Các công ty chứng khoán cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ môi giới, tư vấn và quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ ngân hàng đầu tư bao gồm cả việc bảo lãnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 4
I CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 4
1 Khái niệm và đặc điểm của Công ty chứng khoán 4
1.1 Khái niệm và phân loại Công ty chứng khoán 4
1.2 Đặc điểm của Công ty chứng khoán 5
2 Các nghiệp vụ cơ bản của Công ty chứng khoán 10
2.1 Hoạt động tự doanh 10
2.2 Hoạt động bảo lãnh phát hành 12
2.3 Hoạt động tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán 14
2.4 Hoạt động quản lý danh mục đầu tư 16
2.5 Các hoạt động hỗ trợ khác 17
2.6 Hoạt động môi giới chứng khoán 18
II HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 18
1 Khái quát chung về Môi giới chứng khoán 18
2 Đặc trưng, chức năng và vai trò của hoạt động Môi giới chứng khoán 21
2.1 Đặc trưng của hoạt động Môi giới chứng khoán 21
2.2 Chức năng của Môi giới chứng khoán 22
2.3 Vai trò của Môi giới chứng khoán 24
3 Quy trình thực hiện một giao dịch chứng khoán 26
Trang 34 Các loại hình Môi giới chứng khoán 29
4.1 Phân loại theo loại dịch vụ cung cấp 29
4.2 Phân loại theo hoạt động của nhà môi giới chứng khoán 30
5 Phát triển hoạt động Môi giới của công ty chứng khoán 32
5.1 Chỉ tiêu định tính 32
5.2 Chỉ tiêu định lượng 33
6 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hoạt động Môi giới chứng khoán 35
6.1 Các nhân tố chủ quan 35
6.2 Các nhân tố khách quan 39
III KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI Ở MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG LỚN TRÊN THẾ GIỚI 43
1 Sở giao dịch chứng khoán New York 43
2 Sở giao dịch chứng khoán London 45
Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS 47
I GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS 47
1 Sự ra đời 47
2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự 48
3 Các sản phẩm dịch vụ 50
4 Giá trị mà VNS mang lại cho khách hàng 51
5 Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán VNS 53
II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS 56
1 Thực trạng hoạt động môi giới 56
1.1 Cách thức đặt lệnh giao dịch 56
1.2 Nộp và rút tiền tài khoản giao dịch chứng khoán 60
Trang 41.3 Phí môi giới 61 1.4 Nhân lực cho hoạt động môi giới 63 1.5 Cơ sở hạ tầng, thiết bị và công nghệ của hoạt động môi giới 65 5
1.6 Các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ khách hàng trong hoạt động môi giới 67 7
1.7 Kết quả hoạt động môi giới 71 1
2 Đánh giá 77 7
III NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ 83 Chương III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS 88
I ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS TRONG THỜI GIAN TỚI 88
II GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNS 88 III KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC 94 KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 4
PHỤ LỤC 105 5
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1 - Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán 8
Sơ đồ 2 - Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần chứng khoán VNS 49
DANH MỤC BẢNG Bảng 1 – Tài sản và nguồn vốn của VNS qua các năm 54
Bảng 2 – Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của VNS qua các năm 54
Bảng 3 – Kết quả hoạt động kinh doanh của VNS qua các năm 55
Bảng 4 – Biểu phí giao dịch của VNS 61
Bảng 5 – Biểu phí giao dịch của công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán ACB 62
Bảng 6 – Biểu phí giao dịch của Công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long 62 2 Bảng 7 – Số lượng và trình độ nhân viên của hoạt động môi giới tại VNS 64
Bảng 8 - Doanh thu hoạt động kinh doanh chứng khoán của VNS 71 1 Bảng 9 - Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán của VNS qua các năm 73 3 Bảng 10 – Chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán của VNS qua các năm 74 4 Bảng 11 – Theo dõi số lượng tài khoản giao dịch đóng, mở tại VNS qua các quý 76
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 - Cơ cấu nhân viên của VNS 64 4
Biểu đồ 2 - Cơ cấu nhân viên môi giới theo trình độ của VNS 65 Biểu đồ 3 - Cơ cấu nhân viên môi giới của VNS theo chứng chỉ 65 5
Biểu đồ 4 - Cơ cấu doanh thu hoạt động kinh doanh chứng khoán của VNS năm 2007 72 2
Biểu đồ 5 - Cơ cấu doanh thu hoạt động kinh doanh chứng khoán của VNS năm 2008 72 2
Biểu đồ 6 - Doanh thu môi giới của VNS 73 3
Biểu đồ 7 - Doanh thu và chi phí môi giới của VNS 75 5
Biểu đồ 8 - Mức độ hài lòng của nhà đầu tư đối với dịch vụ môi giới của VNS 78 Biêu đồ 9 - Mức độ hài lòng của nhà đầu tư đối với dịch vụ môi giới của VNS 82 2
Biểu đồ 10 - Đánh giá từ nhà đầu tư về mức độ quan trọng của các vấn đề trong hoạt động môi giới 84 Biểu đồ 11 - Đánh giá từ nhà đầu tư về những vấn đề cần cải thiện trong dịch
vụ môi giới của VNS 84 4
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Thị trường chứng khoán” đến thời điểm hiện nay đã không còn là một khái niệm xa lạ với người dân Việt Nam nữa, mà nó đã đi vào không chỉ trong đời sống kinh tế mà còn trở thành một phần trong đời sống xã hội của người Việt
Sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu xảy ra và chứng kiến những ảnh hưởng nghiêm trọng của nó đến thị trường chứng khoán thế giới, các nhà đầu tư Việt Nam mới có nhận thức, cái nhìn đúng đắn hơn về chứng khoán và thị trường chứng khoán Đó không phải là nơi cứ có tiền là có thể tham gia được Khi các nhà đầu tư muốn đầu tư vào thị trường chứng khoán, ngoài vốn, họ còn phải có kiến thức về tài chính – ngân hàng, phải năng động để cập nhật thông tin trong nước cũng như trên thế giới, phải có chiến lược, sự phân tích và quyết định đúng đắn thì mới có thể tham gia vào thị trường
Chính từ những yêu cầu đó mà vai trò của công ty chứng khoán, mà đặc biệt
là vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán mới được nhìn nhận và đánh giá lại Môi giới không chỉ là người trung gian, dẫn dắt người bán và người mua gặp nhau
để hưởng hoa hồng, mà người môi giới còn phải có kiến thức, có kinh nhiệm, luôn luôn nắm bắt được những biến đổi của nền kinh tế và hiểu được khách hàng của mình, từ đó đưa ra lời khuyên, đưa ra những kiến nghị hợp lý để nhà đầu tư đạt được lợi ích cao nhất
Hoạt động môi giới mà hiệu quả thì sẽ là một trong những tiền đề vững chắc giúp thị trường chứng khoán phát triển ổn định, bền vững Và ngược lại, một thị trường chứng khoán sôi động, tăng trưởng mạnh thì chắc chắn hoạt động môi giới của nó phải rất phát triển
Mặc dù hoạt động môi giới ở Việt Nam hiện nay ngày càng có những bước tiến bộ, nhưng vẫn chưa đạt được trình độ chuyên nghiệp như ở các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới Vậy hoạt động môi giới của công ty chứng khoán tại
Việt Nam hiện nay ra sao? Để tìm hiểu vấn đề này người viết đã chọn đề tài “Phát
Trang 8triển hoạt động môi giới tại Công ty cổ phần Chứng khoán VNS” là đề tài nghiên
cứu cho khóa luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài này nhằm thực hiện 3 mục đích sau:
Thứ nhất là khái quát chung về công ty Chứng khoán và hoạt động Môi giới của công ty chứng khoán để có được cái nhìn tổng quan nhất về công ty Chứng khoán và hoạt động Môi giới chứng khoán
Thứ hai là trình bày thực trạng hoạt động Môi giới tại một công ty chứng khoán, mà cụ thể ở đây là Công ty cổ phần Chứng khoán VNS
Thứ ba là dựa trên thực trạng hoạt động Môi giới đó, người viết sẽ đưa ra giải pháp để giúp Công ty cổ phần Chứng khoán VNS phát triển hơn nữa hoạt động Môi giới của mình trong tương lai
3 Đối tượng nghiên cứu
Môi giới là một lĩnh vực có tầm hoạt động lớn, đa dạng về hình thức và cách thức Trong điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế, người viết chỉ nghiên cứu nghiệp vụ môi giới trong phạm vi một công ty là Công ty cổ phần Chứng khoán VNS Đối tượng nghiên cứu là hoạt động Môi giới tại Công ty cổ phần Chứng khoán VNS từ khi công ty được thành lập, tức là từ cuối năm 2007 đến hết năm
2009, trong phạm vi chính là Hội sở của công ty tại Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về Chứng khoán, Thị trường chứng khoán và hoạt động Môi giới chứng khoán
Người viết đã áp dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, bao gồm: phương pháp phân tích tài liệu (thu thập các thông tin, số liệu từ tài liệu của công ty VNS), phương pháp quan sát (thu thập thông tin bằng cách tri thức trực tiếp và ghi lại những yếu tố liên quan đến hoạt động môi giới của công ty VNS), phương pháp điều tra và thống kê – tổng hợp
Trang 95 Bố cục của đề tài
Ngoài Lời mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 phần chính như sau:
Chương I: Khái quát chung về công ty Chứng khoán và hoạt động Môi giới
của công ty Chứng khoán
Chương II: Thực trạng hoạt động Môi giới tại Công ty cổ phần Chứng
khoán VNS
Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động Môi giới tại Công ty cổ phần
Chứng khoán VNS
Trang 10Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN
I CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC NGHIỆP VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG
TY CHỨNG KHOÁN
1 Khái niệm và đặc điểm của Công ty chứng khoán
1.1 Khái niệm và phân loại Công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông, buôn bán tấp nập trên thị trường chứng khoán Qua đó, một lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ những nguồn vốn nhỏ lẻ được tập hợp lại
Có thể đưa ra một khái niệm như sau: “Công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốn riêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp” (GS.NGƯT Đinh Xuân Trình và PGS.TS Nghuyễn Thị Quy, “Giáo trình Thị trường chứng khoán” của Trường ĐH Ngoại Thương, NXB Giáo Dục)
Với vai trò quan trọng là một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường chứng khoán – thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường, công ty chứng khoán được xây dựng và phát triển rất đa dạng về loại hình và quy mô
Nếu căn cứ vào mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán, có thể phân
chia công ty chứng khoán thành 2 nhóm sau:
- Công ty chứng khoán đa năng: Đây là loại hình công ty chứng khoán thực
hiện tất cả các nghiệp vụ như kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính khác Đây chính là mô hình mà các Ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách vừa là chủ thể kinh doanh chứng khoán, vừa là chủ thể kinh doanh bảo hiểm và vừa là chủ thể kinh doanh tiền tệ
Trang 11- Công ty chứng khoán chuyên doanh: Đây là loại hình công ty chứng khoán
độc lập và chỉ chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán
Nếu căn cứ vào việc thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán,
có thể phân chia công ty chứng khoán thành các loại sau:
- Công ty Môi giới chứng khoán: là công ty chứng khoán chỉ thực hiện việc
trung gian, mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng
- Công ty Bảo lãnh phát hành chứng khoán: là công ty chứng khoán có lĩnh
vực hoạt động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá
- Công ty Kinh doanh chứng khoán: là công ty chứng khoán chủ yếu thực
hiện nghiệp vụ tự doanh, có nghĩa là công ty chứng khoán tự bỏ vốn đầu tư chứng khoán và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình
- Công ty Trái phiếu: là công ty chứng khoán chuyên mua bán các loại trái
phiếu
- Công ty chứng khoán không tập trung: là các công ty chứng khoán hoạt
động chủ yếu trên thị trường OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trường
- Ngoài ra còn có mô hình công ty chứng khoán thực hiện tất cả các nghiệp
vụ kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Hiện nay ở Việt Nam, các công ty chứng khoán được thành lập theo hình thức chuyên doanh Dù là các công ty chứng khoán cổ phần hay công ty chứng khoán trách nhiệm hữu hạn một thành viên của các Ngân hàng thương mại đều chỉ hoạt động kinh doanh chứng khoán mà không tham gia kinh doanh tiền tệ hay bảo hiểm
1.2 Đặc điểm của Công ty chứng khoán
1.2.1 Công ty chứng khoán là trung gian trên thị trường tài chính
Trung gian tài chính là các tổ chức tài chính làm cầu nối giữa những người cần vốn và những người có vốn Tuy nhiên không như dạng tài chính tực tiếp – người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, sự dẫn vốn diễn ra phải thông qua một cầu nối đó chính là các tổ chức tài chính gián tiếp hay các trung gian tài chính
Trang 12Các tổ chức trung gian tài chính có thể là các ngân hàng, các công ty chứng khoán, các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công
ty tài chính…
Công ty chứng khoán với đặc điểm là một trung gian tài chính sẽ đóng vai trò là một trung gian đầu tư Công ty chứng khoán không chỉ là cầu nối giữa tổ chức phát hành với nhà đầu tư mà còn là cầu nối giữa các nhà đầu tư với nhau Các công
ty chứng khoán cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ tài chính bao gồm dịch
vụ môi giới, tư vấn và quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ ngân hàng đầu tư (bao gồm
cả việc bảo lãnh phát hành các chứng khoán thuộc khu vực công và khu vực tư nhân, trợ giúp trong lĩnh vực hợp nhất và sáp nhập các công ty), thực hiện giao dịch mua bán (với tư cách là đối tác trong giao dịch) các cổ phiếu, trái phiếu và các công
cụ của thị trường tiền tệ
1.2.2 Công ty chứng khoán là tổ chức kinh doanh có điều kiện
Điều kiện kinh doanh của công ty chứng khoán phát sinh là do công ty chứng khoán hoạt động trong lĩnh vực tài chính – lĩnh vực cực kỳ quan trọng và có ảnh hưởng sống còn, nên cần phải có những quy định chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế Hay nói cách khác, kinh doanh chứng khoán là một trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện
Ngành nghề kinh doanh có điều kiện là những ngành, nghề mà Luật, Pháp lệnh, Nghị định quy định các diều kiện hay yêu cầu mà doanh nghiệp phải đáp ứng khi kinh doanh các ngành nghề đó Điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới 2 hình thức sau:
- Giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp (giấy phép kinh doanh có thể mang nhiều tên khác nhau, như: giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép hoạt động…)
- Các điều kiện quy định về tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật, công nghệ, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy chữa cháy, trật
tự xã hội, an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt là điều kiện kinh doanh không cần giấy phép)
Trang 13Trong trường hợp công ty chứng khoán, điều kiện kinh doanh là được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Trước tiên, một doanh nghiệp muốn trở thành một công ty chứng khoán thì phải được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp Theo Điều 62, Luật chứng khoán 2006, điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt dộng của công ty chứng khoán bao gồm: có trụ sở, có trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán; có đủ vốn pháp định theo quy định của Chính phủ; Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán phải có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán…
Ngoài Luật chứng khoán 2006 và Nghị định số 14/2007 của Chính phủ, các điều kiện kinh doanh của công ty chứng khoán được quy định rất cụ thể trong Quyết định số 27/2007 của Bộ tài chính về “Quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán” và Quyết định số 126/2008/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế này
1.2.3 Mô hình tổ chức của Công ty chứng khoán
Một công ty chứng khoán có bộ máy tổ chức hợp lý sẽ nâng cao tính linh động trong dịch vụ, linh hoạt trong việc tư vấn và thực hiện yêu cầu của khách hàng Cùng một công việc, công ty nào tổ chức hợp lý, chặt chẽ hơn sẽ thực hiện nhanh hơn, chính xác hơn và ít sai sót
Có thể nói mỗi công ty chứng khoán đều có một mô hình riêng cho mình và trên thế giới hiện nay thì không có mô hình chuẩn cho các công ty chứng khoán Tùy thuộc vào sự phát triển của các nghiệp vụ và tính chất phức tạp trong hoạt động
mà mỗi công ty tổ chức một khác Mặc dù vậy, tổ chức trong một công ty chứng khoán phải theo những nguyên tắc như: cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phải đảm bảo tách biệt về văn phòng làm việc, nhân sự, hệ thống dữ liệu, báo cáo giữa các bộ phận nghiệp vụ có xung đột giữa lợi ích của công ty chứng khoán và của khách hàng hoặc giữa lợi ích của các khách hàng với nhau; công ty chứng
Trang 14khoán phải tuân thủ các nguyên tắc về quản trị công ty được quy định trong Điều lệ công ty phù hợp với Điều lệ theo quy định của pháp luật…
Có thể khái quát cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán theo sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1 - Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Ngoài ra, tùy theo công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên mà tổ chức của công ty chứng khoán đó phải theo đúng quy định của pháp luật
về cơ cấu tổ chức của từng loại công ty này
1.2.4 Hoạt động của Công ty chứng khoán phải theo nguyên tắc
Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán được quy định trong Điều lệ của công ty Mỗi công ty chứng khoán đều có thể tự đặt ra nguyên tắc hoạt động cho mình miễn là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo được các nguyên tắc chung như: Tuân thủ pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán và các pháp luật khác; Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp; Liêm trực và thực hiện hoạt động kinh doanh một cách công bằng; Hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình với khách
Đại diện chủ sở hữu Hội đồng quản trị/ Chủ tịch công ty
Ban điều hành Giám đốc/ Tổng giám đốc và các Phó GĐ/ Phó TGĐ
Khối kinh doanh (Front Office)
Môi giới
Tự doanh Quản lý danh mục đầu tư
IT Kiểm soát Pháp chế
…
Trang 15hàng một cách tốt nhất; Đảm bảo nguồn lực về con người, vốn và cơ sở vật chất cần thiết khác để thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán và ban hành bằng văn bản các quy trình thực hiện nghiệp vụ kinh doanh phù hợp; Chỉ được đưa ra lời tư vấn phù hợp với khách hàng trên cơ sở nỗ lực thu thập thông tin về khách hàng; Phải cung cấp cho khách hàng thông tin cần thiết cho việc ra quyết định đầu tư của khách hàng; Phải thận trọng không được tạo ra xung đột lợi ích với khách hàng (trong trường hợp không thể tránh được, công ty phải thông báo trước cho khách hàng và/ hoặc áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo đối xử công bằng với khách hàng); Ban hành và áp dụng các quy trình nghiệp vụ trong công ty phù hợp với quy định của Luật chứng khoán và các văn bản pháp luật liên quan
Các nguyên tắc chung, cơ bản trên là các nguyên tắc nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp, công bằng cho các nhà đầu tư và đảm bảo sự quản lý của pháp luật trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.2.5 Nhân sự tại Công ty chứng khoán
Nhân sự là một nguồn lực rất quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung
và các công ty chứng khoán nói riêng Với một cơ cấu tổ chức hợp lý, gọn nhẹ mà không có đội ngũ nhân viên có năng lực, nhanh nhạy thì hoạt động kinh doanh của công ty không thể hiệu quả
Tùy theo từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực hoạt động mà yêu cầu về trình
độ, kỹ năng của đội ngũ nhân lực là khác nhau Đối với công ty chứng khoán, để được phép đi vào hoạt động, ngoài Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng giám đốc) cần phải có ít nhất 3 người hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp
vụ kinh doanh
Để trở thành một người hành nghề chứng khoán cần phải được cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán (điều kiện để một cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề chứng khoán được quy định trong khoản 1, Điều 79, Luật chứng khoán 2006) Ngoài ra một người hành nghề chứng khoán cần phải có những trách nhiệm ràng buộc khác để không ngừng nâng cao trình độ của bản thân, bảo đảm lợi ích cho khách hàng và thực thi đúng quy định của Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Trang 16Từ những yêu cầu trên, có thể nhận thấy được rằng thị trường chứng khoán
có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nên vấn đề yêu cầu tư cách, trình độ nhân lực trong công ty chứng khoán rất được xem trọng
2 Các nghiệp vụ cơ bản của Công ty chứng khoán
Trên đây là những vấn đề về khái niệm và đặc điểm của công ty chứng khoán Vậy, với ngành nghề là kinh doanh chứng khoán, công ty chứng khoán sẽ thực hiện những nghiệp vụ gì, thực hiện như thế nào và điều kiện để thực hiện ra sao?
Các hoạt động của công ty chứng khoán rất đa dạng và phong phú với nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính để đáp ứng các yêu cầu của thị trường chứng khoán Để tham gia thị trường, công ty chứng khoán có thể thực hiện một, một vài hoặc tất cả các hoạt động nghiệp vụ sau
2.1 Hoạt động tự doanh
Theo Điều 6, khoản 21, Luật chứng khoán 2006 thì “Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình” Một công ty chứng khoán muốn hoạt động tự doanh phải có số vốn pháp định ít nhất là 100 tỷ đồng
Chứng khoán được công ty chứng khoán tự doanh có thể là chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán hoặc các chứng khoán chưa niêm yết
Bên cạnh mục đích chính là lợi nhuận, hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán còn nhằm mục đích can thiệp điều tiết giá chứng khoán, tạo lập thị trường cho các chứng khoán mới phát hành và tự doanh lô lẻ của khách hàng sau đó tập hợp lại thành lô chẵn để giao dịch trên thị trường chứng khoán
Đối với mục đích can thiệp điều tiết giá chứng khoán, công ty chứng khoán
đã góp phần bình ổn thị trường thông qua hành vi mua vào khi giá chứng khoán giảm hoặc bán ra khi giá chứng khoán tăng Thông thường, ở một số nước, đây là một quy định bắt buộc đối với các công ty chứng khoán để đảm bảo bình ổn thị trường Luật các nước đều quy định công ty chứng khoán phải dành một tỷ lệ phần trăm nhất định các giao dịch của mình cho hoạt động bình ổn thị trường
Đối với vai trò tạo lập thị trường, công ty chứng khoán là nhà đầu tư nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một vài loại chứng khoán và thực hiện việc mua bán chứng khoán với khách hàng để hưởng chênh lệch giá, duy trì một thị
Trang 17trường liên tục đối với chứng khoán mà họ tham gia tạo lập thị trường Ngoài ra, đối với các loại chứng khoán mới phát hành chưa có giao dịch, công ty chứng khoán phải tạo lập thị trường cho các chứng khoán này bằng cách giao dịch mua bán chứng khoán để tạo tính thanh khoản trên thị trường
Nguyên tắc của hoạt động tự doanh chứng khoán là công ty chứng khoán phải đảm bảo quản lý tách bạch giữa hoạt động tự doanh và hoạt động môi giới Cụ thể, công ty chứng khoán phải:
- Đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán để thanh toán các lệnh giao dịch cho tài khoản của chính mình
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của mình
- Công bố cho khách hàng biết khi mình là đối tác trong giao dịch trực tiếp với khách hàng và không được thu phí giao dịch của khách hàng trong trường hợp này
- Trong trường hợp lệnh mua/ bán chứng khoán của khách hàng có thể ảnh hưởng lớn tới giá của loại chứng khoán đó, công ty chứng khoán không được mua/ bán trước cùng loại chứng khoán đó cho chính mình hoặc tiết lộ thông tin cho bên thứ ba mua/ bán chứng khoán đó
- Khi khách hàng đặt lệnh giới hạn, công ty chứng khoán không được mua hoặc bán cùng loại chứng khoán đó cho mình ở mức giá bằng hoặc tốt hơn mức giá của khách hàng trước khi lệnh của khách hàng được thực hiện
Nguyên tắc này đảm bảo tính công bằng cho khách hàng vì với tư cách là một tổ chức trực tiếp tham gia thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán thường chủ động hơn khách hàng trong việc tiếp cân thông tin và có kỹ năng phân tích thông tin, phân tích tình hình thị trường nên nếu không có nguyên tắc này, công ty chứng khoán sẽ tranh mua hoặc tranh bán với khách hàng hoặc có thể chiếm dụng vốn của khách hàng
Hoạt động tự doanh là hoạt động mà công ty chứng khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của mình nên áp lực đối với người trực tiếp tự doanh là rất lớn Vì vậy, công ty chứng khoán phải đảm bảo có nguồn vốn lớn và một đội ngũ nhân viên
tự doanh có trình độ phân tích, phán đoán thị trường nhanh nhạy, đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý
Trang 18Tuy vậy, theo Điều 29 về hạn chế đầu tư của công ty chứng khoán, quyết định
số 27/2007/QĐ-BTC , trừ trường hợp bảo lãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn, có một số trường hợp mà công ty chứng khoán không được phép đầu tư
2.2 Hoạt động bảo lãnh phát hành
Theo Điều 6, khoản 21, Luật chứng khoán 2006 thì “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng” Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất địnhtrên số tiền thu được từ đợt phát hành
Số vốn pháp định tối thiểu để một công ty chứng khoán thực hiện hoạt động này là
165 tỷ đồng Trong hoạt động bảo lãnh phát hành, công ty chứng khoán đóng vai trò
là tổ chức bảo lãnh
Trên thị trường chứng khoán không chỉ có công ty chứng khoán được phép làm tổ chức bảo lãnh phát hành mà còn có các ngân hàng đầu tư Tuy nhiên, các ngân hàng đầu tư nhận bảo lãnh cho một tổ chức phát hành, sau đó thường chuyển phân phối chứng khoán cho các công ty chứng khoán tự doanh hoặc cho các thành viên khác Còn đối với công ty chứng khoán nhận bảo lãnh phát hành, thường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán
Hiện nay trên thế giới có một số hình thức bảo lãnh phát hành sau:
- Bảo lãnh cam kết chắc chắn: là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh
phát hành cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối hết hay không
- Bão lãnh cố gắng tối đa: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo
lãnh thỏa thuận làm đại lý phát hành cho tổ chức phát hành Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng tối đa Số chứng khoán còn lại nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành Như vậy, kết quả của việc bán chứng khoán của tổ chức phát hành tùy thuộc và khả năng, uy tín và sự lựa chọn nhà đầu tư của tổ chức bảo lãnh
Trang 19- Bảo lãnh tất cả hoặc không: là phương thức bảo lãnh mà theo đó, tổ chức
phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải bán hết số chứng khoán dự định phát hành, nếu không phân phối hết sẽ hủy bỏ đợt phát hành Theo phương thức này, không có một sự bảo đảm đợt phát hành có thành công hay không, nên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thường quy định số chứng khoán mà nhà đầu tư đã mua trong thời gian chào bán sẽ được giữ bởi một người thứ ba để chờ kết quả cuối cùng của đợt phát hành Nếu đợt phát hành không thành công thì nhà đầu tư sẽ được trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc
- Bảo lãnh với hạn mức tối thiểu: là phương thức kết hợp giữa phương thức
bảo lãnh cố gắng tối đa và phương bảo lãnh tất cả hoặc không Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định Nếu số lượng chứng khoán bán ra dưới hạn mức này thì đợt phát hành sẽ được hủy bỏ và toàn bộ tiền đặt cọc mua chứng khoán sẽ được trả lại cho nhà đầu
tư Đây là phương thức bảo lãnh tương đối hiệu quả, vừa bảo vệ lợi ích cho tổ chức phát hành, vừa hạn chế rủi ro cho tổ chức bảo lãnh
Riêng tại Việt Nam hiện nay chỉ áp dụng hình thức bảo lãnh với cam kết chắc chắn nhằm mục đích bảo vệ của nhà đầu tư và gắn kết trách nhiệm của các công ty chứng khoán Điều này gây ra một số khó khăn cho các công ty chứng khoán trong việc triển khai nghiệp vụ này
Công ty chứng khoán được thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán theo hình thức cam kết chắc chắn nếu đáp ứng các điều kiện sau:
- Được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán;
- Không vi phạm pháp luật chứng khoán trong 6 tháng liên tục liền trước thời điểm bảo lãnh;
- Tổng giá trị bảo lãnh phát hành không được lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu của tổ chức bảo lãnh phát hành vào thời điểm cuối quý gần nhất tính đến ngày ký hợp đồng bảo lãnh phát hành, trừ trường hợp bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;
- Có tỷ lệ vốn khả dụng trên nợ điều chỉnh trên 6% trong 3 tháng liền trước thời điểm nhận bảo lãnh phát hành
Trang 20Mặc dù đã đáp những được các điều kiện trên, nhưng cũng giống như tự doanh, hoạt động bảo lãnh phát hành của công ty chứng khoán vẫn có những trường hợp bị hạn chế theo quy định của Pháp luật
2.3 Hoạt động tư vấn tài chính và tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn tài chính là dịch vụ mà công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực tư vấn tái cơ cấu tài chính, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp; tư vấn cho doanh nghiệp trong việc phát hành và niêm yết chứng khoán
Theo Điều 6, khoản 23, Luật chứng khoán 2006 thì “Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công
bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán” Để được phép thực hiện hoạt động này, công ty chứng khoán phải có số vốn pháp định ít nhất là
10 tỷ đồng
Từ hai khái niệm trên có thể thấy rằng hoạt động tư vấn của công ty chứng khoán nhắm tới 2 đối tượng là tổ chức phát hành chứng khoán (trên thị trường sơ cấp) và nhà đầu tư (trên thị trường thứ cấp)
Tư vấn tài chính là một mảng hoạt động quan trọng mang lại nguồn thu tương đối cao cho công ty chứng khoán Thực hiện nghiệp vụ này sẽ góp phần hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp và tạo ra những hàng hóa có chất lượng cao trên thị trường Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải ký hợp đồng với tổ chức được tư vấn và liên đới chịu trách nhiệm về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết Hoạt động này tương đối đa dạng bao gồm:
- Xác định giá trị doanh nghiệp: là việc định giá các tài sản hữu hình và vô
hình của doanh nghiệp trước khi chào bán chứng khoán Đây là khâu quan trọng trước khi phát hành chứng khoán vì nó dùng để đánh giá chứng khoán phát hành, đặc biệt là khi doanh nghiệp mới phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu
- Tư vấn về loại chứng khoán phát hành: tùy theo điều kiện cụ thể của từng
doanh nghiệp như tình hình tài chính, chiến lược phát triển của công ty… mà xác định loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu hay trái phiếu
- Tư vấn chia, tách hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp: khi một doanh nghiệp
muốn thâu tóm hay hợp nhất với một doanh nghiệp khác, họ tìm đến các công ty
Trang 21chứng khoán để nhờ trợ giúp về các vấn đề kỹ thuật, phương pháp tiến hành sao cho phù hợp và đỡ tốn chi phí…
- Tư vấn tái cơ cấu tài chính: công ty chứng khoán giúp các doanh nghiệp tái
cơ cấu nguồn vốn của mình cho phù hợp với điều kiện kinh doanh hiện tại, phù hợp với ngành nghề kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và đảm bảo an toàn
- Tư vấn niêm yết: công ty chứng khoán giúp các doanh nghiệp thực hiện các
thủ tục theo quy định của pháp luật để đưa doanh nghiệp lên niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán
Đối với tư vấn đầu tư chứng khoán, các chuyên viên tư vấn sẽ sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để tư vấn cho nhà đầu tư về thời điểm mua bán chứng khoán, loại chứng khoán mua bán, thời gian nắm giữ, tình hình diễn biến thị trường,
xu hướng giá cả… Nội dung tư vấn đầu tư chứng khoán bao gồm: tư vấn chiến lược, kỹ thuật giao dịch và cung cấp kết quả phân tích chứng khoán, phân tích thị trường chứng khoán Hai nội dung tư vấn này phải có cơ sở hợp lý và phù hợp dựa trên thông tin đáng tin cậy, phân tích logic
Việc tư vấn có thể bằng lời nói, hoặc có thể thông qua những bản tin, các báo cáo phân tích… khách hàng có thể gặp gỡ nhà tư vấn hoặc thông qua các phương tiện truyền thông như điện thoại, fax… để nhờ tư vấn trực tiếp hoặc có thể gián tiếp thông qua các báo cáo phân tích, các ấn phẩm mà nhà tư vấn phát hành
Nhà tư vấn phải luôn là người thận trọng khi đưa ra những lời bình luận, những báo cáo phân tích của mình về giá trị các loại chứng khoán, vì những phát ngôn của các chuyên viên tư vấn có tác động rất lớn đền tâm lý của các nhà đầu tư
và thường dễ có thể trở thành lời tiên đoán, định hướng cho toàn bộ thị trường Bởi
vì, các nhà đầu tư tin rằng các nhà tư vấn là những chuyên gia trong lĩnh vực này,
họ có nhiều thông tin và kiến thức hơn những người khác và họ có thể đánh giá tình hình chính xác hơn Điều này có thể mang lại lợi nhuận cho người được tư vấn nhưng cũng có thể gây thiệt hại cho họ và làm ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Vì vậy, khi tư vấn đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán phải thu thập
và quản lý thông tin về khách hàng đã được khách hàng xác nhận, bao gồm: tình
Trang 22hình tài chính của khách hàng; thu nhập của khách hàng; mục tiêu đầu tư của khách hàng; khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng; kinh nghiệm và hiểu biết về đầu tư của khách hàng
Để ngăn ngừa xung đột lợi ích liên quan đến tư vấn đầu tư chứng khoán giữa khách hàng và công ty chứng khoán, thì:
- Công ty chứng khoán phải có trách nhiệm ngăn ngừa xung đột lợi ích với khách hàng; công ty chứng khoán, người hành nghề chứng khoán phải công bố cho khách hàng biết trước về những xung đột lợi ích có thể phát sinh giữa công ty chứng khoán, người hành nghề chứng khoán và khách hàng
- Công ty chứng khoán, người hành nghề chứng khoán phải công bố lợi ích của mình về chứng khoán mà mình đang sở hữu cho khách hàng đang được tư vấn
về chứng khoán đó
2.4 Hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Theo Điều 6, khoản 26, Luật chứng khoán 2006 thì “Quản lý danh mục đầu
tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán” Đối với công ty chứng khoán thì hoạt động này là hoạt động mà công ty chứng khoán quản
lý vốn của khách hàng thông qua việc mua, bán và nắm giữ các chứng khoán vì quyền lợi của khách hàng theo hợp đồng được ký kết giữa công ty chứng khoán và khách hàng
Nghiệp vụ này được thực hiện khi một số nhà đầu tư tổ chức hoặc cá nhân muốn tham gia thị trường chứng khoán nhưng họ không có đủ điều kiện về thời gian hoặc kiến thức chuyên môn để quyết định đầu tư, vì vậy, họ ủy thác cho công
ty chứng khoán đầu tư kèm theo thỏa thuận lãi, lỗ Người ủy thác đầu tư thường không can dự vào việc đầu tư của công ty chứng khoán và trả một khoản phí cho công ty chứng khoán theo thỏa thuận
Các công ty chứng khoán khi thực hiệp nghiệp vụ này ngoài việc được hưởng phí quản lý, họ còn có thể nhận được những khoản tiền thưởng nhất định khi mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư Khi thực hiện quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán phải quản lý tiền và chứng khoán cho từng khách hàng ủy thác
Trang 23và sử dụng tiền trong tài khoản theo đúng các điều kiện quy định trong hợp đồng đã
ký kết Hợp đồng phải xác định rõ mức độ ủy quyền của khách hàng cho công ty chứng khoán và điều quan trọng nữa là phải xác định khách hàng phải chịu mọi rủi
ro của hoạt động đầu tư Để đảm bảo quyền lợi của khách hàng, định kỳ, công ty chứng khoán phải gửi báo cáo giá trị các khoản đầu tư theo giá thị trường tại thời điểm báo cáo cho khách hàng
Như vậy, hoạt động quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư
2.5 Các hoạt động hỗ trợ khác
Nhìn chung, các hoạt động hỗ trợ giao dịch nhằm mục đích tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Hoạt động hỗ trợ được chia làm 2 nhóm chính là hoạt động lưu ký chứng khoán và hoạt động tín dụng Theo Điều 6, khoản 24, Luật chứng khoán 2006 thì
“Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền kiên quan đến sở hữu chứng khoán”
Lưu ký chứng khoán là một hoạt động rẩt cần thiết trên thị trường chứng khoán Bởi vì trên thị trường chứng khoán tập trung, việc thanh toán các giao dịch diễn ra tại Sở giao dịch chứng khoán Vì vậy, lưu ký chứng khoán một mặt giúp cho quá trình thanh toán tại Sở giao dịch đươc diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, dễ dàng Mặt khác, nó hạn chế rủi ro cho người nắm giữ chứng khoán như rủi ro bị hỏng, rách, thất lạc chứng chỉ sở hữu chứng khoán…
Công ty chứng khoán được cấp Giấy chứng nhận hoạt động lưu ký theo quy định của Luật chứng khoán được thực hiện cung cấp các dịch vụ sau:
- Cung cấp dịch vụ lưu ký và thanh toán các giao dịch chứng khoán cho khách hàng;
- Cung cấp dịch vụ đăng ký chứng khoán đối với các chứng khoán phát hành riêng lẻ;
Trang 24- Làm đại lý chuyển nhượng theo yêu cầu của tổ chức phát hành đối với các chứng khoán phát hành riêng lẻ
Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ nhận được một khoản phí theo quy định của pháp luật
Hoạt động tín dụng là hoạt động mà công ty chứng khoán giúp khách hàng của mình gia tăng khoản vốn đầu tư thông qua các hình thức như cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay bảo chứng, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán…
- Cho vay cầm cố chứng khoán: là một hình thức tín dụng mà trong đó người
đi vay dùng số chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình làm tài sản cầm cố để vay kiếm tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng…
- Cho vay bảo chứng: là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để
mua chứng khoán, sau đó dùng số chứng khoán mua được từ tiền vay để làm tài sản cầm cố cho khoản vay
- Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: là việc công ty chứng khoán
dùng tiền của mình ứng trước tiền bán chứng khoán của khách hàng được thực hiện tại Sở giao dịch chứng khoán và sẽ nhận lại tiền khi đến ngày thanh toán
2.6 Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán, trong đó, công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó
Hoạt động môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán sẽ được trình bày
kỹ hơn trong phần II của chương I khóa luận này
II HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1 Khái quát chung về Môi giới chứng khoán
Có thể nói, hoạt động môi giới chứng khoán là hạt nhân của thị trường chứng khoán Hoạt động môi giới chứng khoán phát triển sẽ tạo đà phát triển cho thị trường chứng khoán Điều này bắt nguồn từ nguyên tắc chủ đạo đối với hoạt động
Trang 25của thị trường chứng khoán là chỉ dựa vào các hoạt động giao dịch được cấp phép giữa những người trung gian làm nghề môi giới chứng khoán
Khoản 20, Điều 6, Luật chứng khoán 2006 nêu khái niệm “Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng” Nhưng trong thực tế thì không chỉ có công ty chứng khoán mới thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Khái niệm môi giới chứng khoán của Hiệp hội những nhà kinh doanh chứng khoán (NASD) gồm các ý sau:
- Là một cá nhân hay tổ chức tính phí hoặc hưởng hoa hồng cho việc thực hiện lệnh mua hoặc bán cho một cá nhân hay một tổ chức khác
- Là hoạt động của công ty môi giới khi hoạt động như một đại lý cho khách hàng và hưởng hoa hồng cho dịch vụ thực hiện
- Người tham gia vào việc thực hiện giao dịch chứng khoán vì lợi ích của những người khác, trừ ngân hàng
Với cách tiếp cận như vậy, người môi giới chứng khoán, hiểu theo nghĩa rộng,
là những người trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng; trung gian mua bán chứng khoán bằng vốn của mình; và là người bảo lãnh phát hành cho những tổ chức phát hành chứng khoán Người môi giới chứng khoán có thể là các
tổ chức tài chính quốc doanh hoặc tổ chức tài chính thuộc khu vực kinh tế tư nhân với hai hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn
Ở Việt Nam, khái niệm môi giới chứng khoán mặc dù dần trở nên quen thuộc nhưng nhiều người vẫn coi môi giới chứng khoán như một loại trung gian, hay một loại “cò” giống như “cò” đất, “cò” xe… mà không hiểu bản chất của môi giới chứng khoán là một tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc nhất định Để trở thành một nhà môi giới chứng khoán giỏi, có tiếng tăm và có nhiều khách hàng thì khi và chỉ khi khách hàng của nhà môi giới đó thu được nhiều lợi nhuận Ở các thị trường chứng khoán có tổ chức, các nhà môi giới chứng khoán không hoạt động với tư cách cá nhân độc lập Mỗi cá nhân người môi giới chứng khoán, dù hoạt động trong lĩnh vực nào, cũng thường đại diện cho một công ty chứng khoán Vì vậy, các công ty chứng
Trang 26khoán phải chọn người môi giới có phẩm chất đạo đức, có kiến thức chuyên môn về thị trường chứng khoán nói chung và về môi giới chứng khoán nói riêng
Có thể nói việc hình thành và phát triển nghề môi giới chứng khoán là một tất yếu khi thị trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao, khi sản phẩm và dịch
vụ ngày càng đa dạng về số lượng và phong phú về chủng loại Khi đó, nhà đầu tư
sẽ càng cần hơn những người môi giới có thể cung cấp cho họ những thông tin cần thiết, những ý tưởng đầu tư mới mẻ, những lời khuyên mang tính chiến lược và giúp cho họ đầu tư theo hướng hiệu quả nhất Từ yêu cầu thực tế đó, đòi hỏi hoạt động môi giới chứng khoán phải phát triển ở trình độ cao, mang tính chuyên nghiệp, nói cách khác là trở thành nghề môi giới chứng khoán Như vậy, có thể hiểu nghề môi giới chứng khoán là hoạt động nghiệp vụ trong sự tương tác giữa công ty môi giới, nơi cung cấp phương tiện vật chất, tổ chức, pháp lý và nhân viên môi giới – người trực tiếp giao dịch với khách hàng
Một công ty chứng khoán muốn thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán cần phải đáp ứng hai điều kiện, đó là điều kiện về vốn và điều kiện về nhân lực
Điều kiện về vốn: Khoản 1, Điều 18, 14/2007/NĐ – CP quy định về vốn
pháp định cho nghiệp vụ môi giới chứng khoán là 25 tỷ đồng Việt Nam
Điều kiện về nhân lực: Để được thực hiện hoạt động môi giới công ty
chứng khoán cần có ít nhất 3 nhân viên hành nghề môi giới chứng khoán
Một cá nhân muốn hành nghề môi giới chứng khoán thì phải được cấp Chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán Theo Khoản 1, Điều 4 Quyết định số 15/2008/QĐ-BTC ngày 27/3/2008 về việc ban hành “Quy chế hành nghề chứng khoán”, để được hành nghề môi giới chứng khoán, cá nhân phải được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán Chứng chỉ này được cấp khi cá nhân đáp ứng các điều kiện như:
- Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không thuộc trường hợp đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bị toà án cấm hành nghề kinh doanh
Trang 27- Chưa từng bị Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xử phạt theo pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán hoặc đã chấp hành xong quyết định xử phạt sau 1 năm, trong trường hợp bị xử phạt
2 Đặc trƣng, chức năng và vai trò của hoạt động Môi giới chứng khoán
2.1 Đặc trưng của hoạt động Môi giới chứng khoán
Đặc trưng của nghề môi giới chứng khoán là những xung đột, tranh chấp lợi ích không thể tránh khỏi trong lĩnh vực này Ở đây, khái niệm “tranh chấp lợi ích” không bao hàm hành vi của người môi giới hoặc khách hàng cố tình vi phạm pháp luật để kiếm lời một cách bất chính Tranh chấp hay xung đột lợi ích có thể xảy ra trong những trường hợp như việc người môi giới không sẵn sàng thông báo với khách hàng của mĩnh về những diễn biến xấu của khoản đầu tư do chính anh ta khuyến nghị với khách hàng, và khi khách hàng bị thiệt hại thì việc bắt lỗi và xử lý người môi giới là rất khó Hoặc có những trường hợp khách hàng do không thực sự hiểu biết về trách nhiệm và khả năng của người môi giới, nên đã kỳ vộng một cách không hợp lý về những gì mà nhà môi giới có thể mang lại cho mình, và đã khiếu nại khi thực tế xảy ra trái với những gì họ mong nuốn
Người môi giới sống bằng tiền hoa hồng hay là khoản chênh lệch giá trong việc mua hoặc bán những lợi ích tài chính Như thế, những lợi ích tài chính của riêng họ có thể xung đột với nhu cầu và mục tiêu của khách hàng Với tư cách là người đại diện hay người được ủy quyền của khách hàng, người môi giới luôn luôn phải dẹp đi xung đột này để phục vụ lợi ích cao nhất của khách hàng – cái phải được ưu tiên hàng đầu
Trang 28Các công ty môi giới có thể gây áp lực lớn, buộc nhân viên môi giới của mình phải bán được những sản phẩm nhất định hoặc đạt được mức tổng sản lượng nhất định Áp lực như vậy có thể thấy dưới nhiều hình thức, từ việc cấp văn phòng riêng cho tới việc tiếp tục thuê nhân viên đó Giải pháp cho những việc xung đột như vậy, nói chung, đơn giản chỉ là đặt lợi ích của khách hàng lên trên hết Các công ty chứng khoán có thể tăng hoa hồng để khuyến khích người môi giới thực hiện nhiều giao dịch và có thể nói mức hoa hồng càng cao, được tạo ra càng thường xuyên thì càng tốt về mặt kinh tế đối với người môi giới và cũng kích thích tăng nguồn thu cho công ty Song các công ty chứng khoán hay là những người môi giới chứng khoán cũng phải luôn luôn vì lợi ích của khách hàng, khách hàng phải được bán những sản phẩm phù hợp với nhu cầu cá nhân, với khối lượng thích hợp và việc bán hàng phải diễn ra một cách hợp lý, trung thực trên cơ sở cả hai bên cùng có lợi Nếu như tư cách đại diện được tạo lập trên sự tín nhiệm và trên cơ sở pháp lý thì một khách hàng công bằng hầu như không thể trách cứ người môi giới hay công ty môi giới của họ nếu như những khuyến nghị mà người môi giới đưa ra không mang lại những kết quả mỹ mãn
Tóm lại, nếu các cố vấn tài chính và những khách hàng của họ ý thức được đầy đủ hơn thì họ sẽ hành động thận trọng và tránh được những tranh chấp, hay ít nhất cũng giảm thiểu được những thiệt hại và chi phí để giải quyết tranh chấp
2.2 Chức năng của Môi giới chứng khoán
Với tư cách là một hoạt động nghiệp vụ trong sự tương tác giữa công ty môi giới – nơi cung cấp phương tiện vật chất kỹ thuật, tổ chức và pháp lý, nhân viên môi giới – người trực tiếp tiếp thị và giao dịch với khách hàng, môi giới chứng khoán có
2 chức năng chính sau đây:
Thứ nhất là cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng
Công ty chứng khoán thông qua các nhân viên môi giới cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và những khuyến nghị đầu tư Việc nghiên cứu này được tiến hành thông qua bộ phận nghiên cứu trong công ty chứng khoán Bộ phận này nghiên cứu các lĩnh vực chủ yếu như: diễn biến tổng thể của thị trường, động thái của từng khu vực riêng biệt trong thị trường đó, hay hoạt động của từng công ty
Trang 29trong khu vực Những thông tin nay, các nhà nghiên cứu cung cấp cho các nhà môi giới hàng tuần, kèm theo đó là những khuyến nghị cụ thể về từng loại chứng khoán cần mua và cần bán Nhà môi giới sẽ sử dụng những thông tin này để cung cấp cho khách hàng của mình theo những yêu cầu cụ thể
Các nhà môi giới hàng ngày tiếp cận với một mạng thông tin điện tử cung cấp các thông tin tài chính liên tục và được cập nhật về lãi suất, kinh tế, thông tin thị trường, và cũng được tiếp cận với tất cả các tin tức mới nhất từ khắp nơi trên thế giới liên quan đến cổ phiếu của khách hàng
Nhờ nguồn thông tin được thu thập và xử lý công phu này, người môi giới có
đủ tri thức để trở thành nhà tư vấn tài chính của riêng của khách hàng Ngoài việc
đề xuất với khách hàng những chứng khoán và dịch vụ đơn thuần, người môi giới cũng có thể giới thiệu với khách hàng những cổ phiếu, trái phiếu mới phát hành, các chứng chỉ quỹ đầu tư và các công cụ đầu tư khác Quan trọng hơn hết, người môi giới có thể đề xuất một cách thức kết hợp các chứng khoán đơn lẻ trong một tổng thể (danh mục đầu tư) để giảm thiểu rủi ro và tăng tối đa lợi nhuận
Người môi giới cho nhà đầu tư biết lúc nào thì họ nên mua, lúc nào thì nên bán và đồng thời cung cấp cho họ những thông tin kinh tế tài chính trên thị trường Người môi giới khi đưa ra các lời khuyên cho khách hàng của mình, sẽ dựa trên các yếu tố như hệ số giá, thu nhập, các dự đoán về thu nhập và giá, tình trạng chung của nhóm ngành của cổ phiếu và trạng thái tổng thể của thị trường
Người môi giới không chỉ là người đưa ra các khuyế nghị về tài chính cho khách hàng mà đôi khi còn lại một người bạn tin cẩn, có thể lắng nghe tất cả các câu hỏi liên quan tới tình trạng tài chính của khách hàng, và trong một chừng mực có thể , đưa ra giải pháp thích đáng giúp khách hàng tháo gỡ khó khăn Do đó, tìm được một nhà moi giới giỏi hành nghề và thật tâm huyết là mong muốn của bất cứ nhà đầu tư chứng khoán nào
Thứ hai là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu và lợi ích của họ
Người môi giới nhận các đơn dặt hàng từ khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ Quá trình này bao gồm một loạt công việc, từ hướng dẫn khách hàng mở tài
Trang 30khoản tại công ty, tiến hành giao dịch, xác nhận giao dịch đến thanh toán và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng Không chỉ có vậy, sau khi giao dịch đã được thực hiện, người môi giới còn phải tiếp tục chăm sóc tài khoản của khách hàng, tiếp tục đưa ra những khuyến cáo và cung cấp thông tin , theo dõi để nắm bắt những thay đổi trong đời sống, công việc mà có thể dẫn tới những thay đổi trong tình trạng tài chính và thái độ chấp nhận rủi ro của khách hàng Từ đó đề xuất những giải pháp hay chiến lược mới thích hợp
Công ty chứng khoán là nơi đảm bảo những điều kiện vật chất, bao gồm: địa điểm, hệ thống máy móc thiết bị nối mạng với Sở giao dịch, nhân lực (đội ngũ nhân viên tác nghiệp) và pháp lý để cho quá trình này được thực hiện nhanh chóng, chính xác và hiệu quả; đồng thời khi xảy ra tranh chấp thì có thể xử lý được một cách thỏa đáng Để làm được chức năng này, công ty được tổ chức theo những phòng ban chức năng phù hợp, với những quy trình hoạt động chặt chẽ, khoa học
2.3 Vai trò của Môi giới chứng khoán
Vì, có thể nói, môi giới chứng khoán là hoạt động hạt nhân của thị trường chứng khoán nên vai trò của môi giới chứng khoán là rất quan trọng
Sau đây là một số vai trò cơ bản của môi giới chứng khoán
Thứ nhất là phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
Công ty chứng khoán và các nhân viên môi giới của họ, khi thực hiện làm vai trò trung gian giữa người mua (nhà đầu tư) và người bán (nhà phát hành), có thể nắm bắt nhu cầu của khách hàng và phản ánh với người cung cấp hàng hóa và dịch
vụ, cung cấp những ý tưởng thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng Kết quả của quá trình đó là đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, phát triển cơ cấu khách hàng, thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu
tư và tăng trưởng
Một ví dụ về sự thành công là công ty Merrill Lynch Trong thập niên 60 –
70, trong khi hoạt động chủ yếu của các công ty chứng khoán mới chỉ là buôn bán
cổ phiếu và trái phiếu, thì Merrill Lynch đã tìm kiếm những dịch vụ mà khách hàng cần qua đó đã phát triển và tạo ra Tài khoản quản lý tiền mặt (CMA) và Tài khoản
Trang 31tiếp cận vốn tự có Nhờ vậy mà công ty này đã vươn lên hẳn các đối thủ cạnh tranh vào thời kỳ đó
Thứ hai là giảm chi phí giao dịch
Khi mua bán bất kỳ một loại hàng hóa nào, để tiến hành giao dịch thì n gười mua và người bán phải gặp nhau, xem xét chất lượng hàng hóa và thỏa thuận giá cả
Trên thị trường chứng khoán với đặc trưng là một thị trường của những sản phẩm và dịch vụ bậc cao, để thẩm định chất lượng, giá cả của hàng hóa, người ta cần một khoản chi phí khổng lồ để phục vụ cho việc thu thập và xử lý thông tin, đào tạo kỹ năng phân tích và tiến hành quy trình giao dịch trên một thị trường đấu giá tập trung Những chi phí đó chỉ có các công ty chứng khoán hoạt động chuyên nghiệp trên quy mô lớn mới có khả năng trang trải Mặt khác, một tổ chức trung gian chuyên nghiệp như vậy làm cầu nối cho các bên mua và bán gặp nhau sẽ làm giảm đáng kể chi phí tìm kiếm đối tác, chi phí soạn thảo và giám sát thực thi hợp đồng Như thế, vai trò của nghề môi giới chứng khoán là tiết kiệm được chi phí giao dịch, xét trong từng giao dịch cụ thể cũng như trên tổng thể thị trường Nhờ đó, giúp nâng cao tính thanh khoản của thị trường
Thứ ba là góp phần hình thành nền văn hóa đầu tư
Hoạt động của người môi giới chứng khoán khi thâm nhập sâu vào cộng đồng các doanh nghiệp và người đầu tư sẽ là một yếu tố quan trọng hình thành nền văn hóa đầu tư Khi các nhân viên môi giới tiếp cận và mang theo những sản phẩm tài chính phù hợp với yêu cầu của khách hàng, hoạt động này lâu dần sẽ hình thành nên thói quen đầu tư vào tài sản tài chính Hơn nữa, hoạt động này sẽ làm tăng thói quen và các kỹ năng sử dụng các dịch vụ đầu tư, mà phổ biến là dịch vụ môi giới chứng khoán Cùng với đó là sự tăng cường hiểu biết môi trường pháp lý và ý thức tuân thủ pháp luật vì hoạt động môi giới chứng khoán là một nơi phát sinh và bộc lộ những xung đột lợi ích giữa các bên tham gia thị trường
Thứ tư là tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh
Để thành công trong nghề môi giới chứng khoán, các công ty chứng khoán
và từng người môi giới phải thu hút được khách hàng tìm đến, giữ chân khách hàng
và tăng cường khối tài sản mà khách hàng ủy thác cho họ quản lý Điều này tạo ra
Trang 32sự cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán và từng người môi giới chứng khoán với nhau Chính vì vậy, góp phần không nhỏ làm tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ
Thứ năm là hình thành những dịch vụ mới trong nền kinh tế, tạo thêm việc làm và làm phong phú thêm môi trường đầu tư
Với phương châm là chủ động tìm đến với khách hàng, cung cấp những dịch
vụ tài chính tốt nhất, nên công ty chứng khoán nào cũng có lực lượng những người môi giới đông đảo Ví dụ như công ty Merrill Lynch ở Mỹ có tới 13.000 nhân viên môi giới hay những công ty chứng khoán nhỏ khác của Mỹ cũng có không dưới 1.000 nhân viên môi giới Có thể nói, phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán đã góp phần tạo ra nhiều việc làm mới cho nền kinh tế và cũng làm phong phú thêm môi trường kinh doanh
3 Quy trình thực hiện một giao dịch chứng khoán
Hoạt động môi giới là một hoạt động đóng vai trò không thể thiếu trong việc thực hiện một giao dịch chứng khoán Vì vậy, người môi giới cần phải nắm rõ một quy trình giao dịch thông thường để tìm cách phát huy vai trò của mình trong mỗi công đoạn, sao cho mang lại lợi ích tốt nhất đến với khách hàng
Việc thực hiện một giao dịch chứng khoán nói chung bao gồm các công việc chuẩn bị hệ thống đưa vào và truyền lệnh giữa các bên, phát hiện giá cân bằng, thực hiện lệnh, báo cáo giao dịch, giám sát và thông tin thị trường Những công việc và
hệ thống này có thể từ những thủ tục giấy tờ đơn giản đến các hệ thống thông tin và
xử lý bằng máy điện tử, phụ thuộc vào yêu cầu của từng thị trường Các giao dịch giữa khách hàng và một người môi giới chứng khoán, nói chung, được thực hiện trực tiếp giữa hai bên Trái lại, giao dịch giữa hai người môi giới chứng khoán thường được thực hiện thông qua một cơ chế thị trường, chẳng hạn như một sở buôn bán trung tâm nơi người mua và người bán gặp nhau, thị trường qua quầy truyền thống, hoặc hệ thống thực hiện giao dịch tự động Trong toàn bộ quy trình giao dịch, bộ phận hành chính luôn làm việc Họ tính toán, nhập sổ sách các khoản tiền hoa hồng, thanh toán các chi phí, vào tài khoản doanh thu, tuyển người…
Quy trình giao dịch thông thường bao gồm các bước sau:
Trang 33 Bước 1: Mở tài khoản
Trước khi nhận lệnh của khách hàng, công ty chứng khoán phải yêu cầu khách hàng mở tài khoản giao dịch tại công ty đó Tài khoản đó có thể là tài khoản giao dịch hoặc tài khoản ký quỹ Tài khoản giao dịch để dùng cho các giao dịch thông thường, qua đó khách hàng khi mua chứng khoán được yêu cầu trả đủ tiền trước thời hạn thanh toán do Sở giao dịch quy định Tài khoản ký quỹ dùng cho giao dịch ký quỹ, qua đó khách hàng có thể vay tiền công ty để mua chứng khoán Với giao dịch ký quỹ, công ty chứng khoán không chỉ hưởng hoa hồng mua bán hộ chứng khoán mà còn được thu lãi trên số tiền cho khách hàng vay Sở dĩ phải có hai loại tài khoản như vậy là vì yêu cầu quản lý đối với giao dịch ký quỹ khác với yêu cầu quản lý đối với giao dịch thông thường
Bước 2: Nhận đơn đặt hàng
Sau khi tài khoản đã mở, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch trên tài khoản của mình bằng cách gửi lệnh mua bán chứng khoán đến công ty môi giới Hình thức đặt lệnh có thể bằng điện thoại, bằng telex hay bằng phiếu lệnh
Có thể xảy ra những sai sót khi nhận lệnh, đặc biệt là nhận qua đường điện thoại, cho nên lệnh đặt hàng phải đảm bảo rõ ràng và chính xác Nếu là lệnh đặt mua, công ty phải đề nghị khách hàng ký quỹ một mức tiền nhất định trên tài khoản của khách hàng ở công ty Nếu là lệnh bán, công ty sẽ đề nghị khách hàng xuất trình
số chứng khoán muốn bán để kiểm tra trước khi thực hiện lệnh đặt hàng hoặc đề nghị khách hàng phải ký quỹ một phần số chứng khoán cần bán theo một tỷ lệ do
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quy định
Phòng môi giới chứng khoán của công ty sau khi phân loại các lệnh mua bán
và hoàn tất thủ tục ban đầu thỏa thuận với khách hàng như mức ký quỹ, hoa hồng,
lệ phí… sẽ thông báo bằng điện thoại, telex hoặc fax cho thư ký văn phòng đại diện của công ty chứng khoán có mặt tại quầy giao dịch trong Sở giao dịch chứng khoán hoặc là thị trường OTC
Bước 3: Thực hiện lệnh đặt hàng
Khi bước nhận lệnh đã hoàn thành, công ty chứng khoán bắt đầu chuyển sang bước tiếp theo là thực hiện lệnh theo yêu cầu của khách hàng Nếu chứng
Trang 34khoán mua hoặc bán không thuộc loại giao dịch, theo phương pháp đấu giá, sẽ được chuyển lên phòng môi giới của Sở giao dịch chứng khoán Tại đây các lệnh mua bán sẽ được thực hiện theo phương pháp bán giá dò tìm qua hệ thống máy tính
Sau khi đã xác định được giá của chứng khoán cần bán hay cần mua, theo đơn đặt hàng do người môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán chuyển đến, nhân viên của Sở giao dịch chứng khoán sẽ công bố kết quả trên bảng điện Nội dung thỏa thuận mua bán sẽ được lưu giữ tại hệ thống thông tin của Sở giao dịch chứng khoán và được chuyển đến bộ phận quyết toán
Nếu là lệnh đặt hàng được thực hiện trên thị trường OTC, nội dung tiến hành bước này cũng tương tự như ở Sở giao dịch chứng khoán, song việc quản lý nhà nước có phần lỏng lẻo hơn và không đảm bảo chắc chắn bằng Sở giao dịch chứng khoán cho các khoản giao dịch
Bước 4: Xác nhận cho khách hàng và cấp giấy xác nhận vào sổ theo dõi
Sau khi lệnh đã được thực hiện xong, công ty chứng khan gửi cho khách hàng một phiếu xác nhận các kết quả giao dịch, bao gồm giá, số lượng chứng khoán
đã thực hiện, mức phí phải trả, ngày thanh toán và ngày giao nhận, lãi vay tiền mua chứng khoán (nếu có)
Xác nhận này có tính pháp lý rất cao Nó đóng vai trò là hóa đơn của giao dịch giữa công ty và khách hàng Những sai sót trong xác nhận kết quả có thể dẫn đén sự không hài lòng và khiếu nại của khách hàng
Thông thường, các công ty môi giới chứng khoán trong ngày làm việc hôm sau ngày mua hoặc bán chứng khoán Xác nhận này cũng giống như một hóa đơn hẹn ngày thanh toán với khách hàng Đến ngày thanh toán thì người mua sè giao tiền, người bán sẽ giao chứng khoán, công ty chứng khoán sẽ vào sổ và giao biện nhận cho khách hàng Sau đó, công ty chứng khoán sẽ chuyển tới bộ phận quyết toán của Sở giao dịch hoặc Trung tâm giao dịch của thị trường OTC để hoàn tất thủ tục thanh toán
Bước 5: Thanh toán và giao hàng
Đến ngày thanh toán, các thủ tục chuyển tiền và giao nhận chứng khoán phải được hoàn tất Nếu chứng khoán là chứng chỉ thì người bán phải chuyển chứng
Trang 35khoán cho người môi giới thực hiện lện bán, người mua chuyển tiền vào tài khoản người môi giới thực hiện lệnh mua Với hệ thống thanh toán hiện đại, khách hàng đặt lệnh mua bán chứng khoán với công ty chứng khoán đều mở tài khoản để giao dịch, do đó thanh toán các khoản tiền mua bán chứng khoán đều thực hiện bằng chuyển khoản
Đối với khách hàng mua chứng khoán, sẽ nhận được một giấy chứng nhận quyền sở hữu về số chứng khoán cho công ty bảo quản chứng khoán xác nhận Số chứng khoán này nằm trong tài khoản lưu trữ chứng khoán mà công ty chứng khoán
đã mở tại công ty bảo quản
Đối với người bán chứng khoán, sẽ nhận được một giấy báo có trên tài khoản của mình ở công ty chứng khoán hoặc thông qua ngân hàng đại diện của khách hàng
4 Các loại hình Môi giới chứng khoán
Tùy theo quy định của mỗi nước, cách thức hoạt động của từng Sở giao dịch chứng khoán mà người ta có thể phân chia thành nhiều loại nhà môi giới khác nhau
4.1 Phân loại theo loại dịch vụ cung cấp
Dựa vào loại dịch vụ cung cấp thì có hai loại môi giới sau:
Môi giới toàn phần (Full – service)
Là những người môi giới chứng khoán có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ có liên quan đến chứng khoán cho khách hàng như: đại diện cho khách hàng để mua hoặc bán chứng khoán; thay mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan đến chứng khoán của khách hàng… Họ cung cấp một dải dịch vụ hoàn hảo, từ việc đưa
ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên, đến việc theo dõi tài khoản
và kịp thời đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng Tóm lại, với tư cách là một cố vấn tài chính, người môi giới dịch vụ đầy đủ có thể phục vụ người đầu tư với nhiều ý tưởng tốt và sản phẩm tốt, giúp nhà đầu tư giải quyết các vấn đề của mình
Môi giới giảm giá (Discount – service)
Là những người môi giới chỉ cung cấp một số ít dịch vụ, tùy theo sự ủy nhiệm của khách hàng Hoạt động chủ yếu của họ là giúp khách hàng thực hiện lệnh
Trang 36mua, bán chứng khoán Những người môi giưới chứng khoán này thích hợp với nhà đầu tư tự mình đưa ra các quyết định mua, bán mà không cần lời khuyên hay kết quả nghiên cứu đầu tư của nhà môi giới chứng khoán Tuy nhiên, với loại hình môi giới chứng khoán này, nhà đầu tư dễ gặp rủi ro hơn so với loại hình môi giới chứng khoán toàn phần
4.2 Phân loại theo hoạt động của nhà môi giới chứng khoán
Theo hoạt động của nhà môi giới chứng khoán có thể phân thành bốn loại sau:
Các nhà môi giới được ủy nhiệm thừa hành (hay người môi giới tại sàn giao dịch)
Hầu hết họ là nhân viên của một công ty chứng khoán – thành viên chính của Sở giao dịch chứng khoán Theo hình thức này, công ty chứng khoán tính cho khách hàng của mình tỷ lệ hoa hồng trên các dịch vụ của công ty Hoạt động của họ
là thực hiện các lệnh cho khách hàng của công ty chứng khoán, thành viên của Sở giao dịch chứng khoán, nên họ được gọi là nhà môi giới ủy nhiệm hay nhà môi giới trên sàn giao dịch Họ làm việc hưởng lương của các công ty và được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán hay khách hàng của công ty trên sàn giao dịch Vì thế, họ cũng được gọi theo một tên chung khác là môi giới trên sàn (Floor Brocker) Một công ty chứng khoán sẽ cử một người môi giới ủy nhiệm làm chủ chỗ ngồi của công ty chứng khoán thuê tại Sở giao dịch chứng khoán
Nhà môi giới độc lập (hay nhà môi giới hai đôla)
Nhà môi giới hai đôla là một thành viên của Sở giao dịch chứng khoán, nhưng là một nhà môi giưới chứng khoán độc lập, không thuộc về một công ty nào Nhà môi giới hai đôla có thể sở hữu hoặc mua chỗ cho mình tại Sở giao dịch chứng khoán và thực hiện các lệnh giao dịch cho bất kỳ một công ty môi giới nào thuê mình Trong trường hợp một nhà môi giới chứng khoán của một công ty chứng khoán không có khả năng thực hiện các lệnh giao dịch của công ty, hoặc vắng mặt trong phòng giao dịch, người này có thể chuyển một số lệnh cho người môi giới độc lập Công ty chứng khoán sẽ trả cho nhà môi giới độc lập một khoản phí cho các dịch vụ mà anh ta cung cấp Trước đây khoản phí trả cho nhà môi giới độc lập là 2
Trang 37đôla cho 100 cổ phiếu mua bán hộ công ty chứng khoán (điều này giải thích tại sao lại có tên gọi là nhà môi giới hai đôla) Tuy nhiên hiện nay, khoản phí của các nhà môi giới độc lập thường lơn hơn 2 đôla
Người môi giới hai đôla thực hiện lệnh mua bán của những người môi giới
ủy nhiệm khi những người này quá bận rộn, không thể thực hiện hết tất cả các lệnh nhận được từ công ty của họ Người môi giới hai đôla hoạt động cho bất cứ công ty nào, mua bán bất cứ loại chứng khoán gì và được hưởng hoa hồng từ việc đó
Nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký (Registered Floor Trader)
Một số người mua chỗ trên Sở giao dịch chứng khoán chỉ nhằm mục đích mua bán chứng khoán cho chính bản thân họ Những người này được gọi là nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký, không thuộc về một công ty môi giới nào và cũng không làm việc cho một công ty môi giới nào Tuy nhiên, do sự gia tăng các nguyên tắc và các quy định nên hoạt động của họ bị hạn chế rất nhiều Ngày nay, các nhà giao dịch chứng khoán này hoặc hỗ trợ cho các nhà môi giới chuyên môn với tư cách là những người tạo lập thị trường hoặc hoạt động như là nhà môi giới hai đôla
Người giao dịch có dăng ký thực hiện lệnh mua bán với tài khoản của chính
họ và tự gánh chịu mọi rủi ro Họ ít khi thực hiện lệnh của khách hàng, nhưng nếu nhận lệnh của khách hàng thì phải ưu tiên cho khách hàng trước
Nhà môi giới chứng khoán chuyên môn (hay các chuyên gia – Specialist)
Mỗi chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán chỉ được buôn bán trên một vị trí nhất định trong phòng giao dịch, vị trí này được gòi là quầy Trong mỗi quầy có một số nhà môi giới được gọi là những nhà môi giới chuyên môn Họ chịu trách nhiệm mua bán một loại chứng khoán nhất định, đã được Hội đồng quản trị của Sở giao dịch chứng khoán phân công Những người tụ tập chung quanh các
vị trí gia dịch của các chuyên gia được gọi quen là nhóm giao dịch (Trading Crowd) Nhà môi giới chuyên môn thực hiện hai chức năng chủ yếu là thực hiện các lệnh giao dịch và tạo lập thị trường
Trang 38Thông thường, các nhà môi giới chuyên môn thực hiện các lệnh giao dịch theo giá hạn mức Khi đó, họ đóng vai trò là một nhà môi giới chứng khoán và nhận được các khoản phí môi giới thông thường hoặc tiền hoa hồng trên các dịch vụ mà
họ cung cấp
Một chức năng khác mà nhà môi giới chứng khoán chuyên môn thực hiện là
hỗ trợ việc duy trì một thị trường ổn định đối với loại chứng khoán mà anh ta được phân công bằng cách mua bán chứng khoán với tư cách một nhà giao dịch để thu hẹp chênh lệch giữa giá mua và giá bán
5 Phát triển hoạt động Môi giới của công ty chứng khoán
Sự phát triển của hoạt động môi giới chứng khoán tại một công ty chứng khoán được đánh giá bằng các chỉ tiêu
Đối với công ty chứng khoán, việc đánh giá chất lượng hoạt động môi giới chính là để nhằm phát triển nó Vì vậy, công ty chứng khoán không thể chỉ đánh giá những lợi ích hiện tại mà hoạt động môi giới đem lại mà còn đánh giá tiềm năng phát triển của nó trong tương lai Điều đó có nghĩa là công ty phải quan tâm đến khả năng làm thỏa mãn lợi ích cho khách hàng của hoạt động này cũng như vai trò của
nó đối với nền kinh tế Do đó, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động môi giới bao gồm không những các chỉ tiêu xét trên lợi ích mà công ty đạt được từ hoạt động môi giới mà còn bao gồm cả những chỉ tiêu phản ánh lợi ích mà hoạt động mô giới chứng khoán đã đem lại cho khách hàng và cho nền kinh tế
Thực tế hiện nay, Việt Nam chưa có một hệ thống các chỉ tiêu thống nhất nào phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán Tuy nhiên, theo người viết tìm hiểu, chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán có thể được đánh giá bằng cách xem xét một số chỉ tiêu sau
5.1 Chỉ tiêu định tính
Chất lượng hoạt động môi giới của công ty chứng khác được đânhs giá theo chỉ tiêu định tính được thể hiện ở khả năng hoạt động, tính chuyên nghiệp của sản phẩm – dịch vụ, mức độ tác động của hoạt động môi giới chứng khoán tới các hoạt động khác
Trang 39 Khả năng hoạt động
Khả năng hoạt động của hoạt động môi giới thể hiện ở chỗ hoạt động môi giới của công ty chứng khoán có thể cung cấp và làm thỏa mãn những đối tượng khách hàng nào, quy mô khách hàng, tính chuyên nghiệp của nhân viên môi giới, quy mô và không gian của sàn giao dịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ phần mềm mà công ty đang sử dụng…
Tính chuyên nghiệp của sản phẩm dịch vụ
Công ty chứng khoán thực hiện việc cung cấp những sản phẩm trọn gói (từ việc đưa ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên đến việc theo dõi tài khoản và kịp thời đưa ra những khuyến nghị cần thiết cho khách hàng) hay công
ty chủ yếu giúp khách hàng thực hiện lệnh mua bán chứng khoán và thu về một khoản hoa hồng nhỏ mà nó chỉ phản ánh chi phí cho việc thực hiện giao dịch
Mức độ tác động của hoạt động môi giới tới các hoạt động khác
Khi hoạt động môi giới được thực hiện với chất lượng tố sẽ kéo theo các hoạt động khác như hoạt động phân tích chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu
ký chứng khoán… phát triển và ngược lại Bởi vì những nghiệp vụ của công ty chứng khoán không phải hoàn toàn tách rời nhau mà chúng có mối quan hệ tương
hỗ với nhau
5.2 Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng hoạt động môi giới chứng khoán được thể hiện cụ thể như sau:
Doanh số từ hoạt động môi giới
Là tổng giá trị giao dịch khớp lệnh tại một công ty chứng khoán Doanh số từ hoạt động môi giới nếu tăng lên qua các năm thì thể hiện rằng quy mô hoạt động môi giới tăng lên Điều đó cho thấy hoạt động môi giới đang trong quá trình phát triển và đang được mở rộng, cũng có nghĩa là chất lượng hoạt động môi giới ngày càng được nâng cao Tuy nhiên cần phải kết hợp phân tích các chỉ tiêu khác để đảm bảo việc đánh giá được chính xác
Trang 40 Doanh thu từ hoạt động môi giới
Là tổng giá trị mà công ty thu được từ phí môi giới mà khách hàng trả khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của hoạt động môi giới của công ty Doanh thu từ hoạt động môi giới được phân tích ngoài số tuyệt đối còn phải được xem xét trong mối tương quan với doanh thu từ các hoạt động khác của công ty chứng khoán, tức là tỷ trọng doanh thu từ hoạt động môi giới trong tổng doanh thu của công ty Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời và vị trí của hoạt động môi giới trong công ty chứng khoán
Chi phí môi giới
Đây là chỉ tiêu phản ánh các khoản tiền mà công ty chứng khoán đã bỏ ra để thực hiện việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ môi giới nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Chi phí cho hoạt động môi giới không những phản ánh số tiền mà công
ty chứng khoán đã chi trả trong hoạt động môi giới mà còn cho thấy mức độ hiệu quả của hoạt động môi giới Nếu chi phí cho hoạt động này mà lớn thì hoạt động môi giới không hiệu quả Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào chỉ tiêu này mà đánh giá hiệu quả của hoạt động môi giới thì sẽ là phiến diện, có khi còn mang lại kết quả không chính xác Vì, nếu một công ty chứng khoán có quy mô hoạt động càng lớn, số lượng tài khoản giao dịch của khách hàng càng lớn thì tất nhiên chi phí cho hoạt động môi giới phải lớn hơn nhiều lần so với một công ty chứng khoán nhỏ hơn
Lãi thu được từ hoạt động môi giới
Đây cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng, cho biết khả năng sinh lời của hoạt động môi giới Lãi từ hoạt động môi giới là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó khi thực hiện nghiệp vụ môi giới theo yêu cầu của khách hàng
Với 3 chỉ tiêu là doanh thu, chi phí và lãi, ta có được mối quan hệ sau:
Doanh thu môi giới = Chi phí môi giới + Lãi từ hoạt động môi giới
Từ công thức trên có thể thấy rằng mặc dù có thể doanh thu từ hoạt động môi giới rất lớn nhưng nếu chi phí bỏ ra để có được doanh thu đó cũng cao thì lãi thu được ít, và như thế hoạt động môi giới không thật sự được hiệu quả, càn phải tìm ra giải pháp để giảm chi phí cho hoạt động này