Do đó, việc sử dụng các nguồn lực phải được xem là công tácquan trọng trong công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đầu vào và đ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi đảng và nhà nước ta chủ trương chuyển từ nền kinh tế tập trungsang nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường vớinhiều thành phần kinh tế cùng tham gia sản xuất kinh doanh, đã có nhiều doanhnghiệp bắt kịp với cơ chế mới làm ăn phát đạt và khẳng định được vị trí củamình trên thương trường Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp do khôngthích ứng với cơ chế này dẫn đến tình trạng sản xuất kinh doanh thua lỗ, gặpnhiều khó khăn và dẫn đến đào thải
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này và một trong những nguyênnhân quan trọng nhất là họ không tìm được cho mình một con đường đi đúng đó
là họ chưa phân tích được hiệu quả kinh tế đã đạt được, để từ đó có sự đầu tưquản lý đúng đắn để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong tương lai
Hiệu quả kinh tế đạt được sau mỗi kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh làthước đo phản ánh trình độ tổ chức, trình độ quản lý và sử dụng các nguồn lực(lao động, vốn, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ ) của doanh nghiệp.Điều này đã giải thích lý do một số doanh nghiệp mặc dù có đội ngũ lao độnglành nghề, máy móc thiết bị hiện đại, nguồn vốn lớn nhưng vẫn không sản xuấtkinh doanh có lãi Do đó, việc sử dụng các nguồn lực phải được xem là công tácquan trọng trong công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất
là trong cơ chế thị trường hiện nay đầu vào và đầu ra thường xuyên biến động,việc sử dụng thường xuyên các nguồn lực tổ chức sản xuất kinh doanh chính xáchợp lý mới bảo đảm sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Như vậy, có thể xem trình độ tổ chức, quản lý và sử dụng các nguồn lực
là một trong các yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty Đóng tàu Phà Rừng ra đờitrong cơ chế bao cấp, bước sang cơ chế thị trường trong những năm đầu Công tytưởng chừng như không thể đứng vững lâm vào tình trạng khó khăn Song trongquá trình đổi mới Công ty dần thay đổi bộ mặt ổn định dần và đến nay đã tạođược chỗ đứng trên thị trường, quy mô của Công ty ngày càng được mở rộng
Trang 2hơn, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao, Công ty đã tạo được chỗ đứngtrên thị trường.
Vì vậy, việc nghiên cứu tình trạng sản xuất kinh doanh của Công ty để tìm
ra biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế là vấn đề quan trọng hiện nay.Xuất phát từ quan điểm này và quá trình thực tập tại Công ty Đóng tàu PhàRừng với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và với sự chỉ bảo nhiệt tình của
đơn vị thực tập em đã chọn đề tài “Dự báo doanh thu thực trạng về hiệu quả
sản xuất kinh doanh và những giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty đóng tàu Phà Rừng “ làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
Kết cấu của đề tài gồm có các phần sau:
Phần thứ nhất: Đặt vấn đề.
Phần thứ hai: Cơ sở khoa học của đề tài.
Phần thứ ba:: Một số tình hình cơ bản về Công ty đóng tàu Phà Rừng Phần thứ tư: Thực trạng về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty đóng tàu Phà Rừng.
Phần thứ năm: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Công ty đóng tàu Phà Rừng.
Phần thứ sáu: Kết luận.
Với thời gian thực tế chưa nhiều và với khả năng và trình độ có hạnnhững thiếu xót trong bài viết này là không thể tránh khỏi, em mong nhận được
sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết được tốt hơn
Qua đây em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo Nguyễn Văn
Lợi cũng như các cô chú, anh chị trong Công ty đóng tàu Phà Rừng đã giúp đỡ
em hoàn thành đề tài này
Trang 3PHẦN THỨ NHẤT : ĐẶT VẤN ĐỀ
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở mộtnền sản xuất hàng hoá Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới nhưngđồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ đe doạ các doanh nghiệp Để có thểđứng vững trước quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường đòi hỏicác doanh nghiệp luôn vận động, tìm tòi một hướng đi mới cho phù hợp Vì vậycác doanh nghiệp phải quan tâm, tìm mọi biện pháp để nâng cao hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh là thước đo tổng hợp, phản ánh năng lực sản xuất
và trình độ kinh doanh của một doanh nghiệp, là điều kiện quyết định sựthành bại của tất cả các doanh nghiệp nói chung và Công ty đóng tàu PhàRừng nói riêng Để khai thác triệt để các nguồn lực khan hiếm nhằm tạo racác sản phẩm hàng hoá thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng , các Công ty cầnphải nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiến hành đánh giá các kết quả đã thực hiện
và đưa ra các giải pháp, biện pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả Vấn đề hiệuquả kinh doanh luôn được ban lãnh đạo Công ty đóng tàu Phà Rừng đặc biệtquan tâm sâu sắc như một mục tiêu quan trọng trong quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh của Công ty
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hoạt động kinhdoanh,phương pháp so sánh, phương pháp thống kê… để dự báo doanh thu,phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty đóng tàu PhàRừng
Trang 4PHẦN THỨ HAI:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1- Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp :
2.1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh :
Các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Một số cách hiểu được diễn đạt như sau :
- Hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh là một mức độ đạt được lợi ích từ sảnphẩm sản xuất ra tức là giá trị sử dụng cửa nó (Hoặc là doanh thu và nhất là lợinhuận thu được sau quá trình kinh doanh ) Quan điểm này lẫn lộn giữa hiệu quả
và mục tiêu kinh doanh
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện sự tăng trưởng kinh tế phản ánh quanhịp độ tăng của chỉ tiêu kinh tế ,cách hiểu này còn phiến diện vì chỉ đứng trênmức độ biến động của các chỉ tiêu này theo thời gian
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí so với mức tăng kếtquả Đây là biểu hiện của các số đo chứ không phải là khái niệm về hiệu quảsản xuất kinh doanh
Trang 5- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữakết quả với chi phí Định nghĩa như vậy là chỉ muốn nói về cách xác lập các chỉtiêu chứ không toát nên ý niệm của vấn đề
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trênmỗi lao đông hay mức danh lợi của vốn sản xuất kinh doanh Quan điểm nàymuốn quy hiệu quả về một số chỉ tiêu tổng hiệu quả sản xuất kinh doanh cụ thểnào đó
Bởi vậy cần có một số khái niệm cần bao quát hơn :
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sựphát triển kinh tế theo chiều sâu , phản ánh trình độ khai thác các nguồn lựctrong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Nó là thước đongày càng quan trọng để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanhnghiệp
*Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh :
Thực chất là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả sản xuất kinhdoanh Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnhtranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khaithác , tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực Để đạt được mục tiêu kinhdoanh các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại , phát huynăng lực , hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạtkết quả tối đa với chi phí tối thiểu , hay chính xác hơn là đạt hiệu quả tối đa vớichi phí nhất định hoặc ngược lại đạt hiệu quả nhất định vơí chi phí tối thiểu Chiphí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sửdụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là giátrị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của việc hy sinh côngviệc kinh doanh khác để thực hiện công việc kinh doanh này chi phí cơ hội phảiđược bổ sung vào chi phí kế toán thực sự Cách hiều như vậy sẽ khuyến khích
Trang 6các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng cóhiệu quả.
2.1.2 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nhiệp trong cơ chế thị trường
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thịtrường, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đặt các doanh nghiệp trong sựcạnh tranh gay gắt lẫn nhau Do đó để tồn tại được trong cơ chế thị trường cạnhtranh hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động một cách có hiệu quảhơn
Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngàyngười ta càng sử dụng nhiều các nhu cầu khác nhau của con người Trong khicác nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lạingàu càng đa dạng Điều này phản ánh qui luật khan hiếm Qui luật khan hiếmbắt buộc mọi doanh nghiệp phải trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì? sảnxuất như thế nào? sản xuất cho ai? Vì thị trường chỉ chấp nhận các nào sản xuấtđúng loại sản phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp Để thấy được sự cầnthiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường trước hết chúng ta phải nghiên cứu cơ chế thị trường và hoạtđộng của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
Thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi hàng hoá Nó tồn tại một cáchkhách quan không phụ thuộc vào một ý kiến chủ quan nào Bởi vì thị trường rađời và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá
Ngoài ra thị trường còn có một vai trò quan trọng trong việc điều tiết và lưuthông hàng hoá Thông qua đó các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự phânphối các nguồn lực thông qua hệ thống giá cả trên thị trường Trên thị trườngluôn tồn tại các qui luật vận động của hàng hoá, giá cả, tiền tệ Như các quiluật giá trị, qui luật thặng dư, qui luật giá cả, qui luật cạnh tranh Các qui luậtnày tạo thành hệ thống thống nhất và hệ thống này chính là cơ chế thị trường.Như vậy cơ chế thị trường được hình thành bởi sự tác động tổng hợp trong sản
Trang 7xuất và trong lưu thông hàng hoá trên thị trường Thông qua các quan hệ muabán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường nó tác động đến việc điều tiết sản xuất,tiêu dùng, đầu tư và từ đó làm thay đổi cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành Nói cáchkhác cơ chế thị trường điều tiết quá trình phân phối lại các nguồn lực trong sảnxuất kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội một cách tối ưu nhất.
Tóm lại, với sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trường dẫn đến
sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ củacác doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Tuy nhiên để tạo ra được sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác địnhcho mình một phương thức hoạt động riêng, xây dựng các chiến lược, cácphương án kinh doanh một cách phù hợp và có hiệu quả
Như vậy trong cơ chế thị trường việc nâng cao hiệu quả kinh doanh vôcùng quan trọng, nó được thể hiện thông qua:
Thứ nhất: nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác địnhbởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả kinh doanh lại lànhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp làluôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc Do đó việc nâng cao hiệu quảkinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệphoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay Do yêu cầu của sự tồn tại và pháttriển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của doanh nghiệp phảikhông ngừng tăng lên Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuậtcũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổnhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệuquả kinh doanh Như vậy, hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọngtrong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Một cách nhìn khác là sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo
ra hàng hoá, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội,đồng thời tạo ra sự tích luỹ cho xã hội Để thực hiện được như vậy thì mỗi
Trang 8doanh nghiệp đều phải vươn lên để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và
có lãi trong qúa trình hoạt động kinh doanh Có như vậy mới đáp ứng được nhucầu tái sản xuất trong nền kinh tế Và như vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệuquả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình hoạt động kinhdoanh như là một yêu cầu tất yếu Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ là yêu cầu mangtính chất giản đơn còn sự phát triển và mở rộng của doanh nghiệp mới là yêucầu quan trọng Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp luôn luôn phải đi kèm với sựphát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích luỹ đảm bảo choquá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng qui luật phát triển Như vậy để pháttriển và mở rộng doanh nghiệp mục tiêu lúc này không còn là đủ bù đắp chi phí
bỏ ra để phát triển quá trình tái sản xuất giản đơn mà phải đảm bảo có tích luỹđáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng, phù hợp với qui luật khách quan và mộtlần nữa nâng cao hiệu quả kinh doanh được nhấn mạnh
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và
tiến bộ trong kinh doanh Chính việc thúc đẩycạnh tranh yêu cầu các doanhnghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh Chấp nhận cơchế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh Trong khi thị trường ngày càng pháttriển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn
Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh về mặt hàng mà cạnh tranh cả vềchất lượng, giá cả và các yếu tố khác Trong khi mục tiêu chung của các doanhnghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm các doanh nghiệp mạnh lênnhưng ngược lại cũng có thể là các doanh nghiệp không tồn tại được trên thịtrường Để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệpphải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường Do đó doanh nghiệp phải cóhàng hoá dịch vụ chất lượng tốt, giá cả hợp lý Mặt khác hiệu quả kinh doanh làđồng nghĩa với việc giảm giá thành tăng khối lượng hàng hoá bán, chất lượngkhông ngừng được cải thiện nâng cao
Thứ ba, mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận.
Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt động sản xuấtkinh doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường Muốn vậy, doanh
Trang 9nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định Doanh nghiệpcàng tiết kiệm sử dụng các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thuđược nhiều lợi nhuận bấy nhiêu Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh tínhtương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên là đIều kiện đểthực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanhcàng cao càng phản ánh doanh nghiệp đã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sảnxuất.Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan để doanhnghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận Chính sựnâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khảnăng tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp
2.1.3 Ý nghĩa :
Đối với doanh nghiệp ,hiệu quả sản xuất kinh doanh không những là thước đochất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sốngcòn, quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã thực sự chủ động trong kinhdoanh , nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở để doanh nghiệp pháttriển và mở rộng thị trường, qua đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường ,thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ , giảm được các chi phí về nhânlực và tài lực Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với phát triểndoanh nghiệp theo chiều sâu , nâng cao đời sống người lao động , góp phần vào
sự phát triển của xã hội và đất nước
Tóm lại cơ chế thị trường và đặc trưng của nó đã khiến việc nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh trở thành điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệpnếu không doanh nghiệp sẽ bị đào thải Do vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp và nền kinh tế
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh :
Trong điều kiện kinh tế thị trường với cơ chế lấy thu bù chi , cạnh tranhtrong kinh doanh ngày càng tăng , các doanh nghiệp phải chịu sức ép từ nhiềuphía Đặc biệt đối với doanh nghiệp của nước ta khi bước vào cơ chế thị trường
Trang 10đã gặp không ít những khó khăn , sản xuất kinh doanh bị đình trệ , hoạt độngkém hiệu quả là do chịu tác động của nhiều nhân tố Song nhìn một cách tổngquát có 2 nhân tố chính tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp :
2.2.1- Nhóm nhân tố chủ quan:
Mỗi biến động của một nhân tố thuộc về nội tai doanh nghiệp đều có thểảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh , làm cho mức độ hiệu qủa của quátrình sản xuất của doanh nghiệp thay đổi theo cùng xu hướng của nhân tố đó Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp ta thấy nổi lên támnhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh , mức độ hoạt độnghiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào sự tác động của tám nhân tốnày Để thấy rõ được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan ta đi phântích chi tiết từng nhân tố
a- Nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức lao động :
Lao động là một trong những nguồn lực quan trọng cho qúa trình sản xuấtkinh doanh Nó là tổng hợp các kỹ năng, mức độ đào tạo, trình độ giáo dục cósẵn tạo cho một cá nhân có khả năng làm việc và đảm bảo năng suất lao động.Như vậy, nguồn vốn nhân lực của Doanh nghiệp là lượng lao động hiện có, cùngvới nó là kỹ năng, tay nghề, trình độ đào tạo, tính sáng tạo và khả năng khai tháccủa người lao động Nguồn nhân lực không phải là cái sẽ có mà là đã có sẵn tạiDoanh nghiệp, thuộc sự quản lý và sử dụng của Doanh nghiệp Do đó, để đảmbảo hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh thì Doanh nghiệp phải hết sứclưu tâm tới nhân tố này Vì nó làm chất xám, là yếu tố trực tiếp tác động lên đốitượng lao động và tạo ra sản phẩm và kết quả sản xuất kinh doanh , có ảnhhưởng mang tính quyết định đối với sự tồn tại và hưng thịnh của Doanh nghiệp.Trong đó, trình độ tay nghề của người lao động trực tiếp ảnh hưởng tới chấtlượng sản phẩm, do đó với trình độ tay nghề của người lao động và ý thức tráchnhiệm trong công việc sẽ nâng cao được năng suất lao động Đồng thời tiết kiệm
Trang 11và giảm được định mức tiêu hao nguyên vật liệu, từ đó góp phần nâng cao hiệuquả kinh tế trong sản xuất kinh doanh
Trình độ tổ chức quản lý của cán bộ lãnh đạo, nghiệp vụ, tại đây yêu cầumỗi cán bộ lãnh đạo, nghiệp vụ phải có kiến thưc, có năng lực và năng độngtrong cơ chế thị trường Cần tổ chức phân công lao động hợp lý giữa các bộphận, cá nhân trong Doanh nghiệp; sử dụng đúng người, đúng việc sao cho tậndụng được năng lực, sở trường, tính sáng tạo của đội ngũ cán bộ, nhân viên.Nhằm tạo ra sự thống nhất hợp lý trong tiến trình thực hiện nhiệm vụ chung củaDoanh nghiệp
Tuy nhiên, Doanh nghiệp cũng cần áp dụng các hình thức trách nhiệm vậtchất, sử dụng các đòn bẩy kinh tế thưởng phạt nghiêm minh để tạo động lựcthúc đẩy người lao động nỗ lực hơn trong phạm vi trách nhiệm của mình, tạo rađược sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện một cách tốt nhất kế hoạch đã đề ra từ
đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh
b- Công tác tổ chức quản lý:
Đây là nhân tố liên quan tới việc tổ chức, sắp xếp các bộ phận, đơn vị thànhviên trong Doanh nghiệp Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất kinh doanhthì nhất thiếu yêu cầu mỗi Doanh nghiệp phải có một cơ cấu tổ chức quản lý phùhợp với chức năng cũng như quy mô của Doanh nghiệp trong từng thời kỳ Qua
đó nhằm phát huy tính năng động tự chủ trong sản xuất kinh doanh và nâng caochế độ trách niệm đối với nhiệm vụ được giao của từng bộ phận, từng đơn vịthành viên trong Doanh nghiệp
Công tác quản lý phải đi sát thực tế sản xuất kinh doanh , nhằm tránh tìnhtrạng “khập khiễng”, không nhất quán giữa quản lý (kế hoạch) và thực hiện.Hơn nữa, sự gọn nhẹ và tinh giảm của cơ cấu tổ chức quản lý có ảnh hưởngquyết định đến hiệu quả của qúa trình sản xuất kinh doanh
c- Quản lý và sử dụng nguyên liệu :
Nếu dự trữ nguyên liệu, hàng hoá quá nhiều hay quá ít đều có ảnh hưởngkhông tốt tới hoạt động sản xuất kinh doanh Vấn đề đặt ra là phải dự trữ mộtlượng nguyên liệu hợp lý sao cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián
Trang 12đoạn Bởi vì, khi thu mua hay dự trữ quá nhiều nguyên liệu, hàng hoá sẽ gây ứđọng vốn và thủ tiêu tính năng động của vốn lưu động trong kinh doanh Còn dựtrữ quá ít thì không đảm bảo sự liên tục của qúa trình sản xuất và thích ứng vớinhu cầu của thị trường Điều này dĩ nhiên ảnh hưởng không tốt đến qúa trình sảnxuất cũng như công tác tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp.
Hơn nữa, về bản chất thì nguyên liệu là một bộ phận của tài sản lưu động,vậy nên tính năng động và tính linh hoạt trong sản xuất kinh doanh là rất cao
Do vậy tính hợp lý khi sử dụng nguyên liệu ở đây được thể hiện qua: Khốilượng dự trữ phải nằm trong mức dự trữ cao nhất và thấp nhấp nhằm đảm bảocho qúa trình sản xuất cũng như lưu thông hàng hoá được thông suốt ; cơ cấu dựtrữ hàng hoá phải phù hợp với cơ cấu lưu chuyển hàng hoá, tốc độ tăng của sảnxuất phải gắn liền với tốc độ tăng của mức lưu chuyển hàng hoá
Ngoài ra, yêu cầu về tiết kiệm chi phí nguyên liệu trong sản xuất kinh doanhcũng cần được đặt ra đối với mỗi Doanh nghiệp Qua đó nhằm giảm bớt chi phícung trong giá thành sản phẩm, mà chi phí về nguyên liệu thường rất lớn chiếm
60 - 70% (đối với các Doanh nghiệp sản xuất) Như vậy ta thấy, việc tiết kiệmnguyên liệu trong qúa trình sản xuất là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọngtrong việc nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh
d- Nguồn vốn và trình độ quản lý , sử dụng vốn :
Nguồn vốn là một nhân tố biểu thị tiềm năng, khả năng tài chính hiện cócủa Doanh nghiệp Do vậy, việc huy động vốn, sử dụng và bảo toàn vốn có mộtvai trò quan trọng đối với mỗi Doanh nghiệp Đây là một nhân tố hoàn toàn nằmtrong tầm kiểm soát của Doanh nghiệp vì vậy Doanh nghiệp cần phải chú trọngngay từ việc hoạch định nhu cầu về vốn làm cơ sở cho việc lựa chọn phương ánkinh doanh, huy động các nguồn vốn hợp lý trên cơ sở khai thác tối đa mọinguồn lực sẵn có của mình Từ đó tổ chức chu chuyển, tái tạo nguồn vốn banđầu, đảm toàn và phát triển nguồn vốn hiện có tại Doanh nghiệp
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nướcthì việc bảo toàn và phát triển vốn trong các Doanh nghiệp là hết sức quan trọng.Đây là yêu cầu tơ thân của mỗi Doanh nghiệp, vì đó là điều kiện cần thiết cho
Trang 13việc duy trì, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh Bởi vì, muốn đạt hiệu quả kinh tế và phát triển nguồn vốn hiện có thì trước hếtcác Doanh nghiệp phải bảo toàn được vốn của mình.
Xét về mặt tài chính thì bảo toàn vốn của Doanh nghiệp là bảo toàn sứcmua của vốn vào thời điểm đánh giá, mức độ bảo toàn vốn so với thời điêm cơ
sở (thời điểm gốc) được chọn Còn khi ta xét về mặt kinh tế, tức là bảo đảm khảnăng hoạt động của Doanh nghiệp so với thời điểm cơ sở, về khía cạnh pháp lýthì là bảo đam tư cách kinh doanh của Doanh nghiệp
Từ việc huy động sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn được thực hiện cóhiệu quả sẽ góp phần tăng khả năng và sức mạnh tài chính của Doanh nghiệp,thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo hiệu quả kinh tế của Doanhnghiệp
e- Nhân tố cơ sở vật chất kỹ thuật:
Thực tế cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện quy mô và là yếu tố cơ bản đảmbảo cho sự hoạt động của Doanh nghiệp Đó là toàn bộ nhà xưởng, kho tàng,phương tiện vật chất kỹ thuật và máy móc thiết bị nhằm phục cụ cho qúa trìnhsản xuất kinh doanh tại Doanh nghiệp Nhân tố này cũng có ảnh hưởng đến hiệuquả kinh tế trong sản xuất kinh doanh , vì nó là yếu tố vật chất ban đầu của qúatrình sản xuất kinh doanh Tại đây, yêu cầu đặt ra là ngoài việc khai thác triệt để
cơ sở vật chất đã có, còn phải không ngừng tiến hành nâng cấp, tu bổ, sữa chữa
và tiến tới hiện đại hoá, đổi mới công nghệ của máy móc thiết bị Từ đó nângcao sản lượng, năng suất lao động và đảm bảo hiệu quả kinh tế ngày càng đượcnâng cao
g- Hiểu biết về thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, các Doanh nghiệp chỉ có thể kinh doanh hànghoá của mình thông qua thị trường Thị trường thừa nhận hàng hoá đó chính làngười mua chấp nhận nó phù hợp với nhu cầu của xã hội Còn nếu người muakhông chấp nhận tức là sản phẩm của Doanh nghiệp chưa đáp ứng đúng nhu cầucủa người mua về chất lượng, thị hiếu, giá cả và như vậy tất nhiên Doanhnghiệp sẽ bị lỗ Bởi vậy để hoạt động tốt hơn, tiêu thụ được nhiều hàng hoá,
Trang 14tăng lợi nhuận thì các Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng hoá bắt buộcphải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu khả năng cung của thị trường, cầu củathị trường về hàng hoá bao gồm cơ cấu, chất lượng, chủng loại Tác dụng củaviệc nghiên cứu thị trường là cơ sở để dự đoán, cho phép Doanh nghiệp đề rahướng phát triển, cạnh tranh đối với các đối thủ, sử dụng tốt các nguồn lực củaDoanh nghiệp, giúp Doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu của mình và biếtđược thế đứng trong xã hội, tìm ra và khắc phục những nhược điểm còn tồn tạinhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
h- Văn minh phục vụ khách hàng:
Việc nâng cao văn minh phục vụ khách hàng là yêu cầu cần khách quancủa môi trường cạnh tranh, cũng như sự phát triển nền kinh tế thị trường Nhưngchính nhu cầu khách quan này thể hiện quan điêm và văn hoá riêng của mỗiDoanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh , cũng như nét đặc trưng của nền kinh
tế thị trường Văn minh phục vụ khách hàng được biểu hiện thông qua việc thoảmãn tối đa nhu cầu của khách hàng với những phương tiện phục vụ hiện đại vàvới thái độ nhiệt tình, lịch sự Từ đó góp phần thu hút khách hàng, tăng nhanhdoanh số tiêu thụ và nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh
i- Trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ:
Ngày nay, mọi người, mọi ngành, mọi cấp đều thấy ảnh hưởng của khoahọc kỹ thuật đối với tất cả các lĩnh vực (nhất là lĩnh vực kinh tế) Trước thựctrạng đó để tránh tụt hậu, một trong sự quan tâm hàng đầu của Doanh nghiệp lànhanh chóng nắm bắt được và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuấtnhằm đạt hiệu quả chính trị - xã hội cao Trong cơ chế thị trường, Doanh nghiệpmuốn thắng thế trong cạnh tranh thì một yếu tố cơ bản là phải có tính trình độkhoa học công nghệ cao, thỏa mãn nhu cầu của thị trường cả về số lượng, chấtlượng, thời gian Để đạt được mục tiêu này yêu cầu cần đặt ra là ngoài việc khaithác triệt để cơ sở vật chất đã có (toàn bộ nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vậtchất kỹ thuật máy móc thiết bị) còn phải không ngừng tiến hành nâng cấp, tusửa, sữa chữa và tiến tới hiện đại hoá công nghệ máy móc, thiết bị từ đó nângcao sản lượng, năng suất lao động và đảm bảo hiệu quả ngày càng cao
Trang 152.2.2- Nhóm nhân tố khách quan:
a- Sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế, của ngành:
Đây là một nhân tố có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả kinh tế.Mỗi Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế Do vậy doanh nghiệp muốntồn tại, phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao thì nhất thiết phải có một môitrường kinh doanh lành mạnh
Tuy nhiên, trong một nền sản xuất công nghiệp có trình độ phân công vàhiệp tác lao động cao thì mỗi ngành, mỗi Doanh nghiệp chỉ là một mắt xíchtrong một hệ thống nhất Nên khi chỉ có sự thay đổi về lượng và chất ở bất kỳmắt xích nào trong hệ thống cũng đòi hỏi và kéo theo sự thay đổi của các mắtxích khác, đó là sự ảnh hưởng giữa các ngành, các Doanh nghiệp có liên quanđến hiệu quả kinh tế chung Thực chất một Doanh nghiệp, một ngành muốn pháttriển và đạt hiệu quả kinh tế đơn lẻ một mình là một điều không tưởng Bởi vì,quá trình sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư - sản xuất - tiêu thụ là liên tục và
có mối quan hệ tương ứng giữa các ngành cung cấp tư liệu lao động, đối tượnglao động và các ngành tiêu thụ sản phẩm Do vậy để đạt hiệu quả cao cần gắnvới sự phát triển của nền kinh tế, của các ngành và các ngành có liên quan
b- Mức sống và thu nhập của dân cư, khách hàng.
Thực chất, nhân tố này xét về một khía cạnh nào đó cũng thể hiện sự pháttriển và tăng trưởng của nền kinh tế Tuy nhiên do mức độ quan trọng và tínhđặc thù của nhân tố này nên ta có thể tách ra và xem xét kỹ hơn Đó là, sảnphẩm hay dịch vụ tạo ra phải được tiêu thụ, từ đó Doanh nghiệp mới có thu nhập
và tịch luỹ Nếu như thu nhập tình hình tài chính của khách hàng cao thì có thểtốc độ tiêu thụ sản phẩm hay thực hiện dịch vụ của Doanh nghiệp là cao vàngược lại
Đây là một mối quan hệ tỉ lệ thuận, tuy nhiên mối quan hệ này lại phụthuộc vào ý muốn tự thân của khách hàng, hay giá cả cũng như chính sách tiêuthụ cụ thể của Doanh nghiệp Hơn nữa, việc tiêu thụ sản phẩm và thực hiện dịch
vụ là công đoạn cuối cùng của qúa trình sản xuất kinh doanh nó mang lại thunhập cho các Doanh nghiệp và trực tiếp tác động lên hiệu quả sản xuất kinh
Trang 16doanh Do vậy, khi phân tích và quản lý kinh tế, các Doanh nghiệp phải hết sứclưu ý đến nhân tố này.
c- Cơ chế quản lý và các chính sách của Nhà nước:
Tại mỗi một quốc gia đều có một cơ chế chính trị nhất định, gắn với nó là
cơ chế quản lý và các chính sách của Bộ máy Nhà nước áp đặt lên quốc gia đó
Sự ảnh hưởng của nhân tố này rất rộng, mang tính bao quát không những tácđộng đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân mà nó còn ảnh hưởng (thôngqua sự quản lý gián tiếp của Nhà nước) tới hiệu quả kinh tế của sản xuất kinhdoanh tại các Doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, các Doanh nghiệp được tự chủ trong sản xuất kinhdoanh dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì hiệu quả kinh tế được đánh giáthông qua mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, với mục tiêu
là cực đại các khoản thu nhập và giảm tổi thiểu mức chi phí đầu tư, chứ khôngchỉ đơn thuần là hoàn thành hay vượt mức kế hoạch đã đề ra
Gắn với từng cơ chế quản lý thì có từng chính sách kinh tế vĩ mô nhất định.Các chính sách kinh tế của Nhà nước có tác động trực tiếp tới hoạt động sảnxuất kinh doanh của các Doanh nghiệp, qua đó nó cũng ảnh hưởng nhất địnhđến hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh Ngoài ra, Nhà nước còn tác động tớihoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp thông qua một loại các công
cụ quản lý kinh tế
d- Nguồn cung ứng và giá cả của nguyên vật liệu:
Nguyên liệu có vai trò tham gia cấu thành nên thực thể của sản phẩm, do
đó nguyên vật liệu trong SXKD thường chiếm tỉ trọng lớn, mà hầu hết nguyênliệu chính đều có nguồn gốc do mua ngoài Trong khi tính sẵn có của nguồncung ứng nguyên vật liệu thường ảnh hưởng phần nào lên kế hoạch và tiến độsản xuất của Doanh nghiệp, giá cả nguyên liệu chính có tác động rất lớn đến giáthành sản phẩm Vì vậy, sự quan tâm tới giá cả và nguồn cung ứng nguyên vậtliệu có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá và phân tích hậu quảkinh tế Đây là một nhân tố khách quan và nằm ngoài tầm kiểm soát của Doanhnghiệp
Trang 17e- Môi trường cạnh tranh và quan hệ cung cầu.
Ngày nay, trong cơ chế thị trường thì sự cạnh tranh là rất gay gắt và quyếtliệt Nó mang tích chắt lọc và đào thải cao Do vậy nó đòi hỏi mỗi Doanh nghiệpphải không ngừng nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh ,qua đó nhằm tăng khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp mình và đứng vữngtrên thương trường Điều này buộc các Doanh nghiệp phải tìm mọi phương ánnhằm giảm bớt chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm nếu không muốn điđến bờ vực của sự phá sản và giải thể Dù muốn hay không, mỗi Doanh nghiệpđều bị cuốn vào sự vận động của môi trường kinh doanh Do vậy, để không bịcuốn trôi thì nhất định các Doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh tế của sảnxuất kinh doanh
Bên cạnh đó mối quan hệ cung cầu trên thị trường cũng có ảnh hưởng khôngnhỏ đối với cả “đầu vào” và “đầu ra” của qúa trình sản xuất kinh doanh tạiDoanh nghiệp, mà cụ thể là giá cả trên thị trường Nếu sự lên xuống của giá cảnguyên liệu đầu vào không đồng nhất với sản phẩm bán ra sẽ gây lên nhiều bấtlợi cho Doanh nghiệp Khi đó thu nhập của Doanh nghiệp không được đảm bảo,tương ứng sẽ làm giảm sút hiệu quả sản xuất kinh doanh Dù đây là những nhân
tố khách quan nhưng Doanh nghiệp cũng cần phải theo dõi và nghiên cứu kỹlưỡng để có những sách lược phù hợp
2.3- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3.1- Yêu cầu cơ bản trong phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Để phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpmột cách cụ thể và có hiệu quả thì ta phải:
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Tính toán tổng hợp các chỉ tiêu
Đánh giá chung và phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Trang 18Thu nhập đầy đủ: chính xác các thông tin về giá trị sản xuất, giá trị giatăng, chi phí trung gian, doanh thu, lợi nhuận, lao động bình quân, vốn đầu tư,vốn sản xuất kinh doanh
Dự báo xu hướng sản xuất kinh doanh trong thời gian tới và đề ra nhữnggiải pháp pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
2.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của
đó có hiệu quả Vì vậy , để phản ánh hiệu quả kinh tế cần sử dụng hệ thống chỉtiêu: khi tính toán (từng chỉ tiêu cụ thể ) người ta dựa vào công thức :
H= (1) Trong đó:
H: Là hiệu quả kinh tế
K: Là kết quả sản xuất đạt được
C: Là chi phí sản xuất bỏ ra
Về kết quả sản xuất đạt được hiện nay người ta thường dùng chỉ tiêu vềdoanh thu hoặc lợi nhuận
Về chi phí sản xuất có thể sử dụng toàn bộ chi phí lao động sống và laođộng vật hoá hoặc lao động sống ( thường tính theo số lượng lao động bình quânnăm) hoặc vốn sản xuất bình quân năm
Từ công thức (1) ta có thể vận dụng và tính toán hiệu quả kinh tế củadoanh nghiệp theo chỉ tiêu sau:
Doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận
Vốn sản xuất bình quân nămH =
K C
Trang 19Trong đó: Vốn sản xuất bao gồm vốn cố định và vốn lưu động Đây là chỉtiêu phán ánh hiệu quả sử dụng vốn sản xuất Thông qua các chỉ tiêu này thấyđược một đồng vốn bỏ vào sản xuất tạo ra được bao nhiêu đồng tổng thu nhập,thu nhập thuần tuỳ Nó cho ta thấy được hiệu quả kinh tế không chỉ đối với laođộng vật hoá mà còn cả lao động sống Nó còn phản ánh trình độ tổ chức sảnxuất và quản lý của ngành cũng như của các doanh nghiệp Mục tiêu sản xuấtcủa ngành cũng như của doanh nghiệp và toàn xã hội không phải chỉ quan tâmtạo ra nhiều sản phẩm bằng mọi chi phí mà điều quan trọng hơn là sản phẩmđược tạo ra trên mỗi đồng vốn bỏ ra nhiều hay ít.
Chỉ tiêu doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận, tiền vốn là các chỉ tiêuphản ánh trình độ phát triển sản xuất, trình độ sử dụng nguồn vốn vật tư, laođộng, tài chính Khối lượng sản phẩm tạo ra trên từng đồng vốn cũng lớn cũngtạo điều kiện thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và mở rộng hơn nữa qui
mô sản xuất
b - Các chỉ tiêu về doanh lợi:
Doanh lợi là phạm trù kinh tế quan trọng nhất vốn có của tất cả các đơn vị, hoạtđộng trên cơ sở hạch toán kinh tế Nó phản ánh hiệu quả của việc sử dụng yếu tốsản xuất, phản ánh chất lượng sản phẩm tiêu thụ
* Mức doanh lợi theo vốn:
Đây là chỉ tiêu thông dụng và quan trọng nhất phản ánh hiệu quả của các hoạtđộng kinh doanh một cách tổng quát, thể hiện đúng mục đích của các doanhnghiệp
Làm thế nào để đồng vốn khi được huy động vào kinh doanh mang lại lợinhuận cao? Đây cũng chính là vấn đề các nhà quản lý kinh doanh luôn trăn trởtìm kiếm câu trả lời nó chi phối mọi hành động và quyết định sự nghiệp của nhàkinh doanh
Có 2 khái niệm: Mức doanh lợi tổng vốn và mức doanh lợi vốn sử dụng, mà cácdoanh gia cần phân biệt để đánh giá hiểu quả trong 1 kỳ hạn hoạt động và dùnglàm cơ sở để xây dựng kế hoạch kinh doanh trong kỳ tới
+ Mức doanh lợi tổng vốn:
Trang 20Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lợi của một đơn vị tiền vốn nói chúng khiđược đầu tư vào kinh doanh, không phụ thuộc vào việc thực hiện nó có đượchuy động trong năm hiện tại hay không.
TTDN ròng
Tổng vốn kinh doanh
Trong đó: DLTV: Doanh lợi tổng vốn
TTDN ròng: Lợi nhuận dau thuế
ý nghĩa chỉ tiêu: 1 đồng vốn kinh doanh trong kỳ thì làm ra bao nhiều đồng lợinhuận
Một cơ số vốn cho 1 năm có thể tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh,nghĩa là 1 cơ số vốn trong năm có thể chịu hiện nhiều vòng quay gọi là tốc đichu chuyển vốn Tốc độ chu chuyển vốn (SV) là số vòng tính bình quân cho cả
kỳ kinh doanh của tổng vốn Công thức tính của nó như sau:
Doanh thu
Tổng vốn kinh doanh
Trong đó:
SV - Tốc độ chịu chuyển vốn
ý nghĩa chỉ tiêu: Bình quân trong kỳ vốn kinh doanh quay được mấy vòng
* Mức doanh lợi chi phí:
Mức doanh lợi chi phí phản ánh các hoạt động kinh doanh trên 2 phạm vi toàndoanh nghiệp và cho 1 chủng loại sản phẩm
Mức doanh lợi tính cho tổng chi phí của doanh nghiệp được xác định theo côngthức sau:
% 100
x Z
DN: Lợi nhuận sau thuế
c - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh bộ phận:
(2)
(4) DLTV =
Trang 21và chỉ tiêu hiệu suất TSCĐ là HTSCĐ thì:
HTSCĐ = (6)
Trong đó: Kết quả được xác định theo chỉ tiêu tổng doanh thu hoặc lợi nhuận.Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ biểu hiện 1 đồng TSCĐ trong kỳ sản xuất rabình quân bao nhiêu đồng của chỉ tiêu kết quả kinh doanh tương ứng
Hiệu quả sử dụng TSCĐ có thể biểu hiện theo cách ngược lại, tức là là nghịchđảo của công thức ( 6 ), gọi là suất TSCĐ (STSCĐ)
STSCĐ = (7)
Nó cho biết 1 đồng kết quả kinh doanh cần phải có bao nhiêu đồng TSCĐ
* Hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Vốn lưu động là vốn đầu tư vào TSLĐ của doanh nghiệp Nó là số tiền ứngtrước về TSLĐ nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục Đặcđiểm của loại vốn này là luân chuyển không ngừng, luôn luôn thay đổi hình tháibiểu hiện giá trị toàn bộ ngay 1 lần và hoàn thành 1 vòng tuần hoàn trong 1 chu
kỳ sản xuất kinh doanh Vốn lưu động thường bao gồm vốn dự trữ sản xuất(nguyên vật liệu chính, bán thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụtùng thay thế, công cụ lao động thuộc TCLĐ), vốn trong quá trình trực tiếp sảnxuất (sản phẩm đang chế tạo, phí tổn đợi phân bổ và vốn trong quá trình thôngtin), vốn thành phầm, vốn thanh toán Hiệu quả sử dụng vốn lưu động (ký hiệu
TSCĐ Kết quả
Kết quả TSCĐ
Trang 22là HVLĐ)cũng được xác định bằng cách lấy kết quả kinh doanh (KQ) chia chovốn lưu động bình quân trong năm (ký hiệu là VLĐ).
Vốn lưu động bình quân đầu tháng +
Cộng 12 mức VLĐ bq của 12 tháng
12
VLĐ KQ
LN VLĐ
Trang 23Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất, góp phầnquan trọng trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng laođộng được biểu hiện ở năng suất lao động hoặc hiệu suất tiền lương.
Năng suất lao động được xác định bằng cách chia kết quả kinh doanhtrong kỳ cho số lựơng lao động bình quân trong kỳ
Do kết quả kinh doanh được phản ánh bằng 3 chỉ tiêu: Tổng giá trị kinhdoanh, giá trị gia tăng và lợi nhuận nên có 3 cách biểu hiệu của NSLĐ tính bìnhquân cho 1 người (lao động) Trong kỳ (thường tính theo năm) Gọi số lượnglao động bình quân trong năm là lao động và năng suất lao động bình quân năm
là NSLĐ, ta có:
NSLĐ =Năng suất lao động tính theo năm chịu ảnh hưởng rất lớn của việc sửdụng thời gian cụ thể là nó phụ thuộc vào số ngày bình quân làm việc trongnăm, số giờ bình quân làm việc mỗi ngày của 1 lao động trong doanh nghiệp vàNSLĐ bình quân mỗi giờ điều đó được thể trong công thức sau:
NSLD = n x g x NSg
Trong đó: n - Số ngày làm việc bình quân trong năm
g - số giờ làm việc bình quân mỗi lao động
NSg - Năng suất lao động bình quân mỗi giờ làm việc củamột lao động
KQ
n x g x LĐ
Trang 24d - Một số chỉ tiêu tài chính quan trọng:
* Các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán:
Các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán đánh giá trực tiếp khả năng thanh toánbằng tiền mặt của 1 doanh nghiệp, cung cấp những dấu hiệu liên quan với việcxem xét liệu doanh nghiệp có thể trả được nợ ngắn hạn khi đến hạn hay không.Sau đây là một số chỉ tiêu:
đã đầu tư quá mức vào tài sản lưu động so với nhu cầu doanh nghiệp và tài sảnlưu động dư thừa thường không tạo thêm doanh thu Do vậy, nếu doanh nghiệpđầu tư quá đáng vốn của mình vào tài sản lưu động, số vốn đó sẽ không được sửdụng có hiệu quả
Hệ số thanh toán ngăn hạn được các chủ nợ chấp nhận là K 2 Nhưng để đánh
gí hệ số thanh toán ngắn hạn của một doanh nghiệp tốt hay xấu thì ngoài việcdựa vào hệ số k còn phải xem xét ba yếu tố sau:
- Bản chất ngành kinh doanh
- Cơ cấu tài sản lưu động
Hệ số thanh
Trang 25- Hệ số quay vòng của một số loại tài sản lưu động như hệ số quay vòng cáckhoản phải thu của khác hàng, hệ số quay vòng hàng tồn kho, hệ số quay vòngvốn lưu động.
+ Hệ số thanh toán nhanh (tức thời) (Kn)
Hệ số thanh toán nhanh thể hiện quan hệ giữa các loại tài sản lưu động có khảnăng chuyển nhanh thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn và nợ dài hạn đến hạntrả Các loại tài sản lưu động được xếp vào loại chuyển nhanh thành tiền là tiền,
CK ngắn hạn, các khoản phải thu của khách hàng Công thức tính hệ số thanhtoán nhanh như sau:
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh là một tiêu chuẩn đánh giá khắt khe hơn đối với khảnăng chi trả các khoản nợ ngắn hạn so với hệ số thanh toán ngắn hạn Kn cànglớn ,khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao
* Các tỷ số kết cấu của nguồn vốn:
Nếu ta chia các nguồn vốn thành 2 nhóm: Nguồn vốn từ chủ nợ và nguồn vốn từchủ sở hữu đóng góp ta sẽ tính được các tỷ số kết cấu theo đối tượng cung cấpvốn
- Các tỷ số này ngoài việc phản ánh tỷ lệ vốn được cung cấp theo từng nhóm đốitượng còn có ý nghĩa phản ánh tỷ lệ rủi ro mà chủ nợ phải chịu nếu doanhnghiệp thất bại
Công thức tính các chỉ số kết cấu của nguồn vốn:
x 100%
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tiền
Đầu tư CK ngắn hạn
Phải thu của khách hàng +
Trang 26Tỷ số vốn sở hữu/nguồn vốn =
Nếu doanh nghiệp đầu tư vào TSCĐ là chủ yếu thì doanh nghiệp phải biếtcách lợi dụng tác động của đòn cân nợ và phần lớn nguồn vốn vay phải là vaydài hạn Vay dài hạn 1 năm là giảm nhu cầu vốn thường xuyên của doanhnghiệp, mặt khác tiền lãi phải trả được thừa nhận như một khoản chi phí cầnthiết có doanh thu
Ngoài các chỉ tiêu phản ánh về hiệu quả sản xuất kinh doanh và các chỉtiêu tài chính quan trọng đã nêu ở trên còn nhiều chỉ tiêu đanh giá hiệu quả sảnxuất kinh doanh khác Nhưng do gới hạn của bài luận văn này nên chúng tôikhông sử dụng để phân tích như các chỉ tiêu về tài chính là: Tỷ lệ lãi gộp, tỷ lệlãi thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh…
Trang 273.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Đóng tàu Phà Rừng.
Tiền thân của Công ty Đóng tàu Phà Rừng là Công ty sửa chữa tàu biểnPhà Rừng đó là một công trình hợp tác Việt Nam - Phần Lan được thành lậptheo quyết định số 622/QĐ/ TCCB- LĐ cấp ngày 5 tháng 4 năm 1993 của BộGiao thông vận tải và nghị định số 33/CP ngày 17/05/1996 của Chính phủ vềviệc phê chuẩn Điều lệ và tổ chức hoạt động của Tổng công ty Công nghệp tàuthuỷ Việt Nam Công ty sửa chữa tàu biển Phà Rừng được thiết kế, xây dựng,lắp đặt hướng dẫn khai thác với sự giúp đỡ của Chính phủ Phần Lan và cácchuyên gia Phần Lan
Sau khi thành lập đi vào hoạt động Công ty không ngừng phát triển cả vềquy mô và chất lượng Từ chỗ, ban đầu lĩnh vực hoạt động chính của Công ty làcung cấp dịch vụ sửa chữa do nhu cầu đóng mới tàu thuỷ trên thị trường ngàycàng lớn và nhu cầu không ngừng phát triển của công ty nên năm 2002 công ty
đã chuẩn bị cho chiến lược đóng mới các phương tiện tàu thuỷ Để phù hợp vớinền kinh tế thị trường, xu thế hội nhập và chiến lược phát triển lâu dài Công tynên năm 2005 Công ty được chuyển đổi thành Công ty TNHH Nhà nước mộtthành viên Đóng tàu Phà Rừng ( gọi tắt là Công ty Đóng tàu Phà Rừng) theoquyết định số 152/2004/ QĐ – TTg ngày 16/8/2004 của thủ tướng Chính Phủ Trụ sở giao dịch: Thị trấn Minh Đức - Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng Điện thoại: 0313.875.128
Trang 28Theo Giấy chứng nhận đâng ký kinh doanh mới nhất số 0204000031 ngày12/09/2005 do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng cấp với nhiệm vụsản xuất kinh doanh của Công ty bao gồm:
- Sửa chữa tàu biển, dịch vụ hàng hải, tổ chức kinh doanh vận tải đường bộ
- Gia công lắp đặt các linh kiện thép, phá dỡ tàu cũ
- Kinh doanh vật tư, máy móc thiết bị, phụ tùng, phụ kiện công nghiệp tàuthuỷ và dân dụng
- Đóng mới các phương tiện tàu thuỷ , bốc xếp hàng hoá tại tàu
- Kinh doanh sắt thép phế liệu
- Vận tải biển và các nghành, nghề theo quy định của pháp luật
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của Công ty Đóng tàu Phà Rừng trong quá trình hoạt động.
a- Thuận lợi:
- Do được sự giúp đỡ và ưu ái của chính phủ Việt Nam Và Phần Lan nên quy
mô của Công ty là tương đối lớn có thể sửa chữa được các tàu có trọng tải lớnđáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Trong năm 2002nhận được sự giúp đỡ của Tổng Công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam nên nhàmáy đang tiến hành đẩy nhanh công việc đóng mới tàu thuỷ để sớm đưa con tàuđầu tiên được xuất xuống
- Nhà máy luôn nhận được sự chỉ đạo và định hướng đúng đắn của Tổng Công
ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam thêm vào đó nhà máy còn được hoạt độngsản xuất kinh doanh trên một môi trường chính trị ổn định có hành lang pháp lý
an toàn cạnh tranh lành mạnh để nhà máy có thể an tâm trong hoạt động sảnxuất kinh doanh
- Nhà máy có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ và tay nghề cao,giàukinh nghiệm, lành nghề, tự giác khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt mọinhiệm vụ, có sự đoàn kết thống nhất từ cấp lãnh đạo đến những người lao động
- Hệ thống nhà điều hành và các phòng ban giúp việc với đầy đủ trang thiết bịhiện đại, phục vụ tốt, nhanh nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 29- Được Chính quyền địa phương nơi nhà máy đặt trụ sở ( cả 3 cấp Thị trấn,huyện, thành phố ) sẵn sàng tạo điều kiện về đất đai, hạ tầng, bảo vệ an ninh chonhà máy trong sản xuất kinh doanh.
- Khách hàng chấp nhận và tiêu thụ sản phẩm của Công ty đều là những kháchhàng lớn
Ngoài những thuận lợi được nêu trên Nhà máy cũng gặp phải những khó khănsau
- Thị trường sửa chữa và đóng tàu luôn có xu hướng thu hẹp, do tàu nhỏ càng ítdần tàu có trọng tải lớn có xu hướng tăng, nhà máy chỉ được đầu tư ụ dến15.000tấn, đà 10.000 tấn nên không có khả năng sửa chữa và đóng các tàu lớn.Mặt khác vị trí của Nhà máy nằm ở ngoại thành nên việc đi lại gặp rất nhiều khókhăn từ đó nảy sinh ra các chi phí về các dịch vụ đi lại của CBCNV, việc vậnchuyển vật tư cũng gặp khó khăn chi phí lớn, việc ăn ở cho các thuỷ thủ vàthuyền viên trong thời gian sửa chữa không được thuận tiện
Hải Phòng chưa có nhiều đại lý cung cấp cấp vật tư với yêu cầu kỹ thuật cao nênthường phải chờ nhập khẩu từ nước ngoài làm ảnh hưởng đến tiến độ sửa chữa
3.2 Những thành tích cơ bản mà doanh nghiệp đã đạt được trong những năm qua.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, của tập thể ban lãnh đạoCông ty, cùng với sự năng động, sáng tạo, nhiệt tình, ham học hỏi của cán bộquản lý cũng như người lao động trong công ty mà tình tình của Công ty đã liên
Trang 30tục được cải thiện, thành tích đạt được của Công ty qua các năm đã được nânglên một cách rõ rệt.
Trải qua hơn 20 năm hoạt động, Công ty đã sửa chữa được gần ngàn lượt tàutrong nước và của các quốc gia danh tiếng trên thế giới như: Liên bang Nga,Đức, Hy Lạp, Hàn Quốc, Singapore đạt chất lượng cao Công ty là mộttrong những đơn vị đi đầu trong việc sửa chữa các loại tàu biển đòi hỏi kỹthuật cao như tàu chở khí gas hoá lỏng, tàu phục vụ giàn khoan Công tyĐóng tàu Phà Rừng là một trong những cơ sở hàng đầu của Việt Nam cóthương hiệu và uy tín trong lĩnh vực sửa chữa tàu biển Những năm gần đây, Công ty bắt đầu tham gia vào thị trường đóng mới.Công ty đã bàn giao cho khách hàng gần chục tàu có trọng tải từ 6500 tấn đến
12500 tấn Đó là tiền đề để Công ty Đóng tàu Phà Rừng thực hiện các hợpđồng đóng mới các loại tàu có tính năng kỹ thuật cao để xuất khẩu như tàuchở dầu/hoá chất 6500 tấn cho Hàn Quốc, tàu chở hàng vỏ kép 34.000 tấn choVương Quốc Anh hiện đang được triển khai tại Công ty Sản lượng và doanhthu năm 2006 của Công ty cao hơn 10 lần so với năm 2000 Kế hoạch năm
2007 Công ty phấn đấu giá trị tổng sản lượng đạt 1500 tỷ đồng,doanh thu trên
1000 tỷ đồng
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển của Đảng, Nhà nước và củaTập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam, Công ty đang thực hiện dự án xâydựng Công ty Đóng tàu Sông Giá có thể đóng tàu trọng tải đến 100.000 tấn,xây dựng cụm công nghiệp Vinashin Đình Vũ bao gồm hệ thống cảng biển vàkhu công nghiệp phụ trợ, xây dựng nhà máy đóng tàu và sửa chữa tàu tại YênHưng - Quảng Ninh
Hiện tại Công ty có gần 3000 CBCNV Trong đó có 390 kỹ sư, cử nhânđược đào tạo trong nước và nước ngoài Công ty có trên 300 công nhân đượcđào tạo từ 2 đến 3 năm về công nghệ đóng mới tàu biển tại Nhật bản Công ty
đã xây dựng, áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩnISO 9001-2000 có hiệu lực và hiệu quả, đã được DET NOSKE VERITAS(DNV) đánh giá cấp chứng chỉ từ năm2000
Trang 31Với những thành tích đã đạt được Công ty đã được tặng thưởng: Huânchương độc lập hạng Ba (2005), Huân chương lao động hạng nhất (2004),Huân chương lao động hạng nhà (1992), Huân chương lao động hạng Ba(1987), 5 cờ thi đua của Chính phủ.
3.3 Quy trình tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty Đóng tàu Phà
Rừng.
Đặc điểm về sản phẩm và công nghệ - kỹ thuật sản phẩm
Sản phẩm: Loại hình sản xuất của Công ty là sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạtnhỏ theo đơn đặt hàng nên quy trình công nghệ phức tạp liên tục vì công nghệsửa chữa tàu, đóng tàu phải qua nhiều công đọan, tính đồng bộ trong sản xuấtcao, yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng sản phẩm ở trình độ cao và phức tạp vì sảnphẩm hoạt động trên biển cả đòi hỏi phải có sự an toàn cao trong sử dụng
Giới thiệu tóm tắt về quy trình công nghệ sửa chữa tàu
Trang 32Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quy trình công nghệ
Công việc phải hoàn thành trong dock trước khi hạ thuỷ
Công việc có thể tiếp tục hoàn thành sau khi tàu ra khỏi dock
Đưa tàu vào dock chìm
Khảo sát, lập khối lượng sửa
Bộ phận sửa chữa van ống
và bơm
Bộ phận S/c điện
và nghi khí hàng hải
Bộ phận làm sạch, sơn và S/c nội thất tàu
Tàu nằm dock 10- 12 ngày