LỜI CẢM ƠN Sau khoảng thời gian học tập và làm Luận văn với sự giúp đỡ quý báu, tận tình của thầy giáo PGS.TS Bùi Văn Vịnh, PGS.TS Nguyễn Xuân Phú và các thầy giáo, cô giáo trường Đại họ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau khoảng thời gian học tập và làm Luận văn với sự giúp đỡ quý báu, tận tình của thầy giáo PGS.TS Bùi Văn Vịnh, PGS.TS Nguyễn Xuân Phú và các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Thuỷ Lợi, bạn bè đồng nghiệp cùng với sự nỗ lực cố gắng học tập, tìm tòi, nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm thực tế của bản thân, tác giả
đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài " Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Tổng Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam"
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và cán bộ công nhân viên Phòng Đào tạo Đại học & Sau Đại học, Khoa Công trình, Trường Đại học Thủy lợi đã giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Đặc biệt tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Bùi Văn Vịnh, PGS.TS Nguyễn Xuân Phú đã đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp các thông tin khoa học quý báu cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cán bộ phòng tài chính tổng hợp Tổng Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dưng Việt Nam nơi tác giả thu thập tài liệu, gia đình, bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Do hạn chế về thời gian, kiến thức Khoa học và kinh nghiệm thực tế của bản thân chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp và trao đổi tận tình của các thầy cô giáo và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 02 năm 2014
Học viên
Lê Văn Hưng
Trang 2thông tin, tài liệu, bảng biểu, hình vẽ… lấy từ nguồn khác đều được trích dẫn nguồn đầy đủ theo quy định Nếu có gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của nhà trường
Tác giả luận văn
Lê Văn Hưng
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
BẢN CAM KẾT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 5
1.1 Đấu thầu xây dựng và cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 5
1.1.1 Đặc điểm của đấu thầu xây dựng 5
1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 9
1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của doanh nghiệp xây dựng 12
1.3 Những nhân tố tác động đến cạnh tranh đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp 17
1.3.1 Những nhân tố bên ngoài của doanh nghiệp 17
1.3.1.1 Tình hình đối thủ cạnh tranh 17
1.3.1.2 Chính sách của Nhà nước - môi trường pháp lý trong cạnh tranh đấu thầu xây dựng 18
1.3.1.3 Thị trường hàng hóa đầu vào và các nhà cung ứng 19
1.3.1.4 Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và chủ đầu tư 19
1.3.2 Những nhân tố nội bộ của doanh nghiệp 20
1.3.2.1 Nguồn nhân lực 20
1.3.2.2 Khả năng tài chính 21
1.3.2.3 Máy móc thiết bị, công nghệ thi công (kỹ thuật) 22
1.3.2.4 Hoạt động marketing của doanh nghiệp 23
1.3.2.5 Khả năng liên danh, liên kết 23
1.3.2.6 Kỹ thuật lập hồ sơ dự thầu 24
1.4 Tình hình đấu thầu của Việt Nam trong thời gian qua 25
Trang 41.4.1 Những kết quả đạt được về công tác thực hiện đấu thầu trong thời gian
qua 25
1.4.1.1 Tình hình thực hiện đấu thầu .25
1.4.1.2 Hiệu quả đạt được qua đấu thầu 25
1.4.2 Đánh giá về công tác đấu thầu trong thời gian qua 26
1.4.2.1 1Hệ thống pháp lý về đấu thầu đã được hình thành và luôn được hoàn chỉnh cho phù hợp 26
1.4.2.2 Năng lực chủ đầu tư và nhà thầu được cải thiện .27
1.4.2.3 Công tác đấu thầu đã được toàn xã hội quan tâm .27
1.4.3 Những tồn tại trong công tác đấu thầu .28
1.4.3.1 Năng lực các cơ quan quản lý và chủ đầu tư còn yếu kém .28
1.4.3.2 Công tác chuẩn bị cho đấu thầu còn thiếu chất lượng .30
1.4.3.3 Khó khăn của các nhà thầu Việt Nam .30
1.4.3.4 Các văn bản pháp quy về đấu thầu còn một số nội dung cần được điều chỉnh, hoàn thiện .31
1.4.3.5 Công tác đào tạo còn bất cập 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2005-2012 34
2.1 Tổng quan về Tổng Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam 34
2.1.1 Thông tin chung về doanh nghiệp 34
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty 34
2.1.3 Nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động, cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty 36
2.1.3.1 Nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động 36
2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty 37
2.2 Những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Tổng Công cổ phần ty xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam 44
2.2.1 Các nhân tố bên trong 44
Trang 52.2.1.1 Năng lực thiết bị kỹ thuật và công nghệ 44
2.2.1.2 Nguồn nhân lực 45
2.2.1.3 Năng lực marketing 47
2.2.1.4 Năng lực tài chính 48
2.2.2 Các nhân tố bên ngoài 50
2.2.2.1 Môi trường kinh tế, pháp lý 50
2.2.2.2 Chủ đầu tư 51
2.2.2.3 Cơ quan tư vấn giám sát 52
2.2.2.4 Các đối thủ cạnh tranh 53
2.2.2.5 Các nhà cung cấp 54
2.3 Thực trạng cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Tổng Công ty cổ phần xuất khẩu và Xây dựng Việt Nam trong giai đoạn 2005-2012 55
2.3.1 Tình hình đấu thầu của Tổng Công ty trong giai đoạn 2005-2012 55
2.3.2 Kết quả cạnh tranh đấu thầu của Tổng Công ty trong giai đoạn (2005-2012) 58
2.3.3 Đánh giá thực trạng cạnh tranh ĐTXD của Tổng công ty 65
2.3.3.1 Những ưu điểm trong đấu thầu xây dựng của Tổng công ty 65
2.3.3.2 Những tồn tại hạn chế, và phân tích nguyên nhân 67
CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ XÂY DỰNG VIỆT NAM 73
3.1 Định hướng phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của Tổng Công ty 73
3.1.1 Xu hướng phát triển của cạnh tranh đấu thầu xây dựng 73
3.1.2 Định hướng phát triển của Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam 75
3.2 Phân tích các đối thủ cạnh tranh của Tổng Công ty trong thời gian tới 78 3.3 Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của Tổng Công cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng việt nam 82
Trang 63.3.1 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của Tổng công ty
cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam 82
3.3.1.1 Tăng cường vốn đầu tư nhằm hiện đại hóa trang thiết bị máy móc,
kỹ thuật và công nghệ thi công 82 3.3.1.2 Đẩy mạnh nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại nhằm xây dựng chiến lược cạnh tranh đấu thầu dài hạn 84 3.3.1.3 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn .87 3.3.1.4 Đa dạng hóa loại hình và nâng cao chất lượng sản phẩm 88
3.3.2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hồ sơ dự thầu và kỹ thuật đấu thầu của Tổng Công ty 91
3.3.2.1 Nâng cao năng lực xây dựng hồ sơ dự thầu 91 3.3.2.2 Hoàn thiện kỹ năng phân tích giá cạnh tranh, xây dựng các phương án lựa chọn giá thầu hợp lý 93
3.4 Một số kiến nghị đối với Nhà nước trong lĩnh vực cạnh tranh đấu thầu xây dựng cơ bản 95
3.4.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu thầu xây dựng 953.4.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đấu thầu xây dựng 983.4.3 Hoàn thiện nâng cao bộ máy cơ quan quản lý đấu thầu 99
KẾT LUẬN 101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 7XD: Xây dựng CP: Cổ phần KCN: Khu công nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU:
Hình 1 Sơ đồ tổ chức của tổng công ty Vinaconex 38
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp về nguồn nhân lực Tổng Công ty cổ phần xuất
nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam năm 2012 46
Bảng 2.2: So sánh năng lực tài chính giữa Tổng Công ty VINACONEX với
CIENCO 1 và UDIC 48 Bảng 2.3: Một vài chỉ tiêu tài chính của Công ty mẹ giai đoạn 2009-2012 49 Bảng 2.4: Tình hình đầu tư dự án Tổng công Ty VINACONEX năm 2012 56
Bảng 2.5: Tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh từ năm
2005-2007 Tổng Công ty Vinaconex 60
Bảng 2.6: Tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh từ năm
2008-2010 Tổng Công ty Vinaconex 61
Bảng 2.7: Tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh từ năm
2011-20012 của Tổng Công ty Vinaconex 62
Bảng 2.8: Bảng thống kê số lượng trúng thầu Tổng Công ty VINACONEX
giai đoạn 2005-2012 63
Bảng 2.9: Một số dự án tiêu biểu của Tổng cng ty trong giai đoạn 2005-2012
64 Bảng 3.1: Dự kiến kế hoạch sản lượng năm 2013 76
Bảng 3.2: Kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công Ty đầu tư và phát triển
nhà Hà Nội 80
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của công Ty cp đầu tư và phát triển
KCN Sông Đà năm 2012 81
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa buộc các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh hết sức gay gắt Sự thay đổi cơ chế này đã làm cho không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, lúng túng trong sản xuất và kinh doanh, tuy nhiên, có không ít doanh nghiệp đã tìm được những hướng đi đúng đắn, kịp thời đề ra những giải pháp thích hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo lập và phát huy thế mạnh của mình, nhờ đó đã đạt được hiệu quả kinh doanh cao, đứng vững và không ngừng phát triển
Xây dựng cơ bản là một lĩnh vực công nghiệp đặc thù Khác với các lĩnh vực khác, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng diễn ra chủ yếu thông qua hình thức đấu thầu do các chủ đầu tư tổ chức Trên thế giới hình thức đấu thầu xây dựng
đã được áp dụng từ lâu, ở nước ta, từ khi nhà nước ban hành "Qui chế đấu thầu", thì đấu thầu xây dựng mới thực sự trở thành một lĩnh vực cạnh tranh hết sức gay gắt giữa các doanh nghiệp xây dựng Mặt khác, trong những năm gần đây, đã xuất hiện nhiều dự án xây dựng có qui mô lớn, sử dựng vốn ngân sách hoặc vốn vay của các
tổ chức tín dụng nước ngoài đòi hỏi phải tổ chức đấu thầu xây dựng trên cơ sở cạnh tranh Chính vì vậy, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng luôn giành được sự quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp xây dựng
Tổng Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước trên lĩnh vực xây dựng, có quy mô lớn trên địa bàn Hà Nội Trong những năm vừa qua, Tổng Công ty đã có những nỗ lực trên nhiều mặt nhằm nâng cao sức cạnh tranh, phát triển sản xuất và đã giành được nhiều thành tựu hết sức quan trọng, hoàn thành nhiệm vụ được giao, trở thành một trong những doanh nghiệp xây dựng mạnh trên địa bàn thành phố Hà Nội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã giành được, Tổng Công ty vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định, đặc biệt là trong lĩnh vực cạnh tranh đấu thầu xây dựng, đó là, những khó khăn về tài chính, khoa học công nghệ, nhân lực, kinh nghiệm đấu thầu , đây là một trở
Trang 10ngại lớn, có ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài và bền vững của Tổng Công ty Trong bối cảnh hiện nay, trước sự lớn mạnh của các doanh nghiệp xây dựng trong nước, sự xuất hiện của những công ty xây dựng lớn của nước ngoài, sự phát triển của khoa học công nghệ xây dựng cho thấy rằng cạnh tranh đấu thầu xây dựng giữa các doanh nghiệp xây dựng diễn ra rất gay gắt Vì vậy, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu có một vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công và phát triển của các doanh nghiệp xây dựng nói chung
và của Tổng Công cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam
Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả luận văn đã chọn vấn đề " Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Tổng Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam" làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao
học với hy vọng mở rộng khả năng hiểu biết của mình và mong muốn góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển của Tổng Công ty
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm giải quyết ba mục đích chính sau:
- Trình bày một cách có hệ thống, qua đó làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của cạnh tranh đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng;
- Đánh giá thực trạng, khả năng cạnh tranh đấu thầu xây dựng, qua đó tìm ra những ưu điểm, thành tựu và những tồn tại trong công tác đấu thầu xây dựng của Tổng Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao sức cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Tổng công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng, các nhân tố ảnh hưởng và chi phối, thực trạng, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp, trực tiếp là Tổng công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở những vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh đối với Tổng công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam trong việc đấu thầu xây dựng
Về mặt thời gian, luận văn khảo sát hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình cạnh tranh của Tổng công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam trong giai đoạn 2005-2012 và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty trong thời gian tới
4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nội dung nghiên cứu
Luận văn gồm 3 chương :
- Chương 1 : Một số vấn đề lý luận thực tiễn về cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng
- Chương 2 : Thực trạng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của tổng công ty
Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam
- Chương 3 : Những giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Tổng công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử) Bên cạnh đó luận văn
sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: Lấy ý kiến chuyên gia, khảo sát thực tế, phương pháp so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn trình bày một cách hệ thống những lý luận cơ bản về đấu thầu, năng lực canh tranh đấu thầu và những biện pháp nâng cao năng lực canh tranh đấu thầu trong xây dựng
- Từ hệ thống lý luận cơ bản trên, luận văn đã tìm hiểu và áp dụng những lý luận cơ bản đó vào Tổng công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam
Trang 12Qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh thắng thầu và sự phát triển của Tổng Công ty
6 Kết quả dự kiến đạt được
- Trên cơ sở nhận thức về tính cần thiết của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng, luận văn phân tích thực trạng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Tổng công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm, lợi thế, những tồn tại, hạn chế và những vấn đề đang đặt ra hiện nay đối với Tổng Công
ty qua việc tạo lập, phát huy lợi thế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng;
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của Tổng Công ty
Trang 131CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.1 Đấu thầu xây dựng và cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
1.1.1 Đặc điểm của đấu thầu xây dựng
Theo qui định tại mục 2, Điều 4, Chương 1, Luật Đấu thầu được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua ngày 29 thỏng 11 năm 2005, thì: "Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu
để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật này trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế" [17, tr 2] Xét trên phương diện chủ thể tham gia thì đấu thầu được chia làm hai loại đấu thầu trong nước và đấu thầu quốc tế "Đấu thầu trong nước là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu trong nước" [17, tr 2] "Đấu thầu quốc tế là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu nước ngoài và nhà thầu trong nước" [17, tr 2]
Như vậy, đấu thầu xây dựng là quá trình lựa chọn các nhà thầu có năng lực thực hiện những công việc có liên quan tới quá trình tư vấn, xây dựng, mua sắm thiết bị và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình xây dựng nhằm đảm bảo tính hiệu quả kinh tế, các yêu cầu kỹ thuật của dự án Đấu thầu xây dựng là phương
thức đấu thầu được áp dụng rộng rãi đối với hầu hết các dự án đầu tư xây dựng cơ bản
Đấu thầu xây dựng có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể tham gia đấu thầu xây dựng Đấu thầu xây dựng là một
trong những phương thức cạnh tranh nhằm lựa chọn các nhà thầu thực hiện những công việc như: tư vấn, khảo sát thiết kế, thi công xây lắp, mua sắm trang thiết bị cho các công trình, hạng mục công trình xây dựng Xét về thực chất, đây là một hoạt động mua bán mang tính đặc thù, tính đặc thù ở đây được thể hiện qua quá
Trang 14phát từ mối quan hệ cung - cầu, diễn ra giữa hai chủ thể: cạnh tranh giữa bên mời thầu (chủ đầu tư) với các nhà thầu và cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau Trong quá trình tham gia đấu thầu có nhiều chủ thể khác nhau như: chủ đầu tư (bên mời thầu) và các doanh nghiệp xây dựng có khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư Các bên tham gia đấu thầu phải đảm bảo tuân thủ qui định của pháp luật về điều kiện tham gia đấu thầu Đối với chủ đầu tư, phải là đơn vị có đủ năng lực về tài chính, có khả năng tổ chức thực hiện và quản lý dự án Về phía các nhà thầu, đối với nhà thầu trong nước thì phải đáp ứng đủ các điều kiện: có giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh và thực hiện đúng theo đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; hoặc có quyết định thành lập (đối với các đơn vị không có đăng ký kinh doanh) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và thực hiện theo đúng quyết định thành lập Đối với nhà thầu là tổ chức nước ngoài thì phải có đăng ký hoạt động hợp pháp do cơ quan
có thẩm quyền của nước nơi nhà thầu mang quốc tịch cấp Đối với nhà thầu là cá nhân thì: 1) Phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên; 2) Có hộ khẩu thường trú tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp; 3) Có đăng ký hoạt động hợp pháp hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp do cơ quan có thẩm quyền cấp và thực hiện đúng theo đăng ký hoạt động hoặc chứng chỉ chuyên môn; 4) Không ở trong tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang trong thời gian chờ chấp hành các hình phạt của tòa án các cấp Mặt khác, các nhà thầu phải đảm bảo sự độc lập về tài chính, theo
đó, nhà thầu phải là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập; không có cùng lợi ích kinh tế với các tổ chức và cá nhân liên quan [23, tr 93]
Thứ hai, về đối tượng hàng hóa tham gia đấu thầu xây dựng Hàng hóa tham
gia đấu thầu xây dựng là hàng hóa đặc biệt, đó là các dự án xây lắp, các dự án cung ứng hàng hóa, các dự án tư vấn về thiết kế, giám sát, đầu tư… Các nhà thầu thực hiện việc cạnh tranh với nhau để tìm kiếm các cơ hội kinh doanh, đó là: đấu thầu tuyển chọn tư vấn thiết kế; đấu thầu mua sắm hàng hóa, thiết bị; đấu thầu xây lắp; đấu thầu thực hiện lựa chọn đối tác thực hiện dự án Hàng hóa lúc đầu đem ra thị trường chưa được định giá một cách cụ thể, dựa trên các thông số yêu cầu về điều
Trang 15kiện kinh tế - kỹ thuật của dự án, doanh nghiệp và nhà đầu tư thông qua hình thức đấu thầu để xác định giá cả cụ thể của hàng hóa và các yêu cầu cụ thể về kỹ thuật và điều kiện thực hiện để hoàn tất việc mua bán Hoạt động này diễn ra giữa người mua (chủ dự án) với người bán (nhà thầu) và giữa các nhà thầu với nhau nhằm bán được sản phẩm của mình Thông qua cạnh tranh đấu thầu sẽ hình thành giá thầu - giá của hàng hóa đem ra bán đây cũng chính là giá dự toán của công trình
Thứ ba, về phương thức tổ chức đấu thầu, theo qui định của pháp luật có ba
phương thức đấu thầu cơ bản mà chủ đầu tư dự án có thể lựa chọn tổ chức đấu thầu,
đó là: đấu thầu một túi hồ sơ, đấu thầu hai túi hồ sơ và đấu thầu hai giai đoạn
Đấu thầu một túi hồ sơ, là phương thức mà nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu trong một túi hồ sơ Phương thức này được áp dụng đối với đấu thầu mua sắm và xây lắp Đấu thầu hai túi hồ sơ, là phương thức mà nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và
đề xuất về giá trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời điểm Túi hồ sơ đề xuất
kỹ thuật sẽ được chủ dự án xem xét trước Theo đó, những hồ sơ sau khi đánh giá đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất về giá để xem xét tiếp Phương thức này trong lĩnh vực xây dựng thường chỉ áp dụng đối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn
Phương thức đấu thầu hai giai đoạn chỉ áp dụng cho các trường hợp sau:
- Các gói thầu mua sắm và xây lắp có giá từ 500 tỷ đồng trở lên;
- Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệ thiết bị toàn
bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặc biệt phức tạp
- Dự án thực hiện theo hợp đồng chìa khóa trao tay;
Phương thức đấu thầu hai giai đoạn được thực hiện theo qui trình sau:
- Giai đoạn 1: Các nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu sơ bộ trình bày các đề xuất về
kỹ thuật và phương án tài chính cho bên mời thầu Bên mời thầu xem xét, đánh giá
và thảo luận cụ thể với từng nhà thầu nhằm thống nhất về yêu cầu và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhà thầu chuẩn bị và nộp hồ sơ thầu chính thức;
- Giai đoạn 2: Bên mời thầu mời các nhà thầu đã tham gia ở giai đoạn 1 nộp
hồ sơ dự thầu chính thức với đề xuất kỹ thuật đã được bổ sung theo yêu cầu chung
Trang 16của dự án và đề xuất chi tiết về tài chính với đầy đủ nội dung về tiến độ thực hiện, điều kiện thực hiện hợp đồng, giá dự thầu [7, tr 23]
Thứ tư, về hình thức tổ chức đấu thầu Tùy theo từng dự án cụ thể, việc đấu
thầu xây dựng được tổ chức theo hai hình thức cơ bản qui định tại Nghị định 66/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 06 năm 2003 đó là: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế
Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng phổ biến trong đấu thầu Hình thức đấu thầu này không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu về các điều kiện kỹ thuật, thời gian dự thầu Đấu thầu hạn chế, là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ kinh nghiệm và năng lực tham gia đấu thầu Trong trường hợp không có đủ 5 nhà thầu tham dự, bên mời thầu phải báo cáo chủ dự án trình người
có thẩm quyền xem xét, quyết định Trên cơ sở của bên mời thầu về kinh nghiệm và năng lực của các nhà thầu một cách khách quan và công bằng, chủ dự án sẽ quyết định danh sách nhà thầu tham dự đấu thầu Đấu thầu hạn chế chỉ áp dụng khi có một trong các điều kiện sau:
- Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu;
- Do nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tổ chức đấu thầu hạn chế;
- Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế
Thứ năm, về nguyên tắc đấu thầu Khác với các hình thức mua bán hàng hóa
khác, đấu thầu xây dựng phải tuân thủ các nguyên tắc mua bán đặc thù, đó là: nguyên tắc công bằng, bí mật, công khai, có đủ năng lực và trình độ, và đảm bảo cơ
sở pháp lý
Nguyên tắc công bằng thể hiện quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu Theo đó, các nhà thầu phải được đảm bảo đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận thông tin từ chủ đầu tư, bình đẳng trong việc trình bày các giải pháp kinh tế - kỹ thuật của mình trước chủ đầu tư, trong quá trình thực hiện các thủ tục tham gia đấu thầu (nộp hồ sơ, tham gia mở thầu )
Trang 17Nguyên tắc bí mật đòi hỏi chủ đầu tư cũng như các nhà thầu phải giữ bí mật về các thông số trong hồ sơ dự thầu của các nhà thầu như: mức giá bỏ thầu, các giải pháp kỹ thuật của nhà thầu Mục đích của nguyên tắc này là tạo ra tính khách quan
và sự công bằng giữa các nhà thầu với nhau, đồng thời, cũng là biện pháp bảo vệ nhằm tránh thiệt hại cho chủ đầu tư trong trường hợp các nhà thầu bỏ thầu thấp hơn giá dự kiến do có sự rò rỉ thông tin
Nguyên tắc công khai là một trong những yêu cầu bắt buộc trong đấu thầu xây dựng (trừ những công trình đặc biệt, là bí mật quốc gia) Các công trình xây dựng khi đem ra đấu thầu đều phải đảm bảo tính công khai các thông tin cần thiết như: tính năng của công trình, điều kiện của các nhà thầu tham gia đấu thầu, thời gian mở
hồ sơ dự thầu Các thông tin này phải được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng theo qui định của pháp luật Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tạo ra sự công bằng giữa các nhà thầu và thu hút được nhiều nhà thầu, nâng cao chất lượng công tác đấu thầu
Nguyên tắc có đủ năng lực và trình độ đòi hỏi chủ đầu tư và các bên dự thầu phải có năng lực thực sự về kỹ thuật và tài chính để thực hiện những điều kiện cam kết khi tham gia đấu thầu Tuân thủ nguyên tắc này sẽ tránh được thiệt hại cho các bên khi thực hiện các cam kết đã đề ra, qua đó, nâng cao chất lượng, tạo ra sân chơi bình đẳng cho các nhà thầu khi tham gia đấu thầu
Nguyên tắc đảm bảo cơ sở pháp lý đòi hỏi các bên tham gia đấu thầu phải chấp hành các qui định của nhà nước về nội dung, thủ tục đấu thầu và những cam kết trong hợp đồng giao nhận thầu Khi các bên tham gia đấu thầu không tuân thủ nguyên tắc này, chủ dự án và cơ quan quản lý dự án có quyền kiến nghị hủy kết quả đấu thầu
1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Cạnh tranh có nghĩa là "cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau" [3, tr 108] Trong kinh doanh, cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các nhà kinh
Trang 18doanh trên thị trường nhằm chiếm ưu thế trên cùng một đối tượng khách hàng, sản phẩm nhằm giành thắng lợi về phía mình
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu là sự cố gắng giành được quyền thực hiện các dự án thông qua gọi thầu với điều kiện thuận lợi và tối ưu trên cơ sở nguồn nội lực và ngoại lực có khả năng khống chế được của doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích kinh tế - xã hội Cụ thể, cạnh tranh đấu thầu có thể được hiểu trên các khía cạnh sau:
- Theo nghĩa hẹp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu
là quá trình doanh nghiệp đưa ra những giải pháp về kỹ thuật, trang thiết bị, nhân lực, tiến độ thi công, giá bỏ thầu, ưu thế về kinh nghiệm thể hiện tính ưu việt của mình so với nhà thầu khác nhằm thỏa mãn các yêu cầu của bên mời thầu trong việc thực hiện dự án Cách hiểu này chỉ giới hạn ở khâu đấu thầu, chưa chỉ ra được sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh, do đó rất khó xác định được tính toàn diện của cạnh tranh trong quá trình đấu thầu
- Theo nghĩa rộng, cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự ganh đua quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm thông tin, đưa ra các giải pháp
về kỹ thuật, ưu thế về kinh nghiệm, điều kiện thực hiện dự án, giá bỏ thầu nhằm đảm bảo trúng thầu và thực hiện các cam kết theo hợp đồng ký kết với chủ đầu tư Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng thường được hiểu theo nghĩa rộng, nó có một
số đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu xây dựng Cạnh tranh trong
đấu thầu xây dựng thường có nhiều chủ thể tham gia, các chủ thể này có cùng mục tiêu theo đuổi đó là phải giành được những lợi thế về phía mình Các chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu phải tuân thủ các qui định của pháp luật, các thông lệ quốc
tế và các ràng buộc về điều kiện tham gia đấu thầu do cơ quan quản lý dự án đặt ra Các chủ thể khi tham gia đấu thầu đều phải cạnh tranh với nhau, điều này dẫn tới sự hình thành nhiều mối quan hệ cạnh tranh giữa các chủ thể khi tham gia đấu thầu Đó
là, mối quan hệ cạnh tranh giữa người bán và người mua, theo đó, người mua (bên mời thầu) thì muốn mua được công trình xây dựng có chất lượng cao, thời gian thi
Trang 19công ngắn, chi phí hợp lý, về phía những người bán (nhà thầu) thì muốn bán được công trình trong tương lai có giá cao với chi phí hợp lý và có lợi nhuận lớn nhất trong hạn độ bảo đảm các qui chuẩn của xây dựng
Thứ hai, về đối tượng của cạnh tranh đấu thầu xây dựng Khi đánh giá và
quyết định lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư thường căn cứ vào các tiêu chí để xét thầu,
đó là: kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu; khả năng tài chính; trình độ chuyên môn,
kỹ thuật; tiến độ thi công và giá dự thầu Trong đó, bên mời thầu chú ý nhiều nhất tới chất lượng, tính năng ưu việt về kỹ thuật và giá thành sản phẩm, đó cũng chính
là đối tượng cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau
Cạnh tranh bằng chất lượng công trình, là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong việc đề xuất các giải pháp tốt nhất về khoa học - công nghệ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn do bên mời thầu đưa ra Để thắng thầu, doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ nhằm nâng cao chất lượng công trình Chất lượng công trình là một trong những yếu tố quan trọng nhất, nó khẳng định năng lực thi công, uy tín của doanh nghiệp Mặt khác, chất lượng công trình còn góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hoàn thành các mục tiêu kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đề ra và thương hiệu của doanh nghiệp
Cạnh tranh bằng giá dự thầu cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quyết định đến thành công hay thất bại trong đấu thầu xây dựng Do đó, xây dựng được mức giá bỏ thầu hợp lý là yêu cầu hàng đầu quan trong việc đảm bảo tính cạnh tranh và đạt hiệu quả kinh doanh cao của doanh nghiệp Để tạo ra ưu thế cạnh tranh
về giá trong cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh nhạy và linh hoạt trong việc tìm hiểu thông tin về dự án, đối thủ cạnh tranh, mục tiêu của dự án, ưu thế của các doanh nghiệp khác trong cạnh tranh Tùy theo từng công trình cụ thể dựa vào mục tiêu của công ty, tiềm lực tài chính, năng lực thi công từ đó xây dựng chính sách giá khác nhau để quyết định giá bỏ thầu
Cạnh tranh bằng tiến độ thi công Tiến độ thi công thể hiện năng lực của nhà thầu trên các khía cạnh như; trình độ tổ chức và quản lý thi công, khả năng kỹ thuật,
Trang 20trang thiết bị máy móc và nguồn nhân lực Nhà thầu cạnh tranh với nhau qua các tiêu chí này để giành những ưu thế trong đấu thầu Thực hiện đầy đủ các cam kết về tiến độ thi công là điều kiện quan trong để thắng thầu cũng như nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ ba, về hình thức cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng Trong đấu thầu xây
dựng, tồn tại hai hình thức cạnh tranh chủ yếu là: cạnh tranh theo chiều rộng và cạnh tranh theo chiều sâu
Cạnh tranh theo chiều rộng (cạnh tranh có giới hạn) bao gồm các yếu tố chính như: Đa dạng hóa các công trình xây dựng mà doanh nghiệp kinh doanh trên cơ sở nguồn lực hiện có; cải tiến phương thức thanh toán và các điều kiện thi công trong hợp đồng nhận thầu; nâng cao năng lực xây dựng hồ sơ dự thầu, đặc biệt là hoạt động giới thiệu và thông tin về doanh nghiệp; đổi mới công tác tổ chức thi công; tăng cường hoạt động tìm kiếm thông tin kinh tế; đẩy mạnh hoạt động marketing, truyền thông
Cạnh tranh theo chiều sâu (cạnh tranh không có giới hạn) là sự đầu tư của doanh nghiệp thông qua việc nâng cấp thiết bị thi công, nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ của khoa học - công nghệ vào thi công, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khoa học và công nhân, viên chức trong doanh nghiệp Cạnh tranh theo chiều sâu thực chất là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thông qua việc đầu tư nghiên cứu nhằm nâng cao hàm lượng khoa học - kỹ thuật của hàng hóa chào bán nói riêng (công trình) và năng lực khoa học của doanh nghiệp nói chung
Trong thực tế, doanh nghiệp thường thực hiện cả hai hình thức trên để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
1.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp của doanh nghiệp xây dựng
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp thường được đánh giá qua các tiêu chí như: năng lực tài chính, số lượng công trình trúng thầu, giá trị công trình trúng thầu; tỷ lệ thắng thầu trong các dự án; chỉ tiêu về lợi nhuận của doanh
Trang 21nghiệp; chỉ tiêu về chất lượng công trình; chỉ tiêu về kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu Cụ thể:
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thường được đánh giá qua các chỉ tiêu sau đây:
* Khả năng thanh toán hiện hành
Tài sản lưu động Khả năng thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
* Khả năng thanh toán nhanh
Tài sản lưu động - Hàng hóa tồn kho Khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
* Khả năng thanh toán tức thời
Tiền mặt Khả năng thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
- Lợi nhuận của doanh nghiệp Hệ số doanh lợi bao gồm:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu =
Doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh = Vốn sản xuất kinh doanh
Trang 22Hệ số này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp, hệ số này tỷ lệ thuận với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Số lượng công trình trúng thầu và giá trị công trình trúng thầu
Tiêu chí này phản ánh một cách khái quát kết quả, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động đấu thầu, tình hình dự thầu, kết quả hoạt động đấu thầu nói riêng và kết quả kinh doanh nói chung của doanh nghiệp trong năm Số lượng công trình trúng thầu phản ánh khả năng và qui mô của doanh nghiệp trong cạnh tranh đấu thầu Giá trị trúng thầu hằng năm của doanh nghiệp là tổng giá trị của tất cả các công trình (kể cả gói thầu trong hạng mục công trình) mà doanh nghiệp đã trúng thầu trong năm Giá trị công trình trúng thầu trong năm phản ánh năng lực và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong năm Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ công tác đấu thầu của doanh nghiệp có hiệu quả và ngược lại
- Tỷ lệ trúng thầu trong các dự án
Tiêu chí này phản ánh năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp, nó được xác định dựa trên hai chỉ tiêu: theo số công trình và theo giá trị công trình trong năm Chỉ số này tỷ lệ thuận với năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp Tỷ lệ này được tính như sau:
* Tính theo số công trình
Σ Ctt P1 =
Trang 23* Tính theo giá trị công trình
Σ Gtt P2 =
Σ Gdt
x 100%
Trong đó:
P2: Tỷ lệ trúng thầu theo giá trị công trình
Gtt: Giá trị công trình trúng thầu
Gdt: Giá trị công trình dự thầu
- Chất lượng dự án
Chất lượng các dự án chính là chất lượng hàng hóa mà doanh nghiệp bán ra Chất lượng dự án là tổng hợp các đặc tính theo yêu cầu của sản phẩm, của qui trình xây dựng và của người sử dụng Chỉ tiêu về chất lượng các dự án đó là sự đáp ứng các yêu cầu kinh tế - kỹ thuật của dự án Trong lĩnh vực xây dựng, chất lượng sản phẩm chính là chất lượng các công trình xây dựng, nó biểu hiện ở công năng sử dụng, độ an toàn, tuổi thọ, tính kinh tế, tính kỹ thuật và mỹ thuật của công trình Với sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện nay, cạnh tranh thông qua chất lượng các dự án là sự cạnh tranh hết sức gay gắt và không có giới hạn Nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nâng cao chất lượng các dự án là việc làm thường xuyên của doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp
Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết định chất lượng của công trình, là yếu tố quan trọng, có tác động lớn đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong công tác đấu thầu Đây là yếu tố hàng đầu quyết định đến uy tín trên thương trường, tiến độ thực hiện dự án và năng lực thi công của doanh nghiệp Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp được xác định dựa trên một số tiêu chí sau:
- Khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của bên mời thầu;
- Tính hợp lý, tính tối ưu và tính khả thi của các giải pháp kỹ thuật;
- Khả năng đáp ứng các yêu cầu về an toàn lao động, vệ sinh môi trường;
Trang 24- Khả năng đáp ứng của thiết bị thi công (số lượng, chủng loại, chất lượng, công nghệ, tiến độ huy động )
- Uy tín và kinh nghiệm của nhà thầu
Khi đánh giá các tiêu chí để lựa chọn nhà thầu, chủ dự án không chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật, giá công trình do doanh nghiệp đưa ra mà chủ đầu tư còn xem xét đến uy tín trên thương trường và kinh nghiệm của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dự án tương tự trước đó Uy tín của nhà thầu được thể hiện qua các tiêu chí như: uy tín về thương hiệu, uy tín về năng lực thi công, uy tín về năng lực tài chính và đội ngũ cán bộ, công nhân viên lành nghề Đó là những yếu tố hết sức quan trọng tác động đến khả năng trúng thầu của doanh nghiệp, vì vậy, doanh nghiệp luôn xem việc xây dựng thương hiệu, uy tín trên thương trường là yếu tố hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển của mình-
- Giá bỏ thầu
Giá bỏ thầu có tác động rất lớn đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong quá trình tham gia đấu thầu Khi tham gia dự thầu, các doanh nghiệp mong muốn đưa ra một mức giá hợp lý, thấp hơn giá của đối thủ cạnh tranh nhằm lôi kéo
sự chú ý của chủ đầu tư, điều này làm cho việc cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp diễn ra hết sức khốc liệt
Khác với các sản phẩm tiêu dùng thông thường, giá của công trình xây dựng được xác định trước khi có công trình và được xác định thông qua đấu thầu Giá công trình xây dựng được ghi trong hồ sơ dự thầu và được gọi là giá bỏ thầu Khả năng cạnh tranh về giá của nhà thầu có thể được xác định qua các tiêu chí sau:
Gi
KG =
GA Trong đó:
KG: Là hệ số cạnh tranh về giá của nhà thầu
GA: Là giá gói thầu
Gi: Là giá dự thầu của nhà thầu thứ i (i = 1 ÷ m)
Trong thực tế, giá bỏ thầu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như:
Trang 25- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nơi thực hiện dự án, đó là: đường giao thông, điện, nước, khả năng khai thác vật tư tại chỗ, trình độ dân trí;
- Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của dự án,
- Tiến độ thực hiện dự án
Đối với những dự án xây dựng lớn, thời gian triển khai thường kéo dài, do đó nảy sinh nhiều vấn đề như: trượt giá vật tư, chi phí quản lý cao, công trình chậm được đưa vào sử dụng ảnh hưởng đến tính hiệu quả của dự án Vì vậy, chủ đầu tư thường rất quan tâm đến tiến độ thực hiện dự án của doanh nghiệp và đây là một trong những tiêu chí để xem xét khả năng trúng thầu Tiến độ thực hiện dự án xây dựng thường được xem xét trên các khía cạnh:
- Khả năng đảm bảo tiến độ theo qui định đã cam kết;
- Tính hợp lý về tiến độ hoàn thành các hạng mục công trình liên quan;
- Khả năng rút ngắn tiến độ thi công
1.3 Những nhân tố tác động đến cạnh tranh đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp
1.3.1 Những nhân tố bên ngoài của doanh nghiệp
1.3.1.1 Tình hình đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp Số lượng, năng lực và uy tín của doanh nghiệp tham gia dự thầu sẽ phản ánh mức độ quyết liệt của quá trình cạnh tranh đấu thầu Muốn thắng thầu, doanh nghiệp tham gia dự thầu phải thể hiện sự vượt trội của mình trước các đối thủ cạnh tranh Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu đối thủ cạnh tranh có tác động rất lớn đến việc quyết định giá bỏ thầu, đề xuất các giải pháp thi công của nhà thầu Khi tìm hiểu đối thủ cạnh tranh cần chú ý đến một số vấn đề sau:
- Năng lực tài chính của đối thủ;
- Khả năng thi công, dự báo tiến độ thực hiện dự án, công nghệ mà đối thủ sẽ
sử dụng trong quá trình thi công;
- Mức giá thấp nhất, cao nhất mà đối thủ có thể bỏ thầu
Trang 26Trong những năm gần đây, trên thị trường xây dựng nước ta đã xuất hiện nhiều nhà thầu nước ngoài với năng lực tài chính dồi dào, máy móc thiết bị và công nghệ thi công hiện đại đã làm cho sự ganh đua trong đấu thầu xây dựng trở nên khốc liệt Muốn giành được thắng lợi trong các dự án lớn có sử dụng vốn của nước ngoài và có nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham gia dự thầu đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải liên kết với nhau, phát huy lợi thế của mình để cạnh tranh với các nhà thầu nước ngoài
1.3.1.2 Chính sách của Nhà nước - môi trường pháp lý trong cạnh tranh đấu thầu xây dựng
Chính sách của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp xây dựng nói riêng Vai trò của nhà nước thể hiện qua việc đề ra chính sách (chính sách thuế, chính sách ưu đãi đối với các dự án, chính sách phát triển ngành, vùng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp)
và ban hành các qui định về khung giá vật tư, thiết bị; lương công nhân, các qui chuẩn về kỹ thuật Đây là những yếu tố hết sức quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Chính sách, pháp luật có tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Sự tác động của pháp luật đối với doanh nghiệp trong cạnh tranh đấu thầu thể hiện trên một số phương diện sau:
- Pháp luật duy trì sự bình đẳng cho các doanh nghiệp trong cạnh tranh đấu thầu, đảm bảo cho hoạt động cạnh tranh đấu thầu diễn ra một cách lành mạnh;
- Pháp luật là công cụ của nhà nước nhằm điều chỉnh hoạt động cạnh tranh đấu thầu và là phương tiện để doanh nghiệp bảo vệ mình trước sự xâm hại của chủ thể khác;
- Hệ thống pháp luật rõ ràng, bộ máy thi hành pháp luật hoạt động có hiệu quả, hiệu lực, không cửa quyền, tham ô, tham nhũng là điều kiện hết sức quan trọng để doanh nghiệp tận dụng triệt để cơ hội đầu tư, tiết kiệm thời gian và chi phí trong sản xuất kinh doanh, đây là yếu tố quan trọng, tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu xây dựng
Trang 271.3.1.3 Thị trường hàng hóa đầu vào và các nhà cung ứng
Thị trường vật tư đầu vào và các nhà cung ứng có tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Trong quá trình thực hiện dự án, doanh nghiệp thường phải mua nhiều vật tư, thiết bị, nhân lực để tổ chức thi công công trình Giá
cả của các loại hàng hóa, dịch vụ này thường có nhiều thay đổi dưới sự tác động của qui luật cung cầu, chính sách phát triển của các nhà cung cấp Giữa các nhà cung ứng và doanh nghiệp xây dựng thường có sự hợp tác, thương lượng với nhau về giá
cả, chất lượng và thời hạn giao hàng phương thức thanh toán trên cơ sở quan hệ bình đẳng và tôn trọng qui luật cung - cầu Tuy nhiên, trước sự biến động của thị trường hàng hóa, dịch vụ, với ưu thế của mình, những nhà cung ứng hàng hóa dịch
vụ thường tạo ra nhiều áp lực đối với các doanh nghiệp xây dựng nhằm thu được lợi nhuận cao Các áp lực đó có thể là tăng giá bán, kéo dài thời hạn giao hàng, thay đổi chủng loại, số lượng hàng hóa hoặc liên kết với các doanh nghiệp khác nhằm tạo ra
sự khan hiếm giả tạo của hàng hóa Đây là những nhân tố có tác động lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Muốn tăng cường năng lực cạnh tranh, giảm bới
sự phù thuộc vào sự biến động của thị trường hàng hóa và các nhà cung ứng, đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược xác định bạn hàng dài hạn, giữ mối quan hệ tốt với các nhà cung ứng và làm tốt công tác dự báo thị trường, nhằm tạo ra sự đa dạng và chủ động trong việc mua bán hàng hóa đầu vào cho các dự án
Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng (nhà cung ứng vốn), ngoài việc xác lập mối quan hệ tốt, doanh nghiệp còn phải thể hiện được sự minh bạch, tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn của mình, xác lập mối quan hệ chặt chẽ với nhiều ngân hàng và tổ chức tín dụng để huy động được nguồn vốn lớn, đủ sức tham gia đấu thầu các dự án lớn
1.3.1.4 Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và chủ đầu tư
Đây là mối quan hệ hết sức nhạy cảm, có tác động đến cạnh tranh đấu thầu cũng như trong quá trình thực hiện nếu như dự án trúng thầu Hiện nay, pháp luật đã
có những qui định chặt chẽ về việc quản lý dự án, mối quan hệ giữa chủ đầu tư với các nhà thầu, trình tự, thủ tục đấu thầu, thanh lý hợp đồng
Trang 28Tuy nhiên, trong thực tế, vai trò của chủ đầu tư dự án đối với doanh nghiệp vẫn rất lớn Với tư cách là chủ đầu tư, họ có quyền lựa chọn tư vấn để đánh giá nhà thầu, vì vậy, sự "ưu ái" của chủ đầu tư đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cho điểm nhà thầu khi xét thầu cũng như trong quá trình thực hiện dự án về sau Trong những năm vừa qua, mặc dù nhà nước đã có nhiều qui định nhằm tạo ra sự bình đẳng giữa các nhà thầu và chủ đầu tư với các nhà thầu, nhưng trong thực tế, sự thiên vị của chủ đầu tư đối với một hoặc một số liên danh nhà thầu trong đấu thầu
đã tạo ra môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, đẩy sự cạnh tranh giữa các nhà thầu trở nên gay gắt, tạo ra sự thiếu minh bạch và lành mạnh trong đấu thầu xây dựng
1.3.2 Những nhân tố nội bộ của doanh nghiệp
1.3.2.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công hay thất bại trong kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn nhân lực của doanh nghiệp thường được xem xét dựa trên các cấp độ sau:
- Nguồn nhân lực cấp cao
Nguồn nhân lực cấp cao của doanh nghiệp là người hoạch định chính sách và
tổ chức thực hiện chiến lược phát triển của công ty hoặc là những người am hiểu có trình độ chuyên môn sâu, vai trò của họ rất quan trọng, có tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh Vai trò này thể hiện qua việc họ là người trực tiếp xây dựng, sử dụng các công cụ để hiện thực hóa chính sách phát triển doanh nghiệp trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, là người có khả năng đề ra các giải pháp tối ưu về kinh tế và kỹ thuật có lợi cho doanh nghiệp Đội ngũ cán bộ cấp cao có trình độ chuyên môn, trình độ quản lý, năng động, sáng tạo là yếu tố hết sức quan trọng, tác động rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả của cạnh tranh trong đấu thầu nói riêng Chính vì vậy, xây dựng nguồn nhân lực cấp cao luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp hiện nay
- Cán bộ cấp trung gian
Trong các doanh nghiệp xây dựng, họ là các đội trưởng thi công, kỹ sư trưởng,
Trang 29trưởng các phòng ban Với cương vị này, họ là người thừa hành kế hoạch, mệnh lệnh của cấp trên và lãnh đạo cấp dưới thực hiện các kế hoạch, mệnh lệnh đó Đội ngũ cán bộ này đóng vai trò rất quan trọng, là nhân tố tác động lớn đến quá trình thực hiện các dự án đúng tiến độ, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, an toàn lao động
- Cán bộ cấp cơ sở
Họ là những nhà quản trị cấp cuối cùng trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, thường đảm nhiệm các chức danh đốc công, tổ trưởng, trưởng ca Họ có nhiệm vụ hướng dẫn, đôn đốc, chỉ đạo công nhân thực hiện các công việc cụ thể nhằm hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do doanh nghiệp đặt ra Đội ngũ này đóng vai trò quan trọng, công việc của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, tiến độ của công trình, kịp thời đề xuất những kiến nghị, giải pháp hợp lý nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công và tiết kiệm chi phí tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp Mặt khác, là những người có quan hệ trực tiếp với công nhân, vì vậy, họ có thể dễ dàng nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, động viên và chăm lo đến đời sống của công nhân, qua đó, tạo ra sự ổn định và đồng thuận trong doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu chung
- Người lao động trực tiếp trong doanh nghiệp (công nhân)
Khi đánh giá khả năng của doanh nghiệp, bên mời thầu thường chú ý rất nhiều đến lực lượng lao động trực tiếp của doanh nghiệp, họ là công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên trên công trường Đội ngũ lao động lành nghề, có kinh nghiệm, cơ cấu hợp lý là một lợi thế của doanh nghiệp trong cạnh tranh đấu thầu Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, chăm lo đến đời sống của người lao động là vấn đề quan tâm hàng đầu nhằm tạo ra sự ổn định, tăng cường uy tín và năng lực của doanh nghiệp
1.3.2.2 Khả năng tài chính
Năng lực tài chính có tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp Năng lực tài chính thể hiện ở qui mô nguồn vốn tự có, khả năng huy động vốn, hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh và có cơ cấu hợp lý giữa vốn cố định và vốn lưu động
Trang 30Doanh nghiệp xây dựng có khả năng tài chính cao sẽ có tác động tích cực đến công tác đấu thầu nói riêng cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung Một mặt, nó giúp cho doanh nghiệp đảm bảo tài chính để thực hiện các dự án kinh doanh, mặt khác, nó tạo niềm tin cho chủ đầu tư về khả năng hoàn thành dự án và là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp có thể huy động vốn bên ngoài từ ngân hàng và các nhà đầu tư khác
Trong đấu thầu xây dựng, năng lực tài chính của nhà thầu là một yếu tố quan trọng, là tiêu chuẩn để chấm điểm đánh giá năng lực nhà thầu Mặt khác, với năng lực tài chính vững mạnh, doanh nghiệp có thể chủ động lựa chọn các phương án bỏ thầu với giá hợp lý để cạnh tranh với nhà thầu khác
Ở nước ta hiện nay, qua thực tiễn đấu thầu quốc tế, xét trên phương diện tài chính, các doanh nghiệp trong nước thường không tỏ rõ được ưu thế của mình trước các doanh nghiệp nước ngoài Do đó, để trúng thầu các doanh nghiệp trong nước thường phải liên danh với nhà thầu nước ngoài và thường phải chịu nhiều thiệt thòi trong liên danh này
1.3.2.3 Máy móc thiết bị, công nghệ thi công (kỹ thuật)
Máy móc thiết bị và công nghệ thi công là một bộ phận tài sản quan trọng của doanh nghiệp, đồng thời, nó cũng là thước đo trình độ kỹ thuật, năng lực thi công của doanh nghiệp Do đó, đây là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp
Khi đánh giá năng lực thi công để chấm thầu, chủ đầu tư thường xem xét yếu
tố máy móc thiết bị và công nghệ thi công trên một số khía cạnh sau:
- Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ Biểu hiện ở công nghệ sản xuất, năm sản xuất, hãng sản xuất, công suất, thời gian sử dụng
- Tính đồng bộ của máy móc, thiết bị và công nghệ Biểu hiện ở sự phù hợp giữa các loại máy móc thi công với nhau và giữa máy móc thi công với công nghệ thi công; giữa chất lượng, tính phức tạp của sản phẩm do công nghệ đó tạo ra
- Tính hiệu quả trong sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ Biểu hiện ở khả năng sử dụng có hiệu quả máy móc của doanh nghiệp, đó là, khả năng làm chủ, khai
Trang 31thác có hiệu quả máy móc với chi phí thấp và khấu hao hợp lý
- Khả năng đổi mới máy móc và công nghệ Đây là tiêu chí quan trọng khi xem xét năng lực kỹ thuật, đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu, đầu tư mua sắm máy móc và công nghệ Quá trình này, một mặt cho phép doanh nghiệp tiếp cận với máy móc kỹ thuật, công nghệ thi công hiện đại, điều này làm tăng năng lực thi công của doanh nghiệp, mặt khác, nó tạo nên uy tín kinh doanh, giảm được chi phí và làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.2.4 Hoạt động marketing của doanh nghiệp
Hoạt động quảng cáo, tiếp thị là một công việc quan trọng nhằm xây dựng hình ảnh, quảng bá sản phẩm mà doanh nghiệp chào bán Đây là một hoạt động quan trọng có tác động lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu xây dựng
Với hoạt động sản xuất kinh doanh đặc thù, sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng cũng mang tính đặc thù, nó gắn liền với danh tiếng của doanh nghiệp Do đó, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu gắn liền với hoạt động quảng cáo, tiếp thị
Hoạt động quảng cáo, tiếp thị đòi hỏi phải đảm bảo tính chính xác, tính kịp thời của thông tin về doanh nghiệp cũng như thị trường; thường xuyên tìm hiểu, tiếp xúc với các chủ dự án, bạn hàng, đối tác và với các cơ quan truyền thông nhằm tuyên truyền, quảng cáo về doanh nghiệp mình Gây dựng danh tiếng cho doanh nghiệp là một việc làm hết sức khó khăn, tuy nhiên, khi đã gây dựng được danh tiếng, thương hiệu có uy tín thì nó trở thành một trong những nhân tố hết sức quan trọng, có tác động lớn, quyết định không nhỏ đến việc thắng thầu của doanh nghiệp
1.3.2.5 Khả năng liên danh, liên kết
Liên danh, liên kết là sự kết hợp giữa các pháp nhân để tạo ra một pháp nhân mới nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp về kinh tế - kỹ thuật để thực hiện một mục tiêu kinh doanh nhất định
Đối với những dự án vượt quá năng lực thực hiện của mình, doanh nghiệp thường liên danh, liên kết với nhau để tăng cường năng lực thi công và khả năng
Trang 32cạnh tranh của mình Quá trình liên danh, liên kết có thể được thực hiện theo chiều ngang và theo chiều dọc Liên danh, liên kết theo chiều ngang là sự hợp tác của doanh nghiệp cùng ngành với nhau để thực hiện các dự án lớn Liên danh, liên kết theo chiều dọc là liên kết giữa doanh nghiệp xây dựng với các doanh nghiệp khác (ví dụ với doanh nghiệp sản xuất nội thất, khai thác vật liệu xây dựng, thi công điện nước) với mục đích giảm giá thành, khai thác, sử dụng một cách tối đa máy móc, công nghệ
Mở rộng các hình thức liên danh, liên kết là một xu hướng đang diễn ra mạnh
mẽ trong các doanh nghiệp xây dựng Đây là sự thích ứng của doanh nghiệp trước đòi hỏi của cơ chế thị trường Hiện nay, trong đấu thầu xây dựng, liên danh, liên kết diễn ra theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và dưới các hình thức chủ yếu như:
- Liên danh, liên kết tham gia dự thầu Đây là hình thức các nhà thầu hợp tác, liên kết với nhau thành một nhà thầu để tham gia dự thầu Nhà thầu mới có năng lực mạnh về tài chính, nhân lực và kỹ thuật dựa trên năng lực của các nhà thầu liên kết
- Liên danh, liên kết hình thành các tập đoàn xây dựng Đó là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp xây dựng để hình thành nên một tập đoàn lớn với tiềm lực kinh tế
và kỹ thuật vững mạnh nhằm khai thác hết tiềm năng, thế mạnh của các thành viên
và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.2.6 Kỹ thuật lập hồ sơ dự thầu
Kỹ thuật lập hồ sơ dự thầu có ảnh hưởng lớn tới việc thắng thầu của doanh nghiệp, đây là bước đầu tiên trong quá trình tham gia dự thầu, nhà thầu có thể bị loại ngay vòng đầu nếu như không đáp ứng được yêu cầu của bên mời thầu như đã thỏa thuận
Để lập hồ sơ dự thầu tốt, đòi hỏi phải nghiên cứu một cách kỹ lưìng hồ sơ mời thầu, đó là các yếu tố như: môi trường đấu thầu, khảo sát địa điểm thực hiện dự án, lập phương án tổ chức thi công, xây dựng giá đấu thầu
Xây dựng hồ sơ dự thầu là một việc làm hết sức phức tạp, thường diễn ra trong một khoảng thời gian hạn chế, chất lượng hồ sơ dự thầu là một trong những tiêu chí
Trang 33để bên mời thầu xem xét khi xét thầu, vì vậy, công tác này thường do những người
am hiểu trong doanh nghiệp đảm nhận
1.4 Tình hình đấu thầu của Việt Nam trong thời gian qua
1.4.1 Những kết quả đạt được về công tác thực hiện đấu thầu trong thời gian qua
1.4.1.1 Tình hình thực hiện đấu thầu
Theo số liệu thông kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư, năm 2012 cả nước có 30189 gói thầu thuộc lĩnh vực xây dựng (trong đó lĩnh vực mua sắm hàng hóa chiếm 27.71%, lĩnh vực tư vấn chiếm 11.78%) Tổng giá trị gói thầu là 47666.9 tỷ đồng, tổng giá trị trúng thầu 45584.2 tỷ đồng, chênh lệch giữa gói thầu và giá trúng thầu là
2084 tỷ đồng chiếm 4.37%
Số gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi chiếm 13,28%, hạn chế chiếm 17,1%, chỉ định thầu chiếm 50,72% Có 736 (trong 1294) dự án nhóm A áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi bằng 56,88% và 1292(trong 3820) dự án nhóm B đấu thầu hạn chế bằng 33,82% có 13730 dự án nhóm C áp dụng hình thức chỉ định thầu
và tự thực hiện bằng 50,72% so với tổng số gói thầu
1.4.1.2 Hiệu quả đạt được qua đấu thầu
Trang 34dựng các dự án lớn
Các nhà thầu có điều kiện để khẳng định mình ở hiện tại và trong tương lai, có
cơ hội để cạnh tranh với nhau trên thương trường trong nước và quốc tế
1.4.2 Đánh giá về công tác đấu thầu trong thời gian qua
1.4.2.1 1Hệ thống pháp lý về đấu thầu đã được hình thành và luôn được hoàn chỉnh cho phù hợp
Quy chế đấu thầu ở nước tương đối phù hợp với thông lệ đấu thầu trên thế giới, đặc biệt có những nội dung hoàn toàn phù hợp với các quy định của một số nhà tài trợ như WB, ADB,
Mặc dù quy chế đấu thầu còn có một số nội dung cần được điều chỉnh, sửa đổi, song thời gian qua quy chế đấu thầu đã thực sự là cơ sở pháp lý góp phần to lớn trong quản lý hoạt động đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng
Bên cạnh quy chế đấu thầu, gần đây chung ta đã ban hành các văn bản hướng dẫn và các biểu mẫu cụ thể nên những quy định đã sớm được xã hội thừa nhận và thực hiện
Những năm qua với sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước đến công việc đấu thầu nên đã làm hài hòa thủ tục đấu thầu của nhà nước đối với các tổ chức tài trợ quốc tế
Nhà nước tăng cường phân cấp trong đấu thầu Các hoạt động : tổ chức đấu thầu, đánh giá xét chọn nhà thầu, phê duyệt kết quả đấu thầu, được phân cấp nhiều hơn cho các cấp thuộc các bộ ngành địa phương Nhà nước chỉ tập trung hướng dẫn, kiểm tra thực hiện theo quy định trong quản lý đấu thầu Phân định rõ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân trong quá trình lựa chọn nhà thầu
Thay đổi phân cấp thẩm định kế hoạch đấu thầu : Bộ Kế Hoạch và đầu tư chỉ tập trung vào các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương đầu
tư Do vậy số lượng dự án và số lượng gói thầu do Bộ kế hoạch và đầu tư thẩm định
về kế hoạch đấu thầu giảm nhiều so với các năm trước, các dự án còn lại được phân cho các bộ ngành, địa phương
Trang 351.4.2.2 Năng lực chủ đầu tư và nhà thầu được cải thiện
Thời gian qua, Bộ Kế hoạch và đầu tư đã tổ chức nhiều lớp tập huấn phổ biến nghị định 66/CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung quy chế đấu thầu, đồng thời phối hợp với các bộ ngành địa phương tham gia phổ biến quy chế đấu thầu Ngoài
ra, Bộ kế hoạch và Đầu tư cũng thường xuyên trao đổi với nhiều đơn vị để giải đáp những vướng mắc về đấu thầu, tạo điều kiện để các bộ, ngành, địa phương, các đơn
vị quán triệt hơn và thống nhất trong quá trình thực hiện các qui định của nhà nước
về đấu thầu
Sau một thời gian thực hiện quy chế đấu thầu, chúng ta đã có một sự trưởng thành đáng kể Một số Bộ, Tổng công ty đã tự xây dựng các quy trình đấu thầu, mẫu biểu để áp dụng thống nhất trong phạm vi của mình
Đội ngũ chủ đầu tư, ban quản lý dự án mặc dù còn những tồn tại, song so với trước đây đã trưởng thành nhiều trong việc tổ chức các cuộc đấu thầu, đánh giá lựa chọn nhà thầu, kí kết hợp đồng
Đặc biệt, năng lực các nhà thầu Việt Nam đã có sự trưởng thành đáng kể Từ chỗ nhà thầu Việt Nam chỉ làm thầu phụ cho nhà thầu nước ngoài, sau đó tham gia liên doanh với tỷ lệ nhỏ, nay một số các cuộc đấu thâu quốc tế công trình xây lắp, nhà thầu Việt Nam đã giành thắng lợi trúng thầu
Sự trưởng thành của nhà thầu Việt Nam còn vượt ra ngoài phạm vi quốc gia Nhà thầu Việt Nam đã trúng thầu ở Lào, Campuchia, Philippines Một số nhà thầu
đủ sức đảm đương chức năng tổng thầu ( làm cả các công việc thuộc lĩnh vực tư vấn, cung cấp hàng hóa và xây lắp)
1.4.2.3 Công tác đấu thầu đã được toàn xã hội quan tâm
Công việc đấu thầu không chỉ thuộc trách nhiệm của Chủ đầu tư, cơ quan quản
lý hay nhà thầu mà toàn xã hội đều quan tâm tới vấn đề này vì yêu cầu của quản lý liên quan tới việc chi tiêu và sử dụng tiền vốn Nhà nước
Các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày đều bám sát các cuộc đấu thầu Vai trò của công luận làm cho công tác đấu thầu ngày cang được công khai, công băng, minh bạch
Trang 361.4.3 Những tồn tại trong công tác đấu thầu
1.4.3.1 Năng lực các cơ quan quản lý và chủ đầu tư còn yếu kém
Thực tế công tác đấu thầu trong nhưng năm qua cho thấy năng lực của cơ quan quản lý và cơ qun thực hiện đấu thầu còn nhiều bất cập, có sự nhận thức chưa đầy
đủ về nội dung của Quy chế đấu thầu Một số cán bộ tham gia chủ đầu tư, ban quản
lý con thiếu tính chuyên nghiệp, chưa được đào tạo đầy đủ, thiếu kinh nghiệm nên kết quả còn hạn chế
Phần lớn các biểu hiện vi phạm quy chế đấu thầu là do chưa hiểu về các qui định trong đấu thầu thể hiện ở việc bố trí nhân lực thực hiện công tác đấu thầu của các Chủ đầu tư, ban quản lý dự án còn kém về khả năng chuyên môn dẫn đến những sai lầm không đáng có
Cũng không ít trường hợp có nhận thức nhưng vẫn thực hiện không đúng như : mở thầu chậm, chỉ định thầu không đúng quy định hoặc vượt thẩm quyền cho phép, tổ chức đấu thầu mang tính hình thức, đặc biệt là áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế
Công tác chỉ đạo của cấp có thẩm quyền chưa sát và chưa chặt chẽ Sự lạm dụng hình thức đấu thầu hạn chế còn diễn ra ở một số địa phương, hiện tượng chia nhỏ gói thầu không đúng quy định còn phổ biến, chỉ định thầu không trên cơ sở kế hoạch đấu thầu, không có quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu một số gói thầu, đấu thầu hai giai đoạn kéo dài thời gian, gây khiếu kiện không đáng có, bổ sung thiết kế ban đầu không chuẩn xác diễn ra khá phổ biến, một số hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu quá đơn giản, thiếu điều kiện chi tiết gây khó khăn trong quá trình thực hiện, khâu giám sát thực hiện hợp đồng thiếu chặt chẽ
Một số nhà thầu chưa quen với công tác đấu thầu, hoặc tìm mọi cách để trúng thầu, hy vọng vào mối quan hệ sau này với bên mời thầu hoặc tư vấn giám sát hoặc cùng một lúc trúng nhiều công trình trong khi năng lực thi công, thiết bị thi công, năng lực tài chính không đảm bảo tiến độ Đây là vấn đề có thật trong đấu thầu tuy nhiên nó có ở mức độ từng nơi, từng lúc và không giống nhau, cũng như không phải tất cả đấu thầu là tiêu cực Vấn đề này có nguồn gốc từ trước đây khi chỉ định thầu
Trang 37là rất phổ biến đó là việc để lại tỷ lệ % Khi có điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng cùng với quy chế đấu thầu, đa số các dự án bắt buộc phải thực hiện đấu thầu, hiện tượng tiêu cực vẫn còn đặc biệt là đấu thầu trong nước, từ đó xảy ra “đấu thầu giả” hay nói cách khác đấu thầu chỉ là hình thức, nhất là khi đấu thầu hạn chế các nhà thầu thường thỏa thuận ngầm để một nhà thầu thắng Vì vậy việc tổ chức đấu thầu rộng rãi sẽ hạn chế tối đa việc móc ngoặc giữa các nhà thầu Hoặc do những bí mật không cần thiết đã tạo điều kiện để xảy ra tiêu cực như tiêu chuẩn xét thầu thường lồng những ý đồ chủ quan hướng đến cho nhà thầu nào mà chủ đầu tư đã có ý định chọn Như vậy việc đấu thầu chỉ là hình thức, những nhà thầu khác cầm chắc thất bại trong một cuộc chơi không công bằng, sự không công bằng này bên ngoài khó nhận ra
Với những dự án mời thầu nếu không phải là nhà thầu đã được chủ đầu tư ngắm thì chỉ được biết thông tin trước giờ mở thầu có vài ngày
Đấu thầu trong xây dựng công trình giao thông còn có nhiều hiện tượng “ Mua thầu” xảy ra dưới nhiều hình thức tinh vi như :
Một dự án được chia ra làm nhiều gói thầu để các nhà thầu có khả năng dàn xếp chia nhau việc thắng thầu: ví dụ một dự án xây dựng một tuyến đường có thể chia thành nhiều gói thầu khác nhau và mỗi nhà thầu nhận một gói Khi đấu thầu hạn chế các nhà thầu sẽ thu xếp để mỗi đơn vị trúng một gói hoặc các nhà thầu để cho một nhà thầu lập các hồ sơ dự thầu khác nhau và đứng tên các nhà thầu đó
Sự móc ngoặc với bên mời thầu : là chiến thuật đưa giá dự thầu thấp hơn để nắm chắc khả năng thắng thầu, sau đó khi thực hiện hợp đồng chủ đầu tư và nhà thầu cùng thống nhất bổ sung khối lượng phát sinh hoặc thay đổi một phần thiết kế
Có những gói thầu giá trị khối lượng phát sinh lên đến vài chục tỷ đồng Những trường hợp thông đồng, móc ngoặc nêu trên đang làm cho đấu thầu trở thành phương tiện giảng hòa việc giao thầu giữa chủ đầu tư và nhà thầu Việc đấu thầu mất đi sự công bằng dẫn đến những nhà thầu chậm chân thì không có khả năng
trúng thầu
Trang 381.4.3.2 Công tác chuẩn bị cho đấu thầu còn thiếu chất lượng
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng, tác động tới công tác đấu thầu, trong số đó phải kể đến chất lượng một số công việc liên quan đến đấu thầu đó là chất lượng của báo cáo kinh tế kỹ thuật, tài liệu thiết kế, tổng dự toán hoặc dự toán
Một số trương hợp dự toán quá thấp gây khó khăn trong quá trình xét kết quả trúng thầu, phải điều chỉnh dự toán làm kéo theo dài thời gian Cũng có những trường hơp thiết kế ban đầu không chuẩn xác, trong quá trình thực hiện phải thay đổi bổ sung dẫn đến làm tăng giá trị hợp đồng, kéo dài thời gian Đây cũng là yếu tố dẫn đến thất thoát trong đầu tư xây dựng
Việc giám sát thực hiện hợp đồng còn nhiều bất cập Dù kết quả đấu thầu là tốt, hợp đồng là đầy đủ mà không có được khâu giám sát tích cực thì vẫn không có được sản phẩm như ý muốn hoặc thời gian thực hiện hợp đồng bị kéo dài, chất lượng không đảm bảo, gây lãng phí thất thoát cho dự án
Do nhu cầu bức bách về công ăn việc làm, không lường trước được sức mình nên có nhà thầu bỏ giá thầu thấp hơn giá thành xây lắp, hoặc nhận những công trình đòi hỏi công nghệ phức tạp quá khả năng của mình Hậu quả là nhà thầu phải chấp nhận thua lỗ, hoặc công trình kém chất lượng hoặc không thể hoàn thành theo tiến
độ Đây là vấn đề đặt ra để có giải pháp khắc phục ở trước mắt và trong tương lai gần đó là vấn đề cần xác định rõ quyền sở hữu vốn và quyền lợi của chủ đầu tư lẫn nhà thầu được đảm bảo
1.4.3.3 Khó khăn của các nhà thầu Việt Nam
Khi tham gia đấu thầu quốc tế các dự án thì vấn đề khả năng tài chính trong việc nộp các bảo lãnh như : bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng hoặc bảo hành công trình là vấn đề khó khăn Vì vậy theo chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ, bộ xây dựng đã trình thủ tướng chính phủ quy chế bảo lãnh cho các nhà thầu trong nước khi tham gia đấu thầu quốc tế
Bên cạnh đó phải cố gắng khai thác tận dụng các chính sách ưu tiên các nhà thầu trong nước theo quy định của các tổ chức tài chính quốc tế khi cho vay các dự
Trang 39án như : cho phép cộng thêm số điểm nhất định về giá cả, hoặc giảm bao nhiêu % giá đối với các nhà thầu trong nước
Nhìn chung các dự án có vốn đầu tư nước ngoài thì các nhà thầu Việt Nam hầu như rất ít được làm tổng thầu, tỉ lệ thầu chính thấp, đa số làm thầu phụ Những gói thầu chính trúng phần lớn là những gói thầu san nền, làm móng hoặc xây dựng phần thô Những gói thầu có thiết kế, công nghệ cao nhà thầu Việt Nam chưa đủ khả năng dự thầu Hình thức thầu phụ cũng rất đa dạng, có công trình thầu phụ dưới dạng hợp tác với nhà thầu chính nước ngoài, có công trình thầu phụ hợp tác với nhà thầu chính nước ngoài, có công trình thông qua bản ghi nhớ, cung cấp giá cho nhà thầu nước ngoài đứng ra đấu thầu, cũng có công trình chỉ nhận thầu phần nhân công Nhưng giá cả làm thầu phụ thường bị các nhà thầu chính nước ngoài bắt chèn dưới các hình thức gọi phiếu chào giá từng công việc tới nhà thầu việt nam, rồi sau
đó chọn giá thấp nhất để hợp đồng giao việc Có nhà thầu Việt Nam tham gia đấu thầu bằng văn bản ghi nhớ, nhưng khi thắng thầu chỉ được làm một phần, còn lại nhà thầu nước ngoài cho nhà thầu phụ Việt Nam khác với giá thấp hơn Có trường hợp nhà thầu nước ngoài đơn phương cắt hợp đồng đối với nhà thầu Việt Nam, có trường hợp nhà thầu thắng thầu bán lại cho các nhà thầu khác
Trong tình hình hiện nay các nhà thầu trong nước phải nhận rõ những mặt mạnh và những yếu kém để tự vươn lên khẳng định mình tạo điều kiện hợp tác liên danh, liên kết với nhau tạo thành sức mạnh để cạnh tranh với các nhà thầu nước
1.4.3.4 Các văn bản pháp quy về đấu thầu còn một số nội dung cần được điều chỉnh, hoàn thiện
Đây là điều không thể tránh được trong bối cảnh của chúng ta, đặc biệt khi tình hình kinh tế xã hội thay đổi, đội ngũ cán bộ trưởng thành Theo hướng này, các văn bản luật về đấu thầu còn tồn tại về số vấn đề như sau:
Qua 8 năm thực hiện, Luật Đấu thầu đã bộc lộ một số hạn chế, tồn tại như: phạm vi điều chỉnh chưa bao trùm hết các hoạt động mua sắm sử dụng nguồn lực của nhà nước (như các hoạt động mua sắm vì mục đích công nhưng không hình thành dự án, các hoạt động đầu tư ra nước ngoài sử dụng vốn nhà nước, đấu thầu
Trang 40lựa chọn nhà đầu tư thực hiện các dự án hợp tác công tư PPP, dự án có sử dụng đất ); một số nội dung chưa được quy định trong Luật hoặc có quy định chưa rõ ràng gây khó khăn trong quá trình thực hiện, một số quy định mang tính quy trình còn phức tạp, các quy định mang tính chế tài xử lý các hành vi vi phạm còn chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe
Quy định khiếu nại trong đấu thầu, phức tạp, thời gian dài…
1.4.3.5 Công tác đào tạo còn bất cập
Quy chế đấu thầu chỉ là một công cụ quản lý, vấn đề còn lại phụ thuộc vào năng lực và phẩm chất của người thực hiện
Trên thực tế còn thiếu các trung tâm đào tạo cán bộ chuyên thực hiện về công tác đấu thầu Điều nay phần nào ảnh hưởng đến công tác quản lý của một số chủ đầu tư và của Ban quản lý