1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam

99 769 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Ánh
Người hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Thu Trang
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠIVÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG NGÀNH BÁN LẺ4 I – Cơ sở lý luận về NQTM 4

1 Định nghĩa về nhượng quyền thương mại : 4

2 Các đặc điểm của nhượng quyền thương mại : 5

3 Các hình thức nhượng quyền thương mại 7

3.1 Căn cứ theo bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại 7

3.2 Căn cứ theo lĩnh vực nhượng quyền thương mại: 8

3.3 Phân loại theo hình thức phát triển hoạt động nhượng quyền : 9

4 13

Lợi ích của hoạt động nhượng quyền thương mại 13

4.1 Đối với bên nhượng quyền 13

4.2 Đối với bên nhận quyền 16

4.3 Đối với nền kinh tế, xã hội 19

5 Hạn chế của hoạt động nhượng quyền thương mại 19

5.1.Đối với bên nhượng quyền 19

5.2 Đối với bên nhận quyền 21

5.3 Đối với nền kinh tế, xã hội 22

II – Phát triển hoạt động NQTM trong lĩnh vực bán lẻ 23

1.Ứng dụng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực bán lẻ 23

2 Cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động NQTM trong lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam 25

2.1.Cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động NQTM tại Việt Nam 25

2.2.Cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động kinh doanh bán lẻ tại Việt Nam 30

Trang 3

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NQTM TRONG LĨNH VỰC

BÁN LẺ TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 33

I – Đặc điểm ngành kinh doanh bán lẻ tại Việt Nam 33

1 Thị trường bán lẻ hấp dẫn 33

2 Quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam 34

3 Cấu trúc thị trường bán lẻ Việt Nam: 40

4 Xu hướng phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam: 43

II- Hoạt động NQTM trong lĩnh vực bán lẻ tại thị trường Việt Nam : 46

1 Tổng quan về hoạt động NQTM tại thị trường Việt Nam 46

2 Thực trạng hoạt động NQTM trong lĩnh vực bán lẻ tại thị trường Việt Nam 50

2.1 Các doanh nghiệp trong nước kinh doanh NQTM trong lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam 50

2.2 Các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh NQTM trong lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam 70

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NQTM TRONG LĨNH VỰC BÁN LẺ TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 76

I Kiến nghị về phía Nhà nước: 76

1 Xây dựng môi trường pháp luật cho nhượng quyền thương mại phát triển: 76

2 Có các chính sách khuyến khích, ưu đãi các doanh nghiệp nhượng quyền: 76

3 Quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo về nhượng quyền thương mại: 77

4 Xây dựng các chương trình quảng bá thương hiệu quốc gia, hỗ trợ cho sự phát triển thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam: 77

5 Thành lập hiệp hội franchise quốc gia, liên kết với các tổ chức, Hiệp hội franchise quốc tế: 78

II Nhóm giải pháp về phía bên nhượng quyền 78

1 Xây dựng và phát triển thương hiệu 78

Trang 4

2 Chuẩn bị tốt cho hoạt động nhượng quyền bằng các bước: 79

2.1 Giải pháp về chọn lựa đúng đối tác nhận quyền: 79

2.2 Xây dựng chiến lược đào tạo, huấn luyện người nhận quyền: 80

2.3 Xây dựng cẩm nang hoạt động: 80

2.4 Chuẩn bị thông tin cung cấp cho đối tác nhận quyền: 81

3 Xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp về nhượng quyền thương mại: 81

4 Quảng cáo và xúc tiến thương mại phát triển bán hàng qua hệ thống nhượng quyền thương mại: 82

5 Hệ thống đồng bộ và nhất quán 82

III Nhóm giải pháp về phía bên nhận quyền 83

1 Cập nhật thông tin về nhượng quyền thương mại 83

2 Đánh giá khả năng phát triển của hệ thống nhượng quyền thương mại 84 3 Xác định mức độ phù hợp đối với mô hình nhượng quyền thương mại 85 4 Nghiên cứu kỹ các điều khoản của hợp đồng trước khi ký 86

5 Lưu ý khi nhận quyền từ các thương hiệu nước ngoài 87

6 Tuâ n t hủ đ ồng bộ mô hì nh ki nh doa nh c ủa bê n như ợ ng quyề n 87

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 5

Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu

CB Richard Ellis Công nghệ thông tin Công ty cổ phần đầu tư phát triển Saigon Co.op

Nhượng quyền kinh doanh Hiệp hội nhượng quyền quốc tế Nhượng quyền thương mại

Trang 6

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1: Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2009 (GRDI) 34 Bảng 2: Số lượng doanh nghiệp phân phối bán lẻ 2000-2007 35 Bảng 3: Số lao động bình quân trong ngành phân phối bán lẻ 2003-2008 36 Bảng 4 : Tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng trong GDP Việt Nam 2000-2006 40

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Số lượng DN phân phối bán lẻ giai đoạn 2000-2007 35 Biểu đồ 2: Số lao động bình quân trong ngành bán lẻ 2003-2008 37 Biểu đồ 3: Dân số Việt Nam giai đoạn 2003-2008 38 Biểu đồ 4 : Thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam giai đoạn 2002-

2007 38 Biểu đồ 5 :Mức chi tiêu cho tiêu dùng của người Việt Nam 2000-2007 39 Biểu đồ 6: Thị phần của thương mại hiện đại và truyền thống tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội (%),2004-2006 41 Biểu đồ 7 : GDP của Việt Nam qua các năm 2002-2007 44 Biểu đồ 8: Đánh giá của người tiêu dùng về hệ thống phân phối thực phẩm của Co-op Mart 63

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Nhượng quyền thương mại là hình thức kinh doanh có lịch sử phát triển lâu dài tại các quốc gia phát triển và đã chứng minh được tính hiệu quả kinh tế trên khắp thế giới Đến hôm nay, hình thức kinh doanh này đã được sử dụng rộng rãi, phổ biến ở châu Âu, châu Mỹ và đang phát triển mạnh mẽ ở các quốc gia châu Á, cho phép chủ thương hiệu phát triển kinh doanh, mở rộng ảnh hưởng của mình đối với thị trường và cho phép bên nhận quyền có thể bắt đầu hoạt động kinh doanh mới dưới thương hiệu đã nổi tiếng trên thị trường với chi phí và rủi ro thấp Nhượng quyền thương mại có thể áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực, trong đó nhiều nhất là ngành thực phẩm và bán lẻ

Hiện nay, thị trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng trên thế giới Điều này mang lại cơ hội đầu tư, kinh doanh cho tất cả các doanh nghiệp tham gia vào thị trường Tuy nhiên, hiện tại, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn hoạt động manh mún, không chuyên nghiệp và chưa hiệu quả Kênh phân phối bán lẻ truyền thống vẫn chiếm ưu thế trên thị trường, chiếm tới 90% doanh thu thị trường bán lẻ; 10% ít ỏi dành cho kênh bán lẻ hiện đại Đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước tham gia và khai thác tiềm năng bán lẻ hiện đại trên thị trường Việt Nam Bên cạnh đó, đây cũng là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam Việc tìm hướng đi mới trong hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trước sức ép cạnh tranh ngày càng tăng lên khi mở cửa thị trường bán lẻ càng trở nên vô cùng cấp thiết

Nhượng quyền thương mại vẫn còn là một hình thức kinh doanh khá mới mẻ tại Việt Nam nhưng nếu các doanh nghiệp biết cách áp dụng và khai thác mô hình này thì những lợi ích tiềm năng mà nó đem lại đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp là rất lớn Nhượng quyền trong ngành bán lẻ chủ yếu tập trung trên các kênh bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện dụng Số lượng

Trang 8

các doanh nghiệp nhượng quyền bán lẻ còn tương đối hạn chế so với tiềm năng phát triển của thị trường và tiềm năng của nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Các doanh nghiệp Việt Nam tuy đã thấy được những ưu điểm của nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ nhưng việc áp dụng hoạt động này trong thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam thông qua hình thức này chưa nhiều nhưng đang có chiều hướng gia tăng Điều này hứa hẹn mang tới những biến động tích cực cho thị trường bán lẻ Việt Nam

Do đó, tác giả xin chọn đề tài: “Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam” làm đề tài khóa luận của mình Trong bối cảnh hiện tại, đề tài vừa mang tính nghiên cứu, vừa mang tính thực tiễn cao

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hình thức nhượng quyền thương mại

- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại của các doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng hình thức nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài đã và đang áp dụng hình thức nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài đi sâu nghiên cứu đặc điểm, nội dung của nhượng quyền thương mại, các văn bản pháp luật liên quan đến nhượng quyền thương mại Tác giả nghiên cứu thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại trong phạm vi một số doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại Việt Nam như G7 Mart, Saigon Co.op Mart, Daiso và Family Mart

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 9

Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, thu thập tài liệu, tổng hợp và phân tích, so sánh, mô tả khái quát…dựa trên nguồn số liệu, tư liệu thu thập được trong quá trình tìm hiểu, đồng thời tiếp thu

có chọn lọc các lý thuyết về nhượng quyền thương mại

6 Kết cấu của khóa luận: Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, khóa luận gồm

Trang 10

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI TRONG NGÀNH BÁN LẺ

I – Cơ sở lý luận về NQTM

1 Định nghĩa về nhượng quyền thương mại :

Thuật ngữ tiếng Anh “franchising” được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau : Chuyển nhượng quyền sử dụng thương hiệu; cấp phép đặc quyền kinh doanh; nhượng quyền thương mại Tuy nhiên, theo Điều 284 Luật Thương mại

2005 của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thuật ngữ “franchising” được hiểu là “ nhượng quyền thương mại” Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ “nhượng quyền thương mại” Trên thế giới, hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhượng quyền thương mại

- Theo Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commision – FTC), Franchise là một hợp đồng hay một thỏa thuận được ký kết giữa ít nhất 2 người, trong đó: người mua franchise được quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống marketing của người chủ thương hiệu Hoạt động của người mua franchise phải triệt để tuân theo hệ thống marketing này, phải gắn liền với nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, quảng cáo và những biểu tượng thương mại khác của chủ thương hiệu Người mua phải trả một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp gọi là phí franchise

Định nghĩa trên thể hiện nội dung các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động nhượng quyền thương mại, trong đó, nhấn mạnh tới quyền và nghĩa

vụ của bên nhận quyền

- Theo Hiệp hội Nhượng quyền Thương mại Quốc tế ( International Franchise Association- IFA), “Franchising là mối quan hệ liên tục, trong đó, bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền được kinh doanh sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp cộng với những hỗ trợ về tổ chức, đào tạo, cách thức kinh doanh, quản lý, đổi lại nhận được một khoản tiền nhất định từ bên mua”

Trang 11

Định nghĩa này thể hiện nét đặc thù riêng của nhượng quyền thương mại là

“mối quan hệ liên tục” khá đặc biệt giữa hai bên tham gia hoạt động nhượng quyền thương mại và mối quan hệ này được duy trì trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của cửa hàng nhượng quyền Ngoài ra, định nghĩa cũng đề cập đến những hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền và phí nhượng quyền

- Theo Luật thương mại năm 2005 (Luật số 36/2005/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006),

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

1 Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh

Định nghĩa về nhượng quyền thương mại trong Luật Thương mại 2005 đã nêu được những nét chính, đặc trưng của nhượng quyền thương mại Tuy nhiên, định nghĩa đã bỏ qua, không đề cập tới một yếu tố chính đó là phí nhượng quyền

Tóm lại, có thể có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhượng quyền thương mại vì các định nghĩa đều dựa trên quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau của người viết hay của các nhà làm luật tại mỗi tổ chức, mỗi quốc gia nhưng từ các định nghĩa khác nhau này, chúng ta vẫn thấy rõ những đặc điểm của nhượng quyền thương mại như sau:

2 Các đặc điểm của nhượng quyền thương mại :

- Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, hay nói cách khác nhượng quyền thương mại là hoạt động nhằm phân phối hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực thương mại Việc xác định nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại khẳng định mục đích sinh lợi của hoạt động này, giúp các doanh nghiệp

Trang 12

xác định được Luật áp dụng, các quy định về thương mại, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại và cơ quan tài phán giải quyết khi có tranh chấp giữa các bên xảy ra khi thực hiện hoạt động này

- Nhượng quyền thương mại được thực hiện thông qua hợp đồng: theo đó, bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sử dụng thương hiệu hay tên tuổi của mình trong việc bán hàng hóa, dịch vụ và cửa hàng của bên nhận quyền phải được

dễ dàng biết tới thông qua thương hiệu của bên nhượng quyền

- Bên nhượng quyền là bên đang sở hữu hay kiểm soát một hệ thống và phương thức kinh doanh gắn liền với các đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến việc kinh doanh Phương thức kinh doanh ở đây được hiểu bao gồm tất cả các yếu

tố giúp cho việc kinh doanh như quy trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ, tiêu chuẩn sản phẩm dịch vụ, chiến lược kinh doanh,chính sách quảng cáo, chính sách khách hàng, đào tạo, chế độ kế toán, kiểm toán Các đối tượng sở hữu trí tuệ gắn với việc kinh doanh bao gồm các yếu tố tạo nên thương hiệu riêng của bên nhượng quyền, gồm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu

- Bên nhận quyền là một bên hoạt động kinh doanh độc lập và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình Đây là đặc điểm làm nên nét đặc trưng của nhượng quyền thương mại Bên nhận quyền không có quan hệ về sở hữu vốn đối với bên nhượng quyền Ngay cả trong trường hợp liên doanh, bên nhượng quyền sẽ góp vốn bằng thương hiệu, cách thức kinh doanh, còn bên nhận quyền sẽ góp vốn bằng đất đai, tài sản, nhân lực… Quan hệ giữa hai bên là quan hệ hợp đồng thương mại

- Bên nhận quyền phải tiến hành toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh theo hợp đồng nhượng quyền thương mại phù hợp với kế hoạch và hệ thống tiếp thị kinh doanh, kỹ thuật của bên nhượng quyền

- Bên nhận quyền phải trả cho bên nhượng quyền một khoản phí nhượng quyền ban đầu và phí định kỳ, thường là % doanh thu hay một khoản tiền cố định

- Bên nhận quyền có thể phải mua sản phẩm cụ thể từ bên nhượng quyền

- Trong suốt thời hạn hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyên có trách nhiệm kiểm soát và trợ giúp kỹ thuật, kinh doanh, marketing và đào

Trang 13

tạo cho bên nhận quyền Đây là điểm đặc trưng của nhượng quyền thương mại, giúp phân biệt với các hình thức kinh doanh thông thường khác

- Hợp đồng nhượng quyền thương mại thường có một số điều khoản nhất định, thường kèm theo một quyền lựa chọn gia hạn và quyền lựa chọn này thuộc về người nhận quyền theo những điều kiện và điều khoản nhất định

- Theo báo cáo của một nhóm nghiên cứu về ảnh hưởng kinh tế của các doanh ghiệp nhượng quyền thương mại do Công ty Pricewaterhouse Coopers thực hiện cho IFA năm 2004, “Nhượng quyền thương mại về cơ bản hay bản thân nó không phải là một ngành công nghiệp, mà chỉ là một kỹ thuật marketing trong việc phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ” , có thể được áp dụng đa dạng trong một hay nhiều ngành công nghiệp khác nhau như bán lẻ hàng tiêu dùng; dịch vụ nghề nghiệp; dịch vụ kỹ thuật; nhà hàng khách sạn; cửa hàng thức ăn nhanh

3 Các hình thức nhượng quyền thương mại

3.1 Căn cứ theo bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại

Năm 1976, Ủy ban Giám sát Luật Thương mại ( Ủy ban Swanson) của Úc

đã phân loại ba hình thức nhượng quyền thương mại như sau:

- Nhượng quyền thương mại sản phẩm: theo đó, một nhà phân phối đóng vai trò như một nơi tiêu thụ bán buôn, bán lẻ các sản phẩm, hàng hóa của một nhà sản xuất tại một thị trường nhất định một cách độc quyền Hình thức này khá phổ biến trong lĩnh vực phân phối, bán lẻ xăng, ô tô

- Nhượng quyền thương mại sản xuất hàng gia công: theo đó, bên nhượng quyền cung cấp những nguyên liệu chủ yếu, bí quyết kỹ thuật cho người sản xuất hay người nhận gia công Áp dụng phổ biến trong công nghiệp nước giải khát

- Nhượng quyền thương mại hệ thống : theo đó, bên nhượng quyền phát triển một cách thức kinh doanh riêng kèm theo một hệ thống kinh doanh và cho phép bên nhận quyền sử dụng cách thức và hệ thống kinh doanh này trong hoạt động độc lập của bên nhận quyền theo một cách thức có kiểm soát Hình thức này phổ biến trong kinh doanh các cửa hàng thức ăn nhanh, cửa hàng dịch vụ giặt là, khách sạn Có khi bên nhượng quyền chỉ cung cấp thương hiệu, bán quyền hay công thức kinh doanh, cũng có khi là cả hàng hóa hay dịch vụ Nhượng quyền thương

Trang 14

mại hệ thống thường được biết tới là hình thức nhượng quyền công thức kinh doanh

3.2 Căn cứ theo lĩnh vực nhượng quyền thương mại:

- Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực phân phối sản phẩm (Product Distribution Franchise): tức là bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền quyền phân phối, tiêu thụ sản phẩm theo phương thức kinh doanh và dưới nhãn hiệu hàng hóa của bên nhượng quyền, ví dụ tiêu thụ ô tô, bán hàng mỹ phẩm, hàng may mặc của những hãng nổi tiếng thế giới Bên nhận quyền thường không nhận được sự hỗ trợ đáng kể nào từ bên nhượng quyền, ngoại trừ được phép sử dụng nhãn hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu và phân phối sản phẩm của bên nhượng quyền trong một khu vực nhất định và thời gian nhất định Bên nhận quyền quản lý, điều hành cửa hàng nhượng quyền khá độc lập, ít bị ràng buộc bởi những quy định của bên nhượng quyền, thậm chí họ có thể kinh doanh theo ý mình Bên nhượng quyền chủ yếu quan tâm đến việc phân phối sản phẩm và không quan tâm đến hoạt động hàng ngày hay hình thức của cửa hàng nhượng quyền Có thể có các hình thức khác nhau tùy theo

vị trí của bên nhượng quyền trong kênh phân phối ( từ sản xuất-phân phối-tiêu dùng) là người sản xuất hay cũng là người phân phối

- Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ (Service Franchise): Tức là bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền quyền cung cấp các dịch vụ thoe phương thức kinh doanh và dưới nhãn hiệu dịch vụ của bên nhượng quyền Đây là hình thức được đặc trưng bởi một bí quyết cung cấp dịch vụ Bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền một bí quyết kinh doanh hoàn chỉnh cho phép cung cấp cho khách hàng một dịch vụ đặc thù của hệ thống Hình thức này thường được áp dụng trong dịch vụ sửa chữa ô tô, dịch vụ phục vụ thẻ thanh toán, giặt là…

- Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực sản xuất( Production Franchise): theo đó bên nhận quyền sẽ sản xuất hàng hóa, sản phẩm theo sự hướng dẫn của bên nhượng quyền và bán sản phẩm, hàng hóa đó dưới thương hiệu của bên nhượng quyền Phổ biến trong các lĩnh vực cửa hàng thức ăn nhanh, sản xuất kem…

Trang 15

3.3 Phân loại theo hình thức phát triển hoạt động nhượng quyền :

* Đại lý franchise độc quyền (Master franchise):

- Bên nhượng quyền : là chủ thương hiệu

- Bên nhận quyền : còn được gọi là đại lý franchise độc quyền, thường là các công ty hay tổ chức lớn có tiềm lực tài chính rất mạnh, có kinh nghiệm kinh doanh, am hiểu thị trường khu vực, có khả năng mở rộng kinh doanh hơn nữa

- Đặc điểm: Đại lý franchise độc quyền được độc quyền kinh doanh trong một phạm vi khu vực địa lý rộng, có thể là một quốc gia hay một khu vực như Đông Nam Á Đại lý franchise độc quyền được chủ động mở thêm nhiều các cửa hàng kinh doanh đơn lẻ mà không cần phả thông qua sự chấp nhận của chủ thương hiệu Đặc biệt, Đại lý franchise độc quyền có quyền nhượng quyền thương mại lại cho bên thứ ba ( bên nhận quyền thứ cấp – Sub Franchise) nằm trong khu vực mình kiểm soát dưới hình thức nhượng quyền trực tiếp, riêng lẻ hoặc nhượng quyền phát triển khu vực nhỏ hơn và trực tiếp ký kết hợp đồng với họ Đại lý franchise độc quyền có trách nhiệm và phải cam kết với chủ thương hiệu về số lượng cửa hàng nhượng quyền tối thiểu được thành lập trong một khoảng thời gian nhất định của hợp đồng, nếu không sẽ bị mất độc quyền Để đáp ứng số lượng do chỉ tiêu đặt ra, bước đầu bên nhận quyền thường tự đứng ra mở thêm các cửa hàng sau đó mới tập trung tìm kiếm bên nhận quyền thứ cấp Đại lý franchise độc quyền sẽ đại diện chủ thương hiệu cung cấp các chương trình đào tạo, dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, thực hiện các công đoạn quản lý, giám sát toàn bộ hệ thống nhượng quyền trong phạm vi khu vực mình quản lý

- Phí nhượng quyền: Phí nhượng quyền ban đầu cao hơn gấp nhiều lần so với phí nhượng quyền riêng lẻ, trực tiếp Về phần phí nhượng quyền thu được từ bên thứ ba nhận quyền thứ cấp, chủ thương hiệu và đại lý franchise độc quyền ăn chia theo tỷ lệ đã thỏa thuận trước Thông thường, đại lý franchise độc quyền được hưởng phần phí nhiều hơn, do họ phải bỏ ra nhiều chi phí và công sức hơn để tìm bên thứ ba nhận quyền và hỗ trợ phát triển hệ thống trong khu vực mình quản lý

Trang 16

- Thời gian hợp đồng: thường đủ dài khoảng từ 10 đến 20 năm để cho đại

lý franchise độc quyền có thể phát triển được hệ thống, thu hồi được vốn đầu tư cơ

sở hệ thống ban đầu và kinh doanh có lãi

- Lợi thế: Có thể nói chủ thương hiệu đã chuyển hầu hết gánh nặng phát triển thương hiệu và xây dựng hệ thống nhượng quyền sang cho đại lý franchise độc quyền trong phạm vi lãnh thổ đại lý franchise độc quyền quản lý

- Hạn chế: Do đại lý franchise độc quyền đã đầu tư một khoản vốn lớn để mua franchise độc quyền, nên họ thường chịu áp lực trong kinh doanh là phải thu hồi vốn nhanh và thu lợi nhuận lớn bù đắp việc phát triển hệ thống Ngoài ra, họ phải chịu áp lực về chỉ tiêu số lượng cửa hàng nhượng quyền phải mở trong thời gian quy định, do đó, họ dễ dàng bỏ qua các tiêu chuẩn về chất lượng để đạt mục đích về số lượng cửa hàng Họ có thể nới lỏng các quy định về tính đồng bộ vốn là nền tảng và sự sống còn của mô hình kinh doanh nhượng quyền thương mại nhằm thu hút các đối tác mua nhượng quyền cho mình nhiều nhất có thể Hình thức này đặt ra thách thức với chủ thương hiệu trong việc tìm kiếm và lựa chọn đối tác nhượng quyền Đối tác này phải hội đủ nhiều điều kiện như khả năng tài chính lớn mạnh, am hiểu thị trường địa phương, có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh nhượng quyền, đặc biệt phải thấu hiểu và tin tưởng tuyệt đối vào hệ thống kinh doanh của chủ thương hiệu

- Áp dụng thực tế : Khi mở rộng thị trường ra nước ngoài thông qua nhượng quyền thương mại, đa số chủ thương hiệu lớn, nổi tiếng thế giới bước đầu đều nhượng quyên thương mại theo kiểu đại lý franchise độc quyền hoặc nhượng quyền thương mại phát triển khu vực cho đối tác là một công ty nội địa

* Nhượng quyền thương mại phát triển khu vực (Area Development Franchise)

- Bên nhượng quyền: là chủ thương hiệu hoặc đại lý franchise độc quyền

- Bên nhận quyền: thường là các công ty lớn có tiềm lực tài chính mạnh, kinh nghiệm kinh doanh, am hiểu thị trường, có khả năng mở rộng kinh doanh

Trang 17

- Đặc điểm: Bên nhận quyền được độc quyền kinh doanh trên một phạm vi địa lý nhất định như một vùng hay một thành phố và trong một khoảng thời gian nhất định, thường 3 -5 năm

Bên nhận quyền không được phép nhượng quyền lại cho bất cứ đối tác nào

và cũng không phải cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thay thế chủ thương hiệu như đại lý franchise độc quyền cho bất kỳ đối tác nào khác

Bên nhận quyền cũng phải cam kết và có trách nhiệm mở thêm bao nhiêu cửa hàng theo tiến độ thỏa thuận trong hợp đồng, nếu không sẽ bị mất ưu tiên độc quyền hoặc phạm vi độc quyền bị thu hẹp (dù vậy hợp đồng nhượng quyền không

vì thế mà mất hiệu lực) Các cửa hàng mở thêm đều phải do họ tự thành lập và quản

lý trực tiếp Trong trường hợp, sau một thời gian kinh doanh hiệu quả bên nhận quyền phát triển khu vực có thể xin chuyển hợp đồng thành hợp đồng đại lý franchise độc quyền

-Phí nhượng quyền: Phí nhượng quyền ban đầu tương đối cao hơn so với nhượng quyền trực tiếp nhưng thấp hơn so với phí đại lý franchise độc quyền

- Thời gian hợp đồng: thường trung bình từ 3 đến 5 năm

- Áp dụng thực tế: tương tự hình thức đại lý franchise độc quyền

* Nhượng quyền thương mại trực tiếp, riêng lẻ (Single Unit Franchise) Nhượng quyền thương mại trực tiếp, riêng lẻ là hình thức nhượng quyền, theo đó, bên nhận quyền ký kết hợp đồng trực tiếp với bên nhượng quyền cho từng

cơ sở nhượng quyền không qua trung gian Hình thức này phù hợp với bên nhượng quyền và đối tác tiềm năng có trụ sở và cùng hoạt động trong phạm vi lãnh thổ nhất định sẽ giúp bên nhượng quyền dễ dàng kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền với chi phí thấp hơn, hiệu quả cao hơn so với hai hình thức trên

- Bên nhượng quyền: là chủ thương hiệu hoặc đại lý franchsie độc quyền

- Bên nhận quyền : thường là cá nhân, hộ gia đình kinh doanh lâu năm hơn

là các công ty hay tổ chức lớn

- Đặc điểm: Bên nhận quyền chỉ có thể sở hữu một cửa hàng nhượng quyền duy nhất, không được phép nhượng quyền cho người khác (sub-franchise) và không được tự ý mở thêm một cửa hàng nhượng quyền tương tự Nếu muốn mở thêm cửa

Trang 18

hàng mới, họ phải được sự chấp thuận của bên nhượng quyền, ký kết một hợp đồng riêng và còn tùy thuộc vào hiệu quả kinh doanh cửa hàng hiện tại

- Lợi thế: Bên nhượng quyền có điều kiện làm việc và kiểm tra cửa hàng nhượng quyền một cách chặt chẽ, sâu sát Mối quan hệ giữa hai bên ngày càng gắn

bó Ngoài ra, phí nhượng quyền thu được không phải chia sẻ cho đối tác trung gian

- Hạn chế : Vì phải giám sát tời từng đơn vị kinh doanh nhỏ lẻ nên hình thức này đòi hỏi bên nhượng quyền phải thiết lập một đội ngũ nhân sự khá lớn, vững mạnh, có trình độ, chuyên trách hoạt động nhượng quyền phục vụ kiểm soát

- Mức phí nhượng quyền: thấp nhất so với các hình thức nhượng quyền khác

- Thời gian hợp đồng: trong một khoảng thời gian nhất định ( thường từ 3 đến 5 năm), sau đó muốn gia hạn hợp đồng, bên nhận quyền phải trả thêm phí

- Áp dụng thực tế: Đây là hình thức đang được các doanh nghiệp Việt Nam như Trung Nguyên, Phở 24, Kinh Đô thực hiện chủ yếu Các thương hiệu lớn của thế giới như Mc Donald’s, KFC, Gloria Jeans khi bành trướng hệ thống ra thế giới thường không bao giờ nhượng quyền thương mại trực tiếp, riêng lẻ

Lưu ý: Hiện tại trong các Văn bản pháp lý về Nhượng quyền thương mại của Việt Nam hay nói cách khác Luật Việt Nam không phân biệt nhượng quyền thương mại thành ba hình thức như trên, mà chỉ quy định thành hai loại: nhượng quyền thương mại ban đầu (sơ cấp) và nhượng quyền thương mại thứ cấp

* Liên doanh ( Joint Venture)

Liên doanh là hình thức nhượng quyền thương mại mà theo đó, chủ thương hiệu sẽ liên doanh với một đối tác địa phương ở nước ngoài và liên doanh này sẽ đóng vai trò của một đại lý franchise độc quyền thay mặt chủ thương hiệu toàn quyền kinh doanh nhượng quyền thương mại tại một quốc gia hay khu vực nào đó

- Bên nhượng quyền: chủ thương hiệu

- Bên nhận quyền: Đối tác địa phương ở nước ngoài

- Đặc điểm: hai bên sẽ cùng góp vốn vào liên doanh Thông thường, chủ thương hiệu sẽ góp vốn bằng thương hiệu nổi tiếng, bí quyết kinh doanh và có thể

Trang 19

cộng thêm một số lượng tiền mặt, còn phía đối tác nước ngoài đóng góp chủ yếu bằng tiền vốn, đất đai, nhân lực và kiến thức địa phương

- Lợi thế: Hình thức này khắc phục được những hạn chế trong hoạt động nhượng quyền qua trung gian Chủ thương hiệu có thể tiếp cận và nắm bắt thị trường nước ngoài dễ dàng hơn, tận dụng được nguồn vốn do đối tác đóng góp vào liên doanh, trong khi vẫn giữ quyền kiểm soát, đặc biệt được ăn chia lợi nhuận nhiều hơn so với mô hình đại lý franchise độc quyền hay franchise phát triển khu vực thuần túy

- Hạn chế: Hình thức này cũng không tránh khỏi những điểm bất lợi vốn có của một công ty liên doanh nói chung, ví dụ, khó khăn trong việc lựa chọn đúng đối tác để liên doanh vì nếu chọn nhầm đối tác, cả một thị trường xem như bế tắc; Rủi

ro tài chính mtooj khi liên doanh thất bại; quyền kiểm soát trong liên doanh; Trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bên tham gia liên doanh khi xảy ra tranh chấp thì giải quyết như thế nào?

- Áp dụng: Hình thức liên doanh thường không được chủ thương hiệu ưu tiên sử dụng do họ sẽ phải chấp nhận nhiều rủi ro như đề cập ở trên Hình thức này chỉ được sử dụng trong trường hợp chủ thương hiệu thực sự mong muốn thâm nhập vào thị trường nào đó mà không có đối tác nhận quyền phù hợp

4 Lợi ích của hoạt động nhượng quyền thương mại

4.1 Đối với bên nhượng quyền

4.1.1 Bên nhượng quyền có thể nhân rộng mạng lưới hoạt động của mình, chiếm lĩnh thị trường nhanh chóng

Trong kinh doanh, vốn luôn là mối lo ngại lớn nhất khi muốn mở rộng hoạt động kinh doanh Nhưng trong hệ thống nhượng quyền, người bỏ vốn ra để mở rộng hoạt động kinh doanh lại chính là bên nhận quyền Điều này giúp cho bên nhượng quyền có thể mở rộng hoạt động kinh doanh bằng chính đồng vốn của người khác

và giảm chi phí cho việc thâm nhập thị trường

Mô hình hoạt động của nhượng quyền thương mại yêu cầu bên nhận quyền phải bỏ vốn đầu tư cho việc kinh doanh của mình và được bên nhượng quyền cho quyền sử dụng một phương thức kinh doanh đã thành công và các đối tượng sở

Trang 20

hữu trí tuệ do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát Đồng thời, việc phải bỏ vốn kinh doanh là động lực thúc đẩy bên nhận quyền phải cố gắng hoạt động có hiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho bên nhượng quyền Do đó, một khi bên nhượng quyền đã xây dựng được nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ và phương thức kinh doanh của mình một các cẩn thận và thực hiện một cách bài bản đảm bảo hiệu quả thì họ có thể nhanh chóng mở rộng hệ thống của mình ra nhiều cơ sở khác nhau bằng nguồn vốn của các bên nhận quyền mặc dù mình vẫn giữ được quyền kiểm soát đối với tất cả hệ thống Vì không bỏ vốn đầu tư cho việc kinh doanh nên bên nhượng quyền cũng không phải chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền cũng như rủi ro, phá sản nếu việc kinh doanh của một bên nhận quyền không thành công

Bên nhượng quyền có thể dễ dàng cùng một lúc khai thác nhiều khu vực mới bằng việc cùng một lúc nhượng quyền cho các bên ở các khu vực đó Phương thức kinh doanh và các đối tượng sở hữu trí tuệ đã thành công đã được thiết lập sẵn, không cần nhiều thời gian để có thể tiếp cận các khu vực thị trường mới Ngoài ra, các doanh nghiệp nhượng quyền còn hạn chế khả năng phản ứng của các đối thủ cạnh tranh nhờ vào việc chiếm lĩnh thị trường nhanh chóng Nói tóm lại là hiệu ứng chuỗi được thực hiện mà không phải bỏ ra nhiều vốn đầu tư

4.1.2 Tăng doanh thu cho bên nhượng quyền:

Bên nhượng quyền sẽ nhận được các khoản phí ban đầu cũng như phí định

kỳ của các bên nhận quyền Đây là một khoản lợi cực lớn, liên tục và ổn định đối với bên nhượng quyền Hệ thống càng lớn, càng có nhiều bên nhận quyền thì khoản phí bên nhượng quyền nhận được càng gia tăng Đáp lại, với khoản thu lớn sẽ cho phép bên nhượng quyền đầu tư tốt hơn vào hệ thống của mình và từ đó lại phát triển

hệ thống hơn nữa Khi hệ thống càng trở nên lớn mạnh thì có càng nhiều đối tác muốn nhận quyền, do đó, mức phí nhượng quyền sẽ tăng lên

4.1.3 Tiết kiệm chi phí:

Bên nhượng quyền sẽ có lợi từ sức mua tập trung Với một hệ thống lớn, sức mua lớn và ổn định, bên nhượng quyền dễ dàng đạt được với các bên cung cấp những thỏa thuận mua hàng hóa, dịch vụ với các điều khoản giá cả, thanh toán, giao

Trang 21

hàng thuận lợi hơn rất nhiều so với các bên mua hàng riêng lẻ Điều này giúp bên nhượng quyền tiết kiệm được chi phí đầu vào và nâng vị thế của mình lên trong khi đàm phán với các nhà cung cấp.Trên cơ sở đó, bên nhượng quyền có thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các bên nhận quyền với giá ưu đãi hơn so với trường hợp bên nhận quyền tự mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường

Ngoài ra, các doanh nghiệp nhượng quyền thực hiện nhượng quyền thương mại đều tiết giảm được chi phí quản lý, vốn dự phòng và phân tán được rủi ro Các chi phí về tiếp thị, quảng cáo cũng được tiết giảm nhờ có thể chia nhỏ ra cho nhiều cửa hàng trong hệ thống cũng mang một nhãn hiệu chia sẻ với nhau thông qua phí hàng tháng của bên nhận quyền

4.1.4 Quảng bá thương hiệu cho bên nhượng quyền:

Nhượng quyền thương mại là cách thức quảng bá thương hiệu và làm tăng giá trị thương hiệu của doanh nghiệp và làm cho khách hàng trung thành với thương hiệu nhờ vào các hoạt động quảng cáo Một khi mô hình kinh doanh của doanh nghiệp được nhân rộng thì giá trị công ty hay thương hiệu cũng lớn mạnh theo Bên nhượng quyền có lợi ích lớn về mặt vĩ mô là thực hiện việc nhân bản, quảng bá, phát triển phương thức kinh doanh của mình Mỗi cơ sở nhượng quyền là một nơi quảng cáo hữu hiệu cho phương thức kinh doanh và nhãn hiệu của bên nhượng quyền Người ta có thể thấy được nhãn hiệu của bên nhượng quyền ở khắp nơi thông qua các cơ sở kinh doanh của các bên nhận quyền Đây là một cách quảng bá bằng chi phí của người khác Bên cạnh đó, mỗi bên nhận quyền có nghĩa vụ phải đóng góp cho bên nhượng quyền phí quảng cáo Khoản thu được từ nhiều bên nhận quyền sẽ giúp cho bên nhượng quyền có được một ngân sách quảng cáo lớn, quảng

bá hơn nữa tên tuổi và phương thức kinh doanh của mình Trong trường hợp này, bên nhượng quyền sẽ có thuận lợi hơn rất nhiều so với việc quảng cáo của một bên

tự kinh doanh theo các phương thức khác

Bên nhượng quyền không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của các cơ sở nhượng quyền nên họ có cơ hội để quản lý hệ thống ở tầm cao, tầm chiến lược, tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển, tổ

Trang 22

chức điều hành bộ máy gọn nhẹ với nhiều chuyên gia nhưng vẫn có thể đảm bảo hệ thống hoạt động một cách hiệu quả

4.2 Đối với bên nhận quyền

4.2.1 Giảm thiểu rủi ro

Nhượng quyền kinh doanh giúp cho bên nhận quyền có được lợi thế rất lớn

và tránh được rủi ro khi bắt đầu việc kinh doanh mới dựa trên một thương hiệu, một

mô hình kinh doanh, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đã được chứng minh là có hiệu quả của bên nhượng quyền và đã được công chúng chấp nhận rộng rãi Do đó, bên nhận quyền giảm được khả năng kinh doanh thất bại, giảm được rủi ro tài chính và không mất thời gian để tạo dựng thành công những yếu tố trên

Nhượng quyền thương mại là con đường nhanh nhất để gia nhập vào một ngành kinh doanh mới nhưng chuyên nghiệp Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền sẽ được huấn luyện, đào tạo và truyền đạt các kinh nghiệm quản lý, bí quyết thành công của các loại hình kinh doanh đặc thù mà bên nhượng quyền đã tích lũy được Các doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ, tư vấn, đào tạo ban đầu cũng như trong quá trình thực hiện hợp đồng từ bên nhượng quyền như là một mắt xích trong cùng hệ thống luôn được bên nhượng quyền phát triển Do đó, đảm bảo một phần thành công cho cơ sở kinh doanh của bên nhận quyền

Bên nhận quyền có thể tiếp cận với các thương hiệu nổi tiếng, tiếp thu các công nghệ tiên tiến hiện đại trong các ngành có nhượng quyền hay bí quyết quản

lý, cách quản trị nhân sự, hỗ trợ tài chính, đào tạo từ phía bên nhượng quyền cũng như học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ các bên nhận quyền khác trong cùng một hệ thống

4.2.2 Tiết kiệm chi phí

Bên nhận quyền có thể tiết kiệm các chi phí quảng cáo, tiếp thị, quảng bá nhãn hiệu Bên nhận quyền chỉ cần đóng góp một phần chi phí quảng cáo nhỏ cho bên nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ kết hợp với các khoản đóng góp của các bên nhận quyền khác để có một ngân sách quảng cáo lớn để …tên tuổi của toàn hệ thống, trong đó, mỗi bên nhận quyền đều được lợi Vì không tiến hành các bước nghiên cứu thị trường ban đầu, xây dựng phương thúc quản lý, xây dựng nhãn hiệu

Trang 23

riêng và cũng không cần bộ máy quản lý cồng kềnh nên bên nhận quyền tiết kiệm được chi phí, không đòi hỏi một khoản đầu tư ban đầu lớn

4.2.3 Bên nhận quyền có thể dễ dàng vay tiền từ các nhà tài trợ để kinh doanh

Một khi các nhà tài trợ thấy rằng bên vay vay tiền để thực hiện một phương thức kinh doanh đã được chứng minh là thành công thì họ dễ quyết định cho vay hơn là cho một doanh nghiệp mới thành lập, chưa có tên tuổi trên thương trường vay tiền Ngoài ra, bên nhận quyền cũng có thể được bên nhượng quyền giới thiệu hoặc đứng ra bảo lãnh để vay tiền Việc các sơ sở nhận quyền mới nhận được sự giúp đỡ trong vấn đề tài chính thông qua bên nhượng quyền là điều có thể, người nhượng quyền thường tạo ra những sắp xếp với những nơi cho vay để cho một cơ

sở nhận quyền vay tiền Người chủ cơ sở chịu trách nhiệm về khoản vay này nhưng những cam kết hỗ trợ từ phía người nhượng quyền kinh doanh luôn tăng các khả năng mà một khoản nợ sẽ được phê chuẩn

4.2.4 Được sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền:

Ngày nay, trên thị trường có hàng ngàn sản phẩm và dịch vụ có cùng giá trị

sử dụng nhưng được cung cấp bởi các nhà sản xuất khác nhau Do đó, việc cố gắng tạo dựng một thương hiệu nổi tiếng, được khách hàng tin cậy và nhớ đến là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền được sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền – là thương hiệu đã có tiếng trên thị trường và hoạt động khá hiệu quả Bên nhận quyền kinh doanh sẽ có lợi thế hơn rất nhiều so với những người mới bắt đầu kinh doanh Do vậy, khả năng thành công là rất cao

4.2.5 Tận dụng các nguồn lực, học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ bên nhượng quyền

Bên nhận quyền chỉ tập trung vào việc điều hành hoạt động kinh doanh, phần còn lại như xây dựng chiến lược tiếp thị, quy trình vận hành, chiến lược kinh doanh sẽ do bên nhượng quyền đảm trách và chuyển giao

Bên nhận quyền được áp dụng mô hình kinh doanh đã được thiết lập Nơi cung cấp quyền kinh doanh cũng sẽ cung cấp hoạt động hỗ trợ quản lý, bao gồm thủ tục tài chính, nhân viên, quy trình quản lý Một các nhân có kinh nghiệm trong các lĩnh vực có thể không đồng nghĩa với việc biết cách áp dụng chúng trong một ngành

Trang 24

kinh doanh mới Người cấp quyền kinh doanh sẽ giúp đỡ các bên nhận quyền vượt qua sự thiếu kinh nghiệm kinh doanh Kế hoạch phát triển kinh doanh sẽ giúp các cửa hang nhượng quyền xây dựng kế hoạch kinh doanh riêng của mình

Uy tín của một mắt xích trong hệ thống nhượng quyền sẽ quyết định uy tín của cả một hệ thống, đặc biệt là đối với hệ thống nhượng quyền mới phát triển Do vậy, một trong những vấn đề được các bên rất quan tâm là hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, chuyển giao kinh nghiệm quản lý, điều hành Điều này giúp tạo nên nền tảng vững chắc cho bên nhận quyền tiến hành hoạt động kinh doanh thu được lợi nhuận và giữ được uy tín thương hiệu của sản phẩm

Một trong những thuận lợi lớn nhất của việc cấp quyền kinh doanh là hoạt động marketing chuyên nghiệp được hỗ trợ từ bên nhượng quyền Nơi cáp nhượng quyền kinh doanh có thể chuẩn bị và trả chi phí cho việc phát triển những chiến dịch quảng cáo chuyên nghiệp Việc marketing trong phạm vi quốc gia hay địa phương đều có lợi cho tất cả các cơ sở nhượng quyền

4.2.6 Bên nhận quyền được mua sản phẩm, nguyên liệu với giá ưu đãi

Bên nhượng quyền luôn có những ưu đãi đặc biệt về cung cấp sản phẩm, nguyên liệu cho bên nhận quyền Do đó, bên nhận quyền được mua sản phẩm hoặc nguyên liệu với khối lượng lớn với một tỷ lệ chiết khấu đầy hấp dẫn Giá của các sản phẩm, nguyên liệu đầu vào tấp sẽ là một trong những lợi thế cạnh tranh lớn Nếu trên thị trường có những biến động lớn như việc khan hiếm nguồn hàng thì bên nhượng quyền sẽ ưu tiên phân phối cho bên nhận quyền trước Điều này giúp cho bên nhận quyền ổn định đầu vào, tránh được những tổn thất từ biến động thị trường

Nói tóm lại, ưu điểm của franchise là có thể kết hợp tối đa những lợi thế so sánh của cả hai bên để nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm hay dịch vụ và như vậy tạo khả năng thành công lớn khi thực hiện Cả hai bên có thể khai thác những lợi thế của nhau để phục vụ cho hoạt động kinh doanh kể cả những lợi thế vô hình như uy tín của bên nhượng quyền, vị trí cửa hàng của bên kia Hai bên cùng thực hiện quản lý và bàn bạc, trao đổi những kinh nghiệm, những sáng kiến trong hoạt động marketing nhằm thích ứng các hoạt động kinh doanh của mình với những thay đổi trên thị trường

Trang 25

4.3 Đối với nền kinh tế, xã hội

Thông qua hệ thống các cửa hàng nhượng quyền hiên nay, người tiêu dùng

đã có cái nhìn khác về chất lượng cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong nước ngày càng được nâng lên và ổn định hơn Nhượng quyền thương mại với những hệ thống kinh doanh đồng nhất sẽ giúp cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm, dịch

vụ đồng nhất, chất lượng sản phẩm và dịch vụ được đảm bảo bởi uy tín của chủ thương hiệu và toàn bộ chuỗi cửa hàng Do đó,khi bước vào những cơ sở nhượng quyền thương mại khác nhau của cùng một hệ thống, người tiêu dùng biết trước chắc chắn về chất lượng của hàng hóa, dịch vụ mà mình sẽ được cung cấp

Với số tiền quảng cáo lớn từ các bên nhận quyền, bên nhượng quyền sẽ có ngân sách lớn để thực hiện các chương trình quảng bá cũng như các chương trình nghệ thuật, chương trình xã hội.Ngoài ra, có thể sử dụng để tham gia đóng góp các chương trình phát triển vì cộng đồng, vừa nâng cao uy tín, hình ảnh của thương hiệu, vừa đem lại nhiều lợi ích cho xã hội Điều này cũng thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Một nghiên cứu tại Mỹ cách đây vài năm đã cho thấy rơ hiệu quả của kiểu kinh doanh này: sau 10 năm vận hành, 92% franchise vẫn hoạt động trong khi 82% doanh nghiệp độc lập đã phải đóng cửa1

.Với tỷ lệ các doanh nghiệp thành công cao theo phương thức này đã tiết kiệm được tiền của rất lớn cho xã hội, tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn cho người lao động Đồng thời, quộc gia nhận nhượng quyền được chuyển giao công nghệ, học hỏi phương thức, kiến thức kinh nghiệm kinh doanh từ các nước phát triển

5 Hạn chế của hoạt động nhượng quyền thương mại

5.1.Đối với bên nhượng quyền

5.1.1 Bên nhượng quyền mất đi sự kiểm soát của mình đối với việc kinh doanh:

Mặc dù các hợp đồng nhượng quyền thương mại đều quy định rất rõ cách thức tiến hành việc kinh doanh cũng như hạn chế đối với bên nhận quyền, nhưng bên nhận quyền là một bên độc lập luôn tìm cách thu lợi nhuận tối đa cho bản thân

1

Nguồn:http://www.doanhnhan360.com/PortletBlank.aspx/7D9FE5EBFE7845049D725B1A30149BB5/View/ Kinhdoanh/018CADB63BA84D7CBF77763C5D1EC3A2/6109.viePortal?print=Mua_quyen_thuong_hieu$2

0818, truy cập ngày 24/04/2010

Trang 26

mình Bên nhận quyền có thể tiến hành mọi phương thức để thu được lợi nhuận tối

đa bao gồm cả việc không tuân thủ các hướng dẫn của bên nhượng quyền trong việc lựa chọn nguồn hàng cung cấp, hạ thấp chất lượng hàng hóa, dịch vụ, tranh giành khách hàng của các bên nhận quyền khác và cao nhất là không tuân thủ pháp luật đầy đủ khi tiến hành kinh doanh Trong trường hợp này, một khi bên nhận quyền đã

cố ý làm trái thì bên nhượng quyền khó có thể kiểm soát được họ

5.1.2 Khả năng đánh mất uy tín của bên nhượng quyền và cả hệ thống nhượng quyền:

Một hệ thống thành công là một hệ thống không dựa vào một cửa hàng riêng lẻ quá nổi bật mà phải dựa vào khả năng đồng đều của nhiều cửa hàng Do vậy, nếu không giữ được tiêu chuẩn về đồng bộ về hình ảnh và chất lượng trong tất

cả các cửa hàng cùng hệ thống thì sẽ gặp phải việc khách hàng thường xuyên than phiền về chất lượng có khác biệt giữa cửa hàng thuộc sở hữu công ty mẹ và cửa hàng nhận nhượng quyền thương mại Điều này dẫn đến sự hoài nghi đối với khách hàng khi muốn quyết định chọn doanh nghiệp cung cấp hàng hóa hay dịch vụ Đồng thời, việc bên nhận quyền không thực hiện đúng các quy dịnh của hệ thống khiến cho việc kinh doanh bị thất bại, mất uy tín có thể gây ấn tượng xấu cho toàn bộ hệ thống kinh doanh nhượng quyền, đồng thời làm giảm giá trị của bên nhượng quyền

Do đó, đòi hỏi bên nhượng quyền phải luôn kiểm soát sâu sát các bên nhận quyền

để tránh việc vì sai lầm của một bên mà làm thất bại một hệ thống

5.1.3 Khả năng bị bên nhận quyền chiếm đoạt các bí quyết và thông tin quan trọng liên quan tới việc kinh doanh:

Khi tiến hành nhượng quyền, bên nhượng quyền sẽ cung cấp cho bên nhận quyền các bí quyết và thông tin quan trọng liên quan đến việc kinh doanh của mình

Dù cho hợp đồng nhượng quyền có quy định những hạn chế của bên nhận quyền trong việc sử dụng và phổ biến những thông tin này thì vẫn tiềm tàng khả năng những thông tin này bị sử dụng sai mục đích và việc bên nhận quyền tiếp tục sử dụng những bí quyết và thông tin quan trong này sau khi hợp đồng chấm dứt

Trang 27

5.1.4 Mâu thuẫn giữa bên nhượng quyền với bên nhận quyền:

Xu hướng của người nhượng quyền là muốn kiểm soát chu trình kinh doanh thống nhất, nhưng người nhận quyền muốn giữ bản sắc của mình và thoát ly

ở mức độ có thể so với các quy định của các điều khoản trong hợp đồng Mâu thuẫn này chính là nguyên nhân sinh ra các tranh chấp về phí chuyển nhượng, hợp đồng

vô hiệu hay phạt hợp đồng…

Phí nhượng quyền thường được tính trên phần trăm doanh thu của cơ sở nhượng quyền mà việc quản lý doanh thu của cơ sở nhượng quyền lại do bên nhận quyền thực hiện Do đó, tồn tại nguy cơ mất lòng tin và tranh chấp giữa hai bên một khi bên nhận quyền tìm cách làm sai lệch sổ sách, không thể hiện đúng doanh thu của cơ sở kinh doanh nhượng quyền hoặc khi bên nhượng quyền tìm cách can thiệp quá sâu vào hoạt động của cơ sở nhượng quyền để quản lý doanh thu Điều này sẽ dẫn tới những tranh chấp giữa hai bên làm ảnh hưởng tới chất và lượng của hệ thống nhượng quyền Thậm chí có thể phá vỡ cả một hệ thống bằng những tranh chấp pháp lý

5.2 Đối với bên nhận quyền

5.2.1 Bên nhận quyền bị giảm tính linh hoạt trong hoạt động kinh doanh, hạn chế quyền chủ động của bên nhận quyền:

Một đặc điểm trong hệ thống nhượng quyền thương mại là các cơ sở kinh doanh nhượng quyền phải giống nhau để khách hàng vào bất cứ cơ sở nào cũng nhận được sự phục vụ có được cảm giác giống nhau Do đó, mặc dù là người bỏ vốn ra đầu tư kinh doanh, nhưng bên nhận quyền lại không thể thay đổi việc kinh doanh theo ý muốn chủ quan của mình Bên nhận quyền buộc phải thực hiện hệ thống kinh doanh của bên nhượng quyền một cách cứng nhắc, không được thay đổi, thêm bớt ý tưởng của riêng mình vào việc kinh doanh Điều này hạn chế tính sáng tạo trong công việc kinh doanh, hạn chế hiệu quả kinh doanh của bên nhận quyền Người nhận quyền hầu như không còn “khoảng trống” để phát triển những ý tưởng kinh doanh sáng tạo của mình Từ các bí quyết công nghệ, nhãn hiệu, logo, chiến dịch quảng cáo đến trang phục của nhân viên, cách bài trí của cửa hàng… đều phải thực hiện đúng theo quy định của bên nhượng quyền Bản sắc kinh doanh của từng

Trang 28

cá thể cũng chính là bản sắc kinh doanh của cả hệ thống Tóm lại nếu kinh doanh bằng hình thức nhượng quyền thương mại, về bản chất các doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh vì mình nhưng không phải tự mình

5.2.2 Lợi nhuận bị chia sẻ:

Khi tham gia hệ thống nhượng quyền, các cơ sở nhận suyền phải đóng góp phí suy trì hàng tháng, thường là % doanh thu hay một số tiền nhất định Số tiền này được trích ra từ lợi nhuận của cửa hàng Ngoài ra, các bên nhận quyền phải đóng góp thêm các khoản tiền khác như phí quảng cáo…

5.2.3 Ảnh hưởng hệ thống chuỗi khi có tác động tiêu cực:

Ngoài ra, nếu phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống, người nhận quyền cũng

có thể chịu ảnh hưởng của những rủi ro hệ thống khác Chỉ cần một cửa hàng trong

hệ thống hoạt động kém hiệu quả như cung cấp sản phẩm kém chất lượng, dịch vụ không chu đáo, có thể gây mất uy tín với khách hàng, đối tác Điều này sẽ ảnh hưởng tới uy tín của toàn bộ hệ thống Khắc phục điều này đòi hỏi bên nhận quyền phải cân bằng các hạn chế trong “ dây chuyền” với khả năng điều hành hoạt động kinh doanh cá nhân

5.3 Đối với nền kinh tế, xã hội

5.3.1 Hạn chế khả năng lựa chọn của người tiêu dùng:

Do các hệ thống nhượng quyền phát triển nhanh chóng nên việc bắt gặp các cửa hàng giống nhau mang cùng một thương hiệu ở khắp nơi với phong cách bài trí, sản phẩm và dịch vụ cung cấp đều đồng nhất Tính đồng bộ là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của hoạt động nhượng quyền nhưng điều đó cũng có nghĩa là khách hàng sẽ phải thưởng thức cùng một loại bánh, một hương vị giống hệt nhau, trong khung cảnh và cách phục vụ giống hệt nhau Điều này có thể tạo nên sự nhàm chán và mất tính riêng biệt, đặc sắc của từng cửa hàng Có thể nói, đây vừa là ưu điểm cũng vừa là nhược điểm của các hệ thống nhượng quyền

5.2.3 Nhượng quyền thương mại là phương thức kinh doanh dễ phát sinh tranh chấp:

Các tranh chấp có thể đến từ việc bên nhượng quyền không đủ năng lực, không xây dựng được hình ảnh cho hệ thống mà chỉ quan tâm đến việc thu phí từ

Trang 29

bên nhận quyền dẫn đến sự thất bại của hệ thống hoặc việc bên nhượng quyền lừa gạt, nhận tiền từ bên nhận quyền kém cỏi trong việc kinh doanh,cung cấp hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng làm ảnh hưởng tới uy tín của hệ thống, hoặc viêc bên nhận quyền gian dối không tuân thủ đầy đủ các điều khoản của hợp đồng nhượng quyền, tiếp tục sử dụng các đối tượng thuộc sở hữu trí tuệ của bên nhượng quyền sau khi hợp đồng đã chấm dứt

II – Phát triển hoạt động NQTM trong lĩnh vực bán lẻ

1.Ứng dụng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực bán lẻ

Trong số các ngành nghề có thể áp dụng mô hình nhượng quyền thương mại thì bán lẻ là một trong những ngành có tỷ lệ nhượng quyền cao nhất, chỉ sau ngành thực phẩm

Tại Trung Quốc, tỷ lệ nhượng quyền trong lĩnh vực bán lẻ chiếm tới 30% tổng số lượng các cửa hàng nhượng quyền, sau ngành thực phẩm (35%) Tại Nhật Bản, tỷ lệ đó là 32% nếu tính theo số hệ thống nhượng quyền và 36% nếu tính theo

số cửa hàng nhượng quyền Ở Việt Nam, tuy chưa có một thống kê chính thức nào

về việc áp dụng hình thức nhượng quyền trong lĩnh vực bán lẻ nhưng có thể nhận thấy rằng cơ cấu bán lẻ đang có sự thay đổi lớn từ kênh bán lẻ truyền thống như chợ, các kênh phân phối của các nhà sản xuất sang kênh bán lẻ hiện đại là các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng thuận tiện, cửa hàng chuyên doanh

Do đó, hàng loạt các tên tuổi nước ngoài trong lĩnh vực nhượng quyền bán

lẻ đã và đang chuẩn bị có mặt tại Việt Nam, cũng như một số thương hiệu bán lẻ của các doanh nghiệp Việt Nam cũng chuẩn bị bước vào hình thức kinh doanh nhượng quyền

Theo lộ trình cam kết về việc mở cửa thị trường bán lẻ sau khi gai nhập WTO, Việt Nam đã ban hành một số quy định mới Từ ngày 01/01/2008, Việt Nam cho phép liên doanh trong lĩnh vực bán lẻ không hạn chế mức vốn góp từ phía nước ngoài Ngày 01/01/2009, phía nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Điều này khiến cho thị trường bán lẻ Việt Nam trở nên sôi động hơn

Nguyên nhân:

Trang 30

- Cung cấp hàng hóa thiết yếu: Ngành bán lẻ là ngành cung cấp những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống con người Chi tiêu cho tiêu dùng chiếm từ 40-60% thu nhập của các hộ gia đình Khi đời sống người dân ngày càng được nâng lên thì nhu cầu mua sắm, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như ăn ngon, mặc đẹp lại càng được chú ý và đòi hỏi cao hơn Ta có thể bắt gặp các cửa hàng tạp hóa ở khắp nơi, chúng trở thành hệ thống chân rết trên thị trường bán lẻ Hiện nay,

xu hướng tiêu dùng đang dần thay đổi, kênh phân phối bán lẻ cũng chuyển dần từ truyền thống sang hiện đại Điều này mở ra nhiều cơ hội cho kinh doanh nhượng quyền, đặc biệt là nhượng quyền các mô hình kinh doanh bán lẻ hiện đại như siêu thị, cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại…

-Mô hình kinh doanh dễ nhượng quyền: Phương thức kinh doanh trong ngành bán lẻ có thể chuẩn hóa và dễ dàng nhượng quyền hơn các ngành khác Bên nhượng quyền có thể trở thành nhà cung cấp chính cho các bên nhận quyền, bằng cách thành lập các tổng kho phân phối, nâng cao hiệu quả của cả hệ thống Điều này giúp hệ thống hoạt động chuyên nghiệp, liên tục và đồng nhất giữa các cửa hàng, siêu thị Bên nhượng quyền có thể dễ dàng nhượng quyền ở tất cả các loại hình như cửa hàng tiện lợi, siêu thị hay trung tâm thương mại với quy mô và số lượng khác nhau

- Khả năng quay vòng vốn nhanh: Do các doanh nghiệp bán lẻ cung cấp hàng thiết yếu cho cuộc sống nên khi nhận nhượng quyền thương mại của những thương hiệu có tên tuổi trong ngành bán lẻ có thể thu hút khách hàng và bán hàng nhanh hơn Bên nhận quyền chỉ mất vốn đầu tư trang hoàng lại cửa hàng, thiết bị,…và được nhận sự hỗ trợ của bên nhượng quyền về kinh nghiệm quản lý, nhập hàng với giá thấp hơn nên doanh thu cao hơn, lợi nhuận cao hơn

Các tiêu chuẩn cần thiết trong việc kinh doanh bán lẻ:

- Sự tiện lợi: Ngành bán lẻ đòi hỏi các doanh nghiệp lựa chọn và xây dựng được những cửa hàng, siêu thị có vị trí thuận lợi cho việc mua bán Ngoài ra, sản phẩm được cung cấp trong các kênh bán lẻ phải phong phú, đa dạng về chủng loại Khách hàng có thể lựa chọn những sản phẩm thiết yếu cho gia đình như hóa mỹ phẩm, thực phẩm, đồ gia dụng…Người tiêu dùng Việt Nam có thói quen mua sắm tại các chợ hay các cửa hàng tạp hóa do chúng gần nhà, giao thông thuận lợi Do đó, các doanh nghiệp

Trang 31

bán lẻ không chỉ xây dựng cơ sở ở các trung tâm thành thị, ngã ba, ngã tư mà vẫn có thể xây dựng các cửa hàng tiện ích len lỏi trong các khu dân cư

- Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ : Hàng hóa trong các siêu thị, cửa hàng tiện lợi không chỉ yêu cầu phong phú về chủng loại mà còn phải được chọn lọc

kỹ lưỡng, đảm bảo chất lượng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu sử dụng Bên cạnh đó, những dịch vụ mà doanh nghiệp bán lẻ cung cấp cho khách hàng như dịch vụ ngân hàng, phương thức thanh toán, giao hàng, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí…cũng góp phần tạo nên giá trị gia tăng cho khách hàng Doanh nghiệp bán lẻ nào có thể cung cấp được hàng hóa chất lượng cao, giá cả phải chăng thì mới có khả năng tồn tại trong một thị trường đầy tiềm năng nhưng cũng đầy thách thức như Việt Nam

- Dịch vụ bán hàng và sau bán hàng: Các doanh nghiệp bán lẻ là những người tiếp xúc trực tiếp và cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng Các doanh nghiệp này muốn tăng doanh thu, tăng thị phần, thu hút khách hàng và giữ chân khách hàng thì điều quan trọng nhất là họ phải hiểu được mong muốn và nhu cầu của khách hàng Đó chính là những giá trị gia tăng mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng khi tham gia mua sắm tại cơ sở của họ Đó là phong cách phục vụ chuyên nghiệp, hiệu quả, nhiệt tình Đó là những chương trình khuyến mãi, xúc tiến bán hàng và những chương trình chăm sóc khách hàng như thẻ thành viên,…Điều này sẽ giúp doanh nghiệp kết nối lâu dài với khách hàng và mở ra lựa chọn mới cho các khách hàng tiềm năng

2 Cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động NQTM trong lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam

2.1 Cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động NQTM tại Việt Nam

2.1.1 Các quy định pháp lý về NQTM tại Việt Nam :

- Các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam : Trước ngày 01/01/2006, khái niệm nhượng quyền thương mại chưa được chính thức xuất hiện trong bất kỳ văn bản luật nào ở Việt Nam, chỉ có một vài khía cạnh liên quan đến hoạt động này được nhắc đến trong các văn bản pháp quy về sở hữu công nghiệp và chuyển giao công nghệ Điều 35 và 37, Nghị định số 63/NĐ-CP ngày 24-10-1996 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp đã nhắc tới khía cạnh

Trang 32

chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa trong hoạt động nhượng quyền thương mại, theo đó chủ sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa có quyền chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của mình cho cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác Việc chuyển giao này phải thực hiện trên

cơ sở hợp đồng bằng văn bản( gọi là “ hợp đồng li-xăng”) và chỉ có giá trị pháp lý khi đã được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ Tại điều 4, Nghị định số 11/2005/ NĐ-

CP ngày 02/02/2005 quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ, hoạt động nhượng quyền thương mại được đề cập dưới tên gọi “cấp phép đặc quyền kinh doanh” Theo nghị định này, cấp phép đặ quyền kinh doanh là một nội dung trong hoạt động chuyển giao công nghệ và được định nghĩa như sau: “ Cấp phép đặc quyền kinh doanh, theo đó, bên nhân sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa và bí quyết của bên giao để tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ thương mại”

Luật Thương mại sửa đổi năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, mới chính thức đưa vào thuật ngữ “nhượng quyền thương mại” Đây là lần đầu tiên định nghĩa “ nhượng quyền thương mại” được đề cập đến trong một bộ luật của nước ta Mục 8 Luật thương mại bao gồm các Điều từ 284 đến 291 đã nêu định nghĩa nhượng quyền thương mại, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, đồng thời thừa nhận nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại và phải đăng ký Tuy nhiên, các quy định pháp luật về nhượng quyền thương mại trong Luật thương mại năm 2005 chưa đủ rõ ràng và cụ thể đển làm căn cứ pháp lý cho hoạt động này Nội dung hợp đồng thương mại, thủ tục đăng ký nhượng quyền thương mại vẫn chưa được đề cập, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên chưa được quy định chi tiết

Ngày 31/03/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại Trong Nghị định này, định nghĩa “quyền thương mại” đã được mở rộng và làm rõ Nếu Điều

284 Luật Thương mại quy định “quyền thương mại” là “quyền được bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh doanh cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ theo một hệ thống do bên nhượng quyền quy định

và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu

Trang 33

tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền”, thì theo Mục 6, Điều 3, Nghị định 35/2006/NĐ-CP, “quyền thương mại” còn bao gồm thêm một hoặc toàn bộ các quyền sau: “quyền được bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền sơ cấp quyền thương mại chung”; “quyền được bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho bên nhận quyền thứ cấp theo hợp đồng nhượng quyền thương mại chung”; “quyền được bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền quyền thương mại theo hợp đồng phát triển quyền thương mại” Định nghĩa này của Nghị định đầy đủ hơn, bao quát được tất cả các hình thức nhượng quyền thương mại

Nghị định số 35/2006/NĐ-CP còn bổ sung điều kiện đối với bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong Điều 5 và Điều 6 Theo đó, đối với bên nhượng quyền, hệ thống kinh doanh phải đã hoạt động ít nhất 01 năm, hàng hóa kinh doanh phải hợp pháp và có văn bản chấp thuận đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại Đối với bên nhận quyền, phải có đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp với đối tượng của quyền thương mại Đồng thời, Nghị định cũng bổ sung trách nhiệm cung cấp thông tin của bên nhượng quyền mà Luật Thương mại năm 2005 chưa đề cập đến Điều 8 của Nghị định quy định: “bên nhượng quyền có trách nhiệm cung cấp bản sao hợp đồng nhượng quyền thương mại và bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại của mình cho bên dự kiến nhận quyền ít nhất là 15 ngày làm việc trước khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại nếu các bên không có thỏa thuận khác”

Điều 11 của Nghị định cũng đưa ra một số nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại mà các bên có thể áp dụng, gồm các điều khoản chủ yếu như sau:

“1- Nội dung của quyền thương mại 2-Quyền, nghĩa vụ của bên nhượng quyền 3- Quyền, nghĩa vụ của bên nhận quyền 4- Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán 5- Thời hạn hiệu lực của hợp đồng 6- Gia hạn, chấm dứt

và giải quyết tranh chấp”

Việc đăng ký nhượng quyền thương mại được quy định tại Mục 3 Nghị định 35/2006/NĐ-CP Cơ quan tiếp nhận đăng ký nhượng quyền thương mại là Bộ thương mại (nay là Bộ Công thương) đối với hoạt động nhượng quyền thương mại

có yếu tố nước ngoài và là Sở Thương mại đối với hoạt động nhượng quyền thương

Trang 34

mịa mang tính nội địa Hồ sơ đăng ký bao gồm: đơn đăng ký và bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại theo mẫu của Bộ Thương mại; bản sao có chứng thực giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư, văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Trong vòng 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận sẽ chập thuận đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại cho thương nhân

Ngày 25/05/2006, Bộ Thương mại ban hành Thông tư số BTM hướng dẫn cụ thể hơn việc đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại Thông tư đã quy định chi tiết về mẫu đơn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại

09/2006/TT-Ngoài các quy định Pháp luật hiện hành của Bộ Thương mại, hiện nay hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam còn chịu sự điều tiết của Bộ Khoa học

và Công nghệ Điều 10, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, đã khẳng định “Phần chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp trong hợp đồng nhượng quyền thương mại đang chịu sự điều chỉnh của Luật chuyển giao công nghệ 2006 và Nghị định số 11/2005/NĐ-CP quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ Theo Điều 4 của Nghị định 11/2005/NĐ-CP, việc chuyển giao này có tên gọi là “cấp phép đặc quyền kinh doanh” và Nghị định cũng quy định hoạt động cấp phép đặc quyền kinh doanh phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ

và được xác nhận đăng ký bởi Bộ/Sở Khoa học và Công nghệ

2.1.2 Những bất cập về mặt pháp lý liên quan tới NQTM :

Hoạt động nhượng quyền thương mại mới được luật hóa ở Việt Nam trong vòng 3 năm trở lại đây nên không thể tránh khỏi còn một số thiếu sót và bất cập

Thứ nhất, có sự chồng chéo về thẩm quyền giữa Bộ Công thương và Bộ Khoa học và Công nghệ Nói cách khác, hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam đang phải chịu cơ chế “một cổ hai tròng”, cùng một lúc có hai cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cùng điều tiết hoạt động này Khi thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại có liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp, thương nhân cùng một lúc phải đăng ký với hai cơ quan Nhà nước khác nhau là Bộ Công thương và Bộ Khoa học và Công nghệ, phải ký kết cùng lúc hai loại hợp đồng

Trang 35

là hợp đồng nhượng quyền thương mại và hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh Điều này gây nhiều phiền toái và khó khăn cho doanh nghiệp

Thứ hai, các quy định pháp luật liên quan đến thủ tục đăng ký nhượng quyền kinh doanh còn nhiều thiếu sót và chưa rõ ràng Điều 18, Nghị định 35/2006/NĐ-CP khi quy định việc phân cấp thực hiện đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại không nêu rõ trường hợp nhượng quyền từ khu chế xuất, khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của Pháp luật Việt Nam ra nước ngoài và ngược lại thì đăng ký tại cơ quan nào Ngoài ra, cũng chưa có các quy định cụ thể nào về cơ chế khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong trường hợp thương nhân bị từ chối đăng ký nhượng quyền thương mại

Thứ ba, các cơ chế pháp lý về nhượng quyền thương mại chưa hoàn chỉnh

và đầy đủ Pháp luật về thuế chưa có các quy định cụ thể về hạch toán, tính thuế đối với mức phí nhượng quyền và các khoản thu khác liên quan đến nhượng quyền Chính phủ cũng chưa ban hành các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hoạt động nhượng quyền thương mại

Hoạt động nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực bán lẻ ở Việt Nam bên cạnh chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật trên còn chịu sự điều chỉnh của các cam kết với WTO trong lĩnh vực phân phối Nội dung các cam kết này đã được trình bày ở mục 1.3.2 của kháo luận Để triển khai việc thực hiện các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, Bộ Thương mại đã ban hành Quyết định số 10/2007/QĐ-BTM ngày 21/05/2007 công bố lịch trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến việc mua bán hàng hóa theo cam kết trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên Như vậy, vào thời điểm này, các hạn chế đối với hiện diện thương mại của các doanh nghiệp nước ngoài trong dịch

vụ nhượng quyền thương mại hầu như đã được gỡ bỏ Các doanh nghiệp có thể thành lập các hiện diện thương mại với 100% vốn của mình và sẽ tiếp tục được mở chi nhánh vào năm 2010 với điều kiện trưởng chi nhánh là người thường trú tại Việt Nam Có thể thấy, cam kết của Việt Nam với WTO là phù hợp với định hướng phát triển ngành phân phối, trong đó có dịch vụ nhượng quyền thương mại Các nhà đầu

tư nước ngoài chắc chắn sẽ tận dụng những thuận lợi này để phát triển thương hiệu

Trang 36

cũng như công việc kinh doanh của mình Điều này sẽ thúc đẩy đáng kể nền kinh tế nước ta nhưng cũng là thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam nếu như không vào cuộc ngay từ bây giờ

2.2.Cơ sở pháp lý điều tiết hoạt động kinh doanh bán lẻ tại Việt Nam

Trên bước đường phát triển và hội nhập, Việt Nam đang dần hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình Trong ngành thương mại bán lẻ, nước ta cũng đã xây dựng đuợc các dự án, các quy chế để hướng dẫn thi hành và quản lý hoạt động bán

lẻ với mục tiêu vừa tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp bán lẻ trong nước phát triển, vừa tạo môi trường đầu tư hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài

2.2.1 Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại:

Ngày 24/9/2004, Bộ Thương mại (nay là Bộ công thương ) đã ra quyết định số 1371/QĐ-BTM về quy chế siêu thị va ftrung tâm thương mại

* Siêu thị hạng 1 phải có diện tích tối thiểu là 5.000m2 và có 20.000 chủng loại hàng hóa trở lên;

* Siêu thị hạng 2 có diện tích từ 2.000m2 và 10.000 chủng loại hàng hóa trở lên;

* Siêu thị hạng 3 phải có diện tích tối thiểu 500m2 và 4.000 chủng loại hàng hóa trở lên;

Về các trung tâm thương mại cũng chia làm 3 hạng:

* Các trung tâm thương mại hạng 1 phỉa có diện tích từ 50.000m2 trở lên;

* Các trung tâm thương mại hạng 2 phải có diện tích là 30.000m2

* Các trung tâm thương mại hạng 3 phải có diện tích là 10.000m2

Ngoài ra, QĐ 1371 còn nêu rõ các siêu thị, trung tâm thương mại phải có

đủ tiêu chuẩn như : nơi để xe, khu vệ sinh, các dịch vụ đi kèm, hệ thống nhà hàng…chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm…

Theo tiêu chuẩn của Bộ Công thương, hiện cả nước có tới 33% số lượng siêu thị chưa đáp ứng được tiêu chuẩn phân hạng siêu thị, 44,7% số siêu thị đạt siêu

Trang 37

thị hạng 3; 11,7% đạt siêu thị hạng 2 và chỉ có 10,6% đạt siêu thị hạng 12 Đa số siêu thị hạng 3 có danh mục hàng hóa nghèo nàn, giá bán thiếu cạnh tranh, dịch vụ khách hàng còn yếu, công tác quản lý còn nhiều yếu kém và hiệu quả kinh doanh

không cao

2.2.2 Lộ trình cam kết mở cửa của Việt Nam :

Năm 2006 đánh dấu một điểm mốc cực kỳ quan trọng trong nỗ lực hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam Sau nhiều nỗ lực đàm phán, ngày 7/11/2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO Ngay sau đó, Việt Nam được hưởng Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) của Mỹ ngày 20/12/2006 Cùng thời điểm đó, các cam kết gia nhập của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực Việt Nam cam kết mở cửa lĩnh vực phân phối hàng hóa, theo đó, các hạn chế về vốn chủ sở hữu, mặt hàng kinh doanh sẽ được xóa bỏ sau 3 năm kể từ ngày gia nhập Lộ trình cam kết mở cửa của Việt Nam như sau: Việt Nam cam kết cả 4 loại hình phân phối là bán lẻ, bán buôn, đại lý hoa hồng và nhượng quyền thương mại

- 01/01/2008: cho phép liên doanh không hạn chế vốn góp từ phía nước ngoài

- 01/01/2009: cho phép thành lập doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài Việc thành lập các cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở thứ nhất) chỉ được xem xét tùy theo từng trường hợp cụ thể

-01/01/2010: các doanh nghiệp FDI được phép cung cấp dịch vụ bán buôn, bán lẻ tất cả các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam

Mức độ mở rộng thị trường như sau:

- Từ 11/01/2007, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa được phép phân phối những mặt hàng như xi măng, Clinke, lốp (trừ lốp máy bay), giấy, máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con, xe máy, sắt thép, thiết bị nghe nhìn, rượu, phân bón

2

Nguồn: Bộ Công thương, Vụ chính sách và thị trường trong nước

Trang 38

- Từ 01/01/2009, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ bán buôn, bán lẻ tất cả các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam và nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam3

hệ thống phân phối và bán lẻ Cuối năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

đề án “Chiến lược phát triển thương mại nội địa 2006-2010, định hướng đến năm

2015 và năm 2020” Nội dung cơ bản của chiến lược phát triển thương mại nội địa

đề ra 2 định hướng lớn:

Thứ nhất là tổ chức lại thương mại nội địa, theo 2 hướng: Xây dựng các nhà phân phối gắn với địa bàn cụ thể và xây dựng các nhà phân phối có tính hệ thống, dựa trên các mối liên kết trong quá trình lưu thông và giữa lưu thông với sản xuất, tiêu dùng Trong đó, có hệ thống phân phối chuyên ngành như xăng dầu, xi măng, sắt thép, phân bón…và hệ thống phân phối đa ngành như các trung tâm bán buôn, hoặc chuỗi cửa hàng bán lẻ…

Thứ hai là hoàn chỉnh môi trường pháp lý để quản lý và điều tiết vĩ mô về thương mại nội địa, đảm bảo thị trường phát triển nhanh, mạnh và bền vững

Dự kiến sẽ có khoảng 15-20 doanh nghiệp được chọn làm doanh nghiệp trọng điểm, gồm nhiều loại hình kinh doanh như: trung tâm thương mại, siêu thị, chợ, tổng công ty thương mại, mạng lưới bán lẻ, chợ đầu mối….và nhiều thành phần kinh tế, để phát triển cơ sở, mạng lưới kinh doanh, làm nòng cốt, bộ xương cho thương mại nội địa, xây dựng chiến lược phát triển trong vòng 5-10 năm trở thành nhà phân phối lớn, có uy tín, đủ sức cạnh tranh “ngang ngửa” với các nhà phân phối nước ngoài Tuy nhiên, những trợ cấp của Nhà nước sẽ không phải mang tính trợ cấp mà chủ yếu là tạo điều kiện pháp lý, cơ sở hạ tầng…cho những doanh nghiệp nay

3

Nguồn: Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2006) , “WTO – các văn kiện gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, trang 838,839

Trang 39

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NQTM TRONG LĨNH VỰC BÁN LẺ TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

I – Đặc điểm ngành kinh doanh bán lẻ tại Việt Nam

1 Thị trường bán lẻ hấp dẫn

AT Kearney (http://www.atkearney.com) là tập đoàn nghiên cứu, tư vấn thị trường hàng đầu thế giới có trụ sở tại Hoa Kỳ Kể từ năm 2001, AT Kearney tiến hành công bố các nghiên cứu thường niên về độ hấp dẫn đầu tư bán lẻ ở 30 thị trường thông qua chỉ số phát triển bán lẻ chung GRDI (Global Retail Development Index) Chỉ số GRDI là thông tin khách quan, đáng tin cậy giúp các tập đoàn bán lẻ hoạch định các chiến lược phát triển toàn cầu bằng việc đánh giá các thị trường mới trỗi dậy dựa trên 25 tiêu chí trong đó có các nguy cơ kinh tế, chính trị, độ hấp dẫn của thị trường bán lẻ, mức bão hòa của thị trường bán lẻ và sự khác nhau giữa tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) và tăng trưởng bán lẻ

- Năm 2007: Việt Nam xếp thứ 4 sau Ấn Độ, Nga và Trung Quốc, Việt Nam đứng thứ 4 thế giới với chỉ số phát triển bán lẻ chung đạt 74 điểm

- Năm 2008: Lần đầu tiên Việt Nam vượt qua các đối thủ của năm 2007

là Ấn Độ, Nga và Trung Quốc để dẫn đầu danh sách thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới trong năm 2008

- Năm 2009, Việt Nam rơi xuống vị trí thứ 6 trong bảng xếp hạng Theo AT Kearney, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, quý 1 năm 2009, kinh tế phát triển chậm ở mức 3.1% so với mức 7.4% cùng kỳ năm 20084

Chính phủ tìm cách đối mặt với tình trạng lạm phát, dần chuyển sang đương đầu với nguy cơ giảm phát Những điều này đã ảnh hưởng ít nhiều tới thị trường bán lẻ Việt Nam trong năm 2009 Mặc dù, Việt Nam đang gặp phải những thách thức trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn vẫn là thị trường đầy hứa hẹn

4 Nguồn: Báo cáo xếp hạng chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2009, Tập đoàn AT Kearney, tr.11-12

Trang 40

Bảng 1: Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2009 (GRDI)

TThứ

tự

Nước Khu vực Rủi ro

quốc gia (25%)

Độ hấp dẫn của thị trường (25%)

Độ bão hòa của thị trường (30%)

Áp lực thời gian (20%)

Điểm GRDI

Thay đổi so với năm trước

đa quốc gia Doanh thu bán lẻ ở thị trường Việt Nam tăng trưởng hàng năm ở mức

18 % - 22% trong giai đoạn 2003-2007 Hơn thế nữa, hiện tại Việt Nam có khoảng

140 siêu thị và đại siêu thị, 20 trung tâm thương mại và gần 1 triệu m2 đang trong quá trình xây dựng dành cho kinh doanh bán lẻ.5

2 Quy mô thị trường bán lẻ Việt Nam

* Số lượng doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ tăng lên nhanh chóng:

Số lượng các doanh nghiệp phân phối bán lẻ tăng bình quân trong giai đoạn

2000-2003 vào khoảng 9,12% và tăng lên nhanh chóng từ năm 2000-2003-2007 với tốc độ trung bình 19,14% Số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam

5

Nguồn: Báo cáo phân tích thị trường bán lẻ Việt Nam 2008-2012, Tập đoàn RNCOS, tr.11

Ngày đăng: 07/05/2014, 19:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Khánh Trung (2008), Franchise – Chọn hay không?, NXB ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Franchise – Chọn hay không
Tác giả: Nguyễn Khánh Trung
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2008
2. TS. Lý Quý Trung (2007), Franchise – Bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh, NXB Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Franchise – Bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh
Tác giả: TS. Lý Quý Trung
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2007
3. TS. Lý Quý Trung (2007), Mua Franchise – cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.Báo, tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua Franchise – cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: TS. Lý Quý Trung
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2007
1. Lê Chí Công (2008), Thương hiệu và văn hóa, Thời báo kinh tế Sài Gòn, 31/7/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương hiệu và văn hóa
Tác giả: Lê Chí Công
Năm: 2008
2. Nguyễn Ngọc Hà (2006), Tìm hiểu một số quy định của pháp luật thương mại Việt Nam về nhượng quyền thương mại, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 18/2006, ĐH Ngoại Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số quy định của pháp luật thương mại Việt Nam về nhượng quyền thương mại
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế đối ngoại
Năm: 2006
3. Phan Anh (2008), Nhượng quyền thương mại là cơ hội kinh doanh thời khủng hoảng, VnExpress, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhượng quyền thương mại là cơ hội kinh doanh thời khủng hoảng
Tác giả: Phan Anh
Năm: 2008
4. Tạp chí Doanh nhân và Pháp luật số 18/2009 – Làn sóng Franchise đã bắt đầu, Tháng 2/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn sóng Franchise đã bắt đầu
5. Tạp chí Việt Mỹ số 18/2007, Franchise – nhượng quyền kinh doanh nguồn gốc Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Franchise – nhượng quyền kinh doanh nguồn gốc Mỹ
Nhà XB: Tạp chí Việt Mỹ
Năm: 2007
6. Tập đoàn AT Kearney (2009), Báo cáo xếp hạng chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn AT Kearney (2009)
Tác giả: Tập đoàn AT Kearney
Năm: 2009
7. Tập đoàn RNCOS (2008), Báo cáo phân tích thị trường bán lẻ Việt Nam giai đoạn 2008-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn RNCOS (2008
Tác giả: Tập đoàn RNCOS
Năm: 2008
8. Thời báo kinh tế Sài Gòn số 52/2008, Sẽ có làn sóng nhượng quyền thương hiệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời báo kinh tế Sài Gòn số 52/2008
9. ThS. Lê Thị Thu Hà (2006), Phân biệt nhượng quyền thương mại với một số hình thức phát triển kinh doanh khác, Tạp chí kinh tế đối ngoại số 17/2006, ĐH Ngoại Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt nhượng quyền thương mại với một số hình thức phát triển kinh doanh khác
Tác giả: ThS. Lê Thị Thu Hà
Nhà XB: Tạp chí kinh tế đối ngoại
Năm: 2006
10. TS. Phạm Văn Minh (2006), Các hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 17/2006, ĐH Ngoại Thương, Hà Nội.Văn bản pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài
Tác giả: TS. Phạm Văn Minh
Năm: 2006
3. Bộ Thương mại, Thông tư 09/2006/TT-BTM hướng dẫn đăng ký nhượng quyền thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 09/2006/TT-BTM hướng dẫn đăng ký nhượng quyền thương mại
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2006
2. Bộ Tài chính, Quyết định 106/2008/QĐ – BTC Khác
4. Chính phủ, Nghị định 35/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết luật Thương mại 2005 về hoạt động nhượng quyền thương mại Khác
5. Luật Chuyển giao công nghệ 2006 6. Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2009 (GRDI) - Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam
Bảng 1 Chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu năm 2009 (GRDI) (Trang 40)
Bảng 2: Số lƣợng doanh nghiệp phân phối bán lẻ 2000-2007 - Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam
Bảng 2 Số lƣợng doanh nghiệp phân phối bán lẻ 2000-2007 (Trang 41)
Bảng 3: Số lao động bình quân trong ngành phân phối bán lẻ 2003-2008 - Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam
Bảng 3 Số lao động bình quân trong ngành phân phối bán lẻ 2003-2008 (Trang 42)
Bảng 4 : Tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng trong GDP Việt Nam 2000-2006 - Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại trong ngành bán lẻ tại thị trường Việt Nam
Bảng 4 Tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng trong GDP Việt Nam 2000-2006 (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w