máng uống cho gà

Tuần tuổi

Chiều dài một bên máng cho 1

gà (cm)

Bề rộng miệng máng (cm)

Bề rộng đáy máng (cm)

Chiều sâu máng (cm)

Chiều dài máng (cm)

Viện Chăn nuôi (2010)

Nguyên liệu làm độn chuồng: Nguyên liệu làm lớp độn chuồng cho chăn nuôi gia cầm con có nhiều loại Khi chọn nguyên liệu làm độn chuồng cần chú ý là các vật liệu không nát vụn, có khả năng giữ ẩm tốt, không tạo thành nhiều bụi, không bị nấm mốc Thông thường hay dùng phôi bào, mùn cưa, trấu, rơm rạ phơi khô làm độn chuồng Lớp độn chuồng lúc đầu dày 8 - 10 cm, sau đó bổ sung hoặc thay mới

Trước khi đưa gà vào, rải một lớp độn chuồng bằng phôi bào, trấu, rơm chặt nhỏ dày 5 - 10 cm, hoặc giấy báo vào quây úm hoặc lồng úm

Tất cả dụng cụ, vật liệu đều được khử trùng sạch sẽ trước khi đưa vào chuồng nuôi Chú ý kiểm tra lưới, nền, trần để phòng chuột, thú dữ có thể tấn công đàn gia cầm (Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp ASPS, 2004)

1.6.4 Giai đoạn nuôi tăng trưởng

Nền chuồng cần trải chất độn chuồng, khô xốp, cao từ 20 - 25 cm Thường xuyên thay chất độn chuồng tùy vào hoàn cảnh và điều kiện tiểu khí hậu trong vùng, mật độ nuôi, trang thiết bị kỹ thuật Mật độ nuôi khoảng 20 con/m2 Không nên để chất độn chuồng quá khô hay quá ẩm vì quá khô dễ gây bụi cho gà, nếu quá ẩm ướt sẽ tạo điều kiện cho cầu trùng phát triển Nên thường xuyên xới nền chuồng hoặc thay chất độn chuồng khi bị ẩm ướt

Nuôi trên lồng: Thường sử dụng kiểu chuồng lồng đơn giản hoặc chuồng sàn Kiểu nuôi này gà ít bị nhiễm bệnh nhất là các bệnh ký sinh trùng nhưng gà không phát triển tốt bằng nuôi trên nền Mật độ nuôi lồng khoảng 25 con/m2

Trang 27

Khu vườn chăn thả: Đối với những vùng đất có diện tích giới hạn trong khi

muốn có quy mô đàn gà lớn, đồng thời có thể hạn chế được sự lây lan dịch bệnh đòi hỏi cần thiết phải có phương pháp thiết kế khu vườn chăn thả có lưới chắn xung quanh

để giới hạn diện tích di chuyển của đàn gà Lưới chắn xung quanh nhằm ngăn không

cho các loại gia cầm, gia súc khác vào vườn chăn thả dành riêng cho gà

Một khu nuôi gà nên xây dựng 2 - 4 bãi chăn thả để luân phiên nhau Vườn thả

gà có cỏ tươi, mát mẻ sẽ hấp dẫn sâu bọ, trùng, dế vào làm nguồn thức ăn đạm động vật, vitamin, khoáng bổ sung cho gà Để tạo bóng mát trong vườn thả gà nên trồng một

số cây ăn trái như bưởi, cam, quýt,… Trên bãi thả, gà có thể tắm nắng để tạo vitamin

D làm xương rắn chắc, sức khỏe tốt, ít bệnh tật Để thu được hiệu quả cao cần căn cứ vào diện tích vườn của mình để quyết định số lượng gà nuôi (Lã Thi Thu Minh, 1999)

Chú ý tạo điều kiện hoặc tìm các biện pháp duy trì hoặc tái tạo các nguồn thức

ăn trong vườn Có thể tạo những khu nuôi trùn đất bằng cách làm những hố cạn đặt các chất hữu cơ hoai mục trộn với phân heo hoặc phân trâu bò, trên đặt các bụi lùm nhân tạo có rào lưới chặn xung quanh để trong khoảng từ 3 - 4 tuần để dẫn dụ thêm côn trùng đến và sau đó sẽ mở rào để gà đến bươi tự kiếm ăn Làm luân phiên các hố như vậy trong vườn thả gà sẽ hạn chế nguồn thức ăn bị cạn kiệt Đôi khi cũng cần tập hợp các loại thức ăn xanh gom nhặt từ các nơi khác như lục bình, rau bỏ đi, lúa lừng sau khi quạt, rơm lúa chở về chất đống trong vườn để gà tự chọn ăn (Bùi Xuân Mến, 2008)

Máng ăn, máng uống treo trong chuồng và xung quanh khu vực chăn thả để gà

ăn tự do Kích thước máng ăn có chiều dài 1 - 1,1 m, rộng 15 cm, cao 5 - 7 cm, chiều dài mép máng cho mỗi gà 5 - 10 cm, có thể dùng máng tròn mỗi máng cho 15 - 30 con

gà Hiện nay phổ biến là dùng máng P50 làm bằng nhựa, máng tròn có đường kính 20

- 25 cm, cao 35 - 45 cm, đặt trên mâm tròn đường kính 50 cm, có gờ cao 5 - 6 cm tránh khi gà ăn rơi vãi thức ăn, giữa chụp và mâm có khe hở 3 nấc điều chỉnh rộng hẹp cho thức ăn từ chụp rơi xuống mâm từ từ khi gà ăn Khi gà còn nhỏ máng đặt ở nền và

kê cao dần theo tuổi lớn của gà Khi gà lớn rồi thì máng ăn luôn luôn treo cao ngang tầm lưng gà (Lê Minh Hoàng, 2002)

Máng uống cho gà có nhiều loại nhưng phải là máng dễ sát trùng, dễ lau rửa Phải có đủ máng và đủ nước cho gà uống, có chụp nhằm không cho gà lội vào nước

Trang 28

uống như máng galon nhựa loại 3,8 lít cho gà lớn (75 con) và 1 lít cho gà con (50 con) Ngoài ra còn có thể tận dụng vỏ hộp, chai nhựa, ống tre để làm máng uống cho gà Cần lưu ý máng uống cho gà phải có chụp để tránh gà dẫm vào máng Độ cao máng uống cho gà không cố định mà phải theo độ tuổi của gà mà điều chỉnh cho phù hợp theo nguyên tắc mép máng ngang tầm cao của lưng gà lúc gà đứng bình thường (Lê Minh Hoàng, 2002)

Máng sỏi cho gà: Do đặc điểm sinh lý dạ dày gà cần có sỏi sạn giúp cho việc nghiền thức ăn và đôi khi gà vẫn thiếu thức ăn khoáng nhất là gà đẻ Chuồng, sân nuôi

gà thường đặt các máng đựng sỏi sạn, hến, đá vôi, cua ốc có kích cỡ phù hợp cho các loại gà Máng đựng sỏi dài 40 - 50 cm, rộng 15 - 20 cm cho khoảng 200 gà giai đoạn tăng trưởng Máng ăn có thể làm bằng gỗ, nhựa hoặc xây gạch láng xi măng (Lê Minh Hoàng, 2002)

Hố tắm cát cho gà: Trước khu nuôi gà nên xây hố tắm cát cho gà có chiều dài 1

- 1,2 m; rộng 0,7 - 0,8 m; cao 15 - 20 cm Hố chứa gần đầy cát khô có trộn pha ít lưu huỳnh để gà tắm trừ bọ mạt Hố cát có mái che để tránh mưa nắng (Lê Minh Hoàng, 2002)

Giàn cho gà đậu: Gà là loài chim thích đậu, giàn đậu cho gà làm bằng gỗ, tre ghép cách nhau 25 - 30 cm, cao hơn chuồng 40 - 50 cm, tính cho mỗi gà lớn 15 - 20

cm Trong mỗi chuồng giàn gà đậu chỉ chiếm 1/4 -1/5 diện tích Giàn gà đậu có thể tháo gỡ để lau chùi vệ sinh chuồng và vệ sinh giàn đậu cho gà (Lê Minh Hoàng, 2002)

1.7 NHU CẦU DINH DƯỠNG

1.7.1 Nhu cầu năng lượng

Năng lượng cần thiết cho việc duy trì các hoạt động, sinh trưởng và phát triển của

cơ thể Chi phí năng lượng trong khẩu phần gia cầm khoảng 45 - 55% tổng chi phí Trong khẩu phần gia cầm, nguồn năng lượng trước hết từ carbohydrate, tiếp đến là từ mỡ và cuối cùng là từ protein (Ewing, 1963) Năng lượng rất cần thiết cho sự sinh trưởng của

mô bào, các hoạt động và duy trì thân nhiệt Vì thế, năng lượng được xem là "ngọn lửa

của sự sống" (Nguyễn Đức Hưng, 2006) Chất bột đường có vai trò cung cấp phần lớn năng lượng cần thiết cho mọi nhu cầu hoạt động sống duy trì thân nhiệt cho cơ thể, tích lũy năng lượng dưới dạng glycogen trong gan, trong cơ và mỡ (Võ Bá Thọ, 1996)

Trang 29

Nhờ quá trình trao đổi chất mà năng lượng trong các chất dinh dưỡng được biến đổi thành các dạng năng lượng cần thiết cho hoạt động sống của cơ thể Việc thừa năng lượng sẽ gây tích nhiều mỡ đối với các đàn gia cầm giống và kết quả là làm giảm khả năng sinh sản của chúng Năng lượng có ảnh hưởng quyết định đến việc tiêu thụ thức ăn hay nói cách khác lượng thức ăn gà ăn hàng ngày tương quan nghịch với hàm lượng năng lượng trong khẩu phần Gà sẽ ăn nhiều khi khẩu phần có năng lượng thấp và ngược lại ăn ít hơn khi khẩu phần có năng lượng cao (John, 2000)

Hiện nay, để tính toán nhu cầu năng lượng cho gia cầm người ta thường dựa vào năng lượng trao đổi (ME) Giá trị năng lượng trong thức ăn gia cầm được tính toán bằng hiệu giữa năng lượng thô của thức ăn và năng lượng loại thải qua phân và nước tiểu Nhu cầu về năng lượng trao đổi của gia cầm được thể hiện bằng số calo (cal), kilocalo (kcal), megacalo (Mcal) hoặc Jun (J), kilojun (KJ), megajun (MJ) cho

một con trong một ngày đêm hay trong một kg thức ăn hỗn hợp (Nguyễn Thị Mai và

ctv., 2009)

Theo NRC (1994) quá trình chuyển hóa năng lượng (NL) của gia cầm được trình bày qua sơ đồ sau:

NL thô

NL qua phân NL tiêu hóa

NL qua nước tiểu NL trao đổi

NL mất đi NL thuần trong quá trình trao đổi để duy trì sản xuất

Hình 1.5 Sơ đồ chuyển hóa năng lượng ở gia cầm

(Nguồn: NRC, 1994)

Theo Dương Thanh Liêm (2003) thì mức năng lượng trao đổi đối với gà thịt công nghiệp là 3100 kcal/kg thức ăn Đối với gà thả vườn giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi thì mức năng lượng cần là là 3000 kcal/kg, giai đoạn gà giò đến xuất chuồng là 2800 kcal/kg thức ăn Theo Leeson và Summer (1997) thì nhu cầu năng lượng (ME) cho gà

Trang 30

thịt từ 2900 - 3150 kcal/kg Theo Rose (1997) nhu cầu năng lượng (ME) cho gà thịt từ

35 ngày tuổi đến xuất chuồng là 13 - 13,4 MJ/kg

Mối tương quan giữa năng lượng và protein

Theo John (2000), thông thường protein không được xem là nguồn cung cấp năng lượng trong khẩu phần nhưng nó đóng góp đáng kể vào nhu cầu năng lượng của gia cầm Khi lượng lipid và carbohydrate cung cấp không đủ thì protein sẽ được sử dụng như nguồn cung cấp năng lượng chính cho gia cầm

Mối quan hệ chặt chẽ giữa năng lượng trao đổi và protein được thể hiện bằng một hằng số nhất định trong khẩu phần thức ăn cho từng giai đoạn phát triển và sản xuất của gia cầm Hằng số đó được tính bằng hằng số kcal ME/%CP trong thức ăn

Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001), hằng số ME/CP trong thức ăn cho các lứa tuổi gà như 0 - 3 tuần tuổi (gà thịt) là 127 - 130 (kcal ME/%CP); giai đoạn 4 - 6 tuần tuổi là 145 - 150 (kcal ME/%CP) và giai đoạn 7 tuần tuổi đến kết thúc là 160 - 165 (kcal ME/%CP) Lã Thị Thu Minh (2000) cho rằng tỷ lệ năng lượng trao đổi và protein đối với gà thịt khoảng 90 - 110 (kcal ME/%CP) là hợp lý

1.7.2 Nhu cầu protein và acid amin

* Nhu cầu protein

Protein là thành phần cấu trúc quan trọng nhất của cơ thể gia súc, gia cầm Protein có

những đặc tính mà các chất hữu cơ khác không có được (Vũ Duy Giảng và ctv., 1995) Sự

trao đổi chất luôn luôn xảy ra cả khi cơ thể gia cầm không được nhận protein từ thức ăn Nếu không cung cấp đủ protein theo yêu cầu, gia cầm phải huy động protein, lipid tích lũy

để cung cấp năng lượng cho duy trì mọi hoạt động của cơ thể Vì vậy, khi xây dựng khẩu phần phải cân đối đủ nhu cầu protein, năng lượng cho duy trì cơ thể, cho tăng trưởng và cho sản xuất Có như vậy mới đảm bảo cho gia cầm sức có khỏe tốt, tăng trọng nhanh, đẻ trứng nhiều và khả năng ấp nở của trứng cao (Nguyễn Duy Hoan, 1999)

Cũng giống như năng lượng, nhu cầu protein của gia cầm gồm hai phần là nhu cầu protein cho duy trì và nhu cầu protein cho sản xuất Nhu cầu protein của gia cầm được tính bằng số gam protein thô cho mỗi con gia cầm trong một ngày đêm Tuy nhiên, gia cầm không thể nuốt trực tiếp số lượng protein theo nhu cầu tính được mà nó phụ thuộc vào lượng thức ăn mà gia cầm thu nhận hàng ngày Vì vậy, trong khẩu phần ăn

Trang 31

của gia cầm, nhu cầu protein thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm (%) protein thô

(Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)

Để có cơ sở phối hợp bao nhiêu % protein trong mỗi loại thức ăn, chúng ta cần biết nhu cầu protein (g/con/ngày) cho mỗi loại gia cầm Từ số lượng protein cần cung cấp và khả năng thu nhận thức ăn hàng ngày của mỗi loại gia cầm mà có thể tính được

tỷ lệ protein thích hợp trong mỗi loại thức ăn cho mỗi loại gia cầm khác nhau

Mức CP trong khẩu phần đối với gà thịt công nghiệp giai đoạn 0 - 3 tuần tuổi là 23%, giai đoạn 3 - 6 tuần tuổi là 20%, giai đoạn 6 tuần tuổi đến xuất chuồng là 18% Đối với gà Lương Phượng thả vườn, mức CP trong giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi là 20%, giai đoạn từ 22 - 42 ngày tuổi là 17% (Dương Thanh Liêm, 2003) Leeson và Summers (1997), nhu cầu CP trong khẩu phần gà thịt là 16 - 23%, tuy nhiên còn phải tùy thuộc vào mức năng lượng (ME) của khẩu phần Theo Rose (1997), nhu cầu CP trong khẩu phần của gà thịt từ 35 ngày tuổi đến xuất chuồng là 18 - 22% Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Quyên (2008) thì mức protein 20% trong khẩu phần cho tăng trọng cao nhất ở giống gà Nòi từ 0 - 8 tuần tuổi

* Nhu cầu acid amin

Thực chất gia cầm cần acid amin trong thức ăn dưới dạng protein, chứ không phải cần protein Vì vậy, khi xét nhu cầu protein ta không thể không xét đến nhu cầu acid amin (Dương Thanh Liêm, 2003)

Trong dinh dưỡng gia cầm, nhu cầu về acid amin chủ yếu là nhu cầu về các acid amin không thay thế (acid amin thiết yếu) Khi thiếu bất kỳ một acid amin không thay thế nào trong khẩu phần ăn thì quá trình tổng hợp protein sẽ bị rối loạn, thậm chí còn làm phá hủy trao đổi chất của cơ thể Điều đó làm giảm khả năng sinh trưởng cũng như sức sản suất của gia cầm Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ các acid amin không thay thế

theo đúng nhu cầu của mỗi loại gia cầm (Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)

Theo NRC (1994), giá trị sinh học của protein trong thức ăn được đánh giá bằng sự hiện diện của acid amin mà cơ thể không tự tổng hợp được hoặc có tổng hợp mà không đáp ứng được nhu cầu của cơ thể Trong các acid amin thiết yếu, có vài loại thường hay thiếu và cũng có một số loại ít thiếu trong thức ăn Acid amin thường hay thiếu hụt trong thức ăn gọi là các acid amin giới hạn, nó có trong thức ăn với tỷ lệ thấp so với nhu cầu của gia cầm Bên cạnh các acid amin khác, các acid amin thiết yếu quyết định mức độ tổng

Trang 32

hợp protein trong cơ thể Kích thước cơ thể, tốc độ tăng trọng và sản xuất trứng của gia cầm được xác định bởi gen của chúng Vì vậy, nhu cầu axit amin cũng khác nhau tùy giai đoạn, tùy giống và tình trạng của gia cầm

Theo Robert (2008), trong 22 loại acid amin trong cơ thể gia cầm có 10 acid amin thiết yếu (Arginine, Methionine, Histidine, Phenylalanine, Leucine, Isoleucine, Lysine, Threonine, Tryptophane và Valine) mà gia cầm không thể tự tổng hợp được cần bổ sung trong khẩu phần, trong đó Methionine là acid amin giới hạn nhất Nếu protein có chứa tất

cả các acid amin thiết yếu đáp ứng nhu cầu của cơ thể thì chúng là protein có giá trị sinh học cao và ngược lại Trong chăn nuôi gia cầm, cần chú ý các loại thực liệu có giá trị sinh học cao để cân đối các thực liệu có giá trị sinh học thấp Đồng thời có thể bổ sung acid amin tổng hợp công nghiệp để phối hợp thành khẩu phần cân đối và hoàn chỉnh (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 2001)

Nếu đem các acid amin so sánh với nhu cầu của cơ thể thì loại nào thiếu nhiều nhất được gọi là acid amin giới hạn số 1, kế đến là số 2, 3, Chỉ khi nào bổ sung đầy

đủ acid amin giới hạn số 1 thì việc bổ sung acid amin giới hạn số 2 mới có ý nghĩa (Dương Thanh Liêm, 2003)

Ở nhiều nước tổng số acid amin còn được sử dụng trong phối hợp khẩu phần cho gia cầm Tuy nhiên, không phải tất cả các acid amin trong thức ăn đều sẵn có để cho nhu cầu duy trì và sản xuất Tỷ lệ tiêu hóa của các acid amin không thể đơn giản được rút ra từ các tỷ lệ tiêu hóa của protein thô Vì vậy, các acid amin tiêu hóa tạo thành một cơ sở quan trọng hơn trong việc xây dựng chế độ ăn của gia cầm trên tổng

số các acid amin (Schutte và ctv1998)

Theo Nguyễn Thị Mai và ctv(2009), khi tính toán nhu cầu các acid amin

không thay thế, người ta thường chọn Lysine làm acid amin so sánh và đưa ra cân bằng lý tưởng acid amin cho gia cầm Cần chú ý là cân bằng lý tưởng acid amin trong khẩu phần của gia cầm tùy theo hướng và mục đích sản xuất Để tích lũy nhiều thịt nạc, gia cầm cần mức Lysine cao trong khẩu phần Để nuôi gia cầm đẻ trứng năng suất cao, cần nhiều acid amin có chứa lưu huỳnh Một số nhu cầu acid amin lý tưởng đối với gà thịt theo khuyến cáo của Van Cauwenberghe và Burnham (2001) được trình bày ở bảng 1.5

Trang 33

Bảng 1.5: Một số nhu cầu acid amin lý tưởng đối với gà thịt

Acid amin

NRC (1994)

Baker &

Han (1994)

Lippens và ctv(1997)

Gruber (1999)

Mack và ctv(1999)

Met: Methionine, Cys: Cysteine (Nguồn: Van Cauwenberghe và Burnham, 2001)

1.7.3 Nhu cầu chất béo

Chất béo là nguồn cung cấp năng lượng cao cho gia cầm bởi vì năng lượng đốt cháy của chất béo trong cơ thể cao gấp 2,0 - 2,5 lần so với bột đường và protein Xu hướng trong dinh dưỡng người trên thế giới thì người ta thường sử dụng dầu thực vật nên mỡ động vật ngày càng ít được sử dụng Số lượng mỡ dư này được dùng làm nguồn cung cấp năng lượng trong thức ăn gia cầm (Dương Thanh Liêm, 2003)

Chất béo làm tăng thời gian lưu giữ thức ăn trong ruột và cho phép sự tiêu hóa

hoàn chỉnh hơn và sự hấp thu các dưỡng chất khác cao hơn (Mateos and Sell, 1981; Mateos và ctv., 1982; Sell và ctv., 1983) Theo Dương Thanh Liêm (2003) chất béo

là dung môi để hoà tan các vitamin và các sắc tố tan trong chất béo giúp cho cơ thể hấp thu thuận tiện Nếu thiếu chất béo thì sự hấp thu caroten, vitamin A, D, E và K

sẽ giảm Đặc biệt, ở gia cầm chất béo xúc tiến hấp thu và tích lũy sắc tố vàng để tạo màu lòng đỏ cho trứng và màu của da Chất béo còn cung cấp một số acid béo thiết yếu, cần thiết cho cơ thể động vật như acid linoleic, acid linolenic và acid arachidonic Theo Nguyễn Nhựt Xuân Dung và Lưu Hữu Mãnh (2009), các acid béo thiết yếu là tiền chất của Prostaglandins, Thromboxanes và Leukotrienes (các chất có số lượng ít nhưng đóng vai trò sinh lý rất quan trọng đối với cơ thể) Vì vậy

Trang 34

khi khẩu phần thiếu các acid béo thiết yếu thì gia cầm dễ mắc một số bệnh như da khô, tróc vẫy, chậm lớn, tăng sự mất nước,…

1.7.4 Nhu cầu xơ

Theo Nguyễn Nhựt Xuân Dung và Lưu Hữu Mãnh (2009) thì chất xơ của khẩu phần còn được gọi là polysaccharides phi tinh bột Đây là thành phần chủ yếu của vách tế bào thực vật và gồm có: cellulose, hemicellulose và pectin Lignin cũng

là chất có trong vách tế bào thực vật nhưng không phải là carbohydrate

Ngày nay với kỹ thuật phân tích phát triển, người ta chia chất xơ thô thành 3 mức

độ khác nhau theo khả năng tiêu hóa giảm dần là NDF (Neutral Detergent Fiber), ADF (Acid Detergent Fiber) và ADL (Acid Detergent Lignin) Dù chất xơ ở dạng hợp chất nào thì ở gia cầm tiêu hóa cũng rất khó khăn vì ống tiêu hóa của chúng rất ngắn và hệ vi sinh vật để phân giải chất xơ kém phát triển (Dương Thanh Liêm, 2003)

Theo Dương Thanh Liêm (2003), gà con hầu như không tiêu hóa được chất

xơ do bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện Ở gà trưởng thành, manh tràng của chúng

có sự hoạt động của vi sinh vật nên có thể tiêu hóa được một lượng ít chất xơ (khoảng từ 3 - 6%) Vì vậy về mặt giá trị dinh dưỡng coi như chúng không có giá trị Tuy nhiên, về tác dụng khác của chất xơ trong thức ăn cũng nên lưu ý

Chất xơ trong khẩu phần với tỷ lệ vừa phải sẽ có tác dụng kích thích nhu động diều, dạ dày cơ và ruột già giúp cho sự vận chuyển thức ăn trong ống tiêu hóa và tạo ra khuôn phân giúp cho gia cầm đi tiêu phân bình thường Đối với gia cầm giống trong giai đoạn hậu bị, chất xơ có tác dụng kích thích dạ dày cơ và dung tích ống tiêu hóa phát triển Khi muốn hạn chế thức ăn nhằm tránh sự mập mỡ của gia cầm chúng ta có thể tăng chất xơ trong khẩu phần lên để tránh sự cắn mổ lẫn nhau

Khi tăng chất xơ lên quá nhiều trong khẩu phần sẽ có tác dụng xấu là giảm thấp sự tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức ăn mà quan trọng nhất

là protein và chất bột đường Bên cạnh đó, nó còn làm giảm giá trị năng lượng thức ăn, làm giảm tính ngon miệng của gia cầm và gà tiêu ra nhiều phân làm chuồng trại luôn luôn ẩm ướt (Dương Thanh Liêm, 2003)

Trang 35

1.7.5 Nhu cầu vitamin

Vitamin là hợp chất hữu cơ có phân tử trọng tương đối nhỏ Nó cần thiết cho

cơ thể với số lượng rất ít nhưng không thể thiếu được (Dương Thanh Liêm, 2003) Căn cứ vào tính chất hóa học của các vitamin, đặc biệt là tính hòa tan của các vitamin

mà chúng được chia làm 2 nhóm Nhóm vitamin thứ nhất là nhóm tan trong dầu mỡ, dung môi chất béo bao gồm vitamin A, D, E, K và Q Nhóm thứ 2 là nhóm vitamin tan trong nước gồm có các vitamin nhóm B và C

Vai trò của vitamin trong cơ thể như là một chất xúc tác, do đó lượng vitamin cần rất ít mà vẫn làm cho các chuyển hóa trong cơ thể có thể đạt tốc độ phản ứng nhanh và hiệu quả Ngoại trừ vitamin tan trong dầu mỡ (A, D, K, E và Q), các vitamin dự trữ trong

cơ thể rất ít, đặc biệt vitamin nhóm B và vitamin C, cho nên cần phải cung cấp đầy đủ vitamin trong khẩu phần ăn hàng ngày nhằm thỏa mãn nhu cầu của gia cầm (Nguyễn Đức Hưng, 2006 trích dẫn từ Nowland, 1978) Mặc dù cấu trúc hóa học, vai trò và cách thức hoạt động của các vitamin rất khác nhau nhưng chúng đều có chung những tính chất cơ bản đó là tham gia vào các thành phần nhóm ghép của rất nhiều enzyme trong cơ thể Chúng thường có hoạt tính sinh học nhằm đảm bảo cho các quá trình sinh hóa và sinh lý trong cơ thể được tiến hành bình thường Do đó, chúng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trao đổi chất Hầu hết các vitamin không được tổng hợp trong cơ thể động vật mà phải thu nhận từ thức ăn hàng ngày Vitamin cần thiết cho gia cầm ở mọi lứa tuổi và chỉ cần với liều lượng rất nhỏ (đơn vị tính thường là UI, miligam, microgram) Đặc biệt gia cầm rất nhạy với sự thiếu các vitamin, thậm chí có vitamin chỉ thiếu một ít cũng làm giảm sức sản

xuất của chúng (Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)

Trang 36

Nhu cầu các vitamin trong 1 kg thức ăn của gia cầm được trình bày bảng 1.6

Bảng 1.6: Nhu cầu vitamin tính cho 1 kg thức ăn hỗn hợp của gia cầm

sinh trưởng

Gà đẻ thương phẩm

Gà đẻ giống

1.7.6 Nhu cầu khoáng

Nhu cầu khoáng trong 1 kg thức ăn của gia cầm được thể hiện ở bảng 1.7 Chất khoáng chiếm khoảng 10% khối lượng cơ thể của gia cầm Đến nay đã phát hiện được

14 nguyên tố khoáng trong cơ thể gia cầm và cũng là những nguyên tố cần thiết nhất cho chúng Những nguyên tố khoáng là những nguyên liệu xây dựng lên bộ xương, tham gia cấu tạo tế bào cơ thể, là thành phần của nhiều enzyme và vitamin (chất xúc tác sinh học) Ở dịch tế bào, chất khoáng ở dạng hòa tan và làm cân bằng nội mô Chất khoáng gồm 2 nhóm: Nhóm khoáng đa lượng và nhóm khoáng vi lượng (Nguyễn Duy

Trang 37

Bảng 1.7: Nhu cầu khoáng cho 1 kg thức ăn của gia cầm

Loại gia cầm Gà con 0 - 8

tuần Gà sinh trưởng

Gà đẻ thương phẩm Gà đẻ trứng

đẻ với nhu cầu 4 g Ca mỗi ngày cho vỏ quả trứng Theo Dương Thanh Liêm (2003), nhu cầu Ca là 1% và P là 0,7% trong khẩu phần cho gà con và gà giò nuôi thịt Nhu cầu Ca và P đối với gà con và gà giò hậu bị giống lần lượt là 1,2% Ca, 0,8% P Còn

đối với gà mái đẻ (ăn trên 100 g) thì nhu cầu Ca là 3% và P là 0,6% Theo Stillmak và

ctv(1971), Mg có liên quan đến sự biến dưỡng Ca, nếu nguồn Ca có chứa mức độ cao

Mg thì không nên sử dụng trong thức ăn gia cầm

Sắt, đồng, coban là những yếu tố cần thiết cho cấu tạo của Hemoglobin vì vậy các khoáng chất này cần được bổ sung vào khẩu phần của gia cầm Iod thường được thêm vào khẩu phần ở dạng muối Iod Muối (NaCl) cải thiện khả năng tận dụng protein của gia cầm và nồng độ muối phổ biến trong khẩu phần gia cầm khoảng 0,5% Khẩu phần cân đối Natri, Kali và Clo là yếu tố quyết định quan trọng của sự cân bằng Acid - Base trong cơ thể gia cầm (Mongin, 1981) Nhu cầu dinh dưỡng cho gà thả vườn nuôi thịt được thể hiện lần lượt ở bảng 1.8

Trang 38

Bảng 1.8: Nhu cầu dinh dưỡng cho gà thả vườn nuôi thịt

Chỉ tiêu 0 - 4 tuần tuổi 5 - 8 tuần tuổi 9 tuần - xuất chuồng

ME: Năng lượng trao đổi, CP: Protein thô, TĂ: Thức ăn

(Nguồn: Trần Công Xuân và ctv., 2004)

1.8 MỘT SỐ LOẠI THỰC LIỆU THỨC ĂN ĐỂ NUÔI GIA CẦM

1.8.1 Bắp

Hiện nay có nhiều giống bắp được trồng ở nước ta, các giống cho hạt với nhiều màu sắc khác nhau như vàng, trắng, đỏ Bắp là loại thức ăn cơ sở của gia cầm, tỷ lệ thường chiếm 45 - 70% Bắp là thức ăn được gia cầm thích ăn có vị thơm ngon, chứa khoảng 720 - 800 gam tinh bột/kg DM và hàm lượng xơ rất thấp, giá trị ME cao từ

3100 - 3450 kcal ME/kg DM, CP từ 8 - 12% và tỷ lệ chất béo trong hạt bắp tương đối cao từ 4 - 6% (Viện Chăn Nuôi Quốc Gia, 1995) Ngoài ra, bắp còn chứa hàm lượng đáng kể caroten Tuy nhiên, bắp có nhược điểm là chứa hàm lượng thấp acid amin thiết yếu là lysine, nghèo chất khoáng (Ca chiếm 0,15% và K chiếm 0,45%) Bắp dễ bị

nhiễm nấm mốc khi độ ẩm trên 15% (Bùi Đức Lũng và ctv,2001)

Trang 39

1.8.3 Cám gạo

Cám gạo là sản phẩm phụ của công nghiệp xay xát Cám gạo được hình thành

từ lớp vỏ nội nhũ, mầm phôi của hạt, cũng như một phần từ tấm Cám gạo là một thức

ăn giàu vitamin nhóm B (nhất là B1) và rất hấp dẫn với mọi vật nuôi Tuy nhiên chất béo của nó có ảnh hưởng làm nhão mỡ vật nuôi và mềm bơ sữa Có thể đưa vào khẩu phần của gia cầm đến 25% (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2001) Hàm lượng protein trong cám gạo cao từ 12 - 14% CP, 11 - 18% EE (Viện Chăn Nuôi Quốc Gia, 1995)

1.8.4 Bột đậu nành

Đậu nành và sản phẩm phụ của nó có giá trị dinh dưỡng cao và cân đối, dùng trong khẩu phần thức ăn với số lượng lớn Protein của hạt đậu nành và khô dầu của nó chứa đầy đủ các acid amin thiết yếu nhất là lysine, tryptophan và giàu năng lượng Thành phần dinh dưỡng của đậu nành hạt: protein thô 36 - 39%, chất béo 14%, xơ

3,7%, năng lượng trao đổi 3380 - 3400 kcal/kg (Bùi Đức Lũng và ctv, 2001) Tuy

nhiên, theo Viện Chăn Nuôi Quốc Gia (1995) thành phần hóa học của đậu nành là 43% CP, 16 - 18% EE và 3600 - 3700 kcal/kg DM

41-1.8.5 Gạo lức

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Gạo lức (Brown rice) là gạo chỉ xay

bỏ trấu tức vỏ lúa chứ không bỏ mầm và cám của hạt gạo bên trong, tức là khi xay lúa người ta được trấu + cám + gạo Nếu xay ở chế độ nhẹ hơn thì có trấu + gạo lức (bao gồm gạo và cám) Thành phần của gạo lức gồm chất bột, chất đạm, chất béo, chất xơ cùng các vitamin như B1, B2, B3, B6; các acid như pantothenic (vitamin B5), paraaminobenzoic (PABA), folic (vitamin M), phytic; các nguyên tố vi lượng như canxi, sắt, magiê, selen, glutathion (GSH), kali và natri

Gạo lức cung cấp 14% lượng chất xơ cần thiết hàng ngày, 27,3% luợng giá trị dinh dưỡng đối với selen lại là một vi khoáng quan trọng thiết yếu Magiê, một chất dinh dưỡng cũng có nhiều trong gạo lức Theo Kayahara (2003) cho rằng gạo lức đã ngâm nước chứa gấp ba lần chất lysine một loại axít amin cần thiết cho sự tăng trưởng

và duy trì các mô tế bào cơ thể Gạo lức có chứa lượng hợp chất gamma-aminobutyric, một axít có lợi cho thận, nhiều hơn 10 lần so với gạo lức chưa ngâm nước

Trang 40

Bảng 1.9: Thành phần dinh dưỡng gạo lức (100g)

lệ protein 55 - 65 %, năng lượng trao đổi 2820 - 2900 kcal/kg, lysine 4,8 - 5,2 %, methionine 1,6 - 1,8 %, cystin 0,6 - 0,8 % Tỉ lệ bột cá trong thức ăn gà con 10 - 12 %,

gà thịt trước khi xuất chuồng 3 - 5 ngày không cho bột cá để thịt gà không có mùi tanh

cá (Lê Hồng Mận, 2002)

Theo Bùi Đức Lũng (1999) bột cá tốt có hàm lượng protein chứa 55 - 65 %, khoáng tổng số từ 19,6 - 34,5 %, ME từ 2850 - 2900 kcal/kg VCK, lysine 7,5 %, methionine 3 %, cystine 0,6 - 0,8 %, Ca 5 % và EE từ 6 - 7 % Tuy nhiên, theo

Ngày đăng: 08/05/2014, 00:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cấu tạo hệ tiêu hóa cùa gà - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 1.1 Cấu tạo hệ tiêu hóa cùa gà (Trang 15)
Hình 1.2: Lồng úm gà con - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 1.2 Lồng úm gà con (Trang 22)
Hình 1.3: Quây úm gà con - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 1.3 Quây úm gà con (Trang 23)
Hình 1.4: Máng ăn và máng uống gà con - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 1.4 Máng ăn và máng uống gà con (Trang 25)
Bảng 1.6: Nhu cầu vitamin tính cho 1 kg thức ăn hỗn hợp của gia cầm - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Bảng 1.6 Nhu cầu vitamin tính cho 1 kg thức ăn hỗn hợp của gia cầm (Trang 36)
Bảng 1.9: Thành phần dinh dưỡng gạo lức (100g) - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Bảng 1.9 Thành phần dinh dưỡng gạo lức (100g) (Trang 40)
Bảng 1.10: Nhu cầu các chất khoáng và vitamin trong khẩu phần của gà thịt (90 %  VCK) - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Bảng 1.10 Nhu cầu các chất khoáng và vitamin trong khẩu phần của gà thịt (90 % VCK) (Trang 42)
Hình 2.1: Bản đồ hành chính của huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 2.1 Bản đồ hành chính của huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long (Trang 49)
Hình 2.2: Chuồng để gà ngủ ban đêm - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 2.2 Chuồng để gà ngủ ban đêm (Trang 52)
Bảng 2.2: Thành phần hoá học % VCK của các thực liệu dùng trong thí nghiệm  (trạng thái gần khô) - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Bảng 2.2 Thành phần hoá học % VCK của các thực liệu dùng trong thí nghiệm (trạng thái gần khô) (Trang 54)
Hình 2.3: Gà con trong giai đoạn úm - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 2.3 Gà con trong giai đoạn úm (Trang 56)
Hình 2.4: Gà thí nghiệm lúc 16 tuần tuổi  2.3.9 Vệ sinh phòng bệnh - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 2.4 Gà thí nghiệm lúc 16 tuần tuổi 2.3.9 Vệ sinh phòng bệnh (Trang 58)
Hình 3.1: Gà thí nghiệm 16 tuần tuổi - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 3.1 Gà thí nghiệm 16 tuần tuổi (Trang 64)
Bảng 3.5: Dưỡng chất tiêu thụ của gà Ta vàng (số lượng/con/ngày) - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Bảng 3.5 Dưỡng chất tiêu thụ của gà Ta vàng (số lượng/con/ngày) (Trang 66)
Hình 3.4: Thịt ức gà mổ khảo sát   3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA CÁC NGHIỆM THỨC THÍ NGHIỆM - khảo sát ảnh hưởng của các mức độ protein trong khẩu phần thức ăn lên năng suất sinh trưởng gà ta vàng nuôi thả vườn theo hướng an toàn sinh học tại huyện long hồ tỉnh vĩnh long
Hình 3.4 Thịt ức gà mổ khảo sát 3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA CÁC NGHIỆM THỨC THÍ NGHIỆM (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w