Tuy nhiên, có tiềmlực kinh tế là điều kiện cần, quản trị và sử dụng nguồn tài chính đó đạt hiệu quảkinh tế tối ưu mới là điều kiện đủ cho sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.Ngày nay
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu “Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tài chính đối với công ty cổ phần Traphaco” là của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Việt Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sựgiúp đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc lòng biết ơn chân thành đến các tốp thể, cá nhân đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học NgoạiThương cùng tốp thể các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôitrong suốt quá trình học tốp và nghiên cứu tại trường
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn TS.Phạm Thu Hương người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thiện đề tài
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo và tốp thể người lao động tạicông ty cổ phần Traphaco đã dành thời gian giúp đỡ tôi có được thông tin và tổnghợp số liệu để phân tích trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiệnkhông thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiếncủa các thầy cô giáo cùng các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Việt Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ vi
TÓM TẮT LUẬN VĂN vii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 4
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản trị tài chính 4
1.2 Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp 6
1.2.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 6
1.2.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 6
1.2.3 Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp 10
1.3 Cơ sở lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp 10
1.3.1 Khái niệm quản trị tài chính trong doanh nghiệp 10
1.3.2 Mục tiêu và vai trò của quản trị tài chính trong doanh nghiệp 12
1.3.3 Nội dung cơ bản về quản trị tài chính trong doanh nghiệp 13
1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản trị tài chính 19
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị tài chính 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRAPHACO 35
2.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần Traphaco 35
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 35
Trang 62.1.2 Cơ cấu tổ chức 39
2.1.3 Bộ máy quản lý tài chính 39
2.2.1 Công tác hoạch định tài chính 41
2.2.2 Công tác quản lý vốn 44
2.2.3 Công tác phân tích tài chính 50
2.2.4 Quyết định đầu tư tài chính 66
2.2.5 Công tác quản trị tài chính 67
2.2.6 Công tác kiểm soát tài chính 69
2.3 Đánh giá chung về hoạt động quản trị tài chính của Công ty cổ phần Traphaco 70
2.3.1 Những mặt tích cực về tình hình quản trị tài chính 70
2.3.2 Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân 71
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRAPHACO 73
3.1 Định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới 73
3.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tài chính của Công ty cổ phần Traphaco 75
3.2.1 Hoàn thiện công tác hoạch định tài chính của Công ty 75
3.2.2 Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động và kiểm tra tình hình sử dụng vốn lưu động 77
3.2.3 Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong lĩnh vực sản xuất 78
3.2.4 Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong lĩnh vực lưu thông 80
3.2.5 Kiểm tra tình hình sử dụng vốn lưu động 80
3.2.6 Tăng cường công tác quản lý thanh toán và thu hồi công nợ 82
3.2.7 Phân định rõ chức năng quản lý tài chính và chức năng kế toán trong bộ phận phòng kế toán 83
3.2.8 Một số giải pháp khác 83
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7Từ viết tắt Tiếng Việt
BCĐKT Bảng cân đối kế toán
BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
TCDN Tài chính doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Chỉ tiêu tài chính dự kiến đạt được vào năm 2019 43
Bảng 2.2: Dự báo bảng cân đối kế toán năm 2019 43
Bảng 2.3: Tiền và các khoản tương đương tiền 46
Bảng 2.4: Các khoản phải thu 47
Bảng 2.5: Hàng tồn kho 48
Bảng 2.6: Tài sản cố định hữu hình 49
Bảng 2.7: Tài sản cố định vô hình 50
Bảng 2.8: Bảng cân đối kế toán công ty cổ phần Traphaco năm 2016-2018 52
Bảng 2.9: Bảng kết quả kinh doanh công ty cổ phần Traphaco năm 2016-2018 57
Bảng 2.10: Phân tích khái quát khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn 60
Bảng 2.11: Phân tích các chỉ số về khả năng hoạt động 62
Bảng 2.12: Phân tích khái quát khả năng thanh toán của công ty 64
Bảng 2.13: Phân tích các chỉ số về khả năng sinh lời 65
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần Traphaco 39
Hình 2.2: Bộ máy quản lý tài chính công ty CP Traphaco 40
Hình 2.3: Các chỉ số về khả năng sinh lời 65
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Luận văn “Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tài chính đối với công ty cổphần Traphaco” trước tiên đã một số vấn đề lý luận về cơ sở lý luận về tài chínhdoanh nghiệp bao gồm như: Khái niệm tài chính doanh nghiệp, về chức năng của tàichính doanh nghiệp và các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp Tiếp đến luậnvăn nghiên cứu về quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm như: Khái niệm quản trịtài chính trong doanh nghiệp, Mục tiêu vai trò của quản trị tài chính trong doanhnghiệp, các nội dung cơ bản về quản trị tài chính trong doanh nghiệp, các tiêu chíđánh giá công tác quản trị tài chính và các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trịtài chính Sau khi tìm hiểu về phần cơ sở lý luận, phần tiếp theo của luận văn tác giả
đi vào phân tích thực trạng công tác quản trị tài chính tại công ty cổ phần Traphaco.Sau khi tìm hiểu sơ lược về công ty cổ phần Traphaco, tác giả phân tích thực trạnghoạt động quản trị tài chính của Công ty cổ phần Traphaco Trên cơ sở phân tích tácgiả nhận xét các mặt tích cực và các mặt còn hạn chế và nguyên nhân về tình hìnhcông tác quản trị tài chính tại công ty cổ phần Traphaco Tiếp theo tại chương 3 dựatrên định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới và phần thực trạng về hoạtđộng quản trị tài chính của Công ty cổ phần Traphaco đánh giá trong năm 2016-
2018 ở phần trên, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trịtài chính của Công ty cổ phần Traphaco
Trang 10MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới, ngoài việc tiếp cậnđược các nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp, công nghệ từ nước ngoài, thìchúng ta còn được cách quản trị khoa học, hiện đại từ các từ các nước phát triển
Trong đó có quản trị tài chính, một lĩnh vực quản trị rất quan trọng Tài chính
là một phạm trù kinh tế đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng và đẩy mạnh sứccạnh tranh của nền kinh tế Một quốc gia phát triển là một quốc gia có cơ chế quảntrị tài chính hiệu quả, một doanh nghiệp phát triển cũng cần phải có một cơ chếquản trị tài chính tối ưu Theo lý thuyết mô hình kinh tế tân cổ điển thì tài chínhchính là tư bản - một trong ba nhân tố giúp tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, có tiềmlực kinh tế là điều kiện cần, quản trị và sử dụng nguồn tài chính đó đạt hiệu quảkinh tế tối ưu mới là điều kiện đủ cho sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.Ngày nay, với phạm vi nhỏ hơn đó là doanh nghiệp thì quản trị tài chính đang thực
sự đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sự thành công của các doanhnghiệp
Công ty cổ phần Traphaco tiền thân là Tổ sản xuất thuốc thuộc Công ty Y tếĐường sắt được thành lập ngày 28/11/1972 Theo Quyết định số 2566/1999/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ GTVT chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành CTCP,ngày 01/01/2000 CTCP Dược và Thiết bị vật tư y tế TRAPHACO chính thức bắtđầu hoạt động theo hình thức công ty cổ phần với 45% vốn Nhà nước Ngày05/07/2001 CTCP Dược và Thiết bị vật tư Y tế TRAPHACO đổi tên thành công ty
cổ phần Traphaco Lĩnh vực hoạt động của công ty là sản xuất kinh doanh dượcphẩm, hóa chất và vật tư thiết bị y tế,…
Hiện nay, từ tình hình thực tế cho thấy rằng cạnh tranh ngày càng quyết liệtgiữa các loại hình doanh nghiệp như công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân vàdoanh nghiệp liên doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư từ nước ngoài với các
mô hình quản trị hiện đại, tiên tiến, cơ chế linh hoạt, có tiềm lực mạnh về tài chính
và nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 11Trước thực trạng đó, yêu cầu đặt ra đối với công ty cổ phần Traphaco là phảinhanh chóng đổi mới, đẩy mạnh hoàn thiện toàn bộ, mọi mặt về cơ cấu tổ chức, môhình kinh doanh, trong đó tốp trung, chú trọng vào công tác quản trị tài chính Côngtác quản trị tài chính nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trìnhsản xuất và kinh doanh của một đơn vị, là quản trị nguồn vốn nhằm tối đa hóa lợinhuận của doanh nghiệp Lãnh đạo công ty sẽ ra các quyết định về các loại tài sảncủa doanh nghiệp, quản lý các nguồn tài sản của nó ra sao Nếu như công việc nàyđược thực hiện một cách tối ưu, giá trị doanh nghiệp có thể đạt lớn nhất Bởi vậyquản trị tài chính có vai trò rất quan trọng, được xem kim chỉ nam dẫn đường đi chocông ty, hoạt động dựa trên cơ sở đúng đắn, hiệu quả từ sự phân tích hoạt động tàichính của công ty Điều này vừa giúp nâng cao năng lực quản trị tài chính, vừa gópphần hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của Công ty.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả chọn đề tài “Giải pháphoàn thiện công tác quản trị tài chính đối với công ty cổ phần Traphaco” làm luậnvăn thạc sĩ với mong muốn có thể góp phần giải quyết phần nào trong công tác quảntrị tài chính tại Công ty trong thời gian tới
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng công tác quản trị tài chính tại công
ty cổ phần Traphaco, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tàichính đối với công ty cổ phần Traphaco trong thời gian tới
Mục tiêu cụ thể gồm:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản trị tài chính tại các doanh
nghiệp
- Phân tích thực trạng về công tác quản trị tài chính tại công ty cổ phần
Traphaco trong giai đoạn 2016-2018
Trang 12- Đánh giá những mặt đạt được và còn hạn chế công tác quản trị tài chính tại công ty cổ phần Traphaco.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tài chính đối với công ty
cổ phần Traphaco
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản trị tài chính đối với công ty cổ phần Traphaco
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản trị tài chính tại Công ty cổ phần
Traphaco giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn sử dụng một số phương pháp như:
Phương pháp thu thập dữ liệu: Các giáo trình về trong và ngoài nước, cácnghiên cứu, các bài báo, tạp chí, bài viết trên các tạp chí trong và ngoài nước, số liệuBáo cáo tài chính, kết quả kinh doanh qua các năm
Phương pháp xử lý dữ liệu: phương pháp phân tích tổng hợp; phương phápthống kê lấy mẫu; phương pháp diễn giải và qui nạp; phương pháp so sánh đốichiếu; phương pháp phân tích đồ thị, biểu đồ, bảng biểu
1.5 Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn ngoài phần mở đầu bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị tài chính tại công ty CP Traphaco Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị tài chính tại công ty CP Traphaco
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản trị tài chính
Hoàn thiện công tác quản trị tài chính là một trong những yêu cầu quan trọng
để nâng cao hiệu quả hoạt động đối với tất cả các tổ chức kinh tế Chính vì vậy,nghiên cứu công tác quản trị tài chính doanh nghiệp đã được khá nhiều các nhànghiên cứu thực hiện, từ cơ chế chính sách nhà nước, đến công tác quản trị tài chính
cụ thể của các doanh nghiệp, có thể kể ra một số công trình gần đây
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương Hảo (2011) về Giải pháp hoànthiện hoạt động quản trị tài chính tại Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi quanghiên cứu thực tiễn về công tác quản trị tài chính tại Công ty Cổ phần ĐườngQuảng Ngãi đã kết luận công tác quản trị trong thời gian qua đã giúp Công ty cónhững bước tiến triển và đạt được những thành quả nhất định Tuy nhiên, vấn đềquản trị tài chính còn bộc lộ một số nhược điểm làm ảnh hưởng đến chiến lược pháttriển của ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi Các hạn chế tốp trung ở khâu lập kế hoạchtài chính, khai thác và sử dụng vốn, xây dựng chính sách cổ chức….Trên cơ
sở những đánh giá này, Luận văn cũng đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiệnhoạt động quản trị tài chính tại Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi như hoàn thiện
bộ máy quản lý tài chính, nâng cao khả năng quản lý và sử dụng tài sản, xây dựng
cơ cấu nguồn vốn hợp lý và khai thác hiệu quả các nguồn tài trợ cho hoạt động sảnxuất kinh doanh, hoàn thiện chính sách cổ tức… Luận văn thạc sĩ của Vũ PhươngThảo (2015) về Quản trị tài chính tại Công ty Cổ phần X20 - Bộ Quốc phòng, luậnvăn đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản về tài chính, quản trị tài chính trong doanhnghiệp Trên cơ sở đó, hoàn thiện quản trị tài chính của công ty Cổ phần X20 - BộQuốc phòng trong thời gian tới Bài nghiên cứu của tác giả Vũ Minh (2013) vềQuản trị rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã đề cập đếnquản trị rủi ro tài chính là một vấn đề được đề cập nhiều hiện nay, nhưng việc nhậnthức tầm quan trọng của nó vẫn còn rất sơ sài trong các doanh nghiệp ở nước ta.Nghiên cứu các mức độ rủi ro tài chính bao gồm thị trường, tín dụng, hoạt động và
Trang 14rủi ro thanh khoản vẫn còn nhiều điều chưa được lường hết và chưa có các công cụđầy đủ cho phép thực hiện những bước đi đầu tiên đó Vì vậy, việc đưa những quyếtđịnh quản trị quản trị rủi ro nhằm giảm thiểu những tồn tại tiềm ẩn là cần thiết Bàiviết hệ thống lại một cách cơ bản các khái niệm liên quan đến rủi ro tài chính vàmức độ rủi ro tiềm năng, đồng thời lý giải sự thờ ơ hoặc sơ sài trong cách thức quảntrị rủi ro trong doanh nghiệp Luận án của tác giả Nguyễn Thị Bảo Hiền (2016) vềTăng cường quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp Dược ở Việt Nam đã có 5 kếtquả chính sau: Một, hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về rủi ro tài chính vàquản trị rủi ro tài chính trong doanh nghiệp Quản trị rủi ro tài chính là hết sức quantrọng, cần thiết và gồm 4 nội dung là: nhận diện rủi ro tài chính; đo lường rủi ro tàichính; kiểm soát rủi ro tài chính và tài trợ rủi ro tài chính; Hai, luận án đã tổng hợpmột số kinh nghiệm hữu ích về quản trị rủi ro tài chính của một số doanh nghiệpDược trên thế giới mà các doanh nghiệp Dược ở Việt Nam có thể tham khảo; Ba,qua thực trạng quản trị rủi ro tài chính các doanh nghiệp Dược ở Việt Nam, luận án
đã chỉ ra được 6 hạn chế và hai nhóm nguyên nhân dẫn tới hạn chế làm cơ sở đềxuất các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp; Bốn,
đề xuất 6 nhóm giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tài chính đối với doanh nghiệpDược; Năm, đề xuất các giải pháp vĩ mô từ phía nhà nước và ngân hàng nhà nướcnhằm tạo điều kiện thực hiện thành công quản trị rủi ro tài chính trong các doanhnghiệp Kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây về cơ sở lý luận về quản trị tàichính doanh nghiệp, luận văn tốp trung thu thập, tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích,đánh giá thực trạng quản trị tài chính của Công ty cổ phần Traphaco để đưa ranhững giải pháp, kiến nghị phù hợp So với các công trình nghiên cứu về quản trị tàichính của một số đơn vị, công ty, luận văn có một số điểm nổi bật như sau:
- Luận văn đi sâu phân tích thực trạng công tác quản trị tài chính tại Công ty
cổ phần Traphaco để đề xuất các giải pháp hoàn thiện và đồng thời đưa ra một sốkiến nghị với cơ quan ban ngành như Bộ tài chính, Bộ y tế, Ngân hàng nhà nước
- Thông qua phân tích các tiêu chí đánh giá tài chính đặc trưng, luận văn đãnhận thấy một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn tài chính của Công ty cổ
Trang 15phần Traphaco trong thời gian vừa qua là chưa lựa chọn được phương án kinhdoanh hiệu quả dẫn đến ứ đọng hàng hoá nhiều, đã ảnh hưởng trực tiếp đến tìnhhình tài chính và hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn tại công ty Từ đó, đề xuất hoạtđộng quản trị phù hợp để tốp trung tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động Do đó, đềtài nghiên cứu của tác giả vẫn có ý nghĩa thực tiễn, khoa học và không trùng lắp vớicác công trình đã có.
1.2 Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
“Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh
sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lậphoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanhnghiệp” Tài chính doanh nghiệp là các quỹ bằng tiền của doanh nghiệp Hình tháivật chất của các quỹ bằng tiền này có thể là nhà cửa, máy móc, thiết bị, nguyên vậtliệu, vốn bằng tiền và các loại chứng khoán có giá… Bên cạnh đó TCDN còn là hệthống các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh gắn liền vớiviệc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các doanh nghiệp để phục vụ và giámđốc quá trình sản xuất kinh doanh (TS Nguyễn Văn Thuận, Quản Trị Tài Chính,Nhà xuất bản Thống Kê, 2004)
1.2.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn
Một doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất kinh doanh được thì cần phải cóvốn và quyền sử dụng nguồn vốn bằng tiền của mình một cách chủ động Tuy nhiêncũng cần phải làm rõ một vấn đề là: Các nguồn vốn được lấy ở đâu? Làm thế nào để
có thể huy động được vốn?
Trước đây trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tốp trung ngân sách nhà nướccấp toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc thiết lập các xí nghiệp quốc doanh.Hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự hoạt động của các doanhnghiệp trong mọi thành phần kinh tế khác nhau, nhiều xí nghiệp quốc doanh
Trang 16đã tỏ ra sự yếu kém của mình Thực trạng đó đặt ra cho các nhà quản lý kinh tế nóichung và các nhà quản lý tài chính nói riêng một vấn đề là: làm thế nào để đưa các
xí nghiệp làm ăn thua lỗ đó thoát khỏi tình trạng hiện nay? Chính sự bất ổn định này
đã tạo ra một sự chưa được nhất quản trong việc định hình các nguồn vốn cho cácdoanh nghiệp ở nước ta
Tuy nhiên, dù thay đổi cố thể như thế nào chăng nữa thì mọi doanh nghiệpvới mọi hình thức sở hữu trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, dịch vụ đều có thểhuy động được vốn từ các nguồn sau:
-Vốn do ngân sách nhà nước cấp hoặc cấp trên cấp đối với doanh nghiệp nhànước được xác định trên cơ sở biên bản giao nhận vốn mà doanh nghiệp phải cótrách nhiệm bảo toàn và phát triển số vốn giao đó Khi mới thành lập nhà nước hoặccấp trên cấp vốn đầu tư ban đầu để công ty thực hiện sản xuất kinh doanh phù hợpvới quy mô và ngành nghề Số vốn này thường bằng hoặc lớn hơn số vốn pháp định.Sau quá trình hoạt động nếu thấy cần thiết, nhà nước sẽ cấp bổ sung vốn cho doanhnghiệp để phục vụ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh
Vốn tự bổ sung: là vốn nội bộ của doanh nghiệp bao gồm:
+ Phần vốn khấu hao cơ bản để lại doanh nghiệp
+ Phần lợi nhuận sau khi đã nộp thuế
+ Phần tiền nhượng bán tài sản (nếu có)
-Vốn liên doanh liên kết: đó là sự góp tiền hoặc góp tài sản của các doanh nghiệp khác để cùng với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
- Vốn vay: chủ yếu là vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.Ngoài các loại vốn nói trên, các doanh nghiệp còn có thể huy động vốn của cán bộcông nhân viên và doanh nghiệp sẽ trả lãi cho số vốn vay đó theo lãi suất ngân hàng
Qua đó ta hình dung ra được, quá trình thành lập doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn đầu tư tối thiểu Đối với doanh nghiệp nhà nước số vốn này do ngân
Trang 17sách nhà nước cấp có thể là 100% hoặc tối thiểu là 51% Còn đối với các Công ty cổphần, Công ty TNHH thì số vốn đầu tư ban đầu được hình thành từ việc đóng gópvốn hoặc hùn vốn của các cổ đông dưới hình thức cổ phần Mức vay vốn được quyđịnh theo từng doanh nghiệp.
Để tồn tại và phát triển kinh doanh, trong quá trình sản xuất kinh doanhdoanh nghiệp vẫn phải tiếp tục đầu tư trung và dài hạn vì vậy doanh nghiệp có thểhuy động vốn bên trong doanh nghiệp như vốn tự tài trợ Nếu như nguồn tự tài trợ
mà nhu cầu đầu tư dài hạn vẫn không đáp ứng được thì doanh nghiệp phải tìm kiếmnguồn vốn từ bên ngoài như các hình thức đã nêu ở trên
Với chức năng tổ chức vốn, tài chính doanh nghiệp không đơn thuần chỉ thựchiện việc huy động vốn mà còn phải tiến hành phân phối vốn sao cho với số vốnpháp định, vốn tự có và các nguồn vốn huy động, doanh nghiệp có thể sử dụngchúng một cách có hiệu quả Muốn vậy, trong từng thời kỳ kinh doanh, doanhnghiệp phải xác định được nhu cầu về vốn là bao nhiêu và kết cấu như thế nào làhợp lý (“Voer.edu.vn”, 2019)
1.2.2.2 Chức năng phân phối
Sau khi huy động vốn và đã sử dụng nguồn vốn đó sẽ thu được kết quả làviệc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp tiến hànhphân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Ở nước ta, do tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, hình thức sở hữu khácnhau, cho nên quy mô và phương thức phân phối ở các loại hình doanh nghiệp cũngkhác nhau Sau mỗi kỳ kinh doanh, số tiền mà doanh nghiệp thu được bao gồm cảgiá vốn và chi phí phát sinh Do vậy các doanh nghiệp có thể phân phối theo dạngchung như sau:
Bù đắp chi phí phân bổ cho hàng hoá đã tiêu thụ bao gồm:
+ Trị giá vốn hàng hoá
+ Chi phí lưu thông và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã đã bỏ ra như lãivay ngân hàng, chi phí giao dịch, lợi tức trái phiếu
Trang 18+ Khấu hao máy móc.
- Phần còn lại sau khi bù đắp các chi phí được gọi là lợi nhuận của doanhnghiệp Phần lợi nhuận này, một phần phải nộp cho ngân sách nhà nước dưới hìnhthức thuế, phần còn lại tuỳ thuộc vào quy định của từng doanh nghiệp mà tiến hànhchia lãi liên doanh, trả lợi tức cổ phần, trích lập các quỹ doanh nghiệp
(“Voer.edu.vn”, 2019)
1.2.2.3 Chức năng giám đốc
Đó là khả năng khách quan để sử dụng tài chính làm công cố kiểm tra, giámđốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng thước đo giá trị và phương tiệnthanh toán của tiền tệ Khả năng này biểu hiện ở chỗ, trong quá trình thực hiện chứcnăng phân phối, sự kiểm tra có thể diễn ra dưới dạng: xem xét tính cần thiết, quy môcủa việc phân phối các nguồn tài chính, hiệu quả của việc phân phối qua các quỹtiền tệ
Giám đốc tài chính mang tính chất tổng hợp toàn diện, tự thân và diễn rathường xuyên vì giám đốc tài chính là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt độngtài chính nhằm phát hiện những ưu điểm để phát huy, tồn tại để khác phục
Hoạt động tài chính diễn ra trên mọi lĩnh vực của quá trình tái sản xuất xã hộitrên tầm vĩ mô và vi mô Trong các hoạt động đó tài chính không chỉ phản ánh kếtquả sản xuất mà còn thúc đẩy phát triển Động lực để thúc đẩy nhanh nền sản xuất
xã hội không chỉ phụ thuộc vào sự phân phối cân bằng, hợp lý và cân đối giữa các
bộ phận mà còn trực tiếp phụ thuộc vào sự kiểm tra, kiểm soát nghiêm nghặt mọihoạt động tài chính
Nội dung giám đốc tài chính là giám đốc sự vận động và chu chuyển củanguồn vốn tiền tệ với hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc việc lập và chấp hành các chỉtiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, giám đốc quá trình hình thành và sửdụng các quỹ tiền tệ, quá trình hạch toán kinh tế và giám đốc việc chấp hành cácchính sách về tài chính
Trang 19Thực hiện quản lý tài chính đã khẳng định, để thực hiện triệt để và có hiệuquả việc giám đốc tài chính cần phải thường xuyên đổi mới và hoàn thiện cơ chếquản lý tài chính phù hợp với cơ chế chính sách quản lý kinh tế và thực tiễn sản xuấtkinh doanh Thông qua đó giúp cho việc thực hiện các giải pháp tối ưu nhằm làmlành mạnh tình hình tài chính và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp (“Voer.edu.vn”, 2019).
1.2.3 Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp
Quan hệ tài chính ở các doanh nghiệp được biểu hiện thành quá trình vậnđộng của vốn kinh doanh và thể hiện qua ba mối quan hệ lớn sau đây:
+ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước: Quan hệthông qua việc phân phối, phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân và thu nhập quốcnội Quan hệ kinh tế này thường ít chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu mà chịu sựchi phối của các quan hệ có tính luật pháp thông qua các sắc luật thuế mà bất kỳdoanh nghiệp nào cũng phải thực hiện Các khoản nộp của doanh nghiệp là nguồnthu nhập của ngân sách Ngược lại, việc trợ vốn của ngân sách tạo nên các quỹ tiền
+ Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là những quan hệ giữadoanh nghiệp với các đơn vị trực thuộc, phụ thuộc doanh nghiệp, quan hệ giữadoanhnghiệpvớicánbộnhânviêncủadoanhnghiệp
(“taichinhdoanhnghiep.edu.vn”, 2018)
1.3 Cơ sở lý luận về quản trị tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm quản trị tài chính trong doanh nghiệp
Trang 20Hiện nay có khá nhiều quan điểm khác nhau về quản trị tài chính do cách tiếpcận khác nhau, dưới đây là một số quan điểm về quản trị tài chính:
Quản trị tài chính là các hoạt động nhằm phối trí các dòng tiền tệ trong doanhnghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Quản trị tài chính là một trongcác chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp Chức năng quản trị tài chính cómối liên hệ mật thiết với các chức năng khác của quản trị doanh nghiệp như: Chứcnăng quản trị sản xuất, chức năng quản trị marketing, chức năng quản trị nguồnnhân lực (“quantri.vn”, 2019)
Có một khái niệm khác lại định nghĩa: Quản trị tài chính trong công ty cổphần (CTCP) là một quá trình quản lý trong đó nhà quản trị tài chính xử lí các thôngtin liên quan đến môi trường tài chính và môi trường nội bộ của công ty, giải quyếtmột cách đúng đắn các mối quan hệ tài chính phát sinh trong hoạt động sản xuấtkinh doanh, đưa ra các quyết định tài chính nhằm tối đa hoá giá trị công ty(“Voer.edu.vn”, 2019)
Và có quan niệm lại cho rằng: Quản trị tài chính trong công ty là hoạt độngliên quan đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản doanh nghiệp nhằmđạt mục tiêu đề ra (Dương Hữu Hạnh, Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại,NXB Thống kê, 2005) Qua định nghĩa này có thể thấy quản trị tài chính liên quanđến ba loại quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn, và quyếtđịnh phân phối lợi nhuận làm ra sao cho có lợi nhất cho cổ đông
Theo Van Horne và Wachowicz (2005) thì quản trị tài chính quan tâm đếnmua sắm, tài trợ và quản lý tài sản doanh nghiệp theo mục tiêu chung được đề ra.Tương tự, McMahon (1993) cho rằng, quản trị tài chính doanh nghiệp quan tâm đếntìm nguồn vốn cần thiết cho mua sắm tài sản và hoạt động của doanh nghiệp, phân
bổ các nguồn vốn có giới hạn cho những mục đích sử dụng khác nhau, đảm bảo chocác nguồn vốn được sử dụng một cách hữu hiệu và hiệu quả để đạt mục tiêu đề ra
Các tác giả khác như Brealey và Myers (1996), Ross và cộng sự (2005) thốngnhất cho rằng, tài chính doanh nghiệp quan tâm đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ vàquản lý tài sản doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra
Trang 21Mặc dù, có nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau nhưng hầu hết các quanđiểm đều có sự đồng thuận khi cho rằng: Tài chính doanh nghiệp thực chất là quantâm đến 3 vấn đề chủ yếu gồm: quyết định đầu tư, quyết định huy động vốn vàquyết định phân phối lợi nhuận nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Với mỗi quyết định tài chính, nhà quản trị luôn đối mặt với sự mâu thuẫngiữa sinh lời và rủi ro; một mặt phải đảm bảo tối đa hóa tỷ suất sinh lời cho chủ sởhữu, mặt khác phải tối thiểu hóa rủi ro Đây là vấn đề vô cùng khó khăn đặt ra chocác nhà quản trị tài chính trong quá trình lựa chọn và ra quyết định tài chính phùhợp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra các quyết định và tổchức thực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động củadoanh nghiệp Do vậy, các quyết định tài chính của doanh nghiệp đều gắn liền vớiviệc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động củadoanh nghiệp “Quản trị tài chính doanh nghiệp còn được nhìn nhận theo quy trình
4 khâu của quản trị doanh nghiệp là quá trình lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; điềuchỉnh và kiểm soát quá trình phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầuhoạt động của doanh nghiệp” (“taichinhdoanhnghiep.edu.vn”, 2019)
1.3.2 Mục tiêu và vai trò của quản trị tài chính trong doanh nghiệp
Quản trị tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và giữ
vị trí quan trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp Hầu hết các quyết định quảntrị khác đều được dựa trên kết quả rút ra từ những đánh giá trong quản trị tài chínhdoanh nghiệp
* Mục tiêu của quản trị tài chính doanh nghiệp
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển với những mục tiêu khác nhau như:Tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhàlãnh đạo doanh nghiệp Song mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản chocác chủ sở hữu Bởi lẽ, một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định,chính họ phải nhận thấy giá trị đầu tư của họ tăng lên, khi đó quản lý tài chính
Trang 22doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, làm lành mạnh tình hình tài chính, tăng cường đòn bảy tài chính.
* Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
- Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả
- Là công cụ giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vì vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hoạt động tàichính của doanh nghiệp, đảm bảo hoạt động tài chính của doanh nghiệp được thựchiện đúng đắn, có hiệu quả nhằm đảm bảo quá trình hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp diễn ra bình thường và đạt hiệu quả cao
1.3.3 Nội dung cơ bản về quản trị tài chính trong doanh nghiệp
1.3.3.1 Hoạch định tài chính
Hoạch định tài chính là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đến toàn bộcác khâu khác trong quá trình quản trị tài chính Khâu này sẽ là cơ sở cho việc lựachọn các phương án hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong tương lai và cũngđồng thời là căn cứ để tiến hành kiểm tra, kiểm soát các bộ phận trong tổ chức
Quy trình hoạch định tài chính của doanh nghiệp được thực hiện theo 5 bướcnhư sau:
Bước 1: Nghiên cứu và dự báo môi trường
Để xây dựng kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu cácnhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của hoạt động tài chính củadoanh nghiệp Các nhà quản trị phải nghiên cứu môi trường bên ngoài để có thể xácđịnh được các cơ hội, thách thức hiện có và tiềm ẩn ảnh hưởng đến hoạt động tàichính của doanh nghiệp; nghiên cứu môi trường bên trong tổ chức để thấy được
Trang 23những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để có thể có những giải pháp hữuhiệu khắc phục những điểm yếu và phát huy cao độ những điểm mạnh.
Bước 2: Thiết lập các mục tiêu
Mục tiêu tài chính của doanh nghiệp bao gồm các mục tiêu về lợi nhuận, mụctiêu doanh số và mục tiêu hiệu quả Các mục tiêu tài chính cần xác định một cách rõràng, có thể đo lường được và phải mang tính khả thi Do đó các mục tiêu này phảiđược đặt ra dựa trên cơ sở là tình hình của doanh nghiệp hay nói cách khác là dựatrên kết quả của quá trình nghiên cứu và dự báo môi trường Đồng thời, cùng vớiviệc đặt ra các mục tiêu thì nhà quản trị cần phải xác định rõ ràng về trách nhiệm,quyền hạn của từng bộ phận trong doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêunày
Bước 3: Xây dựng các phương án thực hiện mục tiêu
Căn cứ vào các mục tiêu đã đề ra, dựa trên cơ sở tình hình hoạt động củadoanh nghiệp, các nhà quản trị xây dựng các phương án để thực hiện các mục tiêunày Các phương án phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và chỉ nhữngphương án triển vọng nhất mới được đưa ra phân tích
Bước 4: Đánh giá các phương án
Các nhà quản trị tiến hành phân tích, tính toán các chỉ tiêu tài chính của từngphương án để có thể so sánh, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng phương áncũng như khả năng hiện thực hiệu quả như thế nào, tiềm năng phát triển đến đâu
Bước 5: Lựa chọn phương án tối ưu
Sau khi đánh giá các phương án, phương án tối ưu sẽ được lựa chọn Phương
án này sẽ được phổ biến tới những cá nhân, bộ phận có thẩm quyền và tiến hànhphân bổ nguồn nhân lực và tài lực cho việc thực hiện kế hoạch
Trang 241.3.3.2 Quản lý vốn luân chuyển
- Quản lý vốn cố định
Vốn cố định là tổng lượng tiền khi tiến hành định giá tài sản cố định Tài sản
cố định là những tư liệu lao động có giá trị sử dụng trong thời gian dài, tham gia vàonhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, hình thái vật chất không thay đổi từ khi đưa vàosản xuất cho đến khi thanh lý Để quản lý vốn cố định một cách có hiệu quả, tổ chứccần thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định theo chu kỳ và phải đàm bảo chính xác
+ Dựa vào đặc điếm của tài sản cố định và căn cứ theo khung quy định về tàisản của Bộ Tài chính để lựa chọn phương án tính khấu hao phù hợp, đảm bảo thuhồi vốn nhanh, khấu hao vào giá cả sản phẩm hợp lý
+ Thường xuyên đổi mới, nâng cấp đế không ngừng nâng cao hiệu suất sản xuất của tài sản cố định
Sau mỗi kỳ hoạt động, doanh nghiệp sử dụng các tiêu chí để tính toán, đánhgiá hiệu quả sử dụng vốn cố định Tù đó tìm ra các nguyên nhân để tìm biện phápkhắc phục những hạn chế và tiếp tục tăng cường những điểm mạnh của tài sản cốđịnh
+ Khai thác hợp lý các nguồn tài trợ vốn lưu động
+ Thường xuyên phân tích, đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng, tìm hiểu và phát hiện xem vốn lưu động bị ứ đọng ở mặt nào, khâu nào
để kịp tìm kiếm những biện pháp xử lý hữu hiệu
Trang 25Trong công tác quản lý vốn lưu động cần quán triệt các nguyên tắc sau:
• Bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vốn cho sản xuất đồng thời bảo đảm sử dụngvốn có hiệu quả Trong công tác quản lý vốn lưu động thường xuất hiện những mâuthuẫn giữa khả năng vốn lưu động thì có hạn mà phải đảm bảo cho nhu cầu sản xuấtkinh doanh rất lớn Để giải quyết mâu thuẫn này, doanh nghiệp phải cải tiến quản lý,tăng cường hạch toán kinh doanh, đề ra những biện pháp thích hợp để hoàn thànhtốt nhiệm vụ sản xuất, mang lại hiệu quả
số lượng sản phẩm được tiêu thụ phải đi kèm số tiền thu được về nhằm bù đắp lạiphần vốn đã chi ra
• Tự cấp phát vốn và bảo toàn vốn: Doanh nghiệp tự mình tính toán nhu cầuvốn để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và tổ chức thực hiện bằng các nguồnvốn được huy động Nguyên tắc này đề cao tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệptrong quá trình tái sản xuất trong khuôn khổ các nhiệm vụ đã đề
ra của mục tiêu kế hoạch Doanh nghiệp phải tổ chức những nguồn vốn mình cầnđến trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó những kết quả hoạt độngcủa bản thân doanh nghiệp là tiền đề để tiến hành tái sản xuất mở rộng theo kếhoạch Chính vì thế khả năng phát triển trong tương lai của mỗi doanh nghiệp phụthuộc vào kết quả hoạt động trong một năm Tuy nhiên không thể xuất phát mộtchiều hoàn toàn từ những khả năng tài chính hiện có để kế hoạch hóa mở rộng sảnxuất Điểm xuất phát của kế hoạch hóa tái sản xuất mở rộng là việc tiến hành những
dự đoán: Sự phát triển nhu cầu, sự thay đổi trong quy trình công nghệ sản xuất đểnâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước, những sựhoàn thiện nhằm mục đích tăng khối lượng sản xuất sản phẩm đang
Trang 26có ưu thế trên thị trường và tổng lợi nhuận Quán triệt quan điểm này, doanh nghiệpphải một mặt chủ động khai thác và sử dụng các nguồn vốn tự có, mặt khác huyđộng các nguồn vốn khác bằng các hình thức linh hoạt và sử dụng vốn vay một cáchthận trọng và hợp lý.
- Quản lý vốn đầu tư tài chính
Các doanh nghiệp có thể đầu tư vào các tài sản tài chính như mua cổ phiếu,trái phiếu hoặc tham gia vào góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác để gópphần đảm bảo cho nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp cũng như tăng thu nhậpcho doanh nghiệp Trong xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại thì đầu tư tàichính ngày càng phát triển và mang lại lợi ích ngày càng lớn cho các doanh nghiệp.Chính vì thế hoạt động quản lý vốn đầu tư tài chính ngày càng có vai trò quan trọngđối với các doanh nghiệp
1.3.3.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một tốp hợp các phương pháp và công cụ cho phép thuthập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanhnghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp,giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lýphù hợp
- Phương pháp phân tích: Có một hệ thống các công cụ và phương pháp màngười phân tích sử dụng trong quá trình phân tích tài chính, trong đó có hai phươngpháp phân tích được sử dụng phổ biến nhất là phương pháp so sánh, phân tích tỷ lệ
- Phương pháp so sánh: Khi sử dụng phương pháp này cần đảm bảo các điềukiện có thể so sánh được như phải thống nhất về không gian, thời gian, nội dung,tính chất, đơn vị tính… của các chỉ tiêu tài chính Đồng thời căn cứ theo mục đíchnghiên cứu mà xác định gốc so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt khônggian hoặc thời gian, kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị
so sánh được sử dụng có thể là số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân
Trang 27- Phương pháp phân tích tỷ lệ: Phương pháp này yêu cầu các tỷ lệ so sánhchủ yếu theo các tiêu chí cơ bản, xác định được các ngưỡng, các định mức để nhậnxét và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp.
1.3.3.4 Đánh giá các quyết định đầu tư tài chính
Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vào quyếtđịnh đầu tư dài hạn với quy mô lớn như quyết định đầu tư đổi mới công nghệ, mởrộng sản xuất kinh doanh, sản xuất sản phảm mới Để đi đến quyết định đầu tư đòihỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc trên nhiều mặt về kinh tế, kỹ thuật và tàichính Trong đó về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư vàthu nhập do đầu tư đưa lại hay nói cách khác là xem xét dòng tiền ra và dòng tiềnvào liên quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội đầu tư về mặt tài chính Đó làquá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu
tư Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường luôn biến động như ngày nay thì nhữngquyết định này càng trở nên khó khăn và mức độ rủi ro cũng tăng
Do đó các nhà quản lý tài chính cần phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trướckhi đưa ra các quyết định đầu tư, đảm bảo duy trì và phát triển nguồn tài chính củadoanh nghiệp Nhà quản lý đưa ra các quyết định đầu tư dựa trên cơ sở lựa chọn cácphương án căn cứ vào các chỉ tiêu cụ thể bao gồm cả đầu tư vào doanh nghiệp lẫnđầu tư ra ngoài doanh nghiệp để các quyết định đầu tư thực sự đem lại hiệu quả chodoanh nghiệp.
1.3.3.5 Kiểm soát tài chính
Kiểm soát là hoạt động kiểm tra và giám sát một hoạt động nào đó dựa trêncăn cứ là các mục tiêu chiến lược đã đề ra và trên cơ sở đó phát hiện ra những saisót và có những sửa chữa kịp thời Do đó, kiểm soát là một hoạt động có ý nghĩa vôcùng quan trọng và không thể thiếu trong mỗi lĩnh vực hoạt động của mỗi tổ chức.Tài chính là một vấn đề phức tạp có ý nghĩa quan trọng quyết định đến mỗi hoạtđộng của tổ chức nên hoạt động kiếm soát tài chính lại càng trở nên quan trọng vàcần được tổ chức đúng quy trình và nghiêm túc
Trang 28Nội dung của kiểm soát tài chính gồm 3 giai đoạn:
- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính;
- Kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt;
- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính
1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản trị tài chính
1.3.4.1 Nhóm chỉ tiêu định tính
Một là, có định chế tài chính công ty tốt, tuân thủ kỷ luật tài chính hiện hành:Trong quá trình hoạt động, mỗi giai đoạn phát triển khác nhau doanh nghiệp cónhững mục tiêu khác nhau về tài chính Để đáp ứng yêu cầu đó, doanh nghiệp cầnphải dự báo và lập kế hoạch tài chính riêng cho từng giai đoạn Đồng thời, trong quátrình thực hiện kế hoạch, nhà quản trị tài chính luôn tuân thủ kế hoạch và bám sátnhững diễn biến của thị trường để có những dự báo, điều chỉnh kịp thời khi môitrường có sự thay đổi theo cả 2 hướng thuận lợi và bất lợi Đề cập đến hoạt động tàichính là nói đến hoạt động thu, chi, do vậy, hoạt động này cần được thể chế hóabằng các quy chế thu, chi của doanh nghiệp trên nền tảng các quy định pháp lýchung đối với hoạt động thanh toán hiện hành Quan trọng hơn cả, nhà quản trị tàichính giám sát bộ phận tài chính đã chấp hành và thực hiện công việc của mìnhđúng theo quy định nhà nước đang ban hành Từ đó, công ty đảm bảo không viphạm các quy chế tài chính, không gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động tài chính vàhình ảnh của công ty
Hai là, vai trò của công tác tài chính trong quản trị doanh nghiệp: Đầu tưđược xem là quyết định quan trọng bậc nhất trong 3 quyết định chủ yếu của tàichính doanh nghiệp Một quyết định đầu tư đúng sẽ góp phần làm tăng giá trị doanhnghiệp, từ đó gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu và ngược lại Đây là tiêu chíđịnh tính cần được xem xét khi đánh giá quản trị tài chính doanh nghiệp Bởi vìtrong quá trình ra quyết định đầu tư, vai trò của người làm công tác tài chính (đánhgiá và lựa chọn dự án đầu tư) tại doanh nghiệp là vô cùng quan trọng Những đóng
Trang 29góp của họ thể hiện vai trò của công tác tài chính trong công tác quản trị chung toàndoanh nghiệp.
Ba là, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản ảnh trình
độ cải tiến quản lý điều hành nhằm sử dụng hợp lý hơn các nguồn lực, giảm tổnthất, để tăng cường giá trị đầu ra Với yếu tố đầu vào tốt hơn, lao động có tay nghềcao hơn, máy móc công nghệ hiện đại hơn, DN sẽ giảm đi lượng hao phí nguyên vậtliệu, hao phí lao động, hao phí năng lượng, thiết bị trên từng đơn vị sản phẩm, phếphẩm giảm đó là điều kiện để có những sản phẩm với số lượng, chất lượng cao, giáthành hạ Như vậy để tăng hiệu quả quản lý tài chính chỉ có con đường là sử dụngnguồn vốn có hiệu quả như không ngừng đầu tư vào công nghệ, nguồn nhân lực,quản lý, Qua đó giá trị đầu ra ngày càng tăng, đồng thời càng nâng cao sức cạnhtranh của sản phẩm, của DN trên thương trường
Bốn là, trình độ quản lý và sử dụng các nguồn vốn: Việc nâng cao hiệu quảhuy động và sử dụng các nguồn vốn trong doanh nghiệp là một trong những yếu tốlàm tăng hiệu quả quản lý tài chính trong doanh nghiệp Việc đảm bảo đầy đủ, kịpthời và sử dụng có hiệu quả vốn sẽ là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp cần phải có chiến lược phát triểnphù hợp bằng cách sử dụng vốn hiệu quả và phải có những biện pháp phòng chốngnhững rủi ro; phải xác định cơ cấu vốn hợp lý, chặt chẽ thích ứng với quy mô doanhnghiệp, tránh không lạm dụng vốn vay quá mức, đặc biệt là vốn ngắn hạn Việcquản lý tài chính bao gồm việc lập các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn, đồngthời quản lý có hiệu quả nguồn vốn hoạt động thực của công ty Đây là công việc rấtquan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp bởi vì nó ảnh hưởng đến cách thức vàphương thức mà nhà quản lý thu hút vốn đầu tư để thành lập, duy trì và mở rộngcông việc kinh doanh
Năm là, uy tín của DN với bạn hàng, nhà đầu tư, ngân hàng đối với tình hìnhtài chính của doanh nghiệp Cụ thể như: Nhà đầu tư, ngân hàng hoàn toàn tin tưởngvào tình hình tài chính lành mạnh của doanh nghiệp, họ hoàn toàn hài lòng với kếtquả sử dụng vốn của doanh nghiệp, và không ngần ngại khi cấp thêm nguồn vốn
Trang 30cho doanh nghiệp phục vụ vào sản xuất kinh doanh Tất cả những nhân tố đó nhằmtạo dựng hình ảnh, lòng tin đối với nhà đầu tư, ngân hàng và doanh nghiệp khác.
Sáu là, xây dựng môi trường kiểm soát nội bộ hữu hiệu Kiểm soát nội bộđược thể hiện qua các chế độ, quy trình, cách thức quản lý tài chính được xây dựng
và thực hiện đầy đủ, khoa học phần nào đánh giá được hiệu quả trong công tác quản
lý tài chính của doanh nghiệp
Bởi vậy, yêu cầu đặt ra khi đánh giá khái quát tình hình tài chính là phảichính xác và toàn diện Có đánh giá chính xác thực trạng tài chính và an ninh tàichính của doanh nghiệp trên tất cả các mặt mới giúp các nhà quản lý đưa ra cácquyết định hiệu quả, phù hợp với tình trạng hiện tại của doanh nghiệp và địnhhướng phát triển trong tương lai Việc đánh giá chính xác và toàn diện còn giúp cácnhà quản lý có các kế sách thích hợp để nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinhdoanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm mục đích đưa
ra những nhận định sơ bộ, ban đầu về thực trạng tài chính và sức mạnh tài chính củadoanh nghiệp Qua đó, các nhà quản lý nắm được mức độ độc lập về mặt tài chính;
về an ninh tài chính cùng những khó khăn mà doanh nghiệp đang phải đương đầu
Trang 31(1) Tổng tài sản của doanh nghiệp, bao gồm 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài
sản dài hạn trong từng loại tài sản đó lại bao gồm nhiều loại khác nhau, mỗi loại cótác động không giống nhau đến quá trình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Mộtcách chung nhất, tài sản doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng thể hiện tổng số vốncủa doanh nghiệp và việc phân bổ vốn để hình thành nên tài sản như thế nào Vốnnhiều hay ít, tăng hay giảm, phân bổ cho từng khâu, từng giai đoạn hợp lý haykhông sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanhnghiệp Phân tích sự biến động và tình hình phân bổ vốn là để đánh giá tình hìnhtăng, giảm vốn, phân bổ vốn như thế nào từ đó đánh giá việc sử dụng vốn của doanhnghiệp có hợp lý hay không Như vậy, phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản
và nguồn vốn gồm những nội dung như: Phân tích cơ cấu của tài sản, phân tích sựbiến động của tài sản, phân tích cơ cấu nguồn vốn, phân tích sự biến động củanguồn vốn, phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
(2) Tổng số nguồn vốn: Sự biến động (tăng hay giảm) của tổng số nguồn vốn
cuối năm so với đầu năm và so với các năm trước liền kề là một trong những chỉtiêu được sử dụng để đánh giá khả năng tổ chức, huy động vốn trong năm củadoanh nghiệp Tuy nhiên, do vốn của doanh nghiệp tăng, giảm do nhiều nguyênnhân khác nhau nên sự biến động của tổng số nguồn vốn chưa thể hiện đầy đủ tìnhhình tài chính của doanh nghiệp, do đó khi phân tích, cần kết hợp với việc xem xét
cơ cấu nguồn vốn và sự biến động của nguồn vốn để có nhận xét phù hợp Chỉ tiêu
"Tổng số nguồn vốn" được phản ánh trên Bảng cân đối kế toán, phần "Nguồn vốn"
(3) Hệ số tự tài trợ: Hệ số tự tài trợ là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm
về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu nàycho biết, trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếmmấy phần Trị số của chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tàichính càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng vàngược lại, khi trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính củadoanh nghiệp càng thấp, mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng giảm
Hệ số tài trợ được xác định theo công thức:
Trang 32Hệ số tài trợ = Vốn chủ sở hữu
Tổng số nguồn vốn
"Vốn chủ sở hữu" được phản ánh ở chỉ tiêu B "Vốn chủ sở hữu" (Mã số400), còn "Tổng số nguồn vốn" được phản ánh ở chỉ tiêu "Tổng cộng nguồn vốn"(Mã số 440) trên Bảng cân đối kế toán
(4) Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn: là chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải
tài sản dài hạn bằng vốn chủ sở hữu Nếu trị số của chỉ tiêu này càng lớn hơn 1, sốvốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng có thừa khả năng để trang trải tài sản dàihạn và do vậy, doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ dàihạn đến hạn Do đặc điểm của tài sản dài hạn là thời gian luân chuyển dài (thường
là ngoài một năm hay ngoài một chu kỳ kinh doanh) nên nếu vốn chủ sở hữu củadoanh nghiệp không đủ tài trợ tài sản dài hạn của mình mà phải sử dụng các nguồnvốn khác (kể cả vốn chiếm dụng dài hạn) thì khi các khoản nợ đáo hạn, doanhnghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán và ngược lại, nếu vốn chủ sở hữu củadoanh nghiệp có đủ và bảo đảm thừa khả năng tài trợ tài sản dài hạn của doanhnghiệp thì doanh nghiệp sẽ ít gặp khó khăn khi thanh toán nợ đáo hạn Điều này tuygiúp doanh nghiệp tự bảo đảm về mặt tài chính nhưng hiệu quả kinh doanh sẽ không cao do vốn đầu tư chủ yếu vào tài sản dài hạn, ít sử dụng vào kinh doanh quay vòng để sinh lợi.
Hệ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữutài sản dài hạn Tài sản dài hạn
"Tài sản dài hạn" được phản ánh ở chỉ tiêu B "Tài sản dài hạn" (Mã số 200)trên Bảng cân đối kế toán Cần lưu ý rằng, chỉ tiêu “Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn”còn có thể tính riêng cho từng bộ phận tài sản dài hạn (nợ phải thu dài hạn, tài sản
cố định đã và đang đầu tư, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn), đặc biệt là
bộ phận tài sản cố định đã và đang đầu tư; bởi vì, tài sản cố định (đã và đang đầutư) là bộ phận tài sản dài hạn phản ánh toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật của doanh
Trang 33nghiệp Khác với các bộ phận tài sản dài hạn, doanh nghiệp không thể dễ dàng vàkhông thể đem bán, thanh lý bộ phận tài sản cố định được vì đây chính là điều kiệncần thiết và là phương tiện phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
“Hệ số tự tài trợ tài sản cố định” được tính theo công thức sau:
Hệ số tự tài trợ Vốn chủ sở hữutài sản cố định = Tài sản cố định đã và đang đầu tưTài sản cố định đã và đang đầu tư được phản ánh ở chỉ tiêu “Tài sản cố định”(Mã số 220) trên Bảng cân đối kế toán, bao gồm tài sản cố định đã đầu tư (tài sản cốđịnh hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính và tài sản cố định vô hình tương ứngcác chỉ tiêu có Mã số 221, 224, và 227) và tài sản cố định đang đầu tư (chi phí xâydựng cơ bản dở dang có Mã số 230)
(5) Hệ số đầu tư: Hệ số đầu tư là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư của tài sản
dài hạn trong tổng số tài sản, nó phản ánh cấu trúc tài sản của doanh nghiệp Trị sốnày phụ thuộc rất lớn vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Tài sản dài hạn - Phải thu dài hạn
Hệ số đầu tư = Tổng số tài sản
Hệ số đầu tư có thể tính chung cho toàn bộ tài sản dài hạn sau khi trừ đi cáckhoản phải thu dài hạn (hệ số đầu tư tổng quát) hay tính riêng cho từng bộ phận củatài sản dài hạn (hệ số đầu tư tài sản cố định, hệ số đầu tư tài chính dài hạn ); trong
đó, hệ số đầu tư tài sản cố định được sử dụng phổ biến, phản ánh giá trị còn lại củatài sản cố định chiếm trong tổng số tài sản là bao nhiêu Trị số này phụ thuộc vàotừng ngành, nghề cụ thể
* Chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh
Lợi nhuận của DN bao gồm:
+Lợi nhuận kinh doanh: là nguồn gốc chủ yếu của lợi nhuận DN, là lợi nhuận
có được thông qua hoạt động SXKD Lợi nhuận kinh doanh là do lợi nhuận
Trang 34của các nghiệp vụ kinh doanh chính và các lợi nhuận khác của các DN cấu thành.Lợi nhuận kinh doanh là một chỉ tiêu để đánh giá thành tích kinh doanh của DN.
+Các khoản thu chi ngoài kinh doanh : là các khoản thu chi không có quan
hệ trực tiếp đối với các hoạt động kinh doanh sản xuất của DN Tuy không có quan
hệ trực tiếp đối với các hoạt động kinh doanh nhưng các khoản thu chi ngoài kinhdoanh vẫn là một trong những nhân tố làm tăng hoặc giảm lợi nhuận vì nó cũng đemlại thu nhập hoặc phải chi ra đối với DN vẫn có ảnh hưởng rất lớn đối với tổng lợinhuận và lợi nhuận thuần của DN
+Thu nhập ngoài kinh doanh: là những khoản thu không có quan hệ trực tiếp
với những hoạt động sản xuất kinh doanh Thu nhập ngoài kinh doanh là những thunhập mà không tổn phí tiền vốn của DN, trên thực tế là một loại thu nhập thuần tuý,
DN không phải mất một loại chi phí nào Vì vậy, về mặt hạch toán kế toán cần phảiphân chia ranh giới giữa thu nhập kinh doanh và thu nhập ngoài kinh doanh Cáckhoản thu nhập ngoài kinh doanh bao gồm tiền tăng lên của TSCĐ, thu nhập thuầntrong việc sắp xếp TSCĐ, thu nhập do bán tài sản vô hình, thu nhập trong các giaodịch phi tiền tệ, các khoản thu tiền phạt, các khoản thu về kinh phí đào tạo.v.v…
* Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động
- Vòng quay hàng tồn kho:
Vòng quay Hàng tồn kho = Doanh thu thuần / Hàng tồn kho
Trong đó, doanh thu thuần là doanh số của toàn bộ hàng hoá tiêu thụ trong kỳkhông phân biệt đã thu tiền hay chưa, trừ đi phần hóa hồng chiết khấu, giảm giá hayhàng hoá bị trả lại Còn hàng hoá tồn kho bao gồm các loại nguyên vật liệu, sản phẩm
dở dang, thành phẩm, vật liệu phụ còn tồn trong kho Độ lớn của quy mô tồn kho tuỳthuộc vào sự kết hợp của nhiều yếu tố như: ngành kinh doanh, thời điểm phân tích,mùa vụ,…Trong quá trình tính toán chúng ta cần phải lưu ý: mặc dù doanh thu đượctạo ra trong suốt năm, nhưng giá trị hàng tồn kho trong Bảng cân đối là mức tồn kho
Trang 35tại một thời điểm cụ thể, do vậy khi tính chúng ta phải lấy giá trị tồn kho trung bình năm.
Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển hàng hoánhanh hay chậm hay cho biết thời gian hàng hóa nằm trong kho trước khi bán ra.Thời gian này càng giảm thì khả năng chuyển hóa thành tiền của hàng tồn kho càngnhanh Chính vì vậy mà số vòng quay hàng tồn kho ảnh hưởng đến khả năng thanhtoán của đơn vị Đồng thời chỉ tiêu này là căn cứ để người quản lý tài chính biếtđược DN bỏ vốn vào lượng trữ hàng quá nhiều hay không Mặt khác nó còn phảnánh chất lượng và chủng loại hàng hóa kinh doanh có phù hợp trên thị trường haykhông
- Vòng quay khoản phải thu:
Vòng quay Khoản phải thu = Doanh thu thuần / Khoản phải thu bình quânChỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển của khoản phải thu, tức là tốc độ chuyển đổi thành tiền mặt của nó để đảm bảo cho thanh toán và hoạt động của DN
- Kỳ thu nợ bán chịu:
Kỳ thu nợ bán chịu = (Khoản phải thu x 360) / Doanh thu thuần
Trong đó, các khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chưa thu tiền cóthể là hàng bán trả chậm, hàng bán chịu hay bán được mà chưa thu tiền, các khoảntạm ứng chưa thanh toán, các khoản trả trước cho người bán
Trong phân tích tài chính, kỳ thu nợ bán chịu được sử dụng để đánh giá khảnăng thu tiền trong thanh toán, cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lựckinh doanh của DN Vì rằng nếu các khoản phải thu của DN không được thu hồi đủ
số, đúng hạn thì không những gây tổn thất đọng nợ cho DN mà còn ảnh hưởng tớinăng lực kinh doanh Số ngày trong kỳ bình quân thấp chứng tỏ DN không bị đọngvốn trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản nợ khó đòi, tốc độ thu hồi
nợ nhanh và hiệu quả quản lý cao Tính lưu động của tài sản mạnh, năng lực thanh
Trang 36toán ngắn hạn rất tốt, về một mức độ nào đó có thể khoả lấp những ảnh hưởng bấtlợi của tỷ suất lưu động thấp Đồng thời, việc nâng cao mức quay vòng của cáckhoản phải thu còn có thể làm giảm bớt kinh phí thu nợ và tổn thất tồn đọng vốn,làm cho mức thu lợi của việc đầu tư TSNH của DN tăng lên tương đối Ngược lại,nếu tỷ số này cao thì DN cần phải tiền hành phân tích chính sách bán hàng để tìm ranguyên nhân tồn đọng nợ Trong nhiều trường hợp, có thể do kết quả thực hiện mộtchính sách tín dụng nghiêm khắc, các điều kiện trả nợ hà khắc làm cho lượng tiêuthụ bị hạn chế, nên công ty muốn chiếm lĩnh thị trường thông qua bán hàng trảchậm hay tài trợ nên có Kỳ thu nợ bán chịu cao.
- Vòng quay TSCĐ:
Vòng quay TSCĐ = Doanh thu thuần / TSCĐ
Trong đó, giá trị TSCĐ là giá trị thuần của các loại TSCĐ tính theo giá trịghi sổ kế toán, tức nguyên giá của TSCĐ khấu trừ phần hao mòn TSCĐ dồn đếnthời điểm tính
Tỷ số này phản ánh tình hình quay vòng của TSCĐ, và là một chỉ tiêu ướclượng hiệu suất sử dụng TSCĐ (nói lên cường độ sử dụng TSCĐ, đồng thời cũngcho biết đặc điểm, nghành nghề kinh doanh và đặc điểm đầu tư) Như vậy, tỷ số nàycho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào TSCĐ của DN, hay nói cách khác là mộtđồng đầu tư cho TSCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Tỷ số này cao chứng
tỏ tình hình hoạt động của DN tốt đã tạo ra doanh thu cao so với TSCĐ, chứng tỏviệc đầu tư vào TSCĐ của DN là xác đáng, cơ cấu hợp lý, hiệu suất sử dụng cao.Ngược lại, nếu vòng quay TSCĐ không cao thì chứng tỏ hiệu suất sử dụng thấp, kếtquả đối với sản xuất không nhiều, năng lực kinh doanh của DN không mạnh
Vòng quay TSNH:
Vòng quay TSNH = Doanh thu thuần / TSNH
Trang 37Trong đó, TSNH bao gồm tiền và các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyểnnhượng, các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho) và các tài sản ngắn hạn khác.
Tỷ số này phản ánh tình hình vòng quay TSNH, và là một chỉ tiêu ước lượnghiệu suất sử dụng TSNH Tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vàoTSNH của DN, hay nó cho biết đầu tư một đồng vào TSNH tạo ra được bao nhiêuđồng doanh thu trong một năm Tỷ số này cao chứng tỏ việc đầu tư TSNH của DN
là đúng đắn, tạo ra hiệu suất sử dụng cao Ngược lại, nếu tỷ số này thấp, chứng tỏrằng năng lực kinh doanh của DN không mạnh
- Vòng quay Tổng tài sản:
Vòng quay tổng tài sản = Doanh thu thuần / Tổng tài sản
Trong đó, tổng tài sản có là tổng toàn bộ giá trị tài sản của DN bao gồm cảTSCĐ và TSNH tại thời điểm tính toán và dựa trên giá trị theo sổ sách kế toán
Tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản của DN, hoặcthể hiện một đồng vốn đầu tư vào DN đã đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Nếunhư trong các thời kỳ, tổng mức tài sản của DN đều tương đối ổn định, ít thay đổithì tổng mức bình quân có thể dùng số bình quân của mức tổng tài sản đầu kỳ vàcuối kỳ Nếu tổng mức tài sản có sự thay đổi biến động lớn thì phải tính theo tài liệu
tỉ mỉ hơn đồng thời khi tính mức quay vòng của tổng tài sản thì các trị số phân tử vàmẫu số trong công thức phải lấy trong cùng một thời kỳ
Mức quay vòng của tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng tổnghợp toàn bộ tài sản của DN, chỉ tiêu này càng cao càng tốt Giá trị của chỉ tiêu càngcao, chứng tỏ cùng một tài sản mà thu được mức lợi ích càng nhiều, do đó trình độquản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán và năng lực thu lợi của DN càngcao Nếu ngược lại thì chứng tỏ các tài sản của DN chưa được sử dụng có hiệu quả
Trang 38* Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
(1) Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: “Hệ số khả năng thanh toán tổng
quát” là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳbáo cáo Chỉ tiêu này cho biết: với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có bảo đảmtrang trải được các khoản nợ phải trả hay không Nếu trị số chỉ tiêu "Hệ số khả năngthanh toán tổng quát" của doanh nghiệp luôn ≥ 1, doanh nghiệp bảo đảm được khảnăng thanh toán tổng quát và ngược lại; trị số này < 1, doanh nghiệp không bảođảm được khả năng trang trải các khoản nợ Trị số của “Hệ số khả năng thanh toántổng quát” càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán
=toán tổng quát Tổng số nợ phải trả
"Tổng số tài sản" được phản ánh ở chỉ tiêu "Tổng cộng tài sản" (Mã số 270)
và "Tổng số nợ phải trả" phản ánh ở chỉ tiêu "Nợ phải trả" (Mã số 300) trên Bảngcân đối kế toán Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chỉ tiêu "Tổng số tài sản"được phản ánh ở chỉ tiêu "Tổng cộng tài sản" (Mã số 250) và "Tổng số nợ phải trả"được phản ánh ở chỉ tiêu "Nợ phải trả" (Mã số 300) trên Bảng cân đối kế toán
(2) Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: "Hệ số khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn" là chỉ tiêu cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanhnghiệp là cao hay thấp Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp phảithanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh Nếu trị số của chỉ tiêunày xấp xỉ bằng 1, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan Ngược lại, nếu “Hệ số khảnăng thanh toán nợ ngắn hạn” < 1, doanh nghiệp không bảo đảm đáp ứng được cáckhoản nợ ngắn hạn Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1, khả năng thanh toán nợngắn hạn của doanh nghiệp càng thấp.
Hệ số thanh toán Tài sản ngắn hạn
nợ ngắn hạn = Tổng số nợ ngắn hạn
Trang 39Giá trị "Tài sản ngắn hạn" được phản ánh ở chỉ tiêu A "Tài sản ngắn hạn"(Mã số 100) và "Tổng số nợ ngắn hạn" được phản ánh ở chỉ tiêu I "Nợ ngắn hạn"(Mã số 310) trên Bảng cân đối kế toán.
(3) Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh" là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khảnăng thanh toán tức thời (thanh toán ngay) các khoản nợ ngắn hạn của doanhnghiệp bằng tiền (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) và các khoảntương đương tiền Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hệ số khả năng Tiền và các khoản tương đương tiềnthanh toán nhanh =
Tổng số nợ ngắn hạnTùy thuộc vào tính chất và chu kỳ kinh doanh của từng doanh nghiệp mà chỉtiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” có trị số khác nhau Tuy nhiên, thực tế chothấy, trị số của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” không nhất thiết phảibằng 1 doanh nghiệp mới bảo đảm khả năng thanh toán nhanh; bởi vì, trị số của tử
số trong công thức xác định chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” được xácđịnh trong khoảng thời gian tối đa 3 tháng trong khi trị số của mẫu số lại được xácđịnh trong khoảng 1 năm hoặc một chu kỳ kinh doanh Một điều có thể khẳng địnhchắc chắn rằng: nếu trị số của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” quá nhỏ,doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ - nhất là nợ đếnhạn - vì không đủ tiền và tương đương tiền và do vậy, doanh nghiệp có thể phải bángấp, bán rẻ hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ để trả nợ Khi trị số của chỉ tiêu “Hệ số khảnăng thanh toán nhanh” lớn hơn hoặc bằng 1, mặc dù doanh nghiệp bảo đảm thừakhả năng thanh toán nhanh song do lượng tiền và tương đương tiền quá nhiều nên
sẽ phần nào làm giảm hiệu quả sử dụng vốn; từ đó, làm giảm hiệu quả kinh doanh
"Tiền, các khoản tương đương tiền" phản ánh ở chỉ tiêu I "Tiền và các khoảntương đương tiền" (Mã số 110); trong đó, các khoản tương đương tiền" bao gồmcác khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng, dễ
Trang 40dàng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định mà không có rủi ro khi chuyển đổithành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo như kỳ phiếu ngânhàng, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi
* Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
(1) Khả năng sinh lời của tài sản (Return on assets - ROA):
Khả năng sinh lời của tài sản phản ánh hiệu qủa sử dụng tài sản ở doanhnghiệp, thể hiện trình độ quản lý và sử dụng tài sản Chỉ tiêu này cho biết bình quânmột đơn vị tài sản sử dụng trong quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồnglợi nhuận trước thuế Trị số của chỉ tiêu càng cao, hiệu quả sử dụng tài sản càng lớn
Tổng tài sản Tổng tài sản đầu năm + Tổng tài sản cuối năm
Trong đó, Tổng tài sản đầu năm và cuối năm lấy số liệu trên Bảng cân đối kếtoán (cột "Số đầu năm" và cột "Số cuối năm") Mẫu số của ROA là “Tổng tài sảnbình quân” vì tử số là kết quả của một năm kinh doanh nên mẫu số không thể lấy trị
số của tài sản tại một thời điểm được mà phải sử dụng trị giá bình quân của năm
(2) Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (Return on equity - ROE):
“Khả năng sinh lời của Vốn chủ sở hữu” là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhấthiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi xem xét ROE, các nhà quản lý biết đượcmột đơn vị Vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sauthuế Trị số của ROE càng cao, hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại