1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất lúa việt lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã vinh quang, tiên lãng, hải phòng

50 757 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất lúa Việt Lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã Vinh Quang, Tiên Lãng, Hải Phòng
Người hướng dẫn Cô Mai Thị Huyền
Trường học Trường Đại Học Hải Phòng
Chuyên ngành Khoa học Nông nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 444 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giống lúa này có yêu cầu kĩ thuật cao hơn, tạo điều kiện cho các nước phát triển tăng nhanh sản lượng lúa bằng con đường tăng năng suất nhờ có hệ thống thủy lợi phát triển hoàn chỉnh

Trang 1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

Lời cảm ơn

Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, ngoài sự lỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ động viên của thầy cô, bạn bè và gia đình

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Cô Mai Thị Huyền

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Nông Nghiệp trường Đại Học Hải Phòng

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của xã Vinh Quang – Tiên Lãng – Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hải Phòng ngày 2/4/2012 Sinh viên Nguyễn Vi Sơn

Trang 2

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây lúa (Oryza sativa L) là một trong ba cây lương thực chủ yếu

trên thế giới: lúa mì, lúa gạo, ngô Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 1/2 khẩu phần lương thực hàng ngày Như vậy, lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% số dân trên thế giới, là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân 180 - 200 kg gạo/ người/ năm tại các nước châu Á, khoảng 10 kg/ người/ năm tại các nước châu Mỹ [1]

Ở Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính Việc sản xuất lúa gắn liền với sự phát triển nông nghiệp Kinh nghiệm sản xuất lúa đã hình thành tích lũy và phát triển cùng với

sự hình thành và phát triển của dân tộc Đến nay, nghề trồng lúa ở Việt Nam vẫn không ngừng phát triển cùng với những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong nước và trên thế giới Tuy nhiên, trong điều kiện canh tác hiện nay, nghề trồng lúa vẫn chưa có hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Nông dân có xu hướng sử dụng nhiều phân bón để tăng năng suất Nhưng hiệu quả của nó không cao, mặt khác còn làm tăng mức độ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trường

Từ các nghiên cứu về phân bón cho thấy, phân N giữ vai trò đặc biệt trong việc tăng năng suất và là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất với cây lúa Các loại phân khác chỉ phát huy tác dụng khi được bón đủ N và cân đối theo nhu cầu của cây Muốn tăng hiệu suất sử dụng phân N thì cần có kĩ thuật

và liều lượng N phù hợp, tức là bón N đúng cách, đúng lượng Việc bón phân

N không cân đối với các phân khác, phương pháp bón chưa hợp lý sẽ hạn chế năng suất và không phát huy hết tiềm năng của giống

Tuy nhiên, trên thực tế khảo sát tại Vinh Quang, các hộ nông dân thường tập trung vào bón lót, bón thúc lần một, một số hộ không bón lót lần hai

Do vậy, việc sử dụng phân bón chưa có một phương pháp cụ thể, lượng bón mỗi lần chưa thống nhất Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh

Trang 3

trưởng và năng suất lúa Việt Lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã Vinh Quang, Tiên Lãng, Hải Phòng"

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Bố trí thí nghiệm đồng ruộng với các công thức tham gia thí nghiệm

- Đánh giá được các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển các các công thức tham gia thí nghiệm Đánh giá được các chỉ tiêu cấu thành năng suất, năng suất lúa và hiệu quả kinh tế

- Đánh giá được tình hình sâu bệnh hại, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh

Trang 4

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ

Ở VIỆT NAM

2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới

Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao Vùng trồng lúa tương đối rộng: có thể trồng ở các vùng có vĩ độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 53°B, Tiệp 49°B, Nhật, Itali, Nga 45°B đến nam bán cầu, New South Wales (Úc): 35°N Vùng phân bố ở châu Á từ 30°B đến 10°N [1] Hiện nay trên thế giới có 114 quốc gia trồng lúa và phân bố ở tất cả các Châu lục trên thế giới, châu Á chiếm 90% Trong đó, Châu Phi có 41 nước trồng lúa, Châu Á-30 nước, Bắc Trung Mỹ-14 nước, Nam Mỹ-13 nước, Châu Âu-11 nước và châu Đại dương-5 nước [16]

Sản xuất lúa gạo trong những thập kỉ gần đây có mức tăng đáng kể, nhưng do dân số tăng nhanh nhất là các nước đang phát triển (Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh) nên vấn đề lương thực vẫn đang là vấn đề phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài

Diện tích trồng lúa biến động và đạt khoảng 152.000 triệu ha, năng suất lúa bình quân xấp xỉ 4,0 tấn/ha Diện tích trồng lúa trên thế giới tăng rõ rệt từ năm 1995 - 1980 Trong vòng 25 năm này, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,36 triệu ha/năm Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào năm 1999 (156,77 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ở mức 152,9 triệu ha Diện tích trồng lúa tập trung ở Châu Á (khoảng 90%)

Các nước có diện tích lúa lớn nhất theo thứ tự phải kể là Ấn Độ, Trung Quốc, Inđônessia, Bangadesh, Thái Lan, Việt Nam đứng thứ 6

Năng suất bình quân lúa trên thế giới còng tăng khoảng 1,3 triệu tấn/ha trong vòng 30 năm từ năm 1995 đến năm 1985, đặc biệt là sau cuộc cách mạng xanh của thế giới vào những năm 1965 - 1970, với sự ra đời của các

Trang 5

giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không quang cảm, mà tiêu biểu là các giống lúa IR5, IR8 Các giống lúa này có yêu cầu kĩ thuật cao hơn, tạo điều kiện cho các nước phát triển tăng nhanh sản lượng lúa bằng con đường tăng năng suất nhờ có hệ thống thủy lợi phát triển hoàn chỉnh và đầu tư phân bón, kĩ thuật cao Do đó, đến những năm 1990 dẫn đầu năng suất lúa trên thế giới là các nước Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990) [2]

Đến năm 2005, theo thống kê của FAO (2006), dẫn đầu năng duất lúa là

Mỹ, rồi đến Hy Lạp, EI Salvador, Tây Ban Nha với trên 7 tấn/ha Trong đó, sản lượng lúa Châu Á đạt 559.349 triệu tấn chiếm 90,45% ; tương tự ở Nam Mỹ- 24.020 triệu tấn (3,88%) ; ở Châu Phi- 18.851 triệu tấn( 3,04%) ; ở Bắc Trung Mỹ- 12.537 triệu tấn (2,03%); ở Châu Âu và Châu Đại Dương- 3.684 triệu tấn (0,6%) [16] Mặc dù năng suất lúa các nước Châu Á còn thấp nhưng

do diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là nguồn đóng góp rất quan trọng cho sản lượng lúa quan trọng cho sản lượng thế giới (trên 90%) Các quốc gia dẫn đầu về sản lượng lúa theo thứ tự là Trung Quốc, Ấn Độ, Inddoneessia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar, tất cả đều nằm ở Châu Á Như vậy, có thể nói, Châu Á là vựa lúa quan trọng nhất thế giới [2]

Bảng 2.1 Tổng hợp sản lượng lúa Thế giới và Châu lục 2001-2005

569.035515.2553.2101.21819.60112.19517.556

584.272530.7362.2601.45719.97311.62318.223

606.268546.9192.4681.57423.72612.81618.765

618.441559.3492.3401.34424.02012.53718.851(Số liệu thống kê của FAO, 2006) [14]

Trang 6

Sản lượng lúa thế giới năm 2007 đạt khoảng 652 triệu tấn, tăng hơn 1,4% so với năm 2006 Năm 2008, lượng lúa thế giới đạt 688 triệu tấn (tương đương 459 triệu tấn gạo), tăng hơn 4 % so với năm 2007 Sản lượng lúa thế giới năm 2009 là 681,6 triệu tấn.

Về tình hình tiêu thụ gạo trên thế giới, các nước tiêu thụ gạo nhiều nhất thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Malaysia Ấn Độ, Trung Quốc là các nước tiêu thụ gạo nhiều nhất và ước khoảng 50% lượng gạo tiêu thụ toàn thế giới Trong đó, Philippines là nước nhập khẩu lúa gạo lớn nhất thế giới Ấn Độ và Thái Lan là các nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới Hiện nay tình hình tiêu thụ gạo có xu hướng tăng do biến động của kinh tế thế giới Do vậy, lúa gạo trở thành mặt hàng rẻ thay thế các loại lương thực, thực phẩm đắt đỏ khác

Dự báo đầu tiên của FAO về sản lượng lúa thế giới trong năm 2010 tăng 4% đến kỷ lục 710 triệu tấn Tăng sản lượng hàng năm dự kiến tập trung tại các nước châu Á với sản lượng lúa dự kiến 643 triệu tấn, cao hơn 29 triệu tấn so với năm 2009 Ấn Độ dự kiến chiếm phần lớn tăng sản lượng trong khu vực, với hồi phục sản lượng tại Philippines, Sri Lanka và Thái Lan Triển vọng tích cực tại Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia và Miến Điện, trong khi Đài Loan

và Hàn Quốc có thể giảm Tiêu thụ gạo toàn cầu trong năm 2010 dự kiến tăng khoảng 1 - 2% đến 454 triệu tấn gạo xay xát Trong số này, dự kiến 388 triệu tấn được dùng làm lương thực, cao hơn 6 triệu tấn so với năm 2009 Dựa vào các ước tính hiện tại, tiêu thụ gạo đầu người trên toàn cầu trong năm 2010 có thể tăng từ 56,5 kg/người trong năm 2009 lên 56,8 kg, cho thấy tăng tiêu thụ gạo bình quân tại các nước đang phát triển còng như tại các nước phát triển

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam

Với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có thể coi là các nôi hình thành cây lúa nước Đã từ lâu, cây lúa trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế và xã hội của nước ta Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu, từ Bắc vào Nam đã hình thành những đồng bằng

Trang 7

châu thổ trồng lúa phì nhiêu, cung cấp nguồn lương thực chủ yếu để nuôi sống cả mấy chục triệu người

Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 75% dân số sản xuất nông nghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò quan trọng trong đời sống con người Lúa gạo không chỉ giữ vai trò trong cung cấp lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng xuất khẩu đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân Mặt khác, do có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng trên khắp mọi miền của đất nước Trong quá trình sản xuất đã hình thành hai vùng sản xuất rộng lớn đó là Đồng Bằng Châu thổ Sông Hồng và vùng Đồng Bằng Châu thổ Sông Cửu Long [4].Trong năm 1945, diện tích trồng lúa của cả nước ta là 4,5 triệu ha, năng suất trung bình đạt 1,3 tấn/ha, sản lượng 5,4 triệu tấn Trong 20 năm đổi mới, sản xuất lúa tăng trưởng liên tục cả diện tích, năng suất và sản lượng Năm

1986, diện tích gieo trồng lúa chỉ có 5,7 triệu héc-ta, năng suất bình quân 28,1 tạ/héc-ta/vụ và sản lượng 16,87 triệu tấn, đến năm 2005 ba con số tương ứng

đã lên tới 7,3 triệu héc-ta; 48,9 tạ/héc-ta và 35,8 triệu tấn Tính chung 20 năm qua, sản lượng lúa tăng thêm 19 triệu tấn, gấp hơn 2 lần, bình quân mỗi năm tăng gần 1 triệu tấn, hơn 5% Đến năm 2007, sản lượng lúa tăng trưởng ổn định , duy trì khoảng 34-36 triệu tấn [14] Đến năm 2008 là 37,74 triệu tấn và 38,9 triệu tấn vào năm 2009

Hiện nay, với những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp, người dân đã tiếp cận với những phương thức sản xuất tiên tiến nên họ đã mạnh dạn

áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, dùng cho các giống lúa mới, các giống ưu thế lai, các giống lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều kiện của từng vùng, các giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu , kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lí Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta có bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế Diện tích sản xuất lúa hiện nay của Việt Nam xếp hạng thứ 5 thế giới, xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới Gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang 120 quốc gia và vùng lãnh thổ,

Trang 8

chiếm 15% thị phần gạo toàn cầu Lượng lúa gạo được sử dụng trong nước dưới dạng lương thực cho người, thức ăn cho gia súc, để giống cho sản xuất chiếm khoảng 70% tổng sản lượng Sản lượng thóc tính bình quân đầu người

đã đạt 410 kg (tương đương 275 kg gạo) và lượng gạo tiêu dùng trực tiếp đạt mức 166 kg/người/năm (sản lượng thóc quy gạo, sau khi đã trừ đi các nhu cầu cho sản xuất, chăn nuôi, hao hụt và xuất khẩu ); đây là mức tiêu dùng gạo cao nhất trên thế giới

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa ở nước ta từ 2000 - 2009

(10 6 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (10 6 tấn)

Xuất khẩu (10 6 tấn)

Ngày nay, dân số Việt Nam tăng nhanh, diện tích đất trồng lúa bị giảm,

sự phát triển không nhịp nhàng đó cho thấy nhu cầu lương thực vẫn là một nhu cầu thiết yếu Để giải quyết lương thực cho những năm tới ở nước ta có hai con đường chủ yếu:

Mở rộng diện tích canh tác: bằng các biện pháp tăng vụ hay tăng hệ số

sử dụng đất

Thâm canh: để có năng suất cao, phẩm chất tốt, con người đã lai tạo tìm

ra các giống lúa mới Nhưng để phát huy hết tiềm năng của giống thì người trồng trọt phải có các biện pháp kĩ thuật nhất định Trong đó sử dụng phân bón mà nhất là phân đạm có ý nghĩa quan trọng

Trang 9

Cả hai con đường này đòi hỏi phải cung cấp cho nông nghiệp một lượng chất dinh dưỡng khá lớn Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra phải nâng cao hơn nữa hiệu quả phân bón để tăng năng suất và chất lượng lúa, nhằm đáp ứng được nhu cầu lương thực cho người dân và cho xuất khẩu [3].

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CÂY LÚA

Toàn bộ đời sống của cây lúa, về mặt nông học có thể chia làm 3 thời kì sinh trưởng chủ yếu là sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực và thời kì chín.Thời kì sinh trưởng dinh dưỡng, tính từ lúc gieo hạt nảy mầm đến lúc cây lúa bắt đầu làm đòng (phân hóa đòng) Trong thời kì này, cây lúa chủ yếu hình thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ nhánh Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng tăng giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, đẻ nhánh và chuẩn bị các giai đoạn sau Trong điều kiện dinh dưỡng đầy đủ, ánh sáng thuận lợi, cây lúa bắt đầu đẻ nhánh khi có lá thứ 5-6 Thời điểm đẻ nhánh tối đa có thể đạt được trước, cùng lúc hay sau thời kì bắt đầu phân hóa đòng tùy theo giống lúa Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn, thời kì này thường biến động mạnh nhất

Thời kì sinh trưởng sinh thực tính từ lúc lúa làm đòng đến trỗ bông trong khoảng 30-40 ngày tùy theo giống ngắn ngày hay dài ngày và thường không khác nhau nhiều, trung bình là 30 ngày Lúc này, số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ, lúa trỗ bông Trong giai đoạn này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng khối lượng hạt sau này

Thời kì chín bắt đầu từ lúc lúa trổ đến lúc thu hoạch Thời kì này trung bình khoảng 30 ngày với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên,

Trang 10

nếu đất ruộng nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại Thời kì chín chủ yếu biến động phụ thuộc vào nhiệt độ Thời kì này cây lúa trải qua các thời kì sau:Thời kì chín sữa: các chất dự trữ trong thân lá, vật phẩm quang hợp được vận chuyển vào trong hạt Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là quang hợp

ở giai đoạn sau khi trỗ Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây lúa và thời tiết từ sau thời kì lúa trỗ trở đi hết sức quan trọng đối với quá trình hình thành năng suất lúa

Thời kì chín sáp: hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, vỏ trấu vẫn còn xanh Thời kì chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng của chót bông lan dần xuống các hạt từ phần cổ bông nên gọi là "lúa đỏ đuôi", lá già lụi dần

Thời kì chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ khoảng 20% hoặc thấp hơn, tùy độ ẩm môi trường, lá xanh chuyển màu vàng và rụi dần Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi lúa ngả sang màu trấu đặc trưng của giống [1,2]

2.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÂY LÚA

Các chất dinh dưỡng cần thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa là: các-bon, ô-xy, hyđrô (từ thiên nhiên) và các chất khoáng: nitơ (N), phốtpho (P), kali (K), canxi, sắt, kẽm, đồng, magiê, mangan, mô-líp-đen, bo, silic, lưu huỳnh Trong đó 3 yếu tố dinh dưỡng cây lúa cần với lượng lớn là: nitơ, phốtpho và kali, các nguyên tố khoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít

2.3.1 Nitơ

Nitơ là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất với cây lúa Nitơ có mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng, có vai trò quyết định trong quá trình trao đổi chất và năng lượng còng như các hoạt động sinh lý của cây lúa, là thành phần cấu tạo nên protein, tế bào và mô cây, thúc đẩy quá trình quang hợp tích lũy chất hữu cơ; giữ vai trò quan trong trong hình thành bộ rễ, thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và cho sự sinh trưởng và phát triển của thân lá

Trang 11

Đủ nitơ, thân lá phát triển tốt, lúa đẻ nhánh mạnh, đòng to, bông lớn, năng suất cao Các bộ phận non của cây lúa có hàm lượng nitơ cao hơn các bộ phận già Nitơ có tác dụng mạng trong thời gian đầu sinh trưởng và tác dụng rõ rệt nhất của nitơ đối với cây lúa là làm tăng hệ số diện tích lá và tăng nhanh số nhánh đẻ Cây lúa hút nitơ nhiều nhất vào hai thời kỳ: đẻ nhánh và làm đòng Khi kết thúc thời kỳ phân hóa đòng, hầu như cây lúa đã hút trên 80% tổng lượng nitơ cho cả chu kỳ sinh trưởng.

Triệu chứng thiếu nitơ thay đổi tùy theo thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây, cây sinh trưởng phát triển kém, hàm lượng diệp lục giảm, lá chuyển màu vàng, nhỏ, cây thấp, đẻ nhánh kém, giai đoạn làm đòng thì đòng nhỏ, trổ sớm hơn và không đều, số bông và số lượng hạt ít hơn, năng suất giảm

Thừa nitơ cho lá lúa to, dài, nhưng phiến mỏng, nhiều, màu xanh đen, thân nhỏ yếu, cây cao vóng, lốp đổ, lúa đẻ nhánh vô hiệu nhiều, trổ muộn, nhiều hạt nép, dễ bị sâu bệnh tấn công làm giảm mạnh năng suất, hiệu suất kinh tế thấp

Nhu cầu về nitơ của cây lúa phụ thuộc vào mùa vụ gieo cấy, độ màu mỡ của đất, tiềm năng năng suất của giống lúa, thời gian và cách bón phân bổ sung Dạng nitơ vô cơ được dùng bón cho lúa là U rê, ngoài ra nguồn phân hữu cơ có vai trò quan trọng trong cung cấp nitơ cho cây

2.3.2 Phốtpho (P)

Tính theo chất khô, tỉ lệ phốtpho nguyên chất (P2O5) chiếm khoảng 0,2% trong rơm rạ và khoảng 0,48% trong gạo Phốtpho tham gia vào thành phần ADN và ARN của cây lúa, phốtpho có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành diệp lục, vào quá trình hình thành chất béo, tổng hợp prôtêin trong cây

và vận chuyển tinh bột, làm tăng sự phát triển của bộ rễ, thúc đẩy việc ra rễ, đặc biệt là rễ bên và lông hút Trong một số trường hợp đất phèn và đất phèn mặn thì phốtpho có vai trò kìm hãm các độc tố giúp cho cây lúa sinh trưởng

và phát triển Tỷ lệ phốtpho cao hơn tại các cơ quan non của cây lúa Cây lúa hút phốtpho trong suốt thời kỳ sinh trưởng nhưng mạnh nhất là thời kỳ đẻ

Trang 12

nhánh và làm đòng Giai đoạn đầu nhu cầu về phốtpho của cây lúa là rất thấp

Đủ phốtpho cây đẻ khỏe, bộ rễ phát triển tốt, trỗ và chín sớm ngay cả trong điều kiện nhiệt độ thấp trong vụ đông xuân, hạt thóc mẩy sáng

Thiếu phốtpho cây còi cọc, số lá ít, lá ngắn, phiến lá hẹp, lá dựng đứng, xanh tối, đẻ nhánh kém, trỗ bông chậm, chín kéo dài, nhiều hạt xanh, hạt nép,

số bông và số hạt/bông đều giảm

Thừa phố pho không có biểu hiện gây hại như thừa N vì P thuộc loại nguyên tố linh động, nó có khả năng vận chuyển từ cơ quan già sang cơ quan

non Trong sản xuất, khi bón phân phốtpho cho lúa, lượng phốtpho supe bao

giờ còng gấp 1,5 – 2 lần so với u rê và bón lót toàn bộ phân phốtpho để cung cấp kịp thời phốtpho cho sự phát triển của bộ rễ lúa Phốtpho supe (supe lân) bón lót cho đất ít chua, còn phốtpho nung chảy (hay còn gọi là tecmo phốt phát) dùng cho nhiều loại đất, đặc biệt có tác dụng ở đất chua

2.3.3 Dinh dưỡng kali

Cùng với đạm, lân thì Kali là một nguyên tố đa lượng quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa Kali được cây hút dưới dạng ion K+, kali được lúa hút nhiều như đạm, kali có tác dụng xúc tiến sự di chuyển của các chất đồng hóa trong cây Ngoài ra, kali còn làm cho sự di động của sắt trong cây được tốt do đó ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình hô hấp Kali còng rất cần cho

sự tổng hợp protit, quan hệ mật thiết với sự phân chia tế bào [4, 11, 15]

Vai trò của kali đối với sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Nói chung, khi thiếu kali thì dẫn đến sự quang hợp cây bị giảm sút rõ rệt, kéo theo cường độ hô hấp tăng lên, làm cho sản phẩm của quá trình quang hợp trong cây bị giảm; trường hợp này được thể hiện rất rõ trong điều kiện thiếu ánh sáng Đặc biệt vai trò của Kali được thể hiện rất rõ trong thời kì đầu làm đòng Trong thời kì này, nếu thiếu kali sẽ làm cho gié bông bị thoái hóa nhiều, số bông ít, trọng lượng nghìn hạt giảm, hạt xanh, lép lửng và bạc bụng nhiều, phẩm chất gạo bị giảm sút [3]

Trang 13

Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu không bón kali ảnh hưởng xấu tới các yếu tố cấu thành năng suất: số bông tạo thành giảm, tăng tỉ lệ lép lửng, năng suất lúa giảm rõ rệt so với bón đủ kali.

Không bón kali làm giảm tích lũy kali và đạm trong sản phẩm thu hoạch, đạm tích lũy nhiều trong rơm rạ không được vận chuyển về hạt là nguyên nhân làm giảm năng suất và chất lượng gạo [8]

Thiếu kali, cây lúa có chiều cao và số nhánh gần như bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rũ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh đốm nâu

(Helminthosporium oryzae), lá già rụi sớm [2] Theo Nguyễn Vi, với các giống lúa hiện nay, tỉ lệ hạt chắc tăng từ 30-57% do bón kali và trọng lượng hạt còng tăng từ 12-30% [12]

đủ đạm, thân lá phát triển tốt, lúa đẻ nhánh mạnh, đòng to, bông lớn, năng suất cao Cây lúa cần nhiều đạm trong thời kỳ đẻ nhánh, nhất là thời kỳ đẻ nhánh cực đại và thời kì làm đòng Khi kết thúc thời kỳ phân hóa đòng, hầu như cây lúa đã hút trên 80% tổng lượng đạm cho cả chu kỳ sinh trưởng

Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm Triệu chứng thiếu đạm thay đổi tùy theo thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây Nếu vào giai đoạn lúa sinh trưởng mạnh, thiếu đạm lá chuyển vàng (lá già vàng trước, sau lan dần tới lá non) hay xanh lợt, lá nhỏ, chiều cao cây giảm, khả năng đẻ nhánh kém Nếu thiếu đạm ở giai đoạn có đòng thì đòng nhỏ, khả năng trỗ kém, số hạt

Trang 14

trên bông ít, hạt lép nhiều, năng suất thấp Thừa đạm làm cho thân lá phát triển quá mạnh, cây cao, lá nhiều, màu xanh đen, thân nhỏ yếu, dễ bị sâu bệnh, đổ ngã và nhiều hạt lép Thời kỳ cây lúa mẫn cảm với đạm là trước trỗ

35 – 40 ngày và giai đoạn tượng đòng Nếu thừa đạm trong các thời điểm này làm cho thân lá phát triển hơn bộ rễ, ức chế quá trình tượng đòng, dễ đổ ngã, sâu bệnh, tỷ lệ hạt lép cao, năng suất thấp

Khi cây lúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng Theo Bùi Huy Đáp [6], đạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới phát huy tác dụng

2.3.5 Dinh dưỡng lân

Lân đóng một vai trò dinh dưỡng quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây trồng vì là thành phần cấu tạo của các axit nucleic, là chất chủ yếu trong nhân tế bào Lân có quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục, protit và

sự di chuyển tinh bột Vai trò chủ yếu của lân thể hiện ở các mặt: Xúc tiến sự

phát triển của bộ rễ lúa, đặc biệt là rễ bên và lông hút Làm tăng số nhánh và tốc độ đẻ nhánh của lúa, sớm đạt số nhánh cực đại, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng số nhánh hữu hiệu, dẫn đến tăng năng suất lúa

Thúc đẩy việc ra hoa, hình thành quả, tăng nhanh quá trình trỗ, chín của lúa

và ảnh hưởng tích cực đến chất lượng hạt Tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi và sâu bệnh hại Thúc đẩy phân chia tế bào, tạo thành các hợp chất béo và protein Ngoài ra, lân còn có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành diệp lục, protit và sự vận chuyển tinh bột [3]

Lúa hút lân mạnh hơn so với các cây trồng ở cạn Trong cây lúa, tính theo chất khô, tỉ lệ lân nguyên chất (P2O5) chiếm xung quanh 0,2% trong rơm

rạ và khoảng 0,48% trong hạt gạo Cây lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng từ khi cây lúc mọc đến khi lúa trỗ, nhưng hút lân mạnh nhất vẫn là

Trang 15

thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng, tuy nhiên giai đoạn đầu nhu cầu về lân của cây lúa là rất thấp [10].

Cây lúa được bón đầy đủ lân và cân đối đạm sẽ phát triển xanh tốt, khỏe mạnh, chống đỡ với điều kiện bất thuận như hạn, rét; đẻ khỏe, bộ rễ phát triển tốt, trỗ và chín sớm ngay cả trong điều kiện nhiệt độ thấp trong vụ đông xuân, hạt thóc mẩy và sáng

Cây lúa thiếu lân, cây còi cọc, đẻ nhánh kém, bộ lá lúa ngắn, phiến lá hẹp, lá có tư thế dựng đứng và có màu xanh tối; số lá, số bông và số hạt/bông đều giảm Theo Vũ Hữu Yêm, 1995 [7], cây con rất mẫn cảm với điều kiện thiếu lân Thiếu lân trong thời kì cây con cho hiệu quả rất xấu, sau này có bón nhiều lân thì cây trỗ vẫn không đều hoặc không thoát Do vậy, cần phải bón

đủ lân ngay từ giai đoạn đầu và bón lót phân lân là rất có hiệu quả

Dinh dưỡng lân có quan hệ mật thiết với dinh dưỡng đạm Nếu bón đủ lân sẽ làm tăng khả năng hút đạm và các chất dinh dưỡng khác Cây được bón cân đối

N, P sẽ xanh tốt, phát triển mạnh, chín sớm, cho năng suất cao và phẩm chất tốt

Do vậy, muốn cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao thì không chỉ cần cung cấp đủ đạm mà còn cần cung cấp đầy đủ cả lân cho cây lúa

* Độ pH của đất

Độ pH tác động nhiều đến các tính chất vật lý, hóa học và vi sinh vật đến

sự phát triển và năng suất của cây lúa Độ pH ảnh hưởng tới khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất Khoảng pH tối ưu cho cây lúa phát triển là từ 5 - 7

Độ pH thấp có thể kích thích làm cho cây lúa nhạy cảm hơn với các chất độc

và một số bệnh, pH cao các ion bicacbonat và natri có thể làm giảm sản lượng lúa

Cây lúa đặc biệt nhạy cảm với sự thiếu hụt kẽm; lượng kẽm còng như sắt

dễ hấp thụ sẽ giảm khi pH > 7 Photpho thường phát huy hết tác dụng ở độ pH

6 - 7, còn đối với canxi và kali thì ở độ pH < 6 Nếu pH cao quá 7 thì urê và amoni sulfat có thể bị chuyển hóa thành khí amoniac, đặc biệt đối với đất

Trang 16

chứa canxi cacbonat Độ pH thấp sẽ làm giảm tốc độ vi khuẩn giải phóng nitơ

từ các chất hữu cơ Lưu huỳnh (lưu huỳnh nguyên tố và axit sulfuric) có thể

hạ thấp độ pH của đất, tăng sản lượng lúa

2.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ DINH DƯỠNG ĐẠM ĐỐI VỚI LÚA VÀ ƯU THẾ LAI VỀ HIỆU SUẤT SỬ DỤNG ĐẠM

2.4.1 Vai trò của đạm

Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu với cơ thể sống vì nó là thành phần

cơ bản của protein - chất cơ bản biểu hiện sự sống Đạm nằm trong nhiều hợp chất cơ bản cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục va các chất men

Các bazơ có đạm, thành phần cơ bản của axitnuleic trong ADN, ARN của nhân tế bào, nơi cư trú các thông tin di truyền, đóng vai trò quan trọng tổng hợp protein Do vậy đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá cácbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hút các yếu tố dinh dưỡng khác (Vũ Hữu Yêm 1995)

Theo Yoshida (1975) đạm là yếu tố quan trọng nhất đối với lúa Nếu như không bón phân đạm thì ở đâu cũng thiếu đạm Cây lúa phản ứng với đạm rõ hơn lân và kali Đạm thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh (tăng chiều cao cây và số nhánh), tăng kích thích thước lá, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và hàm lượng protein trong hạt Vì vậy đạm ảnh hưởng đến tất cả các đặc tính góp phần tạo năng suất (Achim và Thomas, 2001)

2.4.2 Nhu cầu lúa đạm của cây qua các thời kỳ

Nhiều công trình của nhiều tác giả trong và ngoài nước đều cho rằng cây lúa hút đạm nhiều chất vào hai thời kỳ là thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng Giai đoạn đầu của thời kỳ sinh trưởng do bộ rễ còn kém phát triển nên khả năng hút dinh dưỡng chưa cao Sau khi bén rễ hồi xanh gặp điều kiện thuận lợi cây lúa hút đạm nhiều nhất Lượng đạm này giúp cây sinh trưởng về chiều cao, số lá, đẻ khoẻ và đẻ tập trung tạo điều kiện cho bông hữu hiệu sau này Chính vì thế bón thúc sớm ngay từ khi lúa bén rễ hồi xanh là điều kiện rất quan trọng Theo Vũ Hữu Yêm tất cả các loại cây trồng giai đoạn đầu đều

Trang 17

được bón nhiều đạm để mở rộng diện tích quang hợp Bón đạm trong giai đoạn sau cốt duy trì khả năng quang hợp cao chứ không nhằm mở rộng diện tích quang hợp và thúc đẩy vận chuyển sản phẩm quang hợp về cơ quan dự trữ.

Việc phân bố tỷ lệ lượng bón giữa các thời kỳ sinh trưởng của cây lúa còn phụ thuộc vào tổng lượng phân được cung cấp Theo Yoshida nếu rất hạn chế đạm được cung cấp vào 20 ngày trước trỗ Khi lượng đạm vừa phải có thể phân ra làm hai lần lá vào giai đoạn sinh trưởng sớm và khoảng 20 ngày trước trỗ Khi lượng đạm dồi dào bón vào giai đoạn sinh trưởng sớm hữu hiệu nhất cho sự tạo hạt Bón vào thời điểm 20 ngày trước trỗ cho hiệu suất sản xuất cao khi lượng đạm vừa hay thấp, giai đoạn này trùng với sự sinh trưởng mạnh của bông non trước trỗ Trong thực tế sản xuất thì bón thúc đạm nên tiến hành lúc phân hóa đòng, khi bông non dài 1-2mm, 23-25 ngày trước trỗ Đạm hấp thu lúc này được dùng để tăng số hoa do đó tăng kích thước bông Đạm hút được lúc làm đòng sẽ giữ cho lá xanh đến sau trỗ và do đó quang hợp vẫn tiếp tục để cho năng suất hạt

Thời điểm bón thúc cũng ảnh hưởng đến tính chống đổ của cây Bón thúc đạm 20 ngày trước trỗ không chỉ làm cho khối lượng trên bông đạt tối

đa mà cũng tăng cả tính chống đổ vì chiều dài và đường kính các dóng thay đổi, tích lỹ nhiều trọng lượng chất khô ở phần gốc và thân khoẻ (Yoshida)

Riêng đối với lúa lai, Quách Ngọc Ân và Lê Hồng Thu cho rằng ở các thời kỳ sinh trưởng lúa lai hấp thu dinh dưỡng khác hẳn với lúa thuần Lúa thuần thời kỳ đầu thường hấp thu nhiều dinh dưỡng nhưng lúa lai thời kỳ giữa

và sau hấp thu nhiều dinh dưỡng hơn đặc biệt là thời kỳ cuối hấp thu đạm rất lớn Vì vậy khác với lúa thuần cần tập trung bón vào thời kỳ đầu, phân bón cho lúa cần tập trung vào thời kỳ giữa và sau

Theo Nguyễn Văn Hoan thời kỳ hút đạm mạnh nhất quan sát thấy ở lúa lai là từ đẻ nhánh rộ đến làm đòng, mỗi ngày lúa lai hút 3520 g đạm/ha chiếm 34,68% tổng lượng hút Giai đoạn cuối tuy lúa lai hút đạm không mạnh

Trang 18

như gia đoạn đầu song giữ một tỷ lệ đạm cao và sức hút mạnh rất có lợn cho quang hợp tích luỹ chất khô và hạt Vì thế một lượng đạm nhất định cần được bón vào giai đoạn cuối.

2.4.3 Một số nghiên cứu về hiệu suất sử dụng phân đạm

Trải qua nhiều năm tìm tòi và nghiên cứu các nhà khoa học trong và ngoài nước đã có một số kết quả về ảnh hưởng của phân đạm đến sinh trưởng phát triển và năng suất của cây lúa

Bùi Đình Dinh và Nguyễn Văn Bộ cho rằng đạm là yếu tố dinh dưỡng hạn chế lớn nhất đến năng suất cây trồng

Murata (1965) và Phạm Văn Cường và cs, (2003) cho thấy ảnh hưởng của phân đạm đến quang hợp thông qua hàm lượng diệp lục có trong lá, nếu bón lượng đạm cao thì cường độ quang hợp ít ảnh hưởng mặc dù điều kiện ánh sáng yếu

Yoshida, (1981) cho biết khi bón tất cả số lượng đạm cho từng thời kỳ thì thời kỳ có hiệu quả nhất đối với năng suất thóc là 10 ngày sau cấy

Hiệu quả đối với năng suất của mỗi gam đạm mà cây đã hút nói chung giảm vào các thời kỳ sinh trưởng sau và có đỉnh cao thứ nhì vào 40 ngày sau cấy (tương đương với thời kỳ làm đòng) Điều này chứng tỏ tác giả muốn nhấn mạnh ưu điểm của việc bón thúc đạm và thời kỳ làm đòng

Theo kết quả nghiên cứu các tác giả S.Mitsui (1962), Bùi Huy Đáp (1980), Đinh Dĩnh (1970) và Đào Thế Tuấn (1980) cho biết rằng thời kỳ đẻ nhánh, nhất là khi đẻ nhánh rộ cây lúa hút nhiều đạm nhất, thông thường cây lúa hút 70% lượng đạm cần thiết Đây là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lúa Còn Yhouichi Yoshida cho rằng đạm quyết định 74% năng suất lúa

Theo Matsui (1970) bón thúc đạm vào 2 thời kỳ bắt đầu phân hoá đòng

và phân bào giảm nhiễm có tác dụng tăng số hạt/bông

Tại Nhật Bản sau nhiều năm nghiên cứu và thí nghiệm các nhà khoa học đã chứng minh rằng nếu coi năng suất lúa trong trường hợp bón đầy đủ

Trang 19

phân vô cơ (đủ thành phần N.P,K) là 100% thì không bón Kali năng suất giảm 4% khi không bón lân năng suất 5% và khi không bón đạm năng suất giảm 117%.

Togari Matsuo cho rằng sau khi bón thúc đạm cho lúa 3 ngày, lượng đạm trong lá đã tăng lên, hàm lượng diệp lục cũng tăng lên vì thế tác dụng quang hợp trên đơn vị diện tích là cũng tăng theo Sự chuyển biến dinh dưỡng

từ lá này sang lá khác sẽ làm cho lá sớm tàn Cung cấp đầy đủ các nhân tố dinh dưỡng cũng là biện pháp quan trọng để duy trì hoạt động của lá và kéo dài đời sống của lá

Matsuhima (1969), Musayama (1967) đã kết luận: Để có năng suất cao cần giữ mức độ đạm ở lá dù cho hoạt động quang hợp cao Kinh nghiệm của người Nhật Bản cho rằng hấp thu đạm liên tục sau trỗ quan trọng để đạt năng suất cao

Theo Tamaka (1958) ở cây lúa tất cả các lá từ lá đòng đến lá thứ 3 từ ngọn trở xuống đều chuyển các chất đồng hoá được về bông lúa Các lá thấp vận chuyển chất đồng hoá được về rễ Chính vì thế lượng đạm bón thúc sẽ có tác dụng duy trì được bộ lá tạo điều kiện cho quang hợp sau trỗ được tốt

Phạm Văn Cường (2003) đã kết luận việc cung cấp đủ đạm lúc cây trưởng thành là điều cần thiết để làm chậm quá trình già hoá của lá, duy trì cường độ quang hợp khi hình thành hạt chắc và tăng cường Protein tích luỹ vào hạt

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới năng suất và chất lượng hạt lúa Lock và Yoshida (1973), Cook (1957), Diday (1988) kết luận: Năng suất các giống lúa tăng dần theo lượng đạm bón, nếu bón 100 - 150kg N/ha

có thể tăng năng suất từ 10,34 lên 38,92 tạ/ha

Thí nghiệm về xác định lượng phân bón thích hợp bón cho lúa trên đất phù sa sông Hồng để có năng suất cao và hiệu quả kinh tế Trần Thúc Sơn và Đặng Văn Hiến đã đi đến các kết luận: Bón lượng đạm tăng ở mức thích hợp làm tăng trọng lượng chất khô tích luỹ, tăng dần diện tích lá, tăng lượng đạm

Trang 20

tích luỹ trong cây lúa và tăng suất Hiệu suất phân đạm, tỷ lệ sử dụng được bởi cây lúa giảm dần khi lượng đạm tăng Trên đất phù sa sông Hồng để có năng suất cao có thể đầu tư 150 - 160N +16 tấn phân chuồng + 90P2O5 + 60K2O cho 1ha, để có hiệu quả kinh tế cao chỉ nêu đầu tư phân khoáng ở mức 120N + 60P2O5 + 30K2O.

Theo Quách Ngọc Ân: Trên đất phù sa sông hồng, bón 180kg đạm/ ha trong vụ Xuân và 150 kgđạm/ha trong vụ mùa xuân chưa thấy lúa lai giảm năng suất trong khi lúa thường chỉ bón 90-110kgđạm/ha, quá ngưỡng này năng suất có chiều hướng giảm Trên đất bạc màu, bón 150 kgđạm/ha cho lúa lai vẫn còn tăng năng suất Tuy nhiên mức độ chỉ bón 120kg/ha cho hiệu quả kinh tế cao nhất

Theo Phạm Văn Cường, Phạm Thị Khuyên và cs, (2005) khi tăng lượng đạm bón từ 0- 180 kgđạm/ha thì chỉ số diện tích lá, khối lượng chất khô tích luỹ và tốc độ tích luỹ chất khô của lúa lai tăng vượt trội so với lúa thuần đặc biệt ở giai đoạn 4 tuần sau cấy, năng suất của các giống lúa thuần đều tăng tuy nhiên năng suất của lúa lai tăng nhiều hơn năng suất của lúa thuần

Tiềm năng năng suất của các giống lúa chỉ được thể hiện khi được cung cấp đủ lượng phân Nếu thiếu đạm cây lúa sẽ đẻ nhánh yếu, cây lùn, lá có màu vàng nhạt nhưng nếu quá thừa phân lại dễ gây lốp đổ, sâu bệnh, kéo dài thời gian sinh trưởng, giảm năng suất lúa Chình vì thế tìm ra lượng phân bón thích hợp, liều lượng phân thích hợp đối với lúa đặc biệt là lúa lai là điều cần thiết để đạt năng suất cao và hiệu quả kinh tế

Trang 21

PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Địa điểm: Vinh Quang – Tiên Lãng - Hải Phòng, đây là vùng đất phù sa mới được bồi đắp, vàn trũng

- Thời gian: từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2011

- Phân bón: Đạm Ure Phú Mỹ 46% N, Supe lân Lâm Thao 17%P2O5, Kaliclorua 60K2O

- Giống: Việt lai 20

Giống lúa lai đầu tiên hoàn toàn do các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu, lai tạo và phát triển được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công

nhận là giống quốc gia vào năm 2004 Tác giả của giống lúa Việt Lai 20 là

Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoan, Trưởng bộ môn Di truyền chọn giống cây thuộc Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội Giống lúa lai này đâng được ưa chuộng rộng rãi không chỉ ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ

mà còn ở các vùng trung du, miền núi

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển của giống lúa VL20 ở các công thức tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu tính chống chịu và tình hình sâu bệnh hại của giống lúa VL20 ở các công thức tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất, hiệu quả kinh tế của giống lúa VL20 ở các công thức tham gia nghiên cứu

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.3.1 Phương pháp tiếp cận

- Phương pháp điều tra và thu thập thông tin

- Phương pháp thực nghiệm đồng ruộng

- Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Trang 23

3.4 HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI

3.4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển

- Ngày gieo mạ, ngày cấy, ngày bén rễ hồi xanh, ngày đẻ nhánh tối đa, ngày lúa bắt đầu trỗ, ngày chín sáp, ngày chín 70%, thu hoạch

- Động thái tăng trưởng chiều cao cây: đo chiều cao cây tính từ gốc cho đến mút lá khi lúa chưa trỗ, đầu bông khi lúa đã trỗ

- Động thái tăng số lá:

- Động thái tăng số nhánh đẻ:

3.4.2 Các chỉ tiêu sinh lý

- Chỉ số diện tích lá (LAI): được theo dõi ở ba thời kỳ; đẻ nhánh rộ, trước trỗ và bắt đầu chín sáp được xác định bằng phương pháp cân nhanh LAI = m2 lá/ m2 đất

- Tích luỹ chất khô (g/m2 đất/ngày): các khóm lúa rửa sạch, sấy khô ở

8000C (trong 48 giờ) cho đến khi khối lượng không đổi Xác định lượng chất khô tích lũy (g/m2 đất)

3.4.3 Các chỉ tiêu sâu bệnh hại và tính chống chịu

Theo dõi sâu, bệnh hại chính trên các ô thí nghiệm, sau đó phân cấp cho điểm theo thang điểm của Viện lúa quốc tế (IRRI)

Trang 24

1 Sâu đục thân

Sâu cuốn lá nhỏ

13579

1-10% cây bị hại11-20% cây bị hại21-35% cây bị hại36-50% cây bị hại51-100% cây bị hại

2 Bệnh bạc lá

013579

Không bị bệnhVết bệnh 1-5% diện tích lá

Vết bệnh 6-12% diện tích lá

Vết bệnh 13-25% diện tích lá

Vết bệnh 26-50% diện tích lá

Vết bệnh trên 51% diện tích lá

3 Bệnh khô vằn

13579

Vết bệnh <20% chiều cao câyVết bệnh 20-30% chiều cao câyVết bệnh 31-45% chiều cao câyVết bệnh 46-65% chiều cao câyVết bệnh >65% chiều cao cây

- Tính chống chịu: chống đổ, chống chịu chua, mặn

3.4.4 Chỉ tiêu yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

Mỗi ô lấy 5 khóm, theo dõi các chỉ tiêu sau:

- Số bông/m2 (A)

- Số hạt/bông (B)

- Số hạt chắc/bông

- Tỷ lệ hạt chắc (%) = Số hạt chắc x 100/ tổng số hạt (C)

- Khối lượng 1000 hạt (D)

- Năng suất lý thuyết: (NSLT) = A x B x C x D x 10-4 (tạ/ha)

- Năng suất thực thu: tính trên toàn bộ ô quy ra tạ/ha

Trang 25

3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Kết quả thí nghiệm được xử lý theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) bằng chương trình IRRISTART 4.0 và EXCEL

Ngày đăng: 07/05/2014, 19:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu Tề (1997), Giáo trình Cây lương thực, NXB Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cây lương thực
Tác giả: Nguyễn Hữu Tề
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
2. Nguyễn Ngọc Đệ (2006), Giáo trình cây lúa, NXB Đại học Quốc gia TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây lúa
Tác giả: Nguyễn Ngọc Đệ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP HCM
Năm: 2006
3. Mai Thị Huyền (2009), Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng và năng suất lúa Xuân trên đất phù sa Sông Thái Bình tại Vĩnh Bảo -Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp, Trường Đại học Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng và năng suất lúa Xuân trên đất phù sa Sông Thái Bình tại Vĩnh Bảo -Hải Phòng
Tác giả: Mai Thị Huyền
Năm: 2009
4. Nguyễn Văn Luật (2001), Cây lúa Việt Nam thế kỉ 20, NXB Nông nghiệp, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lúa Việt Nam thế kỉ 20
Tác giả: Nguyễn Văn Luật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
6. Bùi Huy Đáp (1980), Cây lúa Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lúa Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1980
7. Vũ Hữu Yêm (1995), Giáo trình phân bón và cách bón phân, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân bón và cách bón phân
Tác giả: Vũ Hữu Yêm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
8. Nguyễn Như Hà (1999), Bón phân cho lúa ngắn ngày, thâm canh trên đất phù sa Sông Hồng, Trường ĐHNN 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cho lúa ngắn ngày, thâm canh trên đất phù sa Sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Năm: 1999
9. Đào Thế Tuấn (1970), Sinh lí ruộng lúa năng suất cao, NXB khoa học kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lí ruộng lúa năng suất cao
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Nhà XB: NXB khoa học kĩ thuật
Năm: 1970
10. Trần Thanh Sơn (1998), Nghiên cứu ảnh hưởng của phân lân đối với năng suất lúa và độ bạc bụng hạt gạo ở đất phèn tỉnh An Giang, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân lân đối với năng suất lúa và độ bạc bụng hạt gạo ở đất phèn tỉnh An Giang
Tác giả: Trần Thanh Sơn
Năm: 1998
12. Nguyễn Vy (1995), Hội thảo phân bón, năm 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo phân bón
Tác giả: Nguyễn Vy
Năm: 1995
13. Nguyễn Như Hà (2006), Giáo trình bón phân cho cây trồng , NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bón phân cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2006
14. Báo cáo thường niên ngành hàng lúa gạo Việt Nam 2007 và triển vọng 2008, Trung tâm thông tin, Viện chính sách và chiến lược PT NNNT (IPSARD)- Bộ NN &amp; PTNNNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên ngành hàng lúa gạo Việt Nam 2007 và triển vọng 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tổng hợp sản lượng lúa Thế giới và Châu lục 2001-2005 - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất lúa việt lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã vinh quang, tiên lãng,  hải phòng
Bảng 2.1. Tổng hợp sản lượng lúa Thế giới và Châu lục 2001-2005 (Trang 5)
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất lúa ở nước ta từ 2000 - 2009 - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất lúa việt lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã vinh quang, tiên lãng,  hải phòng
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất lúa ở nước ta từ 2000 - 2009 (Trang 8)
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ tăng trưởng số nhánh   của  giống lỳa Việt Lai 20 qua cỏc giai đoạn theo dừi - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất lúa việt lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã vinh quang, tiên lãng,  hải phòng
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ tăng trưởng số nhánh của giống lỳa Việt Lai 20 qua cỏc giai đoạn theo dừi (Trang 33)
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chỉ số diện tích lá của  giống   lỳa Việt Lai 20 qua cỏc giai đoạn theo dừi - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất lúa việt lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã vinh quang, tiên lãng,  hải phòng
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chỉ số diện tích lá của giống lỳa Việt Lai 20 qua cỏc giai đoạn theo dừi (Trang 35)
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và các yếu tố cấu   thành năng suất của  giống lúa Việt Lai 20 - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất lúa việt lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã vinh quang, tiên lãng,  hải phòng
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Việt Lai 20 (Trang 44)
BẢNG HIỆU SUẤT PHÂN ĐẠM - nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất lúa việt lai 20 vụ mùa năm 2011 tại xã vinh quang, tiên lãng,  hải phòng
BẢNG HIỆU SUẤT PHÂN ĐẠM (Trang 46)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w