TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH KHOA TÍN DỤNG BÀI TIỂU LUẬN NHÓM THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH & ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH Đ Ề TÀI Hoạt động của công ty tài chính PVFC trên thị trường tài chính Việt Nam GVHD[.]
Khái quát chung
Khái niệm
Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 01 năm.
Đặc điểm
Công ty tài chính (CTTC) và các tổ chức tín dụng khác (CTCTDK) đều phải có vốn pháp định, song vốn pháp định của công ty tài chính thường thấp hơn CTCTDK. Theo Nghị định 10/2011/NĐ-CP về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, ngày 26/1/2011 của Chính phủ, từ ngày 15/03/2011 đến ngày 31/12/2011 CTTC phải có mức vốn pháp định là 500 tỷ đồng.
Vốn pháp định đối với CTCTDK trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài và quỹ tín dụng nhân dân cơ sở không thấp hơn 3.000 tỷ đồng, có thể thấy yêu cầu về vốn thành lập của CTTC tương đối thấp, vì vậy việc thành lập CTTC là dễ dàng hơn các loại hình tổ chức tín dụng khác.
1.2.2 Loại hình tổ chức hoạt động.
Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ phân chia công ty tài chính thành các loại: công ty tài chính nhà nước, công ty tài chính cổ phần, công ty tài chính trực thuộc các tổ chức tín dụng, công ty tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài Cách phân chia này hiện không còn thích hợp với Luật Doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam Theo dự thảo sửa đổi Nghị định hướng dẫn của Chính phủ, quy định công ty tài chính chỉ được thành lập theo một trong ba loại hình sau: công ty tài chính TNHH một thành viên; công ty tài chính TNHH hai thành viên trở lên và công ty tài chính cổ phần.
Thời hạn hoạt động của công ty tài chính tối đa là 50 năm Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 50 năm Trong khi đó, thời hạn hoạt động của CTCTDK lại không bị hạn chế.
1.2.4 Cơ hội cạnh tranh và lợi ích mang lại.
Xét ở khía cạnh nào đó, các công ty tài chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp hơn so với ngân hàng Theo cam kết WTO, chỉ có ngân hàng thương mại nước ngoài và CTTC nước ngoài mới được thành lập CTTC liên doanh và CTTC 100% vốn đầu tư nước ngoài Tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được thành lập CTTC liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên
10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn.
Trong khi CTCTDK hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì CTTC huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty Vì thế, rủi ro xảy ra đối với các công ty tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là không lớn.
Một trong những hạn chế của các CTTC so với CTCTDK là không được làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm Tuy vậy, các CTTC hiện nay đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn, v.v cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn Những dịch vụ này đã giúp CTTC thực hiện được các dịch vụ khác tương tự như một ngân hàng thương mại.
Như vậy, có thể thấy lợi ích của CTTC mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường có ít nhất một CTTC CTTC là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, CTTC có thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ CTTC có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn. Ưu điểm của các CTTC là mang lại một nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng cho nhiều dự án lớn trọng điểm từ đó thúc đẩy cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động theo chiều sâu của tổng công ty.
Phân loại công ty tài chính
Công ty tài chính bán hàng (Sale finance company)
CTTC bán hàng do các công ty sản xuất và bán hàng làm chủ sở hữu và thực hiện các khoản cho vay tài trợ khách hàng mua các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của công ty Công ty này trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng về các khoản cho vay tiêu dùng và có được khá nhiều khách hàng bởi các khoản cho vay này thường được thực hiện nhanh và tiện lợi tại nơi mua hàng.
Các CTTC bán hàng gián tiếp cấp tín dụng cho người tiêu dùng để mua các món hàng từ một nhà bán lẻ hoặc từ một nhà sản xuất nào đó Tín dụng được cấp dưới hình thức : các doanh nghiệp bán hàng trả góp cho khách hàng theo hợp đồng mẫu do CTTC loại này cấp, sau đó hợp đồng được bán lại cho CTTC Như vậy khoản nợ của khách hàng với nhà sản xuất hoặc bán lẻ đã chuyển thành khoản nợ của khách hàng với CTTC Các CTTC loại này được thành lập nhằm hỗ trợ cho hoạt động tiêu thụ hàng hóa của công ty sản xuất, các nhà bán lẻ Ví dụ tại Mỹ, GeneralMotor Acceptance Corporation chuyên tài trợ khách hàng mua ô tô của hãng GM.
Công ty tài chính tiêu dùng (Consumer finance company)
CTTC tiêu dùng thực hiện các khoản cho vay cho khác hàng mua các loại hàng hóa cụ thể hay giúp đỡ chi trả các khoản nợ đó Công ty này là các doanh nghiệp riêng biệt hay do ngân hàng là chủ sở hữu, thường cho khách hàng không có khả năng vay từ các nguồn khác và định lãi suất cao hơn
CTTC loại này cung ứng phần lớn nguồn vốn của mình cho các gia đình và cá nhân vay phục vụ mục đích mua sắm hàng hóa tiêu dùng như các đồ đạc nội thất( giường, tủ…) và các đồ gia dụng ( tủ lạnh, máy giặt…) hoặc sửa chữa nhà cửa.Hầu hết các khoản cho vay được trả góp theo định kỳ Một cách khác cho vay là cấp thẻ tín dụng cho khách hàng để họ mua sắm ở các hệ thống cửa hàng bán lẻ Do các khoản vay của loại CTTC này rủi ro nên công ty thường chỉ cho vay những khoản tiền nhỏ và lãi suất cao hơn lãi suất thị trường để giảm rủi ro Khách hàng của các công ty tài chính tiêu dùng vì vậy cũng thường là những người không thể tìm được khoản tín dụng từ những nguồn khác và do vậy họ thường phải chịu lãi suất cao hơn thông thường Các CTTC loại này có thể do các ngân hàng thành lập nên hoạt động độc lập dưới hình thức các công ty cổ phần.
Công ty tài chính kinh doanh (Business finance company)
CTTC doanh nghiệp cung cấp các dạng tín dụng đặc biệt cho các doanh nghiệp bằng cách mua những khoản tiền phải thu (các hóa đơn nợ của hãng) với giá chiết khấu Việc cung cấp tín dụng này được gọi là bao thanh toán (nghiệp vụ Factoring) CTTC doanh nghiệp có được lợi nhuận từ việc thu đầy đủ những khoản tiền từ các hóa đơn nợ này
Ngoài cách này, các CTTC doanh nghiệp còn cung cấp các loại hình khác như: cho thuê tín dụng, thuê thiết bị…trong một khoảng thời gian nào đó – cho thuê tài chính (nghiệp vụ Leasing)
Như vậy, mỗi loại hình CTTC có những khách hàng riêng biệt của mình và đi đôi với nó là một phạm vi cung ứng dịch vụ riêng Tuy nhiên thời gian gần đây, sự phân biệt trên đã mờ nhạt dần.
Nghiệp vụ của công ty tài chính
Nghiệp vụ tài sản nợ
Vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt đề phòng bù đắp rủi ro, lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng lên do định giá lại tài sản cố định, các loại vốn và quỹ khác.
Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của các tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật hiện hành;
Vay vốn của các tồ chức tài chính, tín dụng trong nước, ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế;
Tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
Nghiệp vụ tài sản có
_ Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; cho vay theo ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Luật các Tổ chức tín dụng và hợp đồng ủy thác;
_ Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác; cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức và cá nhân;
_ Cấp tín dụng dưới các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
_ Mở tài khoản và dịch vụ ngân quỹ:
Được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi CTTC đặt trụ sở chính và các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Việc mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam phải được Ngân hàng Nhà nuớc cho phép;
CTTC có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam được thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
_Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác;_Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng;
Nghiệp vụ trung gian
_ Tham gia thị trường tiền tệ;
_ Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng;
_ Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp;
_ Nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng;
_ Cung cấp dịch vụ tư vấn về Ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng;
_ Cung cấp dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác;
_ Thực hiện một số hoạt động ngoại hối theo quy định hiện hành về quản lý ngoại hối;
_ Thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
Quy định pháp lý và rủi ro cơ bản
Quy định pháp lý
Trích Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 Điều 108 Hoạt động ngân hàng của công ty tài chính
1 Công ty tài chính được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng sau đây: a) Nhận tiền gửi của tổ chức; b) Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn của tổ chức; c) Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; d) Cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng; đ) Bảo lãnh ngân hàng; e) Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá khác; g) Phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán, cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
2 Chính phủ quy định cụ thể điều kiện để công ty tài chính thực hiện hoạt động ngân hàng quy định tại khoản 1 Điều này. Điều 109 Mở tài khoản của công ty tài chính
1 Công ty tài chính có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì trên tài khoản tiền gửi này số dư bình quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc.
2 Công ty tài chính được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
3 Công ty tài chính được phép thực hiện hoạt động phát hành thẻ tín dụng được mở tài khoản tại ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối.
4 Công ty tài chính được mở tài khoản tiền gửi, tài khoản quản lý tiền vay cho khách hàng. Điều 110 Góp vốn, mua cổ phần của công ty tài chính
1 Công ty tài chính chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
2 Công ty tài chính được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tư.
3 Công ty tài chính chỉ được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, quản lý tài sản bảo đảm sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
4 Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận việc thành lập công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính quy định tại khoản 3 Điều này. Điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Điều 111 Các hoạt động kinh doanh khác của công ty tài chính
1 Tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, tổ chức, cá nhân để thực hiện các hoạt động đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh, cấp tín dụng được phép; ủy thác vốn cho tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng Việc tiếp nhận vốn ủy thác của cá nhân và ủy thác vốn cho các tổ chức tín dụng cấp tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
2 Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định tại Điều 104 của Luật này.
3 Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp.
4 Bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp; đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.
5 Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
6 Làm đại lý kinh doanh bảo hiểm.
7 Cung ứng dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, đầu tư.
8 Cung ứng dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản của khách hàng.
Và một số quy định khác theo dự thảo Nghị định quy định hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính
Các rủi ro cơ bản
Xu hướng tự do hóa trong lĩnh vực tài chính đã tạo ra cơ hội cho các tổ chức tín dụng nhất là các CTTC mở rộng hoạt động về mặt địa lý và hạn chế được những tổn thất do sự thay đổi điều kiện kinh tế trong nước Tuy nhiên, cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính tín dụng trên phạm vi toàn cầu cũng tạo ra một thị trường tài chính rủi ro hơn Trong bối cảnh đó, không một tổ chức tài chính nào có thể tồn tại lâu dài mà không có hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu Việc xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng có vai trò sống còn đối với hoạt động của tổ chức.
Rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với CTTC, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đó là nợ gốc hay nợ nợ lãi khi khoản nợ đến hạn
Thể hiện rủi ro lỗ tiềm tàng của CTTC do các biến động của lãi suất rủi ro lãi suất có thể có một số hình thức khác nhau như rủi ro xác định lãi suất, rủi ro đường cong lãi suất thay đổi, rủi ro tương quan lãi suất và rủi ro quyền chọn đi kèm.
Rủi ro thanh khoản xảy ra khi cung về tiền ít hơn cầu về tiền Rủi ro thanh khoản liên quan đến khả năng chuyển các tài sản chính thành tiền một cách nhanh chóng mà không chịu thất thoát về giá cả hay nói một cách khác rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không đủ tiền đáp ứng các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán, hoặc vì một biến cố nào đó mà khách hàng rút tiền ào ạt.
Rủi ro giá cả: Đây là rủi ro về việc giá trị tài sản của CTTC do một ngân hàng có thể biến động rủi ro này xuất hiện trong tất cả các chủng loại tài sản, từ bất động sản đến cổ phiếu và trái phiếu.
Rủi ro ngoại hối phát sinh khi có sự chênh lệch về kì hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối nắm giữ, và vì thế làm cho CTTC có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động.
Bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà một CTTC điều hành hoạt động của mình Các ví dụ về rủi ro hoạt động là rất nhiều như: viêc cấu trúc hạn mức không phù hợp trong lĩnh vực kinh doanh nguồn vốn, quản trị tồi các quy trình quản lý tín dụng, lãnh đạo tham ô, thiếu kế hoạch khôi phục kinh doanh trong trường hợp xảy ra thảm họa…
Rủi ro này sẽ tác động tới CTTC theo hai cách:
Các khách hàng khởi kiện công ty do công ty từ chối cấp tín dụng cho khách hàng vô lý hoặc cấp vốn cho những dự án không đạt tiêu chuẩn như gây ô nhiễm môi trường có thể bị bên thứ ba khởi kiện…
Khi các thu xếp pháp lí của CTTC, ví dụ hợp đồng cho vay và tài sản đảm bảo tiêu chuẩn của khách hàng có vấn đề hoặc Nhà nước thay đổi đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vưc ưu tiên…điều này có thể dẫn tới rủi ro thua lỗ cho công ty.
Rủi ro này có thể phát sinh từ các thay đổi trong môi trường hoạt động của công ty trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh và tài chính Rủi ro chiến lược cũng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản than công ty Ví dụ, viêc xâm nhập vào một thị trường mới mà thiếu sự nghiên cứu đầy đủ và thiếu các nguồn lực cần thiết để khai thác thị trường cũng có thể làm công ty thua lỗ.
Là dư luận đánh gia xấu về công ty gây khó khăn cho công ty trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách hàng sẽ rời bó công ty.
Quản trị rủi ro là một quy trình, được thiết lập nhằm xác định những sự vụ có nguy cơ dẫn đến những hệ quả xấu cho doanh nghiệp, để từ đó chủ động đưa ra những giải pháp ứng phó phù hợp, kịp thời.
Xác định hạn mức rủi ro:
Các bộ phận nghiệp vị quản trị rủi ro phải xác định hạn mức rủi ro cho bộ phận mình, là mức rủi ro nhất định mà CTTC có thể chấp nhận được trong nỗ lực để có thể có được lợi nhuận trên cơ sở sẵn sàng chịu đựng rủi ro và sức mạnh tài chính của CTTC. Đánh giá rủi ro:
Việc đánh giá rủi ro đòi hỏi phải xác định được những rủi ro lớn liên quan đến hoạt động của CTTC, phải có các chốt kiểm tra nằm trong quy trình nghiệp vụ để kiềm chế rủi ro trong hạn mức đã được đề ra để theo dõi các trường hợp ngoại lệ vượt mức rủi ro
Quy trình đánh giá rủi ro có 4 yếu tố đó là: nhận biết rủi ro, định lượng rủi ro, theo dõi rủi ro và khiểm soát rủi ro.
Nhận biết rủi ro: bước đầu tiên của một chương trình quản trị rủi ro hiệu quả là phải nhận biết và xác định được các loại rủi ro mà CTTC có thể gặp phải thông qua phân tích đặc thù của các sản phẩm, dịch vụ và quy trình hoạt động
Định lượng rủi ro: là việc đề ra và xem xét lại mức rủi ro, giúp bạn điều hành cần được ưu tiên theo dõi và kiểm soát Các phương pháp có thể áp dụng như: phương pháp thống kê, phương pháp kinh nghiệm, phương pháp tính toán…
KHÁI QUÁT VỀ CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Thành tựu
Đến nay, NHNN đã cấp phép thành lập và hoạt động cho 18 Công ty tài chính, trong đó có 6 công ty tài chính 100% vốn nước ngoài hoạt động chuyên doanh trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng, 4 công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước là chủ sở hữu và 8 công ty tài chính cổ phần có các cổ đông là Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước chiếm tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần trên 25%
Vì đây là một hình thức tài chính khá mới mẻ và các công ty này thuộc các tổ chức tín dụng phi ngân hàng nên các công ty này vẫn chưa phát triển quy mô như các NHTM Nhưng với sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam cộng với ưu thế của riêng mình, hệ thống các CTTC chắn chắn sẽ nhanh chóng được mở rộng trên thị trường tài chính VN
Trong quá trình hoạt động, công ty tài chính đã thể hiện vai trò của mình trong việc hỗ trợ quản lý tài chính, thu xếp vốn trong và ngoài nước cho các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước Đồng thời, công ty tài chính cũng là một kênh cung cấp vốn trung – dài hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư chiều sâu để đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật, song hành cùng các ngân hàng thương mại cung cấp vốn cho nền kinh tế, góp phần thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hạn chế
Trong thời gian qua, có vẻ như thị trường chung của các TCTD phi Ngân hàng vẫn đang trong giai đoạn “tự phát” là chính Số lượng ít, quy mô nhỏ, cộng thêm không ít rắc rối trong thủ tục hành chính… tất cả đã ngăn cản các CTTC nhỏ lẻ vượt qua được ngân hàng trong các dịch vụ bán lẻ Thực tế, ở thị trường nước ta, các CTTC thường vẫn “quen” làm việc với các doanh nghiệp lớn nhiều hơn Vô hình trung, đó lại là một rào cản cho chính họ.
Có một nguyên nhân khác nữa ảnh hưởng tới sự phát triển của CTTC, đó là việc phần lớn các đơn vị này đều trực thuộc các Tập đoàn kinh tế của NN, hay Tổng công ty dưới bộ Trong những năm gần đây, hoạt động của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước cũng bộc lộ nhiều bất cập: Huy động quá nhiều vốn để thực hiện đầu tư, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh trong khi năng lực quản lý, trình độ quản trị doanh nghiệp và khả năng tài chính nhìn chung còn yếu kém; đầu tư ra ngoài ngành nghề chính còn nhiều…
Trên thị trường nước ta, phần lớn các CTTC đều nghiêng nhiều về nhiệm vụ quản lý và sử dụng nguồn tài chính tiền tệ thuộc “ngành dọc” Việc mở rộng cung cấp dịch vụ tài chính cho “người ngoài” vẫn còn rất hạn chế
Theo một thống kê không chính thức mới đây, tổng nguồn vốn huy động từ các tổ chức phi Tài chính, tính đến hết tháng 8/2007( từ chủ yếu 9 CTTC lớn nhất nước), chỉ đạt xấp xỉ trên 3 nghìn tỉ đồng Nhưng đáng nói là tổng dư nợ cho vay của khối tín dụng này đạt trên 10 nghìn tỉ Khoản chênh lệch đó các CTTC lại đi vay từ Ngân hàng.
Như đã nêu trên, dù các CTTC lớn hay nhỏ họ vẫn thường tỏ ra rất khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính nhỏ Các “đơn đặt hàng” lớn không phải lúc nào cũng có, vì thế, xu hướng chung của các CTTC lại quay ngược về thị trường đầu tư tài chính Bất động sản, chứng khoán, đầu tư tài chính dài hạn…các CTTC làm hết Làm, nhưng không hiệu quả Không chỉ bởi họ thua kém hẳn giới Ngân hàng về vốn, nhân lực, hay công nghệ dịch vụ, mà cái thua lớn nhất lại đáng ra phải là điểm mạnh của họ: sự năng động và khả năng quyết đoán khi có lời.
Theo một thông tin mới đây của Hiệp hội Ngân hàng thì nợ xấu của cácCTTC có xu hướng tăng Điều này được giải thích rằng, đó là do cơ chế thanh toán đối với các công ty này chưa phù hợp Đó có thể là một lí do nhưng chắc chắn không phải là duy nhất.
Sự can thiệp của Nhà Nước
Ngay từ năm 2009, Chính phủ đã yêu cầu các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước có kế hoạch giảm tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành nghề chính, đặc biệt giảm tỷ lệ đầu tư vào 3 lĩnh vực “nhạy cảm” là tài chính, ngân hàng, bảo hiểm thông qua việc ban hành Nghị định 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 về “Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác”.
Thực tế, việc giảm dần tỷ lệ sở hữu của Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước trong các công ty tài chính đã diễn ra từ năm 2008 thông qua các hình thức như cổ phần hóa các công ty tài chính trực thuộc Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước, bán đấu giá một phần vốn đang nắm giữ hoặc dừng mua thêm cổ phiếu phát hành tăng vốn điều lệ của công ty tài chính.
Theo Ngân hàng Nhà nước, tại phiên họp thường kỳ tháng 9/2011, Chính phủ đã một lần nữa khẳng định chủ trương yêu cầu các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước tập trung vốn đầu tư vào các ngành nghề sản xuất kinh doanh chính, không đầu tư ngoài ngành, nhất là các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán Đối với các đơn vị trước đây đã đầu tư vào các lĩnh vực này phải sớm có kế hoạch thoái vốn, tiến tới chấm dứt kinh doanh Do vậy, để thực hiện chủ trương của Chính phủ, các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước cần sớm có kế hoạch giảm tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành nghề chính, đặc biệt giảm tỷ lệ đầu tư vào 3 lĩnh vực “nhạy cảm” là tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
Hiện nay trên một số trang báo có thông tin NHNN “dẹp bỏ” các CTTC tuy nhiên Ngân hàng Nhà nước khẳng định không có chủ trương này như một số nguồn đã đưa tin
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ TRÊN THỊ TRƯỜNG TC VIỆT NAM
Khái quát về thị trường tài chính VN
Thị trường tài chính là một sản phẩm cao cấp của thị trường, nói cách khác là nền kinh tế tiền tệ Thị trường tài chính hoạt động như là một sự kết nối giữa người cho vay đầu tiên và người sử dụng cuối cùng, tạo ra vô số các giao dịch, và ở mỗi giao dịch đều tạo ra dòng chảy về vốn trong nền kinh tế- như là sự lưu thông máu trong một cơ thể- một nền kinh kinh tế hoạt động lành mạnh và có hiệu quả chỉ khi nào thị trường này cũng hoạt động có hiệu quả như thế, và ngược lại. Ở Việt Nam, kể từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, gia nhập WTO, lĩnh vực tài chính là lĩnh vực mang tính nhạy cảm luôn đòi hỏi sự đổi mới cả về mặt nhận thức và thực tiễn.
Thị trường tài chính Việt Nam có nhiều biến động bởi sự tác động của những yếu tố trong nước và ngoài nước.
Có thể thấy những thành công đáng kể của thị trường tài chính Việt Nam: Chủ động, linh hoạt, vật lộn và nhìn rõ ra nhiều góc khuất… cơ bản thoát khỏi nhiều nguy cơ tái khủng hoảng tài chính, lạm phát quá lớn và suy giảm kinh tế Nói rõ hơn:
Nền kinh tế vẫn kiểm soát được hầu hết các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường tài chính nói riêng ở mức chấp nhận được
Tốc độ tăng tín dụng đạt mức kì vọng
Chỉ số chứng khoán ổn định
Thị trường bất động sản khá ổn định ở mức không bị trồi, sụt quá lớn
Việt Nam nằm trong các nước tăng trưởng khá
Hoạt động của tổng công ty cổ phần tài chính Dầu khí (PVFC)
Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (gọi tắt là "Tổng Công ty”) tiền thân là Công ty Tài chính Dầu khí - là thành viên 100% vốn Nhà nước thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, được cổ phần hóa theo Quyết định sổ 3002/QĐ-DKVN ngày 22 tháng 8 năm 2007 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về việc “Phê duyệt phương án và chuyển Công ty Tài chính Dầu khí thành Tồng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam” Tổng Công ty chính thức hoạt động dưới hình thức công ty cồ phần kể từ ngày 18 tháng 3 năm 2008 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103023045 ngày 17 tháng 3 năm 2008 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp và Giấy phép hoạt động số 72/2008/GP- NHNN ngày 18 tháng 3 năm 2008 cùa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.Vốn điều lệ của TổngCông ty là 5.000 tỳ VND.
Công ty Mẹ của Tổng Công ty là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nắm giữ 78% vốn điều lệ.
Tại ngày 31 tháng 12 năm 2010, Công ty mẹ - Tồng Công ty có 3 Công ty con,
3 khoản góp vốn liên doanh và 6 Công ty liên kết.
2.1 Hoạt động huy động vốn
Thông qua nghiệp vụ huy động vốn Công ty Tài chính mới có thể tạo được nguồn vốn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình Vốn là yếu tố quan trọng, do vậy, việc huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau là rất cần thiết cho sự ổn định và phát triển của công ty
Vốn chủ sở hữu có một vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Công ty Tài chính Dầu khí: vốn chủ sở hữu càng lớn thì quy mô hoạt động của Công ty Tài chính càng lớn Khác với các NHTM Công ty Tài chính Dầu khí với số vốn chủ sở hữu đủ lớn của mình các Công ty Tài chính Dầu khí vẫn có thể huy động vốn lớn gấp nhiều lần thông qua việc phát hành trái phiếu, tín phiếu cho các công trình, dự án đầu tư,
Vốn chủ sở hữu của các Công ty Tài chính bao gồm: Vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ dự trữ đặc biệt đề phòng bù đắp rủi ro, lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng lên do định giá lại tài sản cố định, các loại vốn và quỹ khác.
Vốn điều lệ quyết định rất lớn đến quy mô hoạt động của PVFC Doanh số của các hoạt động có liên quan như nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ đầu tư phụ thuộc nhiều vào số vốn điều lệ của PVFC Theo quy định của pháp luật, PVFC chỉ được cho vay một khách hàng không quá 15% vốn chủ sở hữu, tỉ lệ đầu tư, góp vốn, mua cổ phần không quá 40% vốn chủ sở hữu, cho nên với số vốn điều lệ đủ lớn thì PVFC mới có khả năng phát triển các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và một số nghiệp vụ khác.
Khi mới bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2000, PVFC có số vốn điều lệ là 100 tỷ đồng Số vốn điều lệ trên tổng nguồn vốn năm 2000 là 96,14% Các tỷ lệ này giảm dần qua các năm thể hiện sự tăng trưởng mạnh về nguồn vốn Một trong những sự phát triển nhảy vọt về nguồn vốn của Công ty tài chính Dầu khí chính là việc Công ty được Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước phê duyệt tăng vốn điều lệ là 300 tỷ vào cuối năm 2004 và tăng tiếp lên 1000 tỷ vào đầu năm 2006. Đây là một bước tiến mới giúp PVFC tăng cường được qui mô hoạt động, tạo động lực cho hoạt động kinh doanh của Công ty, giúp PVFC có chỗ đứng vững chắc trên thị trường tài chính tiền tệ.
Các Quỹ và lợi nhuận để lại
Cũng giống như các NHTM, hàng năm Công ty Tài chính Dầu khí phải trích lợi nhuận sau thuế để lập và duy trì các quỹ, bao gồm: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được trích hàng năm (tính theo tỷ lệ trên lợi nhuận sau thuế); Quỹ đầu tư phát triển; Quỹ dự phòng tài chính và các Quỹ khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, phần lợi nhuận sau thuế của Công ty Tài chính Dầu khí có thể chia hoặc để lại nhằm bổ sung thêm vào vốn chủ sở hữu.
Như vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, Công ty Tài chính Dầu khí có thể tăng vốn điều lệ của mình và bổ sung thường xuyên vốn điều lệ bằng lợi nhuận để lại nhằm tạo ra một vốn chủ sở hữu đủ lớn để đáp ứng được yêu cầu của các nghiệp vụ khác của Công ty như: Tham gia góp vốn liên doanh, mua cổ phần,
Vốn huy động Để đạt được kết quả kinh doanh tốt như trong thời gian vừa qua, hoạt động huy động vốn đã và đang giúp một phần quan trọng Trong năm 2010 công ty đã huy động được 46,441 tỷ đồng Trong đó :
Công ty Tài chính Dầu khí nhận tiền gửi của khách hàng dưới hình thức nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân Hình thức gửi tiền này có kỳ hạn xác định nên mang tính ổn định cao.
Hoạt động tiền gửi năm 2010 là 5,910 tỷ.
Hoạt động tiền vay NHNN, các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế, phát hành kỳ phiếu và trái phiếu đạt tỷ đồng so với năm 2010 là 13,950 tỷ đồng.
Hoạt động uỷ thác cho vay
Công ty Tài chính có thể nhận uỷ thác đầu tư từ các cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu đầu tư dài hạn Công ty tiếp nhận nguồn vốn uỷ thác đầu tư của tập đoàn để đầu tư vào các dự án của tập đoàn và các đơn vị thành viên.
Nguồn vốn uỷ thác là nguồn vốn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu nguồn vốn của PVFC hiện nay (khoảng 57%) và đóng một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động cho vay, đầu tư của PVFC Nguồn vốn này đã khắc phục hạn chế về hạn mức cho vay, đầu tư đối với một khách hàng Ngoài vốn vay và vốn chủ sở hữu, đây là nguồn vốn cho vay chủ yếu của PVFC Nguồn vốn này được thực hiện dưới nhiều hình thức: Các NHTM, các tổ chức kinh tế uỷ thác cho PVFC để cho vay uỷ thác các dự án lớn của Chính phủ và của ngành Dầu khí hoặc PetroVietnam giao số vốn uỷ thác cho PVFC để thực hiện các hợp đồng cho vay uỷ thác.
Thực trạng hoạt động tín dụng của công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam.
Căn cứ theo Báo cáo tài chính của công ty năm 2010, hoạt động tín dụng của công ty gồm có:
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước, cho vay theo ủy thác của Chính Phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của luật các Tổ chức tín dụng và hợp đồng ủy thác.
- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức và cá nhân.