Với chính sách xếp hạng tín dụng khách hàng, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã thực hiện việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo điều 7 QĐ 493/QĐ-NHNN trong khi hầu
Trang 1CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 Hoạt động cho vay vốn của ngân hàng 7
1.1.1 Khái niệm hoạt động cho vay vốn của ngân hàng 7
1.1.2 Vai trò hoạt động cho vay vốn của ngân hàng 9
1.2 Những vấn đề cơ bản về an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mai 11
1.2.1 Khái niệm an toàn và an toàn trong hoạt động cho vay vốn 11
1.2.2 Sự cần thiết phải đảm bảo an toàn đối với các khoản cho vay của Ngân hàng thương mại 13
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá an toàn trong hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng thương mại 15
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự an toàn trong hoạt động cho vay vốn 17
1.3.1 Nhân tố thuộc phía ngân hàng 17
1.3.2 Nhân tố từ phía khách hàng 19
1.3.3 Các nguyên nhân khách quan liên quan đến môi trường bên ngoài20 1.4 Các mô hình lượng hóa các rủi ro đối với hoạt động cho vay 21
1.4.1 Mô hình định tính 6C 21
1.4.2 Mô hình định lượng 23
1.4.2.1 Mô hình điểm số Z của Edward I.Altman 23
1.4.2.2 Mô hình xếp hạng của Fitch, Moody và Standard & Poor 24
1.5 Nguyên tắc Basel nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay vốn 26
Trang 3thương mại Việt Nam 27
1.6.1 Kinh nghiệm của một số nước trong việc đảm bảo an toàn cho vay 27
1.6.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan 27
1.6.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 28
1.6.1.3 Kinh nghiệm của Singapore 29
1.6.2.Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 32
2.1 Giới thiệu chung về ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam 32
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) 32
2.1.2 Mô hình tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 33
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong 4 năm 2005 – 2009 36
2.1.3.1 Quy mô Tổng tài sản và Vốn chủ sở hữu 36
2.1.3.2 Thị phần huy động – cho vay vốn 37
2.1.3.3 Thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi 38
2.2 Thực trạng đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn của BIDV 40
2.2.1 An toàn trong hoạt động cho vay 40
2.2.1.1 Tình hình hoạt động cho vay 40
2.2.1.2 Thực trạng đảm bảo an toàn các khoản cho vay của Ngân hàng qua các chỉ tiêu 47
2.2.2 Phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay tại BIDV 53
Trang 42.2.2.2 Chính sách của Ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro đối với khoản cho
vay 55
2.2.2.3 Phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro 57
2.3 Đánh giá thực trạng đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 59
2.3.1 Kết quả đạt được 59
2.3.2 Khó khăn còn tồn tại 61
2.2.3 Nguyên nhân 62
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 65
3.1 Định hướng hoạt động cho vay và các quan điểm về đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 65
3.1.1 Định hướng hoạt động cho vay của BIDV đến năm 2015 65
3.1.2 Các quan điểm về an toàn cho vay 67
3.2 Giải pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 69
3.2.1 Nhóm giải pháp quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay vốn 69
3.2.1.1 Nâng cao chất lượng thẩm định và đánh giá phương án kinh doanh 69
3.2.1.2 Sử dụng công cụ quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay của BIDV 73
3.2.1.3 Tăng cường các giải pháp xử lý nợ quá hạn 76
3.2.2 Nhóm giải pháp mang tính hỗ trợ 78
Trang 53.2.2.2 Nâng cao vai trò của công tác kiểm soát nội bộ ngân hàng 79 3.2.2.3 Xác định và giải quyết các vấn đề theo BASEL II 80
3.3 Đề xuất kiến nghị 81
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 81
3.3.1.1 Hoàn thiện và ổn định các chính sách phát triển kinh tế xã hội 81 3.3.1.2 Tạo lập môi trường pháp lý đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn 81
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 82
3.3.2.1 Đề xuất mô hình giám sát Ngân hàng nhà nước tại Việt Nam và các biện pháp tăng cường giám sát 82 3.3.2.2 Nâng cao chất lượng của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) 86
KẾT LUẬN 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 6TÊN VIẾT TẮT
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam
AGB
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu
Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản AMC Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng DATC Trung tâm hệ thống thông tin tín dụng CIC
Công ty chứng khoán Ngân hàng Nhà Đồng
bằng sông Cửu Long
MHBS
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Xếp hạng theo mô hình Moody 25
Bảng 2.1: Quy mô tăng trưởng tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của BIDV 36
Bảng 2.2 Cơ cấu thu nhập của BIDV 39
Bảng 2.3 Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế 41
Bảng 2.4 Cơ cấu dư nợ vay theo thời gian 44
Bảng 2.5 Cơ cấu dư nợ vay theo loại hình 45
Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu đánh giá đảm bảo an toàn cho vay tại BIDV 48
Bảng 2.7 Thực trạng các khoản nợ của BIDV 51
Biểu đồ 2.1 Thị phần tiền gửi của các NHTM Việt Nam năm 2009 37
Biểu đồ 2.2 Thị phần cho vay của các NHTM Việt Nam năm 2009 38
Biểu đồ 2.3 Cho vay và ứng trước khách hàng (ròng) của BIDV trong giai đoạn năm 2005 – 2009 40
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu tín dụng theo ngành nghề (%) 46
Biều đồ 2.5 Tình hình nợ xấu của một số NHTM Việt Nam 52
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2008 chúng ta đã được chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra tại Mỹ và ảnh hưởng của nó đã nhanh chóng lan ra khắp toàn cầu Theo các chuyên gia kinh tế cho rằng nguyên nhân của sự sụp đổ các ngân hàng nói riêng ở Mỹ kéo theo những tác động lớn đến sự bất ổn của toàn bộ
hệ thống tài chính thế giới bắt nguồn từ việc các ngân hàng nước này đã quá tùy tiện khi cho khách hàng vay tiền để mua bất động sản qua các hợp đồng cho vay không đạt tiêu chuẩn Và trong suốt thời gian này người ta luôn nhắc đến những vấn đề trong việc quản trị rủi ro của các ngân hàng, các định chế tài chính…và quan trọng hơn cả là những rủi ro tín dụng đã khiến các ngân hàng đánh mất sự an toàn trong hoạt động, điều này đã góp phần tạo ra sự sụp
đổ của các đế chế tài chính lớn và gây ra cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu
Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ khi chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp từ cuộc khủng hoảng này Do mức độ phát triển còn thấp
và quy mô còn hạn chế của các ngân hàng, định chế tài chính khiến cho những tác động trực tiếp là không lớn Tuy nhiên, từ cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra tại Mỹ và những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến nền kinh tế đã
là bài học kinh nghiệm cho các nhà quản trị tài chính của Việt Nam nói riêng
và các nước trên thế giới nói chung trong việc điều hành hoạt động của các tổ chức
Theo Peter Rose cho rằng có đến 2/3 hoạt động tạo ra thu nhập cho ngân hàng là xuất phát từ các khoản cho vay Đây là một trong những hoạt động chủ yếu và đòi hỏi những biện pháp quản trị hiệu quả của mỗi ngân hàng Hệ thống ngân hàng chỉ có thể hoạt động vững mạnh và phát triển khi đảm bảo được an toàn đối với các khoản cho vay Và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong hai ngân hàng thương mại đầu tiên ở Việt
Trang 9Nam đã thực hiện hệ thống đánh giá xếp hạng khách hàng nội bộ, từng bước tuân thủ theo những quy tắc về quản trị rủi ro trong công ước quốc tế BASEL Với chính sách xếp hạng tín dụng khách hàng, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã thực hiện việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo điều 7 QĐ 493/QĐ-NHNN trong khi hầu hết các ngân hàng thương mại hiện nay vẫn thực hiện theo điều 6 của quyết định này nhằm đảm bảo an toàn đối với hoạt động cho vay vốn của ngân hàng
Chính vì những lý do đã nêu trên mà em đã quyết định chọn đề tài „’
An toàn trong hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam’’ làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Thực trạng nghiên cứu
Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra tại Mỹ đã có nhiều bài báo
và công trình nghiên cứu đến công tác quản trị rủi ro nhằm đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn và vững mạnh Trong đó có thể kể đến như :
Luận án Tiến sỹ kinh tế năm 2008 ‘’Thực trạng quản trị rủi ro trong các Ngân hàng Thương mại Nhà nước Việt Nam’’ của Trần Đình Mạnh; Luận văn thạc sỹ kinh tế năm 2008„’ Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam’’ của tác giả Nguyễn Tiến Chương; Luận văn thạc sỹ kinh tế năm 2007 „’ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực và thông lệ Ngân hàng quốc tế’’ của tác giả Lê Thành Minh… Tuy nhiên chưa có nghiên
cứu nào được thực hiên về vấn đề đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn của một ngân hàng thương mại Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Lý luận về ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay vốn của ngân hàng thương mại với chỉ tiêu đánh giá nhằm đảm bảo an toàn đối với những khoản cho vay Từ những kinh nghiệm của một số nước rút ra bài học cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 10- Thực trạng đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam khi đã thực hiện tốt chính sách xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng và thực hiện việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo điều 7 quyết định 493/QĐ-NHNN
- Từ những khó khăn hạn chế còn tồn tại, đưa ra một số giải pháp nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn của ngân hàng : Chứng khoán hóa các khoản nợ, nâng cao vai trò của công ty quản lý nợ AMC, đề xuất mô hình thanh tra giám sát đối với Ngân hàng Nhà nước…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu công tác đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trên cơ sở phân tích và đánh giá những số liệu thu thập được từ năm 2005 đến năm 2009
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê - tổng hợp trong việc thu thập
số liệu từ các báo cáo của Ngân hàng nhà nước, tính toán tỷ lệ so với các tổ chức tín dụng khác; sử dụng phương pháp so sánh với Ngân hàng thương mại khác, phân tích tìm ra những khó khăn hạn chế còn tồn tại; bên cạnh đó tác giả còn sử dụng phương pháp mô tả - đánh giá; phương pháp duy vật lịch sử…
6 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát an toàn trong hoạt động cho vay vốn của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng an toàn trong hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chương 3: Giải pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 11Qua đây, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo – PGS TS Nguyễn Đình Thọ đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này
Trang 12CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động cho vay vốn của ngân hàng
1.1.1 Khái niệm hoạt động cho vay vốn của ngân hàng
Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức Tín dụng
giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc
và lãi.” Như vậy bản chất hoạt động cho vay vốn là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở hoàn trả có điều kiện và có các đặc trưng sau:
Tài sản giao dịch trong hoạt động cho vay vốn là tiền vốn Ngoài tiền mặt được coi là phương thước giao dịch chủ yếu thì còn một lượng lớn các khoản vay được thực hiện thông qua chuyển khoản
Nguyên tắc trong hoạt động cho vay là có hoàn trả Bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán Gía trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người
đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc
Chính sách cho vay vốn của ngân hàng phải được thực hiện trên sự tin tưởng và thỏa thuận có điều kiện Vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn
Chủ thể tham gia trong hoạt động cho vay vốn bao gồm ngân hàng
và các khách hàng Đối tượng khách hàng có thể là cá nhân hay pháp nhân
Trang 13nhưng phải có đầy đủ điều kiện về pháp lý để có thể thực hiện được giao dịch
đi vay
Nguồn vốn cho vay phụ thuộc vào nguồn vốn mà ngân hàng huy động được Ngân hàng có những chính sách và nghiệp vụ quản trị nhằm đảm bảo sự cân đối trong tài sản nợ và tài sản có, khiến hoạt động của hệ thống ổn định và an toàn
Ngân hàng chỉ hoạt động được an toàn khi kiểm soát được các khoản cho vay giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất Chỉ trên cơ sở quản trị được các rủi ro trong hoạt động cho vay thì hệ thống ngân hàng mới lành mạnh và phát triển bền vững Do đó tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro nói chung thì cần phải phân loại các khoản cho vay theo từng nhóm trên cơ sở khoa học
- Dựa vào mục đích cho vay có thể chia thành các loại vay sau: Cho
vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp; cho vay tiêu dùng cá nhân; Cho vay mua bán bất động sản; Cho vay sản xuất nông nghiệp; Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu…
- Dựa vào thời hạn cho vay: Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có
thời hạn đến 1 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động; Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 đến 5 năm Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định; Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư
- Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: Cho vay không có bảo
đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay; Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo
Trang 14đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác
- Dựa vào phương thức cho vay: Cho vay theo món vay: là loại cho vay
mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng; Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định; Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng
- Dựa vào xuất xứ tín dụng: Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực
tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng; Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như là: chiết khấu thương mại, bao thanh toán
1.1.2 Vai trò hoạt động cho vay vốn của ngân hàng
Vai trò của ngân hàng thương mại đối với sự nghiệp phát triển kinh
tế đất nước là không nhỏ khi đây là nguồn cấp vốn chủ yếu do các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Bên cạnh việc huy động vốn qua phát hành cổ phiếu, thì vốn vay ngân hàng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho chính các doanh nghiệp khi lãi đi vay sẽ được tính là chi phí hợp lý, hợp lệ để khấu trừ vào thu nhập bị đánh thuế do đó lợi nhuận giữ lại sẽ tăng lên Trong nền kinh tế thị trường thì tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng cơ bản nhất và chiếm vị trí chủ đạo, và hoạt động cho vay vốn là nghiệp vụ chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng Vai trò của hoạt động cho vay được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
* Đối với khách hàng:
Trang 15- Là kênh cấp vốn chủ yếu cho quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu về vốn thiếu hụt tạm thời của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế
- Thông qua hoạt động cho vay của ngân hàng giúp các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế đánh giá lại phương án kinh doanh, xem xét lại tình hình tài chính, và nâng cao năng lực quản trị điều hành của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp
- Giúp các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế có điều kiện mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế
* Đối với ngân hàng
- Hoạt động cho vay vốn là hoạt động quan trọng nhất, chủ yếu nhất trong mọi hoạt động của ngân hàng thương mại, mang lại nguồn thu nhập chính và chủ yếu trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng thương mại
- Thông qua hoạt động cho vay giúp nâng cao khả năng đánh giá, thẩm định phương án kinh doanh của cán bộ tín dụng, giúp các nhà quản trị ngân hàng hoàn thiện chiến lược kinh doanh của ngân hàng
- Thông qua hoạt động cho vay, các ngân hàng có điều kiện tiếp cận với các tổ chức tài chính quốc tế, mở rộng các quan hệ, tiếp thu kinh nghiệm quản
lý và trình độ công nghệ hiện đại
* Đối với nền kinh tế quốc dân
- Nguồn vốn cung ứng của ngân hàng cho các chủ thể kinh doanh có vai trò
vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất, hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức Góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng đất nước ngày càng phát triển thông qua việc đáp ứng các nhu cầu về vốn
- Thông qua các chính sách hỗ trợ về lãi suất hay ưu tiên cấp vốn cho một số đối tượng ưu tiên mà nhà nước đã thực hiện được việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ổn định và bền vững
Trang 16- Góp phần mở rộng mối quan hệ kinh tế quốc tế vì hoạt động cho vay của ngân hàng không chỉ bó hẹp trong nền kinh tế của một quốc gia mà nó còn mở rộng trên phạm vi quốc tế Việc cấp vốn của ngân hàng góp phần mở rộng quan hệ ngoại thương tạo điều kiện phát triển môi trường đầu tư quốc tế trực tiếp
1.2 Những vấn đề cơ bản về an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mai
1.2.1 Khái niệm an toàn và an toàn trong hoạt động cho vay vốn
Tháng 1 năm 2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 149 của tổ chức WTO, đánh dấu bước ngoặt lớn với những cơ hội và thách thức Dưới ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính các nước phải đối mặt với rủi ro tài chính ngày càng lớn và khủng hoảng tài chính đã trở thành mối đe dọa chủ yếu đến an ninh kinh tế thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy đó Trong thời gian vừa qua, sau những ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra vào thời điểm
cuối năm 2008, những cụm từ “quản trị rủi ro trong các ngân hàng‟‟; “ đảm
bảo hệ thống tài chính hoạt động an toàn, ổn định, vững mạnh‟‟…ngày càng
được nhắc đều nhiều hơn
Và một trong những hoạt động chủ yếu chiếm đến 70-80% 1lợi nhuận thu được của ngân hàng là từ nghiệp vụ cho vay vốn Do vậy để ngân hàng phát triển thì điều quan trọng là phải đảm bảo được an toàn đối với các khoản cho vay, tránh để xảy ra rủi ro do không trả được nợ, hạn chế các khoản nợ xấu Có như vậy ngân hàng mới có thể hoạt động vững mạnh được trong bối cảnh còn nhiều khó khăn do cuộc khủng hoảng tài chính để lại
Vậy khái niệm an toàn là gì và vai trò của việc đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn của ngân hàng quan trọng ra sao là câu hỏi cần được đặt ra
1 Nguyễn Xuân Minh (2007), Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế, Thời báo kinh tế Sài Gòn
Trang 17Theo từ điển Bách khoa toàn thư đã định nghĩa: An toàn là sự yên ổn,
không có những rủi ro gây thiệt hại không thể chấp nhận được; hay nói cách khác là tình trạng trong đó sự rủi ro gây nguy hại ở mức có thể chấp nhận được
Theo TS Vũ Đình Ánh 2 cho rằng: An toàn là trạng thái không bị tác
động bởi các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Và chỉ khi có các công cụ và các biện pháp bảo vệ hợp lý thì mới đảm bảo được tình trạng an toàn đó
Như vậy, có thể nói an toàn là một khái niệm để chỉ trạng thái mà ở đó các rủi ro có thể chấp nhận được dựa trên các công cụ quản lý thích hợp Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, nghiệp vụ cho vay vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất nhưng đồng nghĩa với việc cũng đem lại lợi nhuận lớn hơn cả Để ngân hàng hoạt động có vững mạnh thì quan trọng là phải đảm bảo vốn cho vay phải được sử dụng có hiệu quả và các doanh nghiệp, cá thể đi vay phải hoàn vốn đúng thời hạn Hay nói cách khác ngân hàng cần phải đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn dựa trên những công cụ quản lý rủi ro, có như vậy toàn bộ hệ thống mới lành mạnh và phát triển Có nhiều định nghĩa
về an toàn trong hoạt động cho vay vốn:
Trong tài liệu „’ Commercial Bank Financial Management’’, Joseph F.Sinkey (2002) cho rằng : Hoạt động cho vay vốn được cho là an toàn khi
khách hàng có khả năng hoàn trả đầy đủ khoản tín dụng đã vay từ ngân hàng
Trang 18tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã được ấn định trong hợp đồng
Như vậy có thể hiểu: An toàn trong hoạt động cho vay là việc đảm bảo
lợi ích của ngân hàng nhằm duy trị sự ổn định và phát triển của toàn bộ hệ thống trên cơ sở nâng cao khả năng thanh toán, hạn chế rủi ro vỡ nợ của khách hàng Có như vậy ngân hàng mới hoạt động có hiệu quả, góp phần vào
sự phát triển của nền kinh tế nói chung
1.2.2 Sự cần thiết phải đảm bảo an toàn đối với các khoản cho vay của Ngân hàng thương mại
Một trong những lý do cơ bản để ngân hàng được các cơ quan quản lý nhà nước cấp phép hoạt động là khả năng cho vay đối với khách hàng3 Mọi người mong muốn các ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng địa phương thông qua việc cung cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu tài chính của doanh nghiệp và của người tiêu dùng với một mức lãi suất hợp lý Rõ ràng, cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng – để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế Hơn nữa, thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị trường sẽ có thêm thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp cho họ có khả năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn
Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa gía trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng Đồng thời, rủi ro hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay Tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hàng thường phát sinh từ các khoản cho vay khó đòi, bắt đầu từ một số nguyên nhân do: quản lý
3
Peter Rose (1994), Comercial Bank Management, Taxes A&M University
Trang 19yếu kém, cho vay không tuân thủ nguyên tắc tín dụng, chính sách cho vay không hợp lý và tình trạng suy thoái ngoài dự kiến của nền kinh tế Chính vì vậy quản trị rủi ro đối với các khoản cho vay giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng, nó là cơ sở và nền tảng để ngân hàng phát triển và
ổn định tình hình tài chính với một số nội dung sau:
Thứ nhất: Đảm bảo an toàn các khoản cho vay tạo điều kiện cho các ngân hàng duy trì nguồn vốn và tạo ra lợi nhuận do hoạt động kinh doanh vốn đem lại
Một trong những mục tiêu quan trọng trong hoạt động và quản trị ngân hàng là mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn vì ngân hàng là trung tâm tín dụng, trung tâm thanh toán vì vậy có bảo toàn được vốn thì mới đảm bảo khả năng cung cấp tín dụng và thanh toán các khoản tiền gửi của khách hàng Một trong những điều kiện quan trọng để ngân hàng bảo toàn vốn, đảm bảo an toàn tài sản là nâng cao chất lượng tín dụng trong đó việc quản lý rủi ro đối với các khoản cho vay là nhân tố có tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình hoạt động của bất kỳ ngân hàng thương mại nào
Thứ hai: Đảm bảo an toàn đối với các khoản cho vay vốn thì mới nâng cao hiệu quả trong hoạt động của Ngân hàng
Nghiệp vụ cho vay vốn đóng vai trò quan trọng số một trong hoạt động tín dụng của mỗi ngân hàng, nếu không đảm bảo an toàn các khoản cho vay thì sẽ dẫn đến rủi ro, nợ quá hạn phát sinh và làm cho chi phí của các ngân hàng tăng lên, hiệu quả sử dụng vốn giảm, lợi nhuận bị suy giảm và ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực tài chính và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Thứ ba: Đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn là điều kiện để ngân hàng thương mại đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế quốc dân
Trong giai đoạn hiện nay, tín dụng ngân hàng đang giữ vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, là kênh dẫn vốn thứ hai cho nền kinh tế sau kênh Ngân sách nhà nước Do đó đảm bảo an toàn đối với
Trang 20hoạt động cho vay vốn càng trở nên quan trọng để đảm bảo sự luân chuyển vốn trong nền kinh tế vì khi rủi ro có khả năng xảy ra đối với các khoản nợ của khách hàng có thể dẫn đến dòng vốn chu chuyển sẽ bị ngừng trệ từ đó ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyển của toàn bộ nền kinh tế
Thứ tư: Là điều kiện để phát triển ổn định nền kinh tế và thực thi các chính sách vĩ mô của Nhà nước
Hoạt động cho vay vốn của ngân hàng có tác động tổng hợp đến nhiều đối tượng trong nền kinh tế Nếu đối với các khoản vốn cho vay không có khả năng hoàn trả thì sẽ dẫn đến rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng…có thể kéo theo sự sụp
đổ của cả hệ thống ngân hàng thậm chí cả thị trường tài chính của một quốc gia
và khi đó sẽ kéo theo sự khủng hoảng của một nền kinh tế Thông qua chính sách hỗ trợ các nguồn vốn cho vay, chính sách kinh tế của Nhà nước được thực thi và áp dụng vào thực tiễn một cách linh hoạt, hiệu quả
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá an toàn trong hoạt động cho vay vốn của Ngân hàng thương mại
* Chỉ tiêu định lượng 4
Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ đảm bảo tiền vay (A1.1)
A1.1 (%) = Dư nợ vay (Doanh số cho vay)
x 100%
Giá trị tài sản đảm bảo
Ý nghĩa: chỉ tiêu A1.1 phản ánh mức độ bù đắp khi những rủi ro xảy ra, đây là nguồn thu nợ thứ 2 của các Ngân hàng thương mại Thông thường thì các ngân hàng cho vay bằng 70% giá trị tài sản đảm bảo
- Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ nợ quá hạn (A1.2)
Trang 21Ý nghĩa: Chỉ tiêu A1.2 là chỉ tiêu định lượng quan trọng nhất nhằm xác định chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Trong đó nợ quá hạn được phân thành các nhóm nợ theo quyết định 493/2005/NHNN
- Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ nợ xấu (A1.3)
tỷ lệ của từng loại nợ xấu so với tổng dư nợ
- Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ nợ quá hạn ròng (A1.4)
- Chỉ tiêu 5: Tỷ lệ nợ xấu ròng (A1.5)
Ý nghĩa: chỉ tiêu A1.6 phản ánh khả năng bù đắp rủi ro từ hoạt động tín dụng, nhằm phản ánh chính xác khi tính toán chỉ tiêu này cần đánh giá chi tiết đối với từng loại nợ cho vay
- Chỉ tiêu 7: Khả năng chống đỡ với rủi ro (A1.7)
Trang 22A1.7 (%) = Tổng nợ quá hạn/ Nợ xấu
x 100% Tổng nguồn vốn/ Tổng mức dự phòng
Ý nghĩa: Chỉ tiêu A1.7 phản ánh mức độ chống đỡ với rủi ro của ngân hàng tại một thời điểm nhất định để từ đó có sự điều chỉnh hợp lý và đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời
* Các chỉ tiêu định tính :
- Đảm bảo và tuân thủ các nguyên tắc cho vay theo quyết định 1627/QĐ-NHNN có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo sự tuân thủ các qui định của pháp luật về hoạt động tín dụng, bảo đảm sử dụng tiền vay đúng mục đích, mang lại hiệu quả kinh tế, thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi khi đến hạn
- Đảm bảo thực hiện đúng qui chế, tuân thủ các qui định về tỷ lệ an toàn trong hoạt động và thực hiện trích lập dự phòng theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 Việc thực hiện đúng qui chế đảm bảo tiền vay giúp ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ 2 và giảm thiểu được rủi ro trong trường hợp phương án kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro, đồng thời cũng nâng cao trách nghiệm của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay
- Đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động tín dụng ngân hàng theo quyết định 457/QĐ-NHNN Việc đảm bảo đúng các tỷ lệ về đảm bảo an toàn trong hoạt động giúp các ngân hàng tuân thủ đúng các chuẩn mực kế toán, và nâng cao khả năng tự chủ về tài chính của các Ngân hàng thương mại
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự an toàn trong hoạt động cho vay vốn
1.3.1 Nhân tố thuộc phía ngân hàng
Chất lượng các khoản cho vay của ngân hàng: là sự đáp ứng các yêu
cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng Nó phản ánh năng lực tài chính và sự sẵn sàng của ngân hàng trong việc đáp ứng các nhu cầu của khách hàng Việc đảm bảo cung cấp vốn kịp thời đầy đủ cũng là điều kiện để phương án kinh
Trang 23doanh của khách hàng được thực hiện một cách hiệu quả và là điều kiện để đảm bảo khả năng chi trả của các khoản vay đó
Tăng trưởng, ổn định nguồn vốn: Mỗi ngân hàng cần hoạch định cho
mình kế hoạch tăng trưởng phù hợp để đảm bảo an toàn và nằm trong khả năng kiểm soát Nếu vì lý do cạnh tranh, áp lực mở rộng mạng lưới mà phát triển quá nóng sẽ dẫn đến nguy cơ mất an toàn trong hoạt động Đồng thời mỗi ngân hàng cần ổn định nguồn vốn để đảm bảo khả năng cung ứng vốn cho khách hàng kịp thời và đầy đủ
Cân đối về thời hạn của vốn huy động và các khoản cho vay: Trên
nguyên tắc chung là thời hạn cho vay phụ thuộc vào thời hạn của nguồn vốn Việc cân đối này không được đảm bảo sẽ dẫn đến tình trạng vốn được
sử dụng kém hiệu quả hoặc đe dọa đến khả năng thanh toán của ngân hàng
Do đó các ngân hàng cần xem xét đến khả năng nguồn vốn của mình để có chính sách cho vay hiệu quả
Tổ chức bộ máy quản lý chính sách tín dụng và qui trình tín dụng: Sự
đánh giá và phân loại không chính xác về năng lực tài chính của khách hàng hoặc chỉ đánh giá thông qua các chỉ tiêu tĩnh, một chiều mà không quan tâm đến thông tin khác…hay việc cho vay dựa trên những cam kết không chắc chắn, hiệu suất dự án thu về không cao Tất cả các yếu tố trên đều dẫn đến sự mất an toàn trong các phán quyết cho vay Do đó qui trình thực hiện các giải pháp an toàn trong hoạt động cho vay cần phải được các ngân hàng hết sức quan tâm và linh hoạt
Mô hình quản lý rủi ro và trình độ quản trị điều hành của bộ máy quản
lý ngân hàng: Đây là nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng, để đảm bảo an toàn
trong hoạt động, mỗi ngân hàng cần phải xây dựng một mô hình quản lý rủi
ro phù hợp, thành lập và duy trì hoạt động có hiệu quả của hội đồng quản
lý tài sản nợ, dần áp dụng mô hình quản lý rủi ro theo BASEL II trong các hoạt động ngân hàng
Trang 24Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động cho vay: bao gồm hệ thống
thông tin, hệ thống hỗ trợ tín dụng, mạng lưới và một số điều kiện khác Một ngân hàng có hệ thống thông tin tốt, khả năng khai thác và cập nhật thông tin cao, cơ sỏ vật chất đầy đủ sẽ tạo được hình ảnh và uy tín tốt với khách hàng Thông qua việc khai thác các luồng thông tin khác nhau sẽ là điều kiện để ra các quyết định phù hợp nhằm hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn
1.3.2 Nhân tố từ phía khách hàng
Khách hàng là điều kiện rất quan trọng trong việc đảm bảo an toàn đối với các khoản tiền cho vay Khách hàng phải có năng lực pháp lý, năng lực tài chính, có phương án kinh doanh khả thi và có uy tín trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì mới được xem xét để cung cấp tín dụng Ngược lại nếu một khách hang chưa đủ năng lực pháp lý và năng lực tài chính, có tư cách đạo đức không tốt và chưa tạo được uy tín trong kinh doanh thì sẽ rất khó khăn và không có gì đảm bảo để ngân hàng có thể xem xét cung cấp tín dụng
Khi xem xét khách hàng để cho vay vốn thì điều mà mỗi ngân hàng quan tâm là khách hàng phải có phương án kinh doanh khả thi và phải có tỷ lệ vốn đối ứng nhất định để tham gia vào phương án đó Khi đã có phương án kinh doanh khả thi thì bản thân khách hàng cũng dự đoán được nhu cầu vốn
và khả năng thu hồi vốn của dự án nên họ sẽ tự tin thực hiện dự án, điều này
sẽ đảm bảo an toàn hơn cho cả khách hàng và phía ngân hàng Một phương án sản xuất kinh doanh khả thi là phương án mang lại hiệu quả kinh tế, phù hợp với pháp luật và yêu cầu của thị trường Phương án kinh doanh khả thi sẽ đảm bảo khả năng trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn
Một điều kiện quan trọng nữa từ phía khách hàng vay vốn là phải có tài sản đảm bảo, tài sản đảm bảo không phải là điều kiện để xem xét cho vay nhưng nó là nguồn thu nợ thứ hai và là điều kiện để nâng cao trách nhiệm của khách hàng trong việc sử dụng vốn Trong quan hệ cho vay, ngân hàng đòi
Trang 25hỏi có sự đảm bảo thông qua các hình thức thế chấp, cầm cố và bảo lãnh của bên thứ ba Tỷ lệ cho vay không chỉ phụ thuộc vào giá trị tài sản mà còn phụ thuộc vào tính lỏng của tài sản đảm bảo Việc đánh giá tài sản đảm bảo cũng
là một phần của công tác kiểm soát và đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn
Ngoài các yếu tố cần xem xét từ khách hàng thì việc xem xét khả năng lãnh đạo, bộ máy tổ chức của khách hàng là điều hết sức quan trọng vì nếu dự
án có khả thi bao nhiêu, năng lực tài chính vững mạnh và tài sản đảm bảo tiền vay đầy đủ nhưng đội ngũ quản lý doanh nghiệp không có khả năng tổ chức
và điều hàng, bộ máy quản lý không phù hợp thì cũng không thể đảm bảo an toàn cho khoản vốn đã vay
1.3.3 Các nguyên nhân khách quan liên quan đến môi trường bên ngoài
Môi trường kinh tế xã hội là nhân tố tác động rất lớn tới đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng Kinh tế, chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông, thúc đẩy sản xuất phát triển và là điều kiện để các luồng tài chính chuyển dịch một cách thường xuyên liên tục Là điều kiện để các doanh nghiệp ổn định và phát triển sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, nâng cao khả năng hoàn trả cho ngân hàng
Đường lối phát triển kinh tế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến qui mô của các khoản cho vay Trong nền kinh tế như Việt Nam hiện nay, khi mà các doanh nghiệp tồn tại chủ yếu dưới hình thức chủ thể do Nhà nước quản lý thì việc tác động của chính phủ đối với các ngân hàng thương mại nhằm cho các DNNN vay vốn sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng Trong khi các DNNN là bộ phận khách hàng có thực lực tài chính kém, không có khả năng thanh toán khi đến hạn rất dễ gây nên rủi ro cho hệ thống ngân hàng Do đó cần phải xây dựng một chính sách phù hợp kết hợp với sự đồng bộ trong hành lang pháp lý nhằm bảo vệ các ngân hàng thương mại khi có xảy ra tổn thất đối với nguồn
Trang 26vốn cho vay Có như vậy các ngân hàng mới hoạt động được vững mạnh và hiệu quả
1.4 Các mô hình lƣợng hóa các rủi ro đối với hoạt động cho vay
Để đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn, các ngân hàng cần phải quản trị để hạn chế rủi ro khả năng vỡ nợ của khách hàng Do đó các kỹ thuật đo lường, đánh giá của ngân hàng đối với mỗi khách hàng về mức độ đáng tin cậy trong việc đảm bảo hoàn trả vốn vay là thật sự cần thiết Chỉ trên
cơ sở định lượng được những rủi ro có thể xảy ra đối với khoản cho vay, khi
đó ngân hàng mới có những quyết định và chính sách cho vay phù hợp Và hiện nay trên thế giới, có hai mô hình được sử dụng phổ biến nhất nhằm chấm điểm, xếp hạng khách hàng nhằm đảm bảo an toàn đối với khoản vay bao gồm:
1.4.1 Mô hình định tính 6C
Một trong những tính chất cơ bản của tài chính hiện đại là tính rủi ro,
và vì vậy tất cả các mô hình tài chính hiện đại đều được đặt trong môi trường rủi ro Để quản trị được rủi ro có khả năng xảy ra đối với khoản cho vay, các ngân hàng cần phải trả lời được câu hỏi trước tiên là khách hàng có thể thanh toán được khoản vay được đúng hạn hay không? Một số mô hình đã được xây dựng để làm công cụ đo lường khả năng trả nợ của khách hàng, khi đó ngân hàng sẽ có những đánh giá và giám sát việc cho vay một cách hiệu quả hơn
Có một mô hình định tính mà hiện nay các ngân hàng trên thế giới nói chung
và của Việt Nam nói riêng đều thực hiện là nghiên cứu chi tiết sáu khía cạnh của một đơn vị xin vay bao gồm (Phụ lục 1):
- Tư cách người vay (Character): Ngân hàng cần có những bằng
chứng cho thấy rằng khách hàng có mục tiêu rõ ràng khi xin vay và có kế hoạch trả nợ nghiêm túc Bên cạnh đó cần phải xem xét đến sự phù hợp với chính sách cho vay hiện tại của ngân hàng để có những quyết định chính xác trong việc nâng cao khả năng thanh khoản hay hạn chế rủi ro tín dụng, rủi ro
Trang 27tỷ giá…Trách nhiệm, tính trung thực, mục đích vay vốn nghiêm túc, kế hoạch trả nợ rõ ràng là những tiêu chuẩn tạo dựng lên tính cách của khách hàng
- Năng lực của người vay (Capacity): Ngân hàng cần phải chắc chắn
rằng khách hàng có đủ năng lực vay vốn và có đủ tư cách pháp lý trong việc
ký kết hợp đồng vay vốn Hợp đồng tín dụng do một người không có đủ tư cách pháp lý ký kết có thể dẫn đến một khoản cho vay không thể thu hồi và bởi vậy sẽ tạo ra một tổn thất rất lớn đối với ngân hàng
- Thu nhập của người vay (Cashflow): Đây là nội dung có ý nghĩa rất
quan trọng đối với một yêu cầu xin vay và thường tập trung vào câu hỏi: liệu người vay có khả năng tạo ra một dòng tiền mặt đủ lớn để đáp ứng yêu cầu hoàn trả cho ngân hàng món vay không? Thông thường khách hàng có ba nguồn có thể được sử dụng để hoàn trả khoản vay : (a) Dòng tiền mặt từ doanh thu bán hàng hoặc thu nhập; (b) dòng tiền từ việc bán tài sản; (c) các nguồn vốn huy động bằng cách phát hành nợ hay chứng khoán vốn trong đó ngân hàng quan tâm hơn cả đến dòng tiền có được từ hoạt động kinh doanh của người đi vay
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Việc thế chấp hay cầm cố tài sản cố
định, giấy tờ có giá…của người đi vay sẽ hạn chế rủi ro, nâng cao khả năng thu hồi vốn cho ngân hàng trong bất cứ hoàn cảnh nào Đây là một cơ sở đảm bảo giúp ngân hàng thu hồi lại được khoản vốn cho vay khi khách hàng không hoàn trả theo đúng hợp đồng tín dụng
- Các điều kiện (Conditions): Các cán bộ tín dụng cần phải nhận biết
được xu hướng tiến triển gần đây của hãng cũng như của ngành mà hãng hoạt động, thấy được mức độ tác động của những thay đổi trong nền kinh tế đối với khoản cho vay
- Kiểm soát (Control): Nhân tố cuối cùng trong việc đánh giá độ tin
cậy của một khách hàng là sự kiểm soát, nó tập trung vào các câu hỏi như: liệu những thay đổi về quy định có ảnh hưởng bất lợi đến người vay không và
Trang 28liệu khách hàng có đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng tín dụng do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra không?
1.4.2 Mô hình định lượng
1.4.2.1 Mô hình điểm số Z của Edward I.Altman
Chỉ số Z được xây dựng bởi Edward I Altman (1968), Đại Học New
York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lượng lớn các công ty khác nhau tại Mỹ Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới Chỉ số Z bao gồm 5 tỷ
số X1, X2, X3, X4, X5 Trong đó:
X1: tỷ số “vốn lưu động ròng/tổng tài sản”
X2: tỷ số “lợi nhuận tích lũy/tổng tài sản”
X3: tỷ số “lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản
X4: tỷ số “thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
X5: tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”
Từ một chỉ số Z ban đầu, Altman phát triển thêm Z' và Z" để có thể áp dụng theo từng loại hình của doanh nghiệp:
* Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:
Trang 29 Nếu Z' > 2.9: Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy
* Đối với các doanh nghiệp khác:
Chỉ số Z" dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanh nghiệp Vì sự khác nhau khá lớn của X5 giữa các ngành, nên X5 được đưa ra
1.4.2.2 Mô hình xếp hạng của Fitch, Moody và Standard & Poor
Bên cạnh việc đánh giá rủi ro đối với khách hàng bằng chỉ số Z của Edward I Altman, các ngân hàng còn thường xem xét nhận định cho vay thông qua việc xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay do các tổ chức xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp có tiếng như Moody và Standard & Poor thực hiện Moody và Standard & Poor xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay theo 9 hạng theo chất lượng giảm dần, trong đó 4 hạng đầu ngân hàng nên cho vay, còn các hạng sau thì không nên đầu tư, cho vay
Trang 30Đối với Moody xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor thì cao nhất là AAA Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Moody) và AA (Standard & Poor) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn
vốn cao (Xem phụ lục 2, 3) Trong đó, chứng khoán (khoản cho vay) trong
4 loại đầu được xem như loại chứng khoán (cho vay) mà ngân hàng nên đầu tư, còn các loại chứng khoán (khoản cho vay) bên dưới được xếp hạng thấp hơn thì ngân hàng không đầu tư (không cho vay) Nhưng thực tế vì phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro và lợi nhuận nên những chứng khoán (khoản cho vay) tuy được xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốn cao) nhưng lại co lợi nhuận cao nên đôi lúc ngân hàng vẫn chấp nhận đầu tư vào các loại chứng khoán (cho vay) này
Bên cạnh đó thì Moody còn đưa ra các mô hình để đánh giá rủi ro tín dụng của công ty Theo mô hình này, Moody sẽ xếp hạng tình trạng hoạt động của doanh nghiệp dựa trên tỷ lệ rủi ro hàng năm, chất lượng xếp hạng cũng thay đổi hàng năm Moody phân chia tỷ lệ rủi ro hàng năm từ 0 đến 8% Những doanh nghiệp có xếp hạng cao khi tỷ lệ rủi ro dưới 0,1% Các doanh nghiệp khác có xếp hạng thấp hơn khi tỷ lệ rủi ro từ 0,2 đến 8%
Bảng 1.1 Xếp hạng theo mô hình Moody
Xếp hạng Tình trạng Tỷ lệ rủi ro hàng năm Aaa Chất lượng cao nhất 0,02%
Ba Nhiều yếu tố đầu cơ 1,8%
Nguồn: Tạp chí khoa học và Đào tạo ngân hàng, số 8-2005, tr 39
Trang 31
Như vậy, thông qua sự đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập nổi tiếng như Moody‟s, Standard & Poor‟s hay Fitch đối với các cá thể, đơn
vị đi vay mà mỗi ngân hàng sẽ kiểm soát được rủi ro về khả năng thanh toán của khách hàng để từ đó có các chính sách cho vay phù hợp
1.5 Nguyên tắc Basel nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay vốn
Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng là một ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập vào năm 1975 bởi các Thống đốc Ngân hàng Trung ương của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Mỹ) Ủy ban tổ chức họp thường niên tại trụ sở Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc tại Thành phố Basel (Thụy Sĩ)
Như vậy từ chỗ là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, hợp tác quốc tế về thanh tra và giám sát ngân hàng, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ngày nay đã trở thành cơ quan xây dựng và phát triển các chuẩn mực ngân hàng được quốc tế công nhận Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý
nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc): trong nội
dung này, Ủy ban Basel yêu cầu Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…) Trên cơ sở này, Ban Tổng giám đốc có trách nhiệm thực thi các định hướng này và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện,
đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư
Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc): Ngân hàng cần
xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm
Trang 32khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng
có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Ngân hàng phải có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phận tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, có kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi ro tín dụng
Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10 nguyên tắc): Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập
nhật đối với các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng, bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng, thu thập thông tin tài chính hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp đồng vay… theo quy mô và mức độ phức tạp của ngân hàng Đồng thời hệ thống này phải có khả năng nắm bắt và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ các giao kèo của khách hàng … để phát hiện kịp thời những khoản vay có vấn đề Ngân hàng cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề
1.6 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới nhằm đảm bảo an toàn đối với các khoản cho vay và bài học kinh nghiệm cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam
1.6.1 Kinh nghiệm của một số nước trong việc đảm bảo an toàn cho vay 1.6.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Sau khủng hoảng tài chính diễn ra vào thời điểm năm 1997 và năm 2008, Thái Lan là một trong những quốc gia đã rút ra được nhiều kinh nghiệm trong vấn
đề quản trị rủi ro của các ngân hàng Trên cơ sở đó, Thái Lan đã xây dựng được một hệ thống đo lường và đánh giá hiệu quả nhằm kiểm soát, giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra Một trong những giải pháp có thể được kể ra như:
Trang 33- Việc định giá cho tài sản đảm bảo được thỏa thuận giữa ngân hàng và khách vay hoặc do một tổ chức trung gian đứng ra định giá Trên cơ sở định giá tài sản thế chấp để đưa ra mức trích lập dự phòng thích hợp cho khoản vay Trường hợp cần thiết như khi xảy ra khủng hoảng Chính phủ sẽ tiến hành lập quỹ phục hồi và phát triển tài chính, sau đó dùng tiền đó để ưu tiên mua
cổ phần của các ngân hàng Nhằm
- Giới hạn đầu tư ở mức 10% vốn khách vay và 20% vốn của Ngân hàng Giới hạn cho vay cho nhóm khách hàng ở mức 5% vốn ngân hàng, 50% giá trị ròng của doanh nghiệp và 25% giá trị nợ giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ
ở mức 25% vốn tự có của Ngân hàng 5
- Cục thông tin tín dụng được quản lý bởi công ty tư nhân, tất cả các Ngân hàng báo cáo thông tin về Cục, sau đó Cục thông tin kết xuất báo cáo về khách hàng vay và lịch sử trả nợ vay hàng tháng, không cung cấp thông tin thẩm định tín dụng
1.6.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Tại Trung Quốc, kể từ khi thực hiện cải cách mạnh mẽ hệ thống ngân hàng từ năm 1998, hệ thống ngân hàng đã có bước tiến đáng kể, giá trị tài sản
và lợi nhuận của các ngân hàng luôn tăng Có được điều đó là do chính phủ cũng như ủy ban điều hàng Ngân hàng Trung Quốc có được những cải cách quan trọng nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay nói riêng và quản trị rủi ro tín dụng nói chung
- Trung Quốc đã đưa ra các chỉ tiêu an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế Basel II áp dụng vào các hoạt động nhằm quản trị rủi ro, đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động vững mạnh
- Cách thức dự trữ cho các khoản cho vay trước đây khoảng 1% và không tính đến các yếu tố rủi ro đã được thay thế bằng việc phân loại khoản vay theo 5 loại căn cứ vào qui mô và chất lượng khoản vay
5
Lương Đức Thành (Luận văn – 2006), Đảm bảo an toàn tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Trang 34- Đưa ra các chỉ tiêu đối với hạn mức đối với các khoản cho vay Giới hạn cho vay các đối tác ở mức 5% giá trị ròng doanh nghiệp Tổng dư nợ cho vay các đối tác không vượt quá 10% vốn tự có ngân hàng Giới hạn cho vay khách hàng đơn lẻ ở mức 25% vốn tự có của ngân hàng
- Sử dụng mô hình CAMEL (vốn - capital , tài sản - assets, quản lý - management, thu nhập - earnings, thanh khoản - liquidity) nhằm kiểm tra, đánh giá hiệu quả trong hoạt động của các ngân hàng
- Tạo ra môi trường pháp lý và môi trường kinh tế đồng bộ cho sự hoạt động của ngân hàng
1.6.1.3 Kinh nghiệm của Singapore
Các ngân hàng Singapore có quan điểm quản lý kinh doanh rất hiện đại đó
là quản lý ngân hàng xuất phát từ cơ sở của việc quản lý rủi ro, quản lý tài sản nợ, tài sản có một cách hiệu quả nhằm đạt mức lợi nhuận tối đa và đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng và hoạt động cho vay nói riêng Năm 2010, Singapore
là nước được xếp vào một trong mười trung tâm tài chính hàng đầu thế giới 6 Để vươn lên hàng đầu như vậy, các tổ chức tài chính và các ngân hàng nói riêng cần phải hoạt động ổn định và ngày càng vững mạnh dựa trên sự đảm bảo an toàn, nâng cao quản trị các rủi ro Một trong những bài học mà các quốc gia có nền tài chính còn kém phát triển như Việt Nam phải hỏi học, đó là:
- Việc đánh giá rủi ro cho vay từ phía khách hàng được đánh giá chủ yếu
do các công ty xếp hạng tín dụng độc lập như Moody‟s hay Standard & Poor‟s thực hiện Do vậy dựa trên những nhận định đo lường đó, mà các ngân hàng sẽ có quyết định cho vay phù hợp
- Ngân hàng không được phép tham gia vào các hoạt động phi tài chính Cũng không được phép đầu tư hơn 10% vốn vào các công ty hoạt động phi tài chính Mức đầu tư vốn vào một công ty đơn lẻ giới hạn ở 2% vốn tự có Ngân hàng Tổng vốn đầu tư giới hạn ở 10% vốn tự có Ngân hàng
6
http://dantri.com.vn/c25/s76-224428/10-trung-tam-tai-chinh-hang-dau-the-gioi.htm
Trang 35- Đơn vị tổ chức và quản lý thông tin tín dụng từ các thành viên đi vay được quản lý bởi Hiệp hội Ngân hàng Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc cập nhập thông tin của khách hàng đối với những lần vay vốn sau này, do đó sẽ giảm được chi phí, thời gian trong việc thẩm định, đánh giá đối tượng đi vay
1.6.2.Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hoạt động ngân hàng là hoạt động trung gian huy động vốn để cho vay,
do đó chỉ có đảm bảo an toàn đối với các khoản vay của khách hàng thì mới hạn chế được rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng…của ngân hàng Từ việc nghiên cứu các kinh nghiệm của một số nước về bảo đảm an toàn trong hoạt động trong vay, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm với các ngân hàng thương mại Việt Nam như sau:
- Một là : Tỷ lệ an toàn trong hoạt động tín dụng nói chung và trong
hoạt động cho vay vốn nói riêng luôn được qui định một cách chặt chẽ và bắt buộc các ngân hàng thương mại phải tuân thủ Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần đưa ra các qui định cụ thể là lộ trình tuân thủ các tỷ lệ an toàn của các ngân hàng, trong trường hợp không đáp ứng được các điều kiện về đảm bảo
an toàn trong hoạt động cho vay thì cần phải thực hiện sáp nhập hay ngừng hoạt động
- Hai là: Để đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay các NHTM phải
tiến hành lựa chọn và sàng lọc khách hàng, đa dạng hóa các đối tượng cho vay vì hiện nay vẫn tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp nhà nước, tổng công ty lớn nên khả năng rủi ro là rất cao Cần bắt buộc khách hàng vay vốn
có từ 20% đến 30% 7vốn tự có, tiến hàng giám sát chặt chẽ khoản vay trước, trong và sau khi cho vay Kiên quyết xử lý các khoản nợ đến hạn và chủ động trích lập dự phòng theo qui định của NHNN Cần coi trọng công tác thông tin
7
Nguyễn Tiến Chương (Luận văn - 2008), Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Trang 36khách hàng nhằm nắm bắt tốt các thông tin và xử lý kịp thời các tình huống xảy ra
- Ba là: Chính sách đầu tư vốn và cơ cấu lại nợ là chính sách được phổ
biến ở các nước; trong chính sách đầu tư vốn và xây dựng chiến lược cho vay cần xác định rõ những ngành, lĩnh vực cần ưu tiên, xu hướng là lựa chọn khách hàng và chuyển sang cho vay theo dự án và phương án kinh doanh khả thi
Trong quá trình xem xét đánh giá lại nợ, cơ cấu lại nợ các ngân hàng thương mại cần mạnh dạn nhìn nhận, đánh giá thực chất chất lượng các khoản
nợ để có cách thức ứng xử phù hợp nhằm đảm bảo an toàn hệ thống
- Bốn là: Khi một NHTM mất khả năng thanh toán do ảnh hưởng của sự
chi trả các khoản vốn cho vay, các nước đã sử dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn sự phá sản của ngân hàng đó như tăng vốn tự có, NHNN cho vay để thành lập các quĩ hỗ trợ phát triển và phục hồi tài chính Đây là kinh nghiệm quí báu
mà các ngân hàng Việt cần phải học tập và áp dụng khi cần thiết
- Năm là: Mạnh dạn đưa vào và áp dụng các chuẩn mực kế toán, kiểm
toán theo các chuẩn mực quốc tế Kiểm soát và giám sát, kiểm tra nội bộ là biện pháp hiệu quả trong mọi tình hình của nền kinh tế Tùy theo từng điều kiện tình hình cụ thể để áp dụng các hình thức và kiểm tra thích hợp
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG AN TOÀN TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu chung về ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
2.1.1 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)
Ngân hàng BIDV được thành lập theo quyết định số 177/TTg ngày 26/04/1957 của thủ tướng Chính phủ với tên gọi là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, trong quá trình xây dựng và phát triển BIDV được mang nhiều tên gọi
khác nhau như: Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam: 26/4/1957; Ngân hàng Đầu
tư và Xây dựng Việt Nam 24/6/1981; Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 14/11/1990
Kể từ khi ra đời và phát triển Ngân hàng BIDV luôn khẳng định được vai trò của mình trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, trong suốt
37 năm (1957-1994) là ngân hàng duy nhất thực hiện cấp phát quản lý, cho vay vốn kiến thiết cơ bản thông qua nghiệp vụ của mình ngân hàng đã góp phần vào việc quản lý có hiệu quả các dự án đầu tư
Từ năm 1990 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước bên cạnh nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đã chủ động huy động vốn trung dài hạn phục vụ nhu cầu vốn cho công cuộc cải cách nền kinh tế Nguồn vốn của ngân hàng BIDV đã được đầu tư vào nhiều công trình trọng điểm, nhiều lĩnh vực quan trọng như điện lực, viễn thông, giao thông vận tải, xi măng…Trong suốt những năm đổi mới, nhất là giai đoạn chuyển hẳn sang kinh doanh từ 1995 đến nay, Ngân hàng BIDV đã nỗ lực không ngừng bằng việc mở rộng nhiều kênh huy động vốn: từ dân cư, doanh nghiệp, vay hợp vốn, vay tài trợ xuất nhập khẩu, tham gia thị trường chứng khoán, phát hành
Trang 38trái phiếu…Cùng với việc đa dạng hóa hoạt động Ngân hàng BIDV cũng không ngừng chuyển đổi cơ cấu dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng bên cạnh việc dần tham gia vào các lĩnh vực phi ngân hàng như bảo hiểm chứng khoán, kinh doanh văn phòng và trung tâm thương mại Mặt khác các hoạt động nghiệp vụ Ngân hàng BIDV còn tập trung vào công tác phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ của Ngân hàng BIDV đã không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng
Trải qua 53 năm hình thành và phát triển, Ngân hàng BIDV đã trở thành một trong những NHTM hàng đầu của Việt Nam với tổng tài sản tính đến thời điểm cuối năm 2008 đạt 242.317 tỷ đồng Trải qua hai lần đổi tên, chứng kiến nhiều thăng trầm của nền kinh tế Ngân hàng BIDV luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và khẳng định được vai trò chủ lực trong phục vụ đầu tư và phát triển
2.1.2 Mô hình tổ chức của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Tháng 9/2008, BIDV đã chính thức vận hành mô hình tổ chức mới tại Trụ sở chính và cụ thể háo công tác triển khai chuyển đổi mô hình tổ chức tại các chi nhánh, cơ bản đáp ứng được các yêu cầu đề ra:
Thực hiện được mục tiêu chuyển đổi từ mô hình ngân hàng truyền thống sang mô hình NHTM hiện đại, đa năng định hướng mở rộng hoạt động ngân hàng bán lẻ, tạo nền tảng cho việc tập trung hóa hoạt động và tăng cường quản lý tập trung tại Trụ sở chính
Tạo lập được cơ cấu tổ chức hướng dãn theo thông lệ quốc té nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị rủi ro; phần lớn các nghiệp vụ, nhất là nghiệp vụ cấp tín dụng đã được thực hiện và kiểm soát qua 03 khâu: Đề xuất – Quản lý rủi ro/ Phê duyệt – Tác nghiệp
Việc chuyển đổi đã có lộ trình, bước đi tương đối phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế, phát huy được nghiệp vụ truyền thống của BIDV,
Trang 39thúc đẩy triển khai các nghiệp vụ, sản phẩm mới cũng như thực hiện được các nguyên tắc, đề xuất cốt lõi của tư vấn dự án TA2
Với việc quyết liệt tái cấu trúc lại hoạt động của hệ thống, BIDV đã chuẩn bị sẵn sàng cổ phần hóa ngân hàng và hướng tới mô hình tập đoàn tài chính đa chức năng, hiện đại bao gồm 34 ban, trung tâm và phân tách theo 7 khối chức năng: Khối Ngân hàng bán lẻ (4 ban), Khối Ngân hàng bán lẻ và mạng lưới (3 ban), Khối Vốn và Kinh doanh vốn (1 ban), Khối Quản lý rủi ro (3 ban), Khối Tác nghiệp (3 ban), Khối Tài chính – kế toán (3 ban) và Khối
Khối Quản lý rủi ro gồm: Phòng Quản lý rủi ro
Khối Tác nghiệp gồm: Phòng Quản trị tín dụng, Phòng DV khách hàng, Phòng/Tổ Quản lý và dịch vụ kho quỹ, Phòng/Tổ Thanh toán quốctế
Khối Quản lý nội bộ gồm: Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Phòng/Tổ Điện toán, Phòng Tài chính - Kế toán, Phòng Tổ chức - Nhân sự, Văn phòng
Khối trực thuộc gồm: các Phòng Giao dịch, các Quỹ Tiết kiệm
Trang 40Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2008 - BIDV