1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích thực trạng và triển vọng của hình thức tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan Việt Nam

24 467 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích thực trạng và triển vọng của hình thức tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 159,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích thực trạng và triển vọng của hình thức tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan Việt Nam

Trang 1

Đề tài:Phân tích thực trạng và triển vọng của hình thức tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan

Việt Nam

Lời mở đầu

Hòa mình vào xu thế phát triển chung của quốc tế và thế giới nhất là trong những năm gầnđây như tham gia vào khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA ) , Hiệp định thương mại songphương Việt –Mỹ , mà đặc biệt là tổ chức thương mai Thế giới (WTO) , Việt Nam đang dần lớnlên và ngày một trưởng thành hơn trong một hình hài bé nhỏ Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệpViệt nam phải xây dựng được một tầm vóc phù hợp để có khả năng cạnh tranh , và hợp tác trêntrường quốc tế

Để có những tiến bộ vượt bậc trong phát triển kinh tế , Viêt Nam cũng đã có một số thayđổi tích cực về các điều luật và các quy định quản lý trong hoạt động huy động vốn , nhất là quathị trường chứng khoán Những thay đổi này đã và sẽ giúp hoạt động huy động vốn có nhữngbước chuyển mạnh mẽ , góp phần khai thác các nguồn vốn đáng kể nhằm tài trợ cho sự phát triểnthành công của khối doanh nghiệp trong nước

Có thể nói tài trợ vốn qua thị trường chứng khoán có vai trò lớn trong việc tạo một kênhhuy động và phân bổ nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế , đặc biệt cho các doanh nghiệp , các tổchức thuận lợi hơn trong việc lập kế hoạch những dự tính lâu dài ,… giúp cho nền kinh tế sửdụng vốn một cách hiệu quả nhất , đa dạng hóa được các hình thức đầu tư và phân tán rủi ro Từ

đó mà nền kinh tế có được những dự án đầu tư mới , những năng lực mới ,góp phần thức đẩy sựtang trưởng ,phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế

Để có thể hiểu được cách thức để một nguồn vốn qua thị trường chứng khoán có thể đếnđược tay các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế , cũng như dòng luân chuyển của nó Qua đó,chochúng ta có được cái nhìn toàn diện hơn về triển vọng tài trợ vốn qua thị trường chứng khoántrong tương lai để có những chiến lược , giải pháp thích hợp để phát triển thị trường này

Chúng tôi xin đưa ra đề tài : “Thực trạng và triển vọng của hình thức tài trợ vốn qua thịtrường chứng khóan Việt Nam giai đoạn 2008-2013”

Trang 2

Chương I Lý luận chung về tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan

1.1 Khái niệm và bản chất của tài trợ vốn qua thị trường CK

1.1.1 Tài trợ vốn

Tài trợ vốn là quá trình cung vốn và cầu vốn trên thị trường vốn hay là việc vốn chảy từnơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn Việc tài trợ vốn chính là việc các nhà đầu tư sử dụng vốn dưthừa của mình để đầu tư vào nơi cần vốn qua đó thu lại lợi nhuận cho bản thân và cũng đem lạilợi ích cho bên có nhu cầu về vốn

1.1.2 Tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan

Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn, hoạt động của nónhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tàitrợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh

tế hay cho các dự án đầu tư

Về bản chất tài trợ vốn qua TTCK chính là hoạt động của thị trường chứng khóan sơ cấp,hay nói cách khác tài trợ vốn thể hiện ở cung cầu chứng khóan trên TT sơ cấp: nhà đầu tư mua

CK của đơn vị phát hành trên TT sơ cấp, qua đó trực tiếp làm gia tăng vốn của đơn vị phát hànhchứng khóan

1.1.3 Đối tượng tham gia của hình thức tài trợ vốn qua thị trường chứng khoán

Các DN cũng là đối tượng đầu tư quan trọng trên thị trường Tuy nhiên, hoạt động đầu tưcủa đối tượng này thường kém chuyên nghiệp hơn, chủ yếu tập trung ở hoạt động đầu tư ngânquỹ nhằm đáp ứng khả năng thanh toán chi trả và hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát

Bên cạnh NĐT có tổ chức, các NĐT cá nhân có vai trò quan trọng trong việc làm tăngtính sôi động của thị trường Nhiều nước trên thế giới cho phép NĐT được ký hợp đồng và mởtài khoản tại nhiều CTCK Biện pháp này giúp NĐT có thể thực hiện phân tán đầu tư, tận dụnglợi thế của từng CTCK trong việc thực hiện giao dịch, đồng thời các CTCK buộc phải cạnh tranhvới nhau, từ đó làm tăng chất lượng dịch vụ cung cấp Ở Việt Nam, phương thức quản lý chưa

Trang 3

hoàn thiện, chưa thực sự kiểm soát chặt chẽ các giao dịch, đặc biệt là giao dịch nội gián và thaotúng thị trường, do vậy hiện mới chỉ cho phép mỗi NĐT được mở 1 tài khoản tại một CTCK.

Các NĐT cá nhân thường gặp bất lợi về quy mô, do vậy chi phí đầu tư cao, khả năngphân tán rủi ro và đa dạng hoá đầu tư kém, tính chuyên nghiệp thấp Danh mục đầu tư của cácNĐT cá nhân ở Việt Nam thường đơn giản, chủ yếu là cổ phiếu Hơn nữa, việc hoạch định danhmục đầu tư còn thiếu khoa học và quản lý thụ động Chứng khoán được lựa chọn còn theo cảmtính, do vậy chất lượng đầu tư thường không cao

1.1.3.2 Nhà phát hành

Nhà phát hành lớn nhất trên thị trường là các tổ chức kinh tế, bao gồm Chính phủ vàchính quyền địa phương, DN, ngân hàng thương mại và các trung gian tài chính khác Hoạt độngphát hành chứng khoán của các trung gian tài chính làm tăng khả năng tích tụ và tập trung vốntrên thị trường Chính phủ và chính quyền địa phương phát hành trái phiếu và công cụ nợ ngắnhạn nhằm huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách và chi đầu tư

Các DN phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ nợ ngắn hạn nhằm huy động vốnđáp ứng nhu cầu hoạt động Phần lớn lượng vốn này được dùng để đầu tư mua sắm các tài sảnthực, do vậy làm tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế

Các trung gian tài chính như ngân hàng thương mại có thể phát hành chứng khoán để huyđộng vốn Chứng khoán do đối tượng này phát hành có khối lượng lớn và độ an toàn khá cao, dovậy thường hấp dẫn công chúng đầu tư

1.1.3.3 Trung gian tài chính

Các tổ chức trung gian đầu tư bao gồm CTCK, công ty quản lý quỹ, tổ chức bảo hiểm,ngân hàng và trung gian đầu tư khác Các CTCK thường thực hiện hoạt động môi giới, tư vấnđầu tư, bảo lãnh phát hành, tự doanh…

Khác với CTCK, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện hoạt động uỷ thácđầu tư hoặc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán và thực hiện quản lý danh mục đầu tưchứng khoán cho khách hàng (những người sở hữu chứng chỉ quỹ)

Công ty bảo hiểm là trung gian đầu tư điển hình Thông qua hoạt động khai thác bảohiểm, các công ty này thu hút lượng vốn lớn trong nền kinh tế và thực hiện hoạt động đầu tư vốnnhàn rỗi, chủ yếu vào các chứng khoán

1.2 Quy trình thực hiện tài trợ vốn qua TTCK

Trang 4

Như vậy nguồn vốn thông qua TTCK ( ở đây là thị trường sơ cấp) được điều tiết từ nớithừa vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng hoặc nơi sử dụng vốn kém hiệu quả sang nơi có nhucầu về vốn ( hay thiếu vốn) Người có nhu cầu về vốn có thể trực tiếp phát hành chứng khóan đểhuy động vốn Còn người dư thừa vốn có thể mua các chứng khóan này như 1 khỏan đầu tư.

* Quy trình huy động vốn qua TTCK

Các quy trình huy động vốn qua thị trường chứng khoán: khi DN muốn huy động vốn quathị trường chứng khoán thì phải phát hành các chứng khoán có giá trị thông qua thị trường chứngkhoán Thông thường việc phát hành chứng khoán ra công chúng được thực hiện theo các bướcsau:

Bước 1: Tổ chức đại hội cổ đông để xin ý kiến chấp thuận của đại hội cổ đông về việc phát

hành chứng khoán ra công chúng, đồng thời thống nhất mục đích huy động vốn; số lượng vốncần huy động; chủng loại và số lượng chứng khoán dự định phát hành; cơ cấu vốn phát hành dựtính phân phối cho các đối tượng: Hội đồng quản trị, cổ động hiện tại, người lao động trongdoanh nghiệp, người bên ngoài doanh nghiệp, người nước ngoài…

Bước 2: Hội đồng quản trị ra quyết định thành lập ban chuẩn bị cho việc xin phép phát hành

chứng khoán ra công chúng Chức năng chủ yếu của ban chuẩn bị là chuẩn bị các hồ sơ xin phépphát hành để nộp lên cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; lựachọn tổ chức bảo lãnh phát hành (nếu cần), công ty kiểm toán và tổ chức tư vấn và cùng với các

tổ chức này xây dựng phương án phát hành và dự thảo bản cáo bạch để cung cấp cho các nhà đầu

Bước 3: Ban chuẩn bị lựa chọn người đứng đầu tổ hợp bảo lãnh phát hành Trong phần lớn

các trường hợp phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng, để đảm bảo sự thành công của đợtphát hành thì tổ chức phát hành phải chọn ra được một tổ chức bảo lãnh phát hành.Tổ chức bảolãnh phát hành với uy tín và mạng lưới rộng lớn của mình sẽ giúp cho việc phân phối chứngkhoán của tổ chức phát hành diễn ra một cách suôn sẻ.Chính vì vậy, khi tiến hành phát hành

Trang 5

chứng khoán ra công chúng thì việc lựa chọn tổ chức bảo lãnh phát hành có ý nghĩa rất quantrọng, và mang tính quyết định đến sự thành bại của đợt phát hành.

Bước 4: Người đứng đầu tổ hợp bảo lãnh phát hành lựa chọn các thành viên khác của tổ

hợp Trong trường hợp khối lượng chứng khoán phát hành là quá lớn, vượt quá khả năng củamột tổ chức bảo lãnh phát hành thì tổ chức bảo lãnh phát hành chính (tổ chức bảo lãnh đã đượclựa chọn) sẽ đứng ra lựa chọn các thành viên khác để cùng với mình tiến hành bảo lãnh cho toàn

bộ đợt phát hành

Bước 5: Ban chuẩn bị cùng với tổ hợp bảo lãnh phát hành, công ty kiểm toán và tổ chức tư

vấn tiến hành định giá chứng khoán phát hành Định giá chứng khoán là khâu khó khăn nhất vàphức tạp nhất khi tiến hành phát hành chứng khoán ra công chúng.Nếu định giá chứng khoán quácao thì sẽ khó khăn trong việc bán chứng khoán, còn nếu định giá chứng khoán quá thấp thì sẽlàm thiệt hại cho tổ chức phát hành.Vì thế, việc định giá chứng khoán một cách hợp lý sao chongười mua và người bán đều chấp nhận được là hết sức quan trọng và cần phải được phối hợpcủa tổ chức bảo lãnh, công ty kiểm toán và tổ chức tư vấn của công ty

Bước 6: Chính thức thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành và ký hợp đồng bảo lãnh phát hành

Bước 9: Sau khi được cấp phép phát hành, tổ chức phát hành phải ra thông báo phát hành

trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời công bố ra công chúng bản cáo bạch chính thức và việc thực hiện việc phân phối chứng khoán trong một thời gian nhất định kể từ khi được cấp giấy phép Thời hạn phân phối được qui định khác nhau đối với mỗi nước ở Việt nam, theo qui định tại Nghị định 48/Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán thì thời hạn này

là 90 ngày, trong trường hợp xét thấy hợp lý và cần thiết, Uỷ ban chứng khoán nhà nước có thể gia hạn thêm

Bước 10: Tiến hành đăng ký, lưu giữ, chuyển giao và thanh toán chứng khoán sau khi kết

thúc đợt phân phối chứng khoán

Bước 11: Sau khi hoàn thành việc phân phối chứng khoán, tổ chức phát hành cùng với tổ

chức bảo lãnh phát hành phải báo cáo kết quả đợt phát hành cho Uỷ ban chứng khoán và tiến hành đăng ký vốn với cơ quan có thẩm quyền

Trang 6

Bước 12: Trường hợp tổ chức phát hành có đủ điều kiện niêm yết thì có thể làm đơn xin

niêm yết gửi lên Uỷ ban chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán nơi công ty niêm yết

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tài trợ vốn qua TTCK

- Ổn định kinh tế vĩ mô

Sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô luôn được coi là điều kiện tiên quyết của mọi ýđịnh và hành vi đầu tư Để thu hút các nguồn vốn phải đảm bảo được nền kinh tế đó trước hết lànơi an toàn cho sự vận động của nó và sau nữa là nơi có năng lực sinh lợi cao

 Ổn định giá trị tiền tệ Đây là vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến khả nănghuy động các nguồn vốn cho đầu tư Ổn định giá trị tiền tệ ở đây bao hàm cả việckiềm chế lạm phát và khắc phục hậu quả của tình trạng giảm phát nếu xảy ra đối vớinền kinh tế.Trong cả hai trường hợp, nó đều có tác động tiêu cực đến nhu cầu đầu tư

và đến sự tăng trưởng kinh tế

 Hoạt động của ngân sách nhà nước cũng có ý nghĩa quan trọng Ngân sách nhà nước

mà thâm hụt triền miên cũng sẽ đi kèm với tình trạng lạm phát cao và mất ổn định.Thuế và các công cụ tài chính khác cũng là một trong những chính sách quan trọngtrong việc khuyến khích đầu tư và tái đầu tư từ lợi nhuận

 Lãi suất và tỷ giá hối đoái không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động thu hút các nguồn vốnđầu tư thông qua việc tạo lập ổn định kinh tế vĩ mô mà còn tác động đến dòng chảycủa các nguồn vốn đầu tư và mức lợi nhuận thu được tại một thị trường mà cụ thể làthị trường chứng khoán

- Tăng trưởng kinh tế

Vấn đề tăng trưởng được nhìn nhận như một yếu tố tạo sức hấp dẫn ngày càng lớn đối vớivốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán của các nhà đầu tư nói riêng Lợinhuận tăng sẽ làm cho giá cả chứng khoán tăng lên, do đó làm cho cung lượng của thị trườngchứng khoán tăng theo, ngược lại kinh tế suy thoái sẽ dẫn đến các hoạt động giảm sút của thịtrường

Căn cứ vào tình hình tài chính, viễn cảnh doanh lợi của doanh nghiệp và những nhân tốkhác, nhà đầu tư sẽ có thể xác định được giá trị nội tại của một cổ phiếu Thị trường chứngkhoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế một cách tổng hợp và chínhxác (kể cả giá trị hữu hình và giá trị vô hình) thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thịtrường.Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm Thị trường chứng khoán thúc đẩy các công

ty cổ phần làm ăn có hiệu quả, sổ sách, báo cáo tài chính rõ ràng, minh bạch Từ đó, tạo thóiquen công khai hoá thông tin, đổi mới quản lý để lành mạnh hoá tình hình tài chính, góp phầntrong sạch hoá môi trường kinh doanh trong xã hội

- Nguồn vốn đầu tư

Trang 7

Nguồn vốn đầu tư cũng là một trong nhiều nhân tố tác động đến tài trợ vốn qua thị trườngchứng khóan Nguồn vốn với lớn, tập trung và mang tính chất dài hạn sẽ giúp cho việc tài trợvốn càng phát triển ngược lại những nguồn vốn nhỏ lẻ bấp bênh thường gây nên nhiều hậu quả,khiến thị trường tài trợ vốn trở nên rối loạn và kém hấp dẫn

1.4 Các tiêu chí đánh giá

1.4.1Chỉ tiêu chi phí huy động vốn/ quy mô vốn huy động.

Quy mô vốn của 1 doanh nghiệp bao gồm vốn vay và vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sởhữu thường chiếm tỉ trọng nhỏ hơn vốn vay Vôn chủ sở hữu hình thành nên trang thiết bị nhàxưởng văn phòng cho doanh nghiệpvà có thể sử dụng lâu dài ; đặc biệt nó được dùng để đảm bảokhả năng thanh toán cho công ty Vốn vay là nguồn vốn linh hoạt hơn, là nguồn vốn hoạt độngchính cho mỗi công ty

Chi phí huy động vốn của công ty bao gồm chi phí phải trả ãi và chi phí không phả trả lãi.Trong đó chi phí trả lãi chiếm phần lớn chi phí huy đông vốn Khi huy động vốn bằnghình thức trái phiếu, công ty đã làm tăng khoản nợ của mình, đồng thời phải trả lãi cho trái chủtheo 1 mức quy định trước Mức lãi suất này phụ thuộc vào kỳ hạn, mục tiêu chiến lược của công

ty, mức lãi suất ngân hàng trong thời kỳ phát hành .Còn phát hành cổ phiếu làm tăng vốn chủ

sở hữu của doanh nghiệp Mỗi cổ tức mỗi cổ đông nhận được sẽ phụ thuộc vào kết quả kinhdoanh của từng kỳ và được chia trong phần lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, công ty còn phải chịu 1 loại chi phí khác đó là chi phí khác khi huy độngvốn chi phí phát hành, chi phí quảng cáo, marketing để thu hút đầu tư, chi phí bảo hiểm, chi phíquản lí dự trữ, và các chi phí khác liên quan đến hoạt động huy động vốn

Hiệu quả huy động vốn =chi phí huy động vốn/tổng nguồn vốn huy động

Tóm lại chỉ tiêu này được dùng để đánh giá xem 1 đồng vốn huy động được cần mất baonhiêu chi phí, như vậy khi huy động vốn cần cân nhắc tới chi phí cho 1 đồng vốn, đảm bảo cáckhoản thu nhập có thể bù đắp được chi phí này và mang lại lợi nhuận cho công ty

Chỉ tiêu này càng thấp thì mức đôh huy đong vốn càng có hiệu quả Muốn giảm chi phí

sử dụng vốn cần giảm lãi suất trái phiếu và có chiến lược chia cổ tức hợp lí,

1.4.2 Chỉ tiêu sự ổn định của hình thức huy động vốn

Việc huy động vốn bằng hình thức phát hành cổ phiếu trái phiếu rất khó xác định đượcmức độ ổn định Bởi nó phụ thuộc vào lãi suất, lạm phát thị trường, khả năng thanh toán củacông ty, Trong từng giai đoạn các nguồn vốn huy động này có sự chuyển bioến linh hoạt, đòihỏi các doanh nghiệp phải đánh giá được mức độ ổn định theo thời gian của nó

Trang 8

Rủi do lãi suất: Giá của trái phiếu thay đổi khi lãi suất thị trường dao động Khi lãi suất

thị trường thấp hơn lãi suất trái phiếu thì giá trái phiếu thấp hơn mệnh giá của nó Khi này doanhnghiệp có xu hướng mua lại trái phiếu để rồi phát hành ra trái phiếu mới có lãi suất phù hợp hơn

Rủi ro thanh toán: Công ty phải lường trước và dự phòng được nếu trong tương lai công

ty không có khả năng thanh toán lãi hoặc vốn cho nhà đầu tư Lúc này công ty sẽ phải cân nhắcxem trái phiếu thường, trả lãi theo kỳ hạn hay phát hành cổ phiếu chia cổ tức bằng lợi nhuận sauthuế, Hoặc những điều kiện kèm theo nào có lợi cho công ty khi huy động vốn

Rủi ro lạm phát: xảy ra khi các khoản thanh toán cố dịnh của trái phiếu bị giảm sức mua,

hoặc khi đấu giá cổ phiếu không đạt được giá trị như ước tính hoặc các nhà đầu tư bỏ thầu dotình trạng lạm phát của thị trường tác động tới tâm lí và khả năng của nhà đầu tư

Tất cả các rủi ro này có thể sẽ khiến cho việc huy động vốn không thành công hoặc mang lạihiệu quả không như mong muốn Chính vì vậy chúng ta cần xem xét kĩ lưỡng hơn các nhân tốtác động tới hiệu quả và mức độ ổn định của các hình thức huy động vốn trong những khoảngthời gian khác nhau của thị trường

1.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh phương thức tạo vốn

Chỉ tiêu này cho biết cơ cấu vốn dài hạn của công ty và ở mức độ nhất định gián tiếp phản ánhmức độ an tòan về vốn của đơn bị phát hành

- Hệ số trái phiếu (BR- Bond ratio): Phản ánh tỷ trọng vốn dài hạn của công ty được hình

thành từ việc phát hành trái phiếu

Trong đó: BR là tổng giá trị theo mệnh giá trái phiếu = tổng số trái phiếu đang lưu hành xmệnh giá trái phiếu

TLC là tổng vốn dài hạn của đơ vị

- Hệ số cổ phiếu ưu đãi (PSR-Prerred stock ratio): phản ánh tỷ trọng vốn dài hạnn của

đơn vị được hình thành từ việc phát hành cổ phiếu ưu đãi

Trong đó: PSF là tổng giá trị theo mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi do công ty phát hành

- Hệ số cổ phiếu phổ thông (CSR – Commond stock ration): là chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng

vốn dài hạn được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu

Trong đó: CSF là tổng giá trị theo mệnh giá của cổ phiếu phổ thông

Trang 9

CS là thặng dư vốn

RE là thu hập giữ lại

Chương II Thực trạng tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan Việt Nam

giai đoạn 2008 – 20132.1 Tổng quan thị trường

Nguồn :Tổng cục thống kê

Trong giai đoạn 5 năm 2008 - 2012, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một giai đoạn vô cùngkhó khăn Bên cạnh những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, nềnkinh tế trong nước cũng dần bộc lộ những điểm yếu kém

Có thể nói, nền kinh tế Việt Nam từ 2008 đến 2012 đã trải qua một giai đoạn vô cùngkhó khăn Nếu như từ năm 2000 đến 2007, nền kinh tế luôn đạt tốc độ tăng trưởng tốt với mứctăng bình quân (CAGR) là 6,7%/năm thì trong 5 năm gần đây, mức tăng trưởng này chỉđạt 4,5% GDP năm 2012 chỉ đạt mức tăng trưởng 5,03%, mức thấp nhất kể từ năm 1999.Nếu như trong giai đoạn trước, nền kinh tế có những bước tiến đột phá với tốc độ tăngtrưởng tốt thì trong 5 năm vừa qua, nó lại cho thấy những hạn chế của việc phát triển theo chiềurộng, dựa chủ yếu vào tăng nguồn vốn và lao động Điều này đã dẫn đến một loạt những khókhăn trong những năm gần đây như diễn biến lạm phát thất thường, thị trường bất động sản vỡbong bóng và đóng băng, thanh khoản hệ thống ngân hàng trong nhiều giai đoạn căng thẳng,thị trường chứng khoán liên tục tạo kỷ lục về các mức đáy

Trong bối cảnh đó, TTCK cũng bộc lộ nhiều hạn chế cố hữu cần khắc phục Quy môthị trường còn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn của doanh nghiệp Chất lượng hàng hóatrên thị trường không được cải thiện nhiều Nhà đầu tư các nhân vẫn chiếm tỷ trọng cao tronggiao dịch trên thị trường dẫn đến các biến động thất thường do ảnh hưởng tâm lý Những saiphạm trong hoạt động của các thành viên trên thị trường còn phổ biến, hiện tượng đầu cơtrục lợi diễn ra tràn lan gây thiệt hại lớn cho cả nhà đầu tư và các CTCK

2.2 Thực trạng tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 2.2.1 Nhu cầu vốn thị trường

Tiếp cận vốn đang là rào cản phổ biến, được nhắc đến hàng ngày trong suốt mấynăm qua.Trên thực tế, hơn 42% số doanh nghiệp không vay vốn trong hoạt động kinhdoanh.Nói cách khác, số doanh nghiệp này chỉ dựa vào vốn tự có của mình để kinh doanh vàkhông vay mượn của bất kỳ ai Trong số 58% số doanh nghiệp có vay vốn từ người khác, thìhơn 58% trong số họ có vay vốn từ ngân hàng thương mại nhà nước, gần 30% có vay vốn từ

Trang 10

ngân hàng thương mại cổ phần, gần 39% có vay vốn từ bạn bè, người thân và 5,5% có vayvốn từ các ngân hàng FDI.

Có khá nhiều rào cản đối với doanh nghiệp trong tiếp cận vốn vay ngân hàng.Đầu tiên

và lớn nhất là lãi suất cao; gần 40% số doanh nghiệp gặp phải rào cản này Tiếp sau là thủ tụcphiền hà (28,5%), không có thế chấp (gần 19%), phải trả thêm phụ phí (gần 10%) và cuốicùng là không có vốn đối ứng (khoảng 7%)

Trong giai đoạn nền kinh tế khùng hoảng từ 2008 đến này, với laĩ suất cho vay tăng cao

và không ổn định, cùng với việc các ngân hàng siết chặt cho vay vốn thì DN cần tìm kiếmmột nguồn vay vốn khác chi phí rẻ hơn và thuận tiện hơn Như vậy tài trợ vốn qua TTCKchính là con đường thuận lợi nhất cho doanh nghiệp trong việc huy động vốn

Nguồn: Thống kê của StoxPlus

Trong năm 2008, cùng với sự suy thòai của tòan bộ nền kinh tế thì tổng số vốn tài trợ qua thịtrường chứng khoán chỉ đạt 17621 tỷ USD giảm mạnh so với mức 63000 tỷ năm 2007

Trang 11

Khi thị trường chứng khoán còn nhiều bất ổn, việc các doanh nghiệp đã hoặc sẽ phát hành cổphiếu riêng lẻ cho nhà đầu tư chiến lược đang là một xu thế mới Mục đích của việc phát hành cổphiếu riêng lẻ nhằm làm tăng thặng dư vốn cho doanh nghiệp bởi lẽ các tổ chức đầu tư chiếnlược có thể chấp nhận mua giá phát hành riêng lẻ “cao” hơn giá giao dịch giữa các nhà đầu tưhay giá thị trường Đồng thời các nhà đầu tư chiến lược cũng là các đối tác quan trọng của doanhnghiệp, vì vậy các doanh nghiệp có thể giữ được mối quan hệ bền chặt với các đối tác chiếnlược Điển hình cho xu hướng này là: Techcombank phát hành 20.895.459 cổ phiếu cho Ngânhàng Hồng Kông Thượng Hải HSBC

Năm 2009, trái ngược với sự sôi động của thị trường chứng khoán, hoạt động chào bán cổphiếu lần đầu ra công chúng (IPO) lại lâm vào cảnh "chợ chiều" Theo Sở Giao dịch chứngkhoán TP HCM (HOSE) và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), hai đơn vị này tiến hànhIPO cho 27 doanh nghiệp , song lượng cổ phần bán được cho nhà đầu tư (NĐT) không baonhiêu Điển hình là Công ty cổ phần Bến bãi Sài Gòn chỉ bán được 22.000 Cổ phần trong tổng

số hơn 600.000 Cổ phần chào bán trong phiên đấu giá ngày 16/10, tại HoSE.Các doanh nghiệptiến hành IPO với số lượng lớn cũng không khá hơn

Đối với trái phiếu, do lo ngại rủi ro biến động lãi suất ở mức cao mà cả nhà phát hành lẫn đầu

tư đều tập trung vào loại hình trái phiếu có lãi suất thả nổi Ước tính đã có khoảng 18.000 tỉ đồnggiá trị trái phiếu có lãi suất thả nổi được bán ra, chiếm 77% trong tổng giá trị trái phiếu huy độngđược (hơn 26.000 tỉ đồng) Bên cạnh đó, trái phiếu chuyển đổi cũng là kênh huy động vốn đượcnhiều doanh nghiệp sử dụng trong năm 2009, nhất là từ quí 3 trở đi, khi mà thị trường chứngkhoán có sự phục hồi rõ rệt

Tính đến cuối năm 2009, tổng vốn tài trợ bằng trái phiếu đạt 9035 tỷ đồng, trong khi đó vốnhuy động bằng cổ phiếu đạt 13944, vốn hóa thị trường chứng khóan cũng đạt 38% GDP gấp 3lần so với năm 2008 Điều này cho thấy sự phục hồi của thị trường chứng khóan năm 2009.Năm 2010, nhu cầu vốn thông qua TTCK tăng mạnh , đặc biệt trong bối cảnh mặt bằng lãisuất cao, tổng vốn đầu tư tài trợ qua TTCK là 7600 tỷ Năm 2010 có 40 doanh nghiệp tham giaIPO với tổng số lượng cổ phần bán được là 224,2 triệu , chỉ chiếm 53% số cổ phần đem đấu giá ,tương đương với giá trị huy động được 3976,5 tỷ đồng Vụ IPO lớn nhất thuộc về PV Gas với94,75 triệu cổ phần đem đấu giá nhưng chỉ có 64% số cổ phần bán được vơi giá đấu trung bìnhbằng giá khởi điểm 31.000 đồng

Kênh phát hành cổ phiêu riêng lẻ bị tắc vào thời điểm đầu năm 2010 Trong khi đó lãi suất thịtrường thời điểm này lại cao (18-19%, thậm chí 20%), chi phí đầu vào nếu chưa hạ nhiệt sẽ ảnhhưởng đến lợi nhuận biên của doanh nghiệp Giải pháp các doanh nghiệp lựa chọn là chào bánriêng lẻ không phải là mức giá cực kỳ ưu đãi hoặc phát hành trái phiếu chuyển đổi

Khi kinh tế bắt đầu hồi phục, để tài trợ cho các dự án và tăng quy mô vốn hoạt động trong bốicảnh hệ thống NH không có đủ vốn trung, dài hạn để đáp ứng, nhiều DN có phương án phát hành

Trang 12

trái phiếu và đã thành công Số vốn tài trợ trên TTCK bằng trái phiếu đạt 21000 tỷ tăng lên hơn 2lần so với năm 2009.

Trái ngược lại với diễn biến năm 2010, thị trường trái phiếu DN trong năm 2011 lại khá ảmđạm khi môi trường kinh tế cả trong và ngoài nước bất ổn, khiến việc phát hành trái phiếu DNhết sức khó khăn Nhiều DN phải hoãn hoặc hủy kế hoạch phát hành trái phiếu như Tập đoànDầu khí Việt Nam hoãn phát hành 500 triệu USD trái phiếu Theo thống kê của Hiệp hội Thịtrường Trái phiếu Việt Nam (VBMA), năm 2011 ước tính có khoảng 27 đợt phát hành trái phiếuvới khối lượng giao dịch khoảng 7.000 tỷ đồng, chỉ bằng 12,5% so với năm 2010

Tổng vốn tài trợ qua TTCK năm 2011 chỉ đạt 58000 tỷ giảm gần 20000 tỷ so với năm 2010.Đến năm 2012, tổng số vốn tài trợ qua TTCK tiếp tục giảm chỉ còn 41 ngàn tỷ đồng Trongđó:

+ Từ phát hành lần đầu ra công chúng đạt 296 tỷ đồng (giảm 91 % so với 3.250 tỷ đồng năm2011)

+ Từ phát hành cổ phiếu đạt gần 11 ngàn tỷ đồng, chỉ bằng khoảng 1/3 so với năm 2011 Hìnhthức phát hành chủ yếu là phát hành cho cổ đông hiện hữu và phát hành riêng lẻ.Năm 2012 cũnggiống như năm 2011, phát hành rộng rãi ra công chúng rất ít thành công và chỉ có 2 đợt pháthành Điểm lưu ý là so với kế hoạch phát hành, theo số liệu của StoxPlus, chỉ đạt 53% Kế hoạchnày được thông qua tại các ĐHCĐ từ đầu năm 2012.Điều này cho thấy áp lực cần vốn của cácdoanh nghiệp là quá lớn

Theo số liệu thống kê của StoxPlus, có 187 đợt phát hành cổ phiếu thành công trong năm

2012 Khoảng 30% đợt phát hành cổ phiếu là phát hành có thu tiền, tổng số tiền thu về của cácdoanh nghiệp là hơn 8,3 nghìn tỷ VND

+ Bên cạnh đó năm 2012 do tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn, doanh khó vay vốn qua

hệ thống ngân hàng thương mại do lãi suất cao và điều kiện vay chặt chẽ nên có nhiều doanhnghiệp quan tâm và tiếp cận với việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp.Thị trường trong nước, tổng khối lượng phát hành đã dự kiến trước đó là 27.133,45 tỷ đồng,khối lượng phát hành thực tế là 16.144 tỷ đồng

Thị trường quốc tế, Công ty CP Vincom và Vietinbank đã phát hành thành công 550 triệuUSD trái phiếu ra thị trường quốc tế

2.3 Các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân

2.3.1 Kết quả

Kể từ khi chính thức ra mắt - ngày 20/7/2000, số doanh nghiệp (DN) niêm yết đã tăng lênđáng kể, từ con số 41 cuối năm 2005 lên 737 DN vào cuối tháng 6/2013, đó là chưa kể 135 DN

Ngày đăng: 07/05/2014, 21:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tổng số vốn huy động  qua TTCK Việt Nam ( Đơn vị tính: tỷ VND) - Phân tích  thực trạng và triển vọng của hình thức tài trợ vốn qua thị trường chứng khóan Việt Nam
Bảng 2 Tổng số vốn huy động qua TTCK Việt Nam ( Đơn vị tính: tỷ VND) (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w