Theo đó, Văn hóa kinh doanh thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc, nó bao gồm các nhân tố rút ra từ Văn hóa dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào hoạt động kinh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
XÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Sinh viên thực hiện : Hoàng Ngọc Anh
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Hà Nội, tháng 05/ 2010
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 3
I Khái niệm Văn hóa doanh nghiệp 3
1 Khái niệm Văn hóa 3
2 Văn hóa, Văn hóa kinh doanh và Văn hóa doanh nghiệp 5
3 Khái niệm Văn hóa doanh nghiệp 7
3.1 Văn hóa doanh nghiệp 7
3.2 Nguồn gốc của Văn hóa doanh nghiệp 8
3.3 Cấu trúc Văn hóa doanh nghiệp 10
II Vai trò của Văn hóa doanh nghiệp 15
1 Đối với doanh nghiệp 15
1.1 Tạo nên nét đặc trưng riêng cho doanh nghiệp 15
1.2 Điều phối, kiểm soát và định hướng hành vi của các thành viên 16
1.3 Tạo động lực làm việc và củng cố lòng trung thành của nhân viên 17
1.4 Giải quyết vấn đề xung đột cá nhân – tập thể 17
1.5 Khích lệ khả năng sáng tạo và đổi mới trong doanh nghiệp 18
1.6 Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp 18
2 Đối với xã hội 19
III Sự cần thiết phải xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 19
IV Nội dung xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 20
1 Một số quan điểm chủ đạo khi xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 20
2 Các bước xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 29
I Khái quát về Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam 29
1 Sự ra đời và phát triển của Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam 29
Trang 32 Các yếu tố ảnh hưởng tới Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam 31
2.1 Văn hóa dân tộc 31
2.2 Môi trường kinh doanh 37
II Thực trạng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam 40
1 Nhận thức về Văn hóa doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam 40
1.1 Nhận thức về khái niệm Văn hóa doanh nghiệp 41
1.2 Nhận thức về vai trò của Văn hóa doanh nghiệp 44
2 Thực trạng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam 47
2.1 Mục đích và triết lý kinh doanh 47
2.2 Trình độ nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp 50
2.3 Tác phong văn hóa của đội ngũ nhân viên 52
2.4 Tình hình tổ chức hoạt động của doanh nghiệp 53
2.5 Các giá trị bề nổi của Văn hóa doanh nghiệp 58
2.6 Hoạt động giao tiếp của doanh nghiệp đối với xã hội 61
3 Đánh giá thực trạng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam 65
3.1 Điểm mạnh 65
3.2 Điểm yếu 66
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 69
I Bài học kinh nghiệm từ một số mô hình Văn hóa doanh nghiệp thành công trên thế giới và tại Việt Nam 69
1 Một số doanh nghiệp thành công trong xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 69
1.1 Walt Disney 69
1.2 IBM (International Business Machines Corporation) 72
1.3 Tập đoàn Việt Á 74
1.4 Công ty cổ phần tập đoàn Vina (Vinagame) 76
2 Bài học kinh nghiệm từ các mô hình Văn hóa doanh nghiệp thành công trên thế giới và Việt Nam 78
II Định hướng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam 80
Trang 4III Giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác xây dựng Văn hóa doanh
nghiệp tại Việt Nam 81
1 Giải pháp từ phía Nhà nước 82
1.1 Tạo môi trường pháp lý thuận lợi và công bằng cho các doanh nghiệp 82
1.2 Cải tiến cơ cấu quản lý nhân sự trong cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước 83 1.3 Nâng cao nhận thức về Văn hóa doanh nghiệp 84
1.4 Xây dựng các trung tâm tư vấn quản lý 85
2 Giải pháp từ phía Doanh nghiệp 85
2.1 Chú trọng xây dựng giá trị cốt lõi cho doanh nghiệp 85
2.2 Xây dựng mô hình Văn hóa doanh nghiệp tích cực, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp 86
2.3 Bản thân nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần là một tấm gương về Văn hóa trong doanh nghiệp 88
2.4 Nâng cao ý thức về Văn hóa doanh nghiệp cho các thành viên trong doanh nghiệp 88
2.5 Kết hợp các giá trị truyền thống và hiện đại trong xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 89
2.6 Tăng cường đầu tư vật chất cho xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về khái niệm
Bảng 2.2: Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về khái niệm
Bảng 2.3: Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về vai trò của
Bảng 2.4: Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về vai trò của
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát về mục đích kinh doanh của các
Bảng 2.6: Các khó khăn của doanh nghiệp khi xây dựng
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đã hơn ba năm kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, điều này đã mở ra cho Việt Nam cơ hội lớn trong việc tiếp cận các thị trường mới, song cũng đem lại những thách thức không nhỏ bởi lúc này mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là vô cùng gay gắt Đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có quy mô vừa và nhỏ, số doanh nghiệp được gọi là lớn có lẽ chỉ đếm được trên đầu ngón tay, trong đó những doanh nghiệp có tầm cỡ quốc tế thì càng hiếm hoi Vậy điều gì có thể đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Việt Nam khi bước ra sân chơi lớn của thế giới? Hơn bao giờ hết các doanh nghiệp hiểu rằng, muốn phát triển không chỉ cần quan tâm đến lợi nhuận thể hiện qua kết quả kinh doanh, mà quan trọng hơn là làm thế nào để các sản phẩm luôn mang đậm dấu ấn bản sắc của doanh nghiệp, làm thế nào
để đội ngũ nhân viên phát triển một cách toàn diện, để tinh thần và giá trị doanh nghiệp được ghi nhận và đánh giá cao Muốn làm được những điều này, nhất thiết các doanh nghiệp ngay từ bây giờ phải thấu hiểu tầm quan trọng mang ý nghĩa sống còn và có những biện pháp xây dựng cho mình nền Văn hóa doanh nghiệp đặc trưng, trên nền tảng bản sắc Văn hóa dân tộc Việt Nam
Hiện nay, Văn hóa doanh nghiệp đang được trao đổi sôi nổi trên các diễn đàn của các doanh nghiệp, các nhà quản lý cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng Đã có rất nhiều đề tài, luận án nghiên cứu về Văn hóa doanh nghiệp, nhìn chung đều khẳng định sự cần thiết và tầm quan trọng của nó đối với doanh nghiệp Tuy nhiên cho đến nay, không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới vẫn chưa có khái niệm chính thức về Văn hóa doanh nghiệp, tại sao Văn hóa ấy lại quan trọng và làm thế nào để xây dựng nó vẫn là những vấn đề tranh luận đối với các học giả cũng như các doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp, một khái niệm tưởng mới mà cũng không hoàn toàn mới, là một thách thức đối với bất cứ nhà quản trị doanh nghiệp nào Trên cơ sở
Trang 7niềm yêu thích đối với một vấn đề liên quan mật thiết đến ngành học của mình, đồng thời mong muốn nghiên cứu nhằm tìm hiểu về thực trạng xây dựng Văn hóa
doanh nghiệp trong nước, tác giả đã lựa chọn đề tài khóa luận: “Xây dựng Văn hóa
doanh nghiệp tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích cơ bản của đề tài nhằm nghiên cứu một cách tương đối hệ thống về Văn hóa doanh nghiệp để làm rõ và khẳng định tầm quan trọng của vấn đề này, đồng thời nắm bắt thực trạng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam Từ đó đưa ra một số kiến nghị đối với Nhà nước trong vai trò hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng Văn hóa doanh nghiệp cho các doanh nghiệp Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, khóa luận được thực hiện dựa trên phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu; quan sát, nhận định và khái quát bản chất của vấn đề Dựa trên những thông tin thu thập được, khóa luận nghiên cứu, nhận xét và xử lý thông tin, từ đó đánh giá vấn đề được nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu tổng quát về tình hình xây dựng Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ hội nhập, đồng thời tìm hiểu một số tấm gương thành công trong xây dựng Văn hóa doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận được chia thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan về Văn hóa doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
I Khái niệm Văn hóa doanh nghiệp
1 Khái niệm Văn hóa
Có thể nói những khái niệm như văn hóa gia đình, văn hóa ứng xử, văn hóa tâm linh hay văn hóa làng được nhắc đến không ít trong cuộc sống hiện nay Nhắc đến nhiều nhưng không có nghĩa là người ta hiểu nhiều về Văn hóa, bởi những khái niệm có phần trừu tượng từ trước đến giờ vẫn luôn là vấn đề tranh luận nóng hổi trong xã hội Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng, phải tìm hiểu về Văn hóa trước thì chúng ta mới có thể hiểu thế nào là Văn hóa doanh nghiệp Lịch sử phát triển đã chứng minh Văn hoá là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, cá thể này với cá thể khác, nhóm người này với nhóm người khác Văn hoá khẳng định sự phát triển, thể hiện sức mạnh của xã hội và dân tộc mà nó đại diện Vai trò to lớn của Văn hóa đã được ghi nhận khắp nơi trên thế giới Chẳng hạn, tại bảo tàng Kabul, Afganistan - một đất nước bị chiến tranh tàn phá liên miên,
hàng chục năm nay vẫn luôn khắc dòng chữ “Một dân tộc sống, nếu văn hoá của
dân tộc đó sống” Còn theo Rabin Dranath Tagore, nhà văn Ấn Độ (1861-1941):
“trách nhiệm của mỗi dân tộc là thể hiện rõ bản sắc của mình trước thế giới”, ông
cho rằng nếu một dân tộc không mang lại cho thế giới điều gì, điều đó thật tệ hại, nó còn xấu hơn sự diệt vong và sẽ không được lịch sử tha thứ Bản thân vấn đề Văn hóa rất đa dạng và phức tạp, do đó khi nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau sẽ dẫn đến nhiều khái niệm khác nhau xung quanh nội dung của Văn hóa
Theo nghĩa gốc của từ, thuật ngữ “Văn hoá” xuất phát từ tiếng La Tinh:
“Cultus” có nghĩa là trồng trọt, chăm bón cây cối Sau đó, từ “Cultus” được mở rộng nghĩa sang lĩnh vực xã hội, hàm ý vun xới tinh thần, giáo dục đào tạo con người theo hướng tốt đẹp hơn
Theo phạm vi nghiên cứu rộng nhất, Văn hóa là tổng thể nói chung những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển Các giá trị vật chất có thể kể đến như đền chùa, cảnh quan, di tích lịch sử cũng
Trang 9như các sản phẩm Văn hóa truyền thống, chẳng hạn tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng,
áo dài tứ thân… Còn giá trị tinh thần được thể hiện ở các phong tục tập quán, các làn điệu dân ca hay chuẩn mực đạo đức của một dân tộc…Văn hóa có mặt trong tất
cả các hoạt động của con người cho dù đó chỉ là những suy tư thầm kín, những cách giao tiếp ứng xử hay những hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội…
Theo phạm vi nghiên cứu hẹp hơn, Văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh
thần của con người Trong phạm vi này, Văn hóa khoa học (toán học, vật lý, hóa học…) và Văn hóa nghệ thuật (điện ảnh, văn học, âm nhạc…) được coi là hai phân
hệ chính của hệ thống Văn hóa
Theo phạm vi hẹp hơn nữa, Văn hóa được xem như một ngành – ngành Văn
hóa nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế - kỹ thuật khác Cách hiểu này thường kèm theo cách đối xử sai lệch về Văn hóa: coi Văn hóa là lĩnh vực hoạt động đứng ngoài kinh tế, sống được là nhờ trợ cấp của Nhà nước và “ăn theo” nền kinh tế
Các tài liệu nghiên cứu, sách vở, báo chí đã chỉ ra rất nhiều định nghĩa về
Văn hóa, đặc biệt phải kể đến ấn phẩm xuất bản năm 1952 “Văn hóa: Đánh giá một
cách toàn diện về các khái niệm và định nghĩa” được biên soạn bởi Alfred Kroeber
và Clyde Kluckhohn, cuốn sách đã trình bày 164 định nghĩa về Văn hóa Chắc chắn rằng đến thời điểm hiện tại, con số ấy hẳn phải lớn hơn nhiều Vậy định nghĩa nào
về Văn hóa là phổ biến nhất, được thừa nhận nhiều nhất?
Khi nói đến Văn hóa, chắc chắn người ta sẽ nhắc ngay đến định nghĩa ngắn gọn, xúc tích rất nổi tiếng của Édouard Herriot (1872 – 1957), một chính trị gia lỗi
lạc người Pháp: “Văn hóa là cái còn lại khi ta quên tất cả, là cái còn thiếu khi ta đã
học tất cả” Như vậy Văn hóa là bản sắc của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, mỗi quốc
gia không ai có thể dễ dàng quên được.Tuy nhiên định nghĩa này mới chỉ thể hiện được tầm quan trọng và mức độ bao trùm của Văn hóa mà lại thiếu đi tính cụ thể
Xét về mức độ cụ thể của Văn hóa thì hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu xã hội học tán thành định nghĩa về Văn hóa của Tổng giám đốc UNESCO Federico
Trang 10Mayor: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt
của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa vào đó từng dân tộc tự khẳng
Văn hóa là một vấn đề vừa trừu tượng vừa hữu hình, vừa có tính vững bền lại không ngừng thay đổi Thống nhất quan niệm về Văn hóa sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc tiếp cận Văn hóa doanh nghiệp Qua những tìm hiểu ở trên, có thể
rút ra một khái niệm về Văn hóa như sau: “Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất
và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển”
2 Văn hóa, Văn hóa kinh doanh và Văn hóa doanh nghiệp
Một thời gian dài trước đây, trong xã hội tồn tại quan niệm Văn hóa và Kinh doanh là hai lĩnh vực khác biệt, giữa chúng không có mối quan hệ nào cả Giải thích cho điều này là một lập luận như sau: Văn hóa hướng tới các giá trị của chân - thiện
- mỹ, còn Kinh doanh không có mục đích nào khác ngoài lợi nhuận Tuy nhiên, trong những năm gần đây quan niệm trên không còn phù hợp nữa Văn hóa không chỉ là thứ phúc lợi tinh thần, là cái đẹp để thưởng thức mà còn có mối quan hệ hữu
cơ với Kinh doanh Văn hóa gắn bó chặt chẽ với các hoạt động sản xuất kinh doanh
và dịch vụ, bởi nhân tố chính góp mặt trong cả Văn hóa và Kinh doanh chính là con người Mỗi cá nhân trong doanh nghiệp đều thuộc một nền Văn hóa dân tộc cụ thể, với một phần tính cách tuân theo các giá trị Văn hóa dân tộc đó Khi tập hợp thành một nhóm hoạt động vì mục tiêu chung – một doanh nghiệp, thì những cá nhân này
sẽ vẫn mang theo những nét nhân cách đó Tổng hợp những nét nhân cách này sẽ làm nên một phần tính cách của doanh nghiệp, đó là các giá trị Văn hóa dân tộc không thể phủ nhận được Do đó, bản thân Văn hóa doanh nghiệp là một nền tiểu văn hóa nằm trong Văn hóa dân tộc
1
Trang 11Thuật ngữ Văn hóa kinh doanh xuất hiện trước thuật ngữ Văn hóa doanh nghiệp, khoảng thập kỷ 90 của thế kỷ trước Tuy nhiên cho đến bây giờ vẫn còn tồn tại sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này Sự nhầm lẫn này bắt nguồn từ việc không phân biệt rõ ràng về cấp độ của Văn hóa kinh doanh và Văn hóa doanh nghiệp
Một số nhà nghiên cứu coi chủ thể của Văn hóa kinh doanh chính là các doanh nghiệp, do đó Văn hóa kinh doanh chính là Văn hóa doanh nghiệp Cách hiểu này chủ yếu được các nhà nghiên cứu về quản trị kinh doanh chấp nhận, xuất phát
từ quan niệm coi kinh doanh là hoạt động đặc thù của doanh nghiệp Tuy nhiên cách hiểu này có phần hạn hẹp, vì mặc dù doanh nghiệp là chủ thể chính của mọi hoạt động kinh doanh, nhưng kinh doanh cũng là một hoạt động phổ biến, liên quan mật thiết đến mọi thành viên trong xã hội Nếu thiếu sự tham gia của các thành viên xã hội khác, chẳng hạn sự quản lý của Nhà nước, sự hưởng ứng của người tiêu dùng… thì hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp khó có thể thành công
Xuất phát từ quan niệm “Kinh doanh là hoạt động liên quan đến mọi thành viên trong xã hội”, một số nhà nghiên cứu khác lại coi Văn hóa kinh doanh là một phạm trù ở tầm cỡ quốc gia, do đó Văn hóa doanh nghiệp chỉ là một bộ phận của Văn hóa kinh doanh Cách hiểu này ngày càng được chấp nhận rộng rãi trong xã hội Theo đó, Văn hóa kinh doanh thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc,
nó bao gồm các nhân tố rút ra từ Văn hóa dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình (thói quen xem ngày giờ tốt của người Trung Quốc ), và cả những giá trị triết lý mà các thành viên này tạo ra trong quá trình kinh doanh (chẳng hạn như sự coi trọng thành công ở người Mỹ )
Cách hiểu thứ hai coi Văn hóa kinh doanh và Văn hóa doanh nghiệp là hai khái niệm tách biệt, giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc tiếp cận Văn hóa doanh nghiệp Có thể nói Văn hóa doanh nghiệp là một phạm trù liên quan mật thiết tới doanh nghiệp và Văn hóa kinh doanh của một nền kinh tế Hay nói cách khác, Văn hóa doanh nghiệp chính là sự thể hiện của Văn hóa kinh doanh ở mức độ công ty,
do đó cũng có thể coi nó là một bộ phận của Văn hóa kinh doanh
Trang 123 Khái niệm Văn hóa doanh nghiệp
3.1 Văn hóa doanh nghiệp
Một đất nước sẽ không phát triển và dẫn đến suy vong nếu không bảo tồn được nền văn hóa truyền thống dân tộc Một gia đình sẽ không thể hạnh phúc và hưng thịnh nếu không có gia phong - một lĩnh vực thuộc văn hóa gia đình Cũng như vậy, một doanh nghiệp sẽ không bảo vệ được sự nghiệp của mình nếu không có một nền văn hóa đặc thù của ngành nghề gọi là Văn hóa doanh nghiệp
Vậy Văn hóa doanh nghiệp là gì? Đây là một câu hỏi lớn đối với các học giả cũng như các doanh nghiệp Nhìn chung các quan điểm đều khẳng định Văn hóa doanh nghiệp rất quan trọng, nhưng thực tế lại có nhiều cách hiểu hoàn toàn khác nhau về vấn đề ấy Văn hoá doanh nghiệp là văn hoá của một tổ chức vì vậy nó không đơn thuần là văn hoá giao tiếp hay Văn hoá kinh doanh như cách nghĩ thông thường Văn hoá doanh nghiệp không phải là những khẩu hiệu của ban lãnh đạo được treo trước cổng, trên hành lang hay trong phòng họp, đó chỉ là ý muốn, ý tưởng Những điều doanh nghiệp mong muốn có thể rất khác với những giá trị, niềm tin, chuẩn mực được thể hiện trong thực tế và trong các hành vi của mỗi thành viên doanh nghiệp “Doanh nghiệp của chúng ta thực sự là gì?” khác với “Chúng ta muốn doanh nghiệp mình như thế nào?” Là một bộ phận của Văn hóa kinh doanh
và Văn hóa xã hội như đã được phân tích ở mục 2, Văn hóa doanh nghiệp cũng có rất nhiều cách hiểu
Ông Georges de Saite Marie - chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa
và nhỏ, đã đưa ra một định nghĩa như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các
giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kị, các quan điểm triết
Có thể thấy định nghĩa này mới chỉ tóm gọn những nhân tố cấu thành Văn hóa doanh nghiệp chứ chưa đề cập đến mối quan hệ qua lại bên trong doanh nghiệp
Trang 13
Một số quan niệm khác thì cho rằng cách đơn giản nhất khi nghĩ về Văn hóa doanh nghiệp đó là một trường năng lượng quyết định cách tư duy, hành động và quan sát thế giới xung quanh của các thành viên trong doanh nghiệp Ban đầu, phần nhiều các giá trị Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện thông qua các nguyên tắc, quy định có tính chất bắt buộc, nhưng một khi đã được chấp nhận rộng rãi thì chúng lại trở thành những giá trị, chuẩn mực và nguyên tắc bất thành văn chi phối hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp Khi đó, Văn hóa doanh nghiệp đóng vai trò như một “hệ điều hành” có tác động điều chỉnh từ các hoạt động thường nhật, sự phối hợp giữa các cá nhân, các bộ phận cho đến việc hoạch định cơ cấu tổ chức hay lựa chọn chiến lược hoạt động của mỗi doanh nghiệp
Cho đến nay chưa có một định nghĩa nào về Văn hóa doanh nghiệp được chính thức công nhận, nhưng có một định nghĩa khá phổ biến là định nghĩa của
chuyên gia người Mỹ Edgar H Schein: "Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những
thủ pháp và quy tắc mà các thành viên của doanh nghiệp thu nhận được trong quá trình giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong doanh
Những quy tắc và thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp Các thành viên của doanh nghiệp không đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc
và thủ pháp ấy, mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu
Nói tóm lại, dù được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tại các thời điểm khác nhau, nhưng có thể thống nhất một định nghĩa về Văn hóa doanh nghiệp như
sau: “Văn hóa doanh nghiệp chính là hệ thống các giá trị, quan niệm và nguyên tắc
hành vi được chia sẻ bên trong doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và cách thức hành động của các thành viên trong quá trình theo đuổi và thực hiện những mục tiêu chung, tạo nên bản sắc riêng của mỗi doanh nghiệp”
3.2 Nguồn gốc của Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp được hình thành từ ba nguồn chính:
3
Nguyễn Hoàng Ánh (2003), Giải pháp xây dựng Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập
khu vực và thế giới, Đề tài NCKH cấp Bộ, Đại học Ngoại Thương, Hà Nội, tr17
Trang 14a Niềm tin, giá trị và quan niệm của sáng lập viên và lãnh đạo doanh nghiệp
Sáng lập viên là người ghi dấu ấn đậm nét nhất lên Văn hóa doanh nghiệp, đồng thời tạo nên nét đặc thù của Văn hóa doanh nghiệp Xét từ một khía cạnh nào
đó, doanh nghiệp cũng giống như con người, thời kỳ đầu mới thành lập là khoảng thời gian hình thành nhân cách Trong thời kỳ này, người sáng lập có nhiệm vụ lựa chọn hướng đi, môi trường hoạt động mà các thành viên sẽ tham gia vào doanh nghiệp Những sự lựa chọn này tất yếu sẽ phản ánh kinh nghiệm, tài năng, cá tính
và triết lý riêng của bản thân các sáng lập viên, có tác động không nhỏ trong việc kiểm soát hành vi của nhân viên Một ví dụ như tập đoàn công nghệ thông tin nổi tiếng HP (Hewlett & Packard), các nhà sáng lập đóng một vai trò quan trọng trong việc xác lập tư tưởng, cách làm việc cũng như hành vi của mọi thành viên trong tổ chức Nhà sáng lập Bill Hewlett đã nói về người bạn thân David Packard khi
Packard qua đời năm 1996 như sau: “Di sản to lớn nhất ông để lại cho chúng ta là
Nhà lãnh đạo không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức và công nghệ của doanh nghiệp mà còn là người sáng tạo ra các biểu tượng, các ý thức hệ, ngôn ngữ, niềm tin, nghi lễ và huyền thoại của doanh nghiệp Qua quá trình xây dựng và quản lý doanh nghiệp, hệ tư tưởng và tính cách của nhà lãnh đạo sẽ được phản chiếu lên Văn hóa doanh nghiệp
b Kinh nghiệm học hỏi được của các thành viên doanh nghiệp trong quá trình phát triển
Có những giá trị Văn hóa doanh nghiệp không phải do sáng lập viên hay nhà lãnh đạo tạo ra mà là do tập thể nhân viên trong doanh nghiệp tạo dựng nên, hay còn gọi là những kinh nghiệm học hỏi được Hình thức của những giá trị học hỏi được thường rất phong phú, phổ biến là: những kinh nghiệm tập thể của doanh nghiệp (kinh nghiệm có được khi xử lý những vấn đề chung bao gồm kinh nghiệm
về giao dịch với khách hàng hay kinh nghiệm khi ứng phó với sự thay đổi ); những giá trị học hỏi được từ các doanh nghiệp khác (kết quả của quá trình nghiên cứu thị
Trang 15
trường và đối thủ cạnh tranh, của chương trình giao lưu giữa các doanh nghiệp ); các giá trị văn hóa được tiếp nhận trong quá trình giao lưu với nền văn hóa khác (thông qua việc gửi nhân viên tham dự những khóa đào tạo ở nước ngoài) hay là những xu hướng và trào lưu xã hội
c Niềm tin và những giá trị của các thành viên mới và lãnh đạo mới
Không chỉ người sáng lập, nhân viên cũ mà thậm chí các nhân viên mới hay nhà lãnh đạo mới cũng góp phần hình thành Văn hóa doanh nghiệp Cấu trúc Văn hóa doanh nghiệp bao gồm những thực thể hữu hình và những giá trị quan điểm, nguyên tắc mang tính ổn định tương đối, vì thế bất cứ giá trị mong muốn nào mà lãnh đạo mới muốn đưa vào đều là nguồn gốc làm nên Văn hóa doanh nghiệp
3.3 Cấu trúc Văn hóa doanh nghiệp
Có nhiều cách để phân chia Văn hóa doanh nghiệp thành các yếu tố khác nhau như vật thể, phi vật thể, các giá trị… Nhưng cách phân chia nổi tiếng và được thừa nhận, áp dụng nhiều nhất là cách của Edgar H Schein Có thể dễ dàng bắt gặp
mô hình các lớp Văn hóa doanh nghiệp của ông trong rất nhiều công trình nghiên cứu về Văn hóa doanh nghiệp Ông có một cách tiếp cận độc đáo đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hóa, giúp chúng ta có thể hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc những bộ phận cấu thành văn hóa đó Ông đã chia Văn hóa doanh nghiệp thành
ba lớp, mà dựa vào đó ta có thể vẽ được một sơ đồ lớp cắt như sau
Trang 16Hình 1.1: Các bộ phận cấu thành Văn hóa doanh nghiệp
Đi từ ngoài vào trong, yếu tố đầu tiên của Văn hóa doanh nghiệp là những giá trị và cấu trúc hữu hình dễ dàng quan sát được
a Những giá trị và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp: Giá trị hữu hình
của Văn hóa doanh nghiệp là những đặc điểm nhìn thấy và nghe thấy được về doanh nghiệp đó, là tất cả những gì thể hiện trên bề nổi của doanh nghiệp Những
nét đặc trưng hữu hình này bao gồm:
- Kiến trúc, cách bài trí, công nghệ, sản phẩm: Đây là một đặc điểm nhận
dạng nổi bật của doanh nghiệp Cách bài trí đặc trưng, kiến trúc ấn tượng của doanh nghiệp thể hiện tư tưởng của nhà lãnh đạo, trình độ thẩm mỹ, và cả năng lực tài chính của doanh nghiệp đó Người ta có thể dễ dàng nhận ra những hiệu ăn nhanh của McDonald’s qua kiến trúc bề ngoài đặc trưng, phong cách bố trí nội thất của hãng trong sự kết hợp giữa màu vàng tươi, màu đỏ và màu xanh rêu Đây cũng là một cách để doanh nghiệp khẳng định uy thế trước đối thủ, khắc ghi hình ảnh của mình trong tâm trí đối tác và khách hàng
Trang 17- Thương hiệu, lô gô, khẩu hiệu và các tài liệu quảng cáo khác của doanh nghiệp: Thương hiệu tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí
khách hàng Một thương hiệu khi đã được chấp nhận, nó sẽ mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đích thực, những lợi thế rõ rệt trên thương trường Đó là khả năng tiếp cận thị trường một cách dễ dàng hơn, sâu rộng hơn, ngay cả khi đó là một chủng loại hàng hóa mới Lô gô có tác dụng làm cho thương hiệu của doanh nghiệp nổi bật và ấn tượng hơn, tạo ra sự nhận biết rất mạnh bằng thị giác, nhờ đó có thể được ghi nhớ lâu hơn trong tâm trí đối tác và khách hàng Chẳng hạn như hình vẽ quả táo khuyết một góc sẽ được tiếp nhận dễ dàng và nhanh hơn dòng chữ Apple
- Cơ cấu tổ chức phòng ban của doanh nghiệp: Cơ cấu tổ chức phòng ban
là khác nhau ở mỗi công ty Nó phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, đặc tính của sản phẩm mà doanh nghiệp đó cung cấp, phụ thuộc vào tính chất của khách hàng và rất nhiều yếu tố khác Việc tổ chức phòng ban một cách hợp
lý sẽ có ảnh hưởng tích cực tới tinh thần làm việc và trách nhiệm của tập thể cán bộ công nhân viên đối với công ty
- Các văn bản ấn định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp: Tập hợp
các văn bản này có thể là các giấy tờ xác nhận quyền hoạt động kinh doanh, xác định rõ lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cũng có thể là văn bản quy định và điều chỉnh hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, quy định chế độ lao động, khen thưởng hoặc kỷ luật đối với mọi thành viên trong công ty
- Ngôn ngữ, trang phục, xe cộ, chức danh, cách biểu lộ cảm xúc, ứng xử của đội ngũ nhân viên: Đây là những yếu tố thể hiện một cách trực tiếp tới khách
hàng về nền văn hóa trong nội bộ doanh nghiệp đó Phong thái ứng xử, cách biểu lộ cảm xúc của đội ngũ nhân viên đóng vai trò quan trọng trong việc dành cảm tình và
sự gắn bó lâu dài của khách hàng Các yếu tố khác như ngôn ngữ, trang phục giúp xây dựng hình tượng về mặt bằng văn hóa chung của doanh nghiệp đó
- Những huyền thoại về doanh nghiệp: Những câu chuyện huyền thoại về
doanh nghiệp được lưu truyền qua các thế hệ thành viên bằng cách kể lại Những
Trang 18huyền thoại đó giúp xây dựng niềm tin trong lòng các thành viên vào sức mạnh của doanh nghiệp
- Lễ nghi, lễ kỷ niệm và lễ hội hàng năm: Đây là những hoạt động không
thể thiếu để bồi đắp niềm tin cho mọi người vào sức mạnh của doanh nghiệp Các lễ
kỷ niệm sẽ làm tôn vinh những giá trị Văn hóa doanh nghiệp Những sự kiện này thường được tổ chức công khai và đều đặn hàng năm, có tác dụng nhắc nhở cho các thành viên về truyền thống của doanh nghiệp
b Các giá trị được chấp nhận
Mục đích, chiến lược kinh doanh và triết lý kinh doanh của doanh nghiệp sẽ định hướng cho mọi kế hoạch và hoạt động của tập thể nhân viên Đó cũng chính là những giá trị được tuyên bố rộng rãi ra công chúng và là một bộ phận của những giá trị Văn hóa doanh nghiệp
- Mục đích kinh doanh giải thích nguyên nhân tồn tại và hoạt động của
doanh nghiệp: Hoạt động vì cái gì? Hoạt động vì ai? Hoạt động nhằm mục đích cuối cùng là gì? Việc xác định đúng mục đích kinh doanh có vai trò quyết định tới sự tồn tại của doanh nghiệp, vì dựa vào đó doanh nghiệp có thể định hướng sử dụng tối ưu nhất các nguồn lực, tạo cơ sở cho việc xác lập những mục tiêu ngắn và dài hạn
- Chiến lƣợc kinh doanh là những kế hoạch hành động được cụ thể hóa
Chiến lược kinh doanh được xây dựng bài bản và hợp lý sẽ giúp tập hợp các nguồn lực thành sức mạnh thống nhất để đạt được mục đích kinh doanh đề ra
- Triết lý kinh doanh: Tiến sĩ Đỗ Minh Cương đã đưa ra định nghĩa như
sau: “Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh
thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm và khái quát hóa của các chủ thể kinh
Các nhà sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp sẽ có vai trò quyết định đối với việc tạo lập một triết lý kinh doanh Nhưng nó chỉ thực sự là triết lý kinh doanh chung của doanh nghiệp khi được toàn thể cán bộ công nhân viên tự nguyện và tự giác chấp nhận Muốn vậy thì triết lý kinh doanh trước hết phải được xây dựng và
Trang 19
hoàn thiện một cách công khai, dân chủ và mở rộng Tất cả mọi người có thể tham gia thảo luận để xây dựng nó Không chỉ có vậy, triết lý kinh doanh phải đảm bảo được lợi ích của tầng lớp người lao động chứ không chỉ lợi ích của chủ doanh nghiệp Nó phải làm cho mọi người tin rằng lợi ích mà họ thu được sẽ tỷ lệ thuận với sự đóng góp của họ với công ty, và từ đó, công ty sẽ có một tương lai lâu dài và bền vững
“Những giá trị được tuyên bố” có vai trò định hướng hoạt động cho các thành viên trong doanh nghiệp theo những mục tiêu cụ thể và chính xác Ví dụ như mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đề ra năm nay là đạt được doanh số gấp đôi năm ngoái, khi đó các thành viên trong doanh nghiệp sẽ đề ra chiến lược kinh doanh
cụ thể để đạt được mục tiêu đó Rồi trong quá trình hoạt động thực tế, trong từng tình huống cụ thể, mỗi cá nhân trong doanh nghiệp sẽ có những cách đối phó và ứng
xử sao cho phù hợp với chiến lược kinh doanh đã đề ra
Giá trị cốt lõi có thể được thể hiện bằng nhiều cách, song chúng luôn đơn giản, rõ ràng, thẳng thắn và đầy sức mạnh Ở Wal – Mart, Sam Walton đã nói về giá
trị cốt lõi của công ty mình như sau: “Chúng tôi đặt khách hàng lên trên hết Nếu
Trang 20bạn không phục vụ khách hàng hoặc hỗ trợ cho những ai phục vụ khách hàng, thì bạn không phải là người chúng tôi cần” Một trường hợp khác, James Gamble thì
phát biểu đơn giản và tao nhã về giá trị cốt lõi của công ty P&G là: “Nếu bạn không
làm ra được một sản phẩm có chất lượng tốt, hãy làm lại sản phẩm đó dù vất vả đến thế nào đi nữa” Mỗi doanh nghiệp nhìn chung chỉ có vài giá trị cốt lõi, bởi đây
là những giá trị hết sức cơ bản và ít khi thay đổi, giá trị cốt lõi luôn trường tồn qua các giai đoạn thăng trầm của mỗi doanh nghiệp
Mối quan hệ chặt chẽ giữa ba tầng lớp trên đã tạo nên Văn hóa doanh nghiệp Để xây dựng được nền văn hóa phong phú và lâu bền thì nhà lãnh đạo là người đặt nền móng và xác định bước đi ban đầu, trên cơ sở đó xây dựng các chính sách và hành động cụ thể Các giá trị cốt lõi như niềm tin phải luôn đi trước chính sách, thực hành và mục tiêu Tuy nhiên không phải tất cả, mà chỉ một số ít doanh nghiệp lớn khởi nghiệp với một tư tưởng cốt lõi rõ ràng Còn đa phần các doanh nghiệp chỉ hình thành tư tưởng của mình sau khi đã trải qua giai đoạn thành lập và phát triển đầu tiên Toàn thể cán bộ công nhân viên sẽ là những người tham gia đóng góp những viên gạch xây dựng xuyên suốt chặng đường tồn tại của doanh nghiệp đó, trải qua những thử thách, thành công, thất bại, để rồi chắt lọc được những giá trị văn hóa cốt lõi đích thực làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp
II Vai trò của Văn hóa doanh nghiệp
1 Đối với doanh nghiệp
1.1 Văn hóa doanh nghiệp tạo nên nét đặc trưng riêng cho doanh nghiệp, giúp phân biệt với các doanh nghiệp khác
Khi mới thành lập, doanh nghiệp chưa thể có một nền văn hóa ổn định, chưa
có bản sắc văn hóa riêng Qua một quá trình hoạt động lâu dài, trải qua những thành công, thất bại, đấu tranh và xây dựng, các yếu tố của văn hóa sẽ được hình thành, chắt lọc để rồi tồn tại thành một hệ thống, tạo ra đường lối kinh doanh riêng của doanh nghiệp đó, giúp phân biệt nó với các doanh nghiệp và tổ chức xã hội khác
Trang 21Phong cách đó đối với doanh nghiệp cũng quan trọng giống như “không khí và nước” đối với con người vậy
Thật dễ dàng để nhận ra phong cách của một doanh nghiệp thành công, phong cách ấy thường gây ấn tượng rất mạnh cho người ngoài và là niềm tự hào của các thành viên trong doanh nghiệp Hãng thức ăn nhanh McDonald’s được biết đến trên toàn thế giới với biểu tượng chữ M màu vàng trên nền túi giấy màu đỏ để đựng
đồ ăn Không những vậy, cách bố trí của quán ăn, đồng phục của nhân viên cùng phong cách phục vụ cũng là nét văn hóa nổi bật của McDonald’s mà người tiêu dùng không thể nhầm được với các hãng khác Nhờ những đặc điểm đó, người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận biết thương hiệu McDonald’s và yên tâm với chất lượng
đồ ăn mua tại hãng
1.2 Điều phối, kiểm soát và định hướng hành vi của các thành viên
Văn hóa doanh nghiệp tạo ra khuôn mẫu ứng xử, được thành viên chấp nhận
và tuân thủ, thể hiện sự hòa đồng bên trong doanh nghiệp nói chung, cũng như việc
ra quyết định trong những trường hợp cụ thể Khuôn mẫu ứng xử ấy chính là những chuẩn mực chung, những giá trị giúp biểu dương những hành vi tốt, lên án những hành vi xấu, từ đó mọi người biết nên làm gì và không làm gì Hay nói cách khác, Văn hóa doanh nghiệp được coi là một công cụ điều tiết mềm (luật bất thành văn) thông qua hệ thống giá trị, các chuẩn mực, truyền thống, tập tục…đã được gây dựng
và thừa nhận trong doanh nghiệp Trong hoạt động quản lý, văn hóa cũng được coi
là công cụ kiểm soát cực kỳ hiệu quả vì nó tạo nên niềm tin và sự tự giác ở các thành viên Một hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có hiệu quả thực sự khi hướng con người đến sự tự nguyện và tự giác trong hành động của họ Chính những giá trị văn hóa phù hợp và được tôn trọng sẽ tạo ra niềm tin và phần nào hạn chế một cách có hiệu quả hành vi của các thành viên trong doanh nghiệp
Bên cạnh chức năng kiểm soát hành vi của cá nhân, Văn hóa doanh nghiệp còn có chức năng định hướng hành vi Một khi những giá trị, quan niệm, mục tiêu của tổ chức được các thành viên chấp nhận, họ sẽ hành động và quyết định trên cơ
sở những quan niệm, giá trị của tổ chức đó Tất cả những quyết định đưa ra đều phải
Trang 22phù hợp với những giả thuyết, nguyên tắc, giá trị của doanh nghiệp Đây chính là sự nhất quán trong hành vi mà không cần ban hành các quy định, văn bản hướng dẫn nào Văn hóa doanh nghiệp sẽ giúp ban lãnh đạo của tổ chức giảm nhu cầu trong việc xây dựng các quy tắc định hướng hành vi của người lao động vì tất cả những giá trị của doanh nghiệp đã ảnh hưởng sâu sắc tới nhận thức của nhân viên
1.3 Tạo động lực làm việc và củng cố lòng trung thành của nhân viên
Các điều khoản đãi ngộ, lương bổng và chế độ làm việc có tác dụng thu hút ban đầu đối với nhân viên, nhưng chỉ có vai trò tạo ra sự thỏa mãn ban đầu Thực tế cho thấy, những nhân viên đến với doanh nghiệp và ở lại lâu dài không chỉ vì mức lương cao, mà quan trọng hơn là vì môi trường nội bộ của doanh nghiệp có thể tạo hứng thú làm việc, tạo nên cảm giác thân thuộc, và tạo cơ hội cho họ được khẳng định mình Con người là nguồn tài nguyên bên trong quý giá nhất, là nhân tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có sự nhất trí cao giữa các thành viên về mục đích, niềm tin, giá trị thì lòng trung thành và sự cam kết với nơi
mà họ đang cống hiến sức lao động càng lớn Hay nói một cách khác, chính Văn hóa doanh nghiệp đã làm giảm thiểu xu hướng thay đổi tổ chức của người lao động,
nó tạo động lực để khích lệ nhân viên cố gắng và gắn bó lâu dài với tổ chức
1.4 Giải quyết vấn đề xung đột cá nhân – tập thể
Doanh nghiệp là sự tập hợp của nhiều cá nhân với nguồn gốc, lối sống, cá tính, động cơ và mục tiêu… khác nhau Tính thống nhất, đồng tâm hiệp lực mà Văn hóa doanh nghiệp mang lại chỉ có được khi họ cùng nhau chấp nhận và chia sẻ những giá trị và chuẩn mực chung Các giá trị ấy phải là những giá trị nhân văn cao đẹp mới có thể tập hợp được mọi người và được nhiều người thừa nhận Ở cấp độ
cá nhân, một trong những chức năng của Văn hóa doanh nghiệp là truyền tải những nhận thức chung đó thông qua quá trình đào tạo và tuyển chọn nhân viên mới Khi một doanh nghiệp xây dựng được hệ thống những giá trị chung phù hợp thì tự nó sẽ giúp nhân viên hành động và phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng đúng hướng
và có hiệu quả mà không cần có quá nhiều quy chế, mệnh lệnh cũng như áp lực
Trang 231.5 Khích lệ khả năng sáng tạo và đổi mới trong doanh nghiệp
Sáng tạo và đổi mới là yếu tố tiên quyết để duy trì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường Một vấn đề được đặt ra là làm thế nào để khích lệ
sự sáng tạo của nhân viên, khiến họ luôn luôn có những đóng góp mới mẻ Tại những doanh nghiệp có môi trường văn hóa mạnh mẽ sẽ nảy sinh sự tự lập đích thực ở mức độ cao nhất, nghĩa là các nhân viên được khuyến khích đưa ra sáng kiến, thậm chí cả nhân viên cấp cơ sở
Chẳng hạn như những khóa học ngắn hạn, những lớp đào tạo do công ty tổ chức nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên cũng là tiền đề tốt để xây dựng một đội ngũ nhân viên lành nghề Doanh nghiệp cũng có thể khích lệ tinh thần sáng tạo cho nhân viên bằng cách tạo điều kiện cho họ tiếp cận với máy móc kỹ thuật, phòng thí nghiệm và nguyên vật liệu… Một ví dụ có thể kể đến là niềm tin của công ty Hewlette – Packard đặt vào nhân viên, niềm tin ấy được thể hiện trong chính sách “để ngỏ nguyên vật liệu phòng thí nghiệm” của công ty Nội dung của chính sách là: chẳng những người kỹ sư được tự do sử dụng thiết bị ở phòng thí nghiệm mà còn được khuyến khích đem nó về nhà dùng vào việc riêng của họ Quan niệm của công ty khi xây dựng chính sách này là: dù những gì mà các kỹ sư đang làm với thiết bị có hay không có liên hệ trực tiếp với dự án họ đang tiến hành,
họ vẫn có cơ hội học hỏi thêm – và qua đó củng cố sự cam kết gắn bó của công ty đối với quá trình đổi mới và sáng chế
1.6 Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp đúng hướng sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp bởi nó tạo được sự thống nhất, giảm thiểu sự rủi ro, tăng cường phối hợp và giám sát, thúc đẩy động cơ làm việc của mọi thành viên, tăng hiệu suất và hiệu quả của doanh nghiệp Từ đó nó có thể làm tăng sức cạnh tranh và khả năng thành công của doanh nghiệp trên thị trường Điều đó có thể được chứng minh ngay trong thực tiễn hiện nay, không ít doanh nghiệp cạnh tranh nhau bằng nguồn lực nhân sự, hay nói cách khác, nhân lực liên quan đến vấn đề sống còn của doanh nghiệp trong cuộc chạy đua trên thương trường, vì nó tạo ra “năng lực khác biệt” cho doanh nghiệp
Trang 24Trong khi đó, Văn hóa doanh nghiệp chính là sợi dây gắn kết và thúc đẩy động cơ làm việc của mọi nhân viên trong tổ chức Có thể nói, một doanh nghiệp thành công trong xây dựng Văn hóa doanh nghiệp thì chắc chắn sẽ đủ sức đối đầu và chiến thắng trong những cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất
2 Đối với xã hội
Trong những năm gần đây, giới doanh nhân nói riêng và những người quan tâm tới sự tăng trưởng, phát triển kinh tế nói chung của đất nước đều phải thừa nhận vai trò đặc biệt quan trọng của Văn hóa doanh nghiệp trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế Bản thân Văn hóa luôn ngầm chứa trong nó giá trị nhân văn, do đó, Văn hóa doanh nghiệp luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải gắn bó chặt chẽ hiệu quả trong việc kinh doanh với tính nhân văn trong kinh doanh: không thể đạt hiệu quả bằng bất cứ giá nào mà coi nhẹ những giá trị nhân văn (thể hiện sự tôn trọng con người và môi trường) Văn hóa doanh nghiệp cũng luôn định hướng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mỗi doanh nghiệp theo hướng nâng cao tinh thần cộng đồng, dân tộc, khuyến khích doanh nghiệp tham gia các hoạt động xã hội như xóa đói giảm nghèo, cứu trợ đồng bào bị thiên tai, tham gia các hoạt động từ thiện… Nếu kinh doanh thiếu đi yếu tố văn hóa thì xã hội sẽ phải gánh những hậu quả hết sức nghiêm trọng, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường
III Sự cần thiết phải xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
Cùng với việc phát triển nền kinh tế đất nước trong thời kỳ hội nhập thì việc xây dựng Văn hoá doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó khăn Một khi xây dựng được nền Văn hóa doanh nghiệp thành công thì doanh nghiệp sẽ có những giá trị phát triển bền vững mà dựa vào đó, mọi thành viên trong doanh nghiệp đều sẵn sàng đương đầu với những trở ngại, sẵn sàng gắn
bó và trung thành với doanh nghiệp cho dù ở bất kỳ tình huống nào Hơn nữa, doanh nghiệp có văn hoá còn góp phần khẳng định Văn hoá kinh doanh của quốc gia, nâng cao uy tín, thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã đặt các doanh nghiệp trước nhiều thời
Trang 25nghiệp với nhau (trong nước cũng như ngoài nước) Khi công nghệ đã toàn cầu hóa, mặt bằng giá cả đã được xác lập, thì chính văn hoá sẽ là yếu tố quyết định chiến thắng trên thương trường Tuy nhiên, đà phát triển của doanh nghiệp có thể bị bẻ gãy nếu như những giá trị Văn hóa doanh nghiệp không còn phù hợp Vậy các doanh nghiệp phải làm thế nào để có một nền Văn hóa vừa gìn giữ được giá trị cốt lõi, lại vừa vận động không ngừng để luôn thích ứng với môi trường xung quanh?
Hiện nay vẫn còn không ít cấp lãnh đạo, không ít doanh nghiệp và doanh nhân chưa nhận thức được vai trò, động lực của Văn hoá trong phát triển kinh tế, thậm chí còn coi xây dựng Văn hoá doanh nghiệp là vấn đề viển vông, nằm ngoài quá trình sản xuất, kinh doanh Do vậy, chú ý đến xây dựng và phát huy Văn hoá doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay vừa là sự cần thiết vừa là đòi hỏi, đồng thời cũng là sứ mạng thực hiện của mỗi doanh nghiệp Việt Nam Nhà nước luôn ủng hộ, công chúng nhân dân cũng luôn luôn ủng hộ những doanh nghiệp biết gìn giữ và chăm lo xây dựng Văn hoá doanh nghiệp Diện mạo của những doanh nghiệp có văn hoá sẽ làm gia tăng hình ảnh đẹp cho đất nước trên con đường hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới
IV Nội dung xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
1 Một số quan điểm chủ đạo khi xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp, nó vừa có tính lịch sử, vừa được duy trì, kế thừa và trường tồn qua nhiều thế hệ thành viên Đó là tài sản tinh thần, chất keo kết dính các thành viên lại với nhau Vì vậy doanh nghiệp nào biết chú trọng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp thì doanh nghiệp
ấy chắc chắn sẽ phát triển bền vững Trong quá trình xây dựng và phát triển Văn hóa doanh nghiệp, cần nhận thức rõ ràng về một số quan điểm cơ bản như sau
Quan điểm 1: Lãnh đạo (nhà sáng lập) doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng Văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp chỉ có thể được tạo lập khi người lãnh đạo doanh nghiệp có đủ sức, đủ tài để sáng tạo ra hệ thống giá trị, xác lập ý nghĩa hoạt động của doanh nghiệp Họ phải là người khởi xướng,
Trang 26cổ vũ, bênh vực và lan truyền các giá trị văn hóa trong khắp doanh nghiệp Người lãnh đạo trước hết phải hiểu thấu đáo và sâu sắc các giá trị mà họ khởi xướng, sau
đó phải gương mẫu thực hiện nghiêm túc những tập tục, thói quen và tuân thủ những chuẩn mực chung Bên cạnh đó, sự chia sẻ, đồng thuận và cùng nhau thực hiện của mọi thành viên trong doanh nghiệp cũng là yếu tố không thể thiếu trong xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
Quan điểm 2: Xây dựng Văn hóa doanh nghiệp là một quá trình lâu dài và đòi hỏi sự bền bỉ Văn hóa doanh nghiệp là tài sản tinh thần của doanh nghiệp, không thể xây dựng trong một, hai ngày mà đòi hỏi một quá trình phấn đấu bền bỉ, gian khổ, hình thành nên những quan niệm giá trị, xu hướng tâm lý và sắc thái văn hóa chung của doanh nghiệp Điều đó đòi hỏi phải có sự tổng kết thực tiễn, phát hiện những hành vi tiêu biểu, những giá trị cao đẹp…, khuyến khích mọi người làm theo, duy trì và nuôi dưỡng lâu bền để trở thành truyền thống, tập tục và những thói quen không dễ dàng thay đổi
Quan điểm 3: Văn hóa doanh nghiệp gắn liền với Văn hóa dân tộc và Văn hóa kinh doanh Luận điểm này đã được phân tích ở phần I, mục 2 Không doanh nghiệp nào xây dựng được nền văn hóa thành công nếu nó đứng ngoài tác động của Văn hóa dân tộc Vì thế, khi xây dựng Văn hóa doanh nghiệp cần phải tính đến dấu
ấn tác động của truyền thống, tập quán, giá trị chung… của Văn hóa dân tộc và Văn hóa kinh doanh
Quan điểm 4: Văn hóa doanh nghiệp do toàn bộ thành viên của doanh nghiệp tạo nên Việc xây dựng Văn hóa doanh nghiệp đòi hỏi phải giáo dục văn hóa cho tất
cả các thành viên, nâng cao tri thức, trình độ đạo đức… làm cho họ hiểu và thấm nhuần những chuẩn mực và giá trị cốt lõi của Văn hóa doanh nghiệp Chỉ khi nào các thành viên hiểu rõ được các giá trị, các chuẩn mực, truyền thống, tập tục… trong Văn hóa doanh nghiệp, coi doanh nghiệp chính là gia đình của mình và hết lòng phục vụ, thì khi đó doanh nghiệp mới thành công trong việc xây dựng cho mình một nền văn hóa thực sự
Trang 27Quan điểm 5: Văn hóa doanh nghiệp phải được tiếp cận như một bộ phận cấu thành của hệ thống quản trị doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp phải được xây dựng trong sự gắn bó chặt chẽ với hệ thống quản trị doanh nghiệp Không thể tồn tại một Văn hóa doanh nghiệp thực sự nếu như các yếu tố khác của hệ thống quản trị doanh nghiệp không được xác lập phù hợp như cơ cấu tổ chức, sứ mệnh, mục tiêu của doanh nghiệp…
Quan điểm 6: Mỗi một doanh nghiệp có một Văn hóa doanh nghiệp riêng Văn hóa doanh nghiệp có thể là cái phù hợp và ổn định đối với doanh nghiệp này nhưng cũng có thể trở nên bất hợp lý, không phù hợp với doanh nghiệp khác Như
đã phân tích ở phần khái niệm, Văn hóa doanh nghiệp tồn tại trong suốt quá trình từ khi thành lập đến xây dựng và phát triển của doanh nghiệp, nên nhìn từ một khía cạnh nào đó, bất cứ doanh nghiệp nào cũng có nền văn hóa của riêng mình Bởi thế, khi nghiên cứu hay tham khảo kinh nghiệm xây dựng Văn hóa doanh nghiệp không được tùy tiện áp dụng các triết lý, giá trị, chuẩn mực, hành vi ứng xử… của doanh nghiệp khác vào doanh nghiệp mình
2 Các bước xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
Xây dựng Văn hóa doanh nghiệp là một quá trình tổng thể chứ không chỉ đơn giản là việc lãnh đạo đưa các giá trị vào doanh nghiệp một cách rời rạc Vậy để xây dựng Văn hóa doanh nghiệp một cách tổng thể thì cần phát triển theo những bước cụ thể nào? Có nhiều mô hình thực thi được các nhà nghiên cứu đề xuất, tuy nhiên mô hình được áp dụng nhiều nhất là mô hình 11 bước của hai tác giả Julie Heifetz và Richard Hagberg6
6
Julie Heifetz và Richard Hagberg là hai thành viên quan trọng của Tập đoàn Hagberg Consulting Group, chuyên nghiên cứu đánh giá hiệu quả tổ chức và phát triển kỹ năng lãnh đạo
Trang 28Hình 1.2: Mô hình 11 bước xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
Nguồn: TS Phan Quốc Việt và ThS Nguyễn Huy Hoàng (2005), Xây dựng Văn
hóa doanh nghiệp, Văn hóa doanh nhân, số 3
Trang 29Bước 1: Tìm hiểu môi trường và các yếu tố ảnh hưởng
Trước hết cần tìm hiểu môi trường và các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược của doanh nghiệp trong tương lai, xem xét có yếu tố nào làm thay đổi chiến lược hay không Trong xu thế hội nhập toàn cầu như hiện nay, có rất nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến chiến lược của doanh nghiệp và gián tiếp tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó Việc nghiên cứu và tìm ra những yếu tố có tầm ảnh hưởng quan trọng tới chiến lược của doanh nghiệp là một nhu cầu cần thiết, phải nhanh chóng được tiến hành Có như thế thì từ vị trí thụ động, doanh nghiệp sẽ chủ động đón nhận những luồng ảnh hưởng, từ đó có thể đưa ra hướng giải quyết an toàn và tích cực
Bước 2: Xác định đâu là giá trị cốt lõi làm cơ sở cho thành công
Đây là bước cơ bản nhất để xây dựng Văn hoá doanh nghiệp Các giá trị cốt lõi phải là các giá trị không phai nhòa theo thời gian (tự nó như là chân lý hiển nhiên, có ý nghĩa như động lực chủ yếu nhất) kết tụ ở từng cá thể của một tổ chức trong suốt quá trình vận động và phát triển, nhờ đó có thể liên kết và hội tụ được các mục tiêu cá nhân, giúp khẳng định bản sắc riêng của một doanh nghiệp trong mối quan hệ với môi trường Cần hết sức cẩn thận và trung thực trong khi xác định các giá trị cốt lõi, nếu lập ra quá nhiều giá trị cốt lõi thì có khả năng doanh nghiệp
sẽ lúng túng không biết đâu là điều cơ bản nhất, dễ bị nhầm lẫn giữa giá trị cốt lõi bất biến với những thực hành, chiến lược kinh doanh – là những cái cần thay đổi liên tục cho phù hợp với bên ngoài Sẽ là đúng đắn khi một doanh nghiệp không thay đổi giá trị cốt lõi của mình để phù hợp với thị trường, mà ngược lại thay đổi thị trường (nếu có thể) để luôn giữ vững những giá trị cốt lõi của bản thân nó
Ở bước thứ hai này cần đặc biệt lưu ý: không được nhầm lẫn coi các giá trị cốt lõi của các công ty hàng đầu là nguồn để xác định giá trị cốt lõi cho bản thân doanh nghiệp mình Hay nói một cách khác, các tư tưởng cốt lõi không bao giờ đến
từ việc bắt chước tư tưởng của người khác, mỗi doanh nghiệp phải tự quyết định cho nó những giá trị cốt lõi không phụ thuộc vào môi trường bên ngoài, những yếu
tố cạnh tranh hay những trào lưu và phong cách quản trị hiện đại
Trang 30Bước 3: Xây dựng tầm nhìn mà doanh nghiệp sẽ vươn tới
Tầm nhìn chính là bức tranh lý tưởng về doanh nghiệp trong tương lai, là định hướng để xây dựng Văn hoá doanh nghiệp Có thể doanh nghiệp mà lãnh đạo mong muốn xây dựng hoàn toàn khác biệt so với doanh nghiệp hiện có Có thể hiểu tầm nhìn là mục tiêu dài hạn mà trên cơ sở đó, doanh nghiệp xác lập được vị thế vững chắc của mình trong xã hội Một khi doanh nghiệp xác lập được viễn cảnh cho mình, đồng thời chia sẻ cho mọi thành viên trong doanh nghiệp thì khi đó, mọi nỗ lực và cố gắng của toàn bộ tổ chức sẽ trở thành nội lực tiềm tàng, góp phần xây dựng doanh nghiệp ngày càng tiến gần đến những giá trị mong muốn đã được định hình trong tầm nhìn đó
Bước 4: Đánh giá văn hóa hiện tại và xác định những yếu tố cần thay đổi
Sự thay đổi hay xây dựng Văn hoá doanh nghiệp thường bắt đầu bằng việc đánh giá xem văn hoá hiện tại như thế nào và kết hợp với chiến lược phát triển doanh nghiệp, xem xét những yếu tố văn hóa cần thay đổi Đánh giá văn hoá là một việc cực kỳ khó khăn vì văn hoá thường khó thấy và dễ nhầm lẫn về tiêu chí đánh giá Những ngầm định không nói ra hay không viết ra thì càng khó đánh giá Thường thì con người hoà mình trong văn hoá và không thấy được sự tồn tại khách quan của nó Tuy nhiên Văn hóa doanh nghiệp cũng có những biểu hiện hữu hình, phải dựa trên việc tìm hiểu, xem xét những dấu hiệu đó để có thể xác lập những căn
cứ nhằm phát huy hay loại bỏ những giá trị văn hóa phù hợp hoặc không phù hợp
Bước 5: Thu hẹp khoảng cách giữa những giá trị hiện có và những giá trị mong muốn
Đây là bước tiếp theo khi doanh nghiệp đã xác định được một văn hoá lý tưởng cho mình và cũng đã có sự thấu hiểu về văn hoá đang tồn tại trong doanh nghiệp Lúc này cần tập trung vào việc làm thế nào để thu hẹp khoảng cách giữa những giá trị hiện có và những giá trị mong muốn Các khoảng cách này nên đánh giá theo 4 tiêu chí: phong cách ứng xử, truyền thông, ra quyết định, đối xử
Trang 31- Phong cách ứng xử hàng ngày: Đó là cách các thành viên ứng xử hàng ngày Phong cách có thể niềm nở hay nghiêm túc, vui đùa xuề xòa hay công thức, trang trọng, giữ khoảng cách hay thân mật, ăn nói thoải mái có phần bỗ bã hay hình thức hàn lâm…
- Phương pháp truyền thông: Thông tin ý kiến được truyền đạt như thế nào, qua thư điện tử e-mail, hay trực tiếp, thông tin hai chiều hay chỉ một chiều Các thông tin nội bộ được phổ biến rộng rãi, ai cần cũng có thể được cung cấp hay phân cấp khắt khe…
- Phương pháp ra quyết định: Ra quyết định tập thể cùng bàn bạc tập trung dân chủ hay độc đoán; Có các công cụ hỗ trợ bài bản hay ngẫu hứng; dám làm dám chịu hay né tránh trách nhiệm, đùn đẩy…
- Phong cách làm việc: Làm việc vì đam mê, yêu thích hay vì đồng tiền, bát gạo Làm cho xong chuyện tránh sai lầm hay tìm kiếm sự tuyệt hảo, đam mê sáng tạo, chấp nhận rủi ro; làm việc là sống có ích nhất hay chỉ chăm chăm nhìn đồng hồ chờ giờ nghỉ… Làm việc với tinh thần đồng đội cao, hay là ganh đua, đố kị…
Bước 6: Xác định vai trò của lãnh đạo trong việc dẫn dắt thay đổi Văn hóa Lãnh đạo đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng Văn hoá doanh nghiệp Lãnh đạo là người đề xướng và hướng dẫn các nỗ lực thay đổi Lãnh đạo chịu trách nhiệm xây dựng tầm nhìn, truyền bá cho nhân viên hiểu đúng, tin tưởng
và cùng nỗ lực để xây dựng Văn hóa doanh nghiệp Lãnh đạo cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xua tan những mối lo sợ và thiếu ổn định của nhân viên Ở nhiều doanh nghiệp, thành công có được là nhờ tài năng lãnh đạo, chèo lái của những cán bộ quản lý cấp cao Điều này cũng không loại trừ khả năng doanh nghiệp lụn bại cũng là do ảnh hưởng từ nhà quản lý Do vậy, việc xác định vai trò của những nhà lãnh đạo là vô cùng cần thiết
Bước 7: Khi khoảng cách đã được xác định thì việc tiếp theo là soạn thảo một kế hoạch hành động bao gồm các mục tiêu, hoạt động, thời gian, điểm mốc và trách nhiệm cụ thể
Trang 32Để vạch ra được kế hoạch hành động cần đặt ra những câu hỏi: Cái gì là ưu tiên? Đâu là chỗ cần tập trung nỗ lực? Cần những nguồn lực gì? Ai chịu trách nhiệm về những công việc cụ thể? Thời hạn hoàn thành? Sự phân công hợp lý nguồn lực và xác định rõ những gì cần làm đóng vai trò không kém phần quan trọng Đây là bước cụ thể hóa mọi suy diễn, đánh giá sau khi xem xét tình hình Văn hóa doanh nghiệp hiện tại của doanh nghiệp, đóng vai trò bước đầu tiên trong chu trình hành động
Bước 8: Phổ biến nhu cầu thay đổi, kế hoạch hành động và động viên tinh thần nhân viên, tạo động lực cho sự thay đổi
Sự thay đổi sẽ ảnh hưởng đến đời sống nhân viên Họ cần được biết sự thay đổi đó đem lại điều tốt đẹp cho họ Sự động viên, khuyến khích sẽ dễ dàng hơn khi mọi người được biết vai trò của mình là đóng góp và xây dựng tương lai doanh nghiệp.Với nhiều doanh nghiệp, có những giá trị văn hóa đã trở thành nếp sống, thói quen, tinh thần ăn mòn trong tư tưởng của mọi thành viên dù nó là phù hợp hay chưa thực sự phù hợp Do đó, việc thuyết phục họ từ bỏ dần những văn hóa ấy sẽ gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, một khi được doanh nghiệp khuyến khích và nhân viên thấy được tầm quan trọng của việc cần phải thay đổi những giá trị văn hóa ấy, mọi khó khăn chỉ còn là vấn đề thời gian Bước thứ 8 này có thể được rút ngắn nếu công tác tuyên truyền và chia sẻ trong doanh nghiệp được tiến hành tốt
Bước 9: Nhận biết các trở ngại và nguyên nhân từ chối thay đổi, xây dựng các chiến lược để đối phó
Lôi kéo mọi người ra khỏi vùng thoải mái của mình là một công việc rất khó
Vì vậy người lãnh đạo phải khuyến khích, động viên và chỉ cho nhân viên thấy lợi ích của họ tăng lên trong quá trình thay đổi Có như vậy nhân viên mới có động lực
để cải thiện bản thân, hòa mình vào quá trình đổi mới
Bước 10: Thể chế hóa, mô hình hóa và củng cố sự thay đổi văn hóa
Các hành vi, quyết định của lãnh đạo phải thể hiện là mẫu hình cho nhân viên noi theo và phù hợp với mô hình văn hoá đã xây dựng Trong giai đoạn này các
Trang 33hành vi theo mẫu hình lý tưởng cần được khuyến khích, động viên Hệ thống khen thưởng phải được thiết kế phù hợp với mô hình xây dựng Văn hoá doanh nghiệp Sau bước này, quá trình xây dựng Văn hóa doanh nghiệp gần như được hoàn chỉnh, đây chỉ là công tác củng cố và tiếp tục phát triển những giá trị văn hóa mới được thay đổi
Bước 11: Tiếp tục đánh giá Văn hóa doanh nghiệp và thiết lập các chuẩn
mực mới để không ngừng học tập và thay đổi
Ngoại trừ giá trị cốt lõi là bất biến thì những biểu hiện cụ thể của nó cần phải luôn vận động, biến đổi không ngừng để thích ứng với thị trường Vì vậy, khi ta đã xây dựng được một nền văn hoá phù hợp thì việc quan trọng là phải liên tục đánh giá và duy trì các giá trị tốt, truyền bá những giá trị đó cho nhân viên mới; đồng thời phát hiện và chuyển đổi những giá trị không còn thích hợp Việc đánh giá Văn hóa doanh nghiệp liên tục không chỉ giúp doanh nghiệp củng cố được tinh thần làm việc cho nhân viên, mà nó còn là công cụ hiệu quả để phát hiện ra những khuyết điểm và chỗ hổng trong hệ thống quản trị doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp có bền vững hay không, có trở thành sức mạnh, nội lực hùng hậu tạo đà cho những bước nhảy vọt tương lai của doanh nghiệp hay không, điều đó phụ thuộc không chỉ vào bước cuối cùng này mà doanh nghiệp liên tục phải trải qua quy trình 11 bước xây dựng mới có thể củng cố và phát triển nền Văn hóa doanh nghiệp đặc trưng riêng của mình
Trang 34CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
I Khái quát về Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
1 Sự ra đời và phát triển của Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam
Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam được hình thành như một phần quan trọng của Văn hóa Việt Nam được lưu truyền và bồi đắp từ thế hệ này đến thế hệ khác mà chúng ta cần gìn giữ và phát huy tiếp trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Văn hóa doanh nghiệp nước ta tiếp thu những nhân tố văn hóa trong kinh doanh hình thành qua nhiều năm của các nền kinh tế hàng hóa trên thế giới, đồng thời tiếp thu và phát huy những tinh hoa văn hóa trong kinh doanh của cha ông, vận dụng phù hợp với đặc điểm của xã hội ngày nay, đó là hiện đại hóa truyền thống đi đôi với sự truyền thống hóa hiện đại
Nếu chỉ tính trong khoảng 100 năm qua, thì trong những năm đất nước ta bị
đô hộ, nhiều doanh nhân đã khởi xướng những ý tưởng rất mới trong việc phát triển công thương nghiệp, hình thành những nền móng đầu tiên của Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam, đó là tinh thần dân tộc trong kinh doanh, dũng cảm cạnh tranh với
tư bản Pháp, Hoa lúc đó đang làm chủ trên thị trường Lịch sử đã ghi lại tên tuổi của những doanh nhân thời đó là tư sản dân tộc như Bạch Thái Bưởi, được coi là "vua vận tải Bắc Việt đầu thế kỷ", "bậc anh hùng trong kinh tế giới nước nhà" (lời học giả Nguyễn Văn Tố); như Nguyễn Sơn Hà, chủ hãng sơn Resistanco dùng thương hiệu của mình đánh bại nhiều hãng sơn đương thời; như Trương Văn Bền với nhãn hiệu xà phòng Cô Ba nổi tiếng cả nước… Thời đó, phong trào Duy Tân dấy lên rầm
rộ từ miền Trung đến miền Bắc không chỉ khuyến khích nâng cao dân trí, cách tân đất nước, mà còn kích thích nhiều doanh nhân người Việt lập ra các hiệu buôn, đề cao tinh thần dân tộc trong kinh doanh Có thể khẳng định một điều chắc chắn: trên khắp đất nước ta trong những năm bị đế quốc thống trị, đã có không ít những doanh nhân ý thức được nỗi đau mất nước, luôn luôn đề cao tinh thần dân tộc trong kinh
Trang 35Trong những năm thực hiện thể chế kế hoạch hóa tập trung, do thị trường và các quy luật của thị trường không được công nhận, các doanh nghiệp nước ta tiến hành sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh được ban hành từ trên, sản phẩm làm ra được giao nộp lên cấp trên, không tính đến nhu cầu thị trường, không hạch toán đến giá cả, cộng với tiền lương, tiền thưởng trong doanh nghiệp không gắn với kết quả sản xuất, v.v Thể chế kế hoạch hóa tập trung cũng không bảo đảm trách nhiệm và quyền hạn của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh doanh, hạn chế tính sáng tạo, tinh thần kinh doanh của người quản lý doanh nghiệp Tình trạng
đó đã làm sai lệch bản chất của kinh doanh, cũng có thể gọi đó là "sản xuất mà không kinh doanh" Tuy vậy, cũng trong thời kỳ này, có những cán bộ quản lý doanh nghiệp đã mạnh dạn tìm tòi, thử nghiệm cách làm ăn mới, tạo ra một số mô hình kinh doanh có hiệu quả
Công cuộc đổi mới được khẳng định từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), thể chế kinh tế thị trường được công nhận đã mở ra cho các doanh nghiệp, doanh nhân nước ta những điều kiện mới có ý nghĩa quyết định để từng bước hình thành Văn hóa doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội ở nước
ta, đó là Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam Công cuộc đổi mới đã đem lại sự giải phóng các lực lượng sản xuất, quyền tự do kinh doanh của mọi công dân trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm
Theo số liệu điều tra năm 2009 của Tổng cục Thống kê, tính cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, nước ta có tổng số 155.771 doanh nghiệp trong khi dân số là hơn 86 triệu người Theo kết quả điều tra, 66% doanh nhân Việt Nam xuất thân từ gia đình cán bộ nhà nước, 16% xuất thân từ các gia đình buôn bán kinh doanh, còn lại là các giai tầng khác trong xã hội Doanh nhân Việt Nam muốn lập nghiệp bằng con đường kinh doanh bởi họ muốn có cơ hội được phát huy tối đa năng lực cá nhân; họ có điều kiện thuận lợi để kinh doanh, kiếm sống, tăng thu nhập; họ thích thử thách và sáng tạo; hoặc theo truyền thống gia đình, họ muốn theo đuổi giá trị đạo đức và phong cách riêng Đây cũng chính là đặc điểm cơ bản của đội ngũ doanh nhân ngày nay Đảng và Nhà nước đã xác định kinh tế thị trường là một giai đoạn
Trang 36phát triển tất yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của đất nước Đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp,
các đối tượng tham gia thị trường, tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế phát triển Trong
môi trường cạnh tranh toàn cầu hiện nay, doanh nghiệp và doanh nhân chính là những chiến sĩ trên mặt trận kinh tế Họ là lực lượng nòng cốt tạo nên sức sống và tăng trưởng cho nền kinh tế, góp phần đánh bại nghèo nàn và lạc hậu, giúp Việt Nam dần khẳng định vị trí của mình trên thương trường quốc tế
2 Các yếu tố ảnh hưởng tới Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
Như đã phân tích ở Chương I, Văn hóa doanh nghiệp là một bộ phận của Văn hóa kinh doanh, đồng thời cũng nằm trong Văn hóa dân tộc Do đó Văn hóa doanh nghiệp chịu sự tác động sâu sắc của cả Văn hóa dân tộc và môi trường kinh doanh, bao gồm các thể chế văn hóa, các thể chế kinh tế, chính trị Vì vậy khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam, khóa luận sẽ tập trung phân tích tác động của Văn hóa dân tộc và môi trường kinh doanh tới Văn hóa doanh nghiệp
2.1 Ảnh hưởng của Văn hóa dân tộc với sự hình thành và phát triển của Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu, Văn hóa Việt Nam hình thành từ thiên niên kỷ IV đến thiên niên kỷ III trước Công nguyên, dưới thời nước Văn Lang của các Vua
Hùng và mang đặc trưng của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước Văn hóa nông
nghiệp lúa nước tạo nên những nét đặc trưng trong tính cách của con người Việt Nam như lối sống trọng tình hơn trọng lý, tinh thần cộng đồng, tính cởi mở, dễ hòa hợp, thích ứng và hài hòa trong ứng xử với môi trường tự nhiên…; cũng như để lại những dấu ấn sâu đậm trong tri thức sản xuất và quản lý cộng đồng ở nước ta như
phong cách quản lý kiểu gia đình trị, tổ chức nông thôn trội hơn tổ chức đô thị…
Bên cạnh những dấu ấn đặc trưng của văn hóa nông nghiệp, trong quá trình hình thành và phát triển, Văn hóa Việt Nam tiếp nhận những giá trị tiến bộ từ những nền văn hóa khác như văn hóa Trung Hoa, Pháp, Nga, Mỹ, Nhật… Tuy nhiên trong
Trang 37quá trình giao lưu, bên cạnh việc tiếp thu những giá trị tiến bộ trong văn hóa nước ngoài, Văn hóa Việt Nam vẫn giữ gìn và phát huy được bản sắc riêng của mình Một nền văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc như vậy chắc chắn sẽ có ảnh hưởng sâu sắc tới Văn hóa doanh nghiệp, một bộ phận nằm trong nền văn hóa đó
a Ảnh hưởng của lối sống trọng tình
Do lối sống trọng tình nên quan hệ đồng nghiệp ở Việt Nam gần gũi hơn ở các nước phương Tây Người lao động Việt Nam đối xử với nhau có tình có nghĩa
và gắn bó thủy chung với doanh nghiệp Các mâu thuẫn trong doanh nghiệp thường được giải quyết êm thấm, thiên về dĩ hòa vi quý, nhưng không triệt để, nhiều khi giải quyết theo lối “hòa cả làng”, đúng sai không rõ ràng
Mặt trái của vấn đề này là thói quen giải quyết công việc dựa vào các mối
quan hệ cá nhân, không tách bạch giữa cuộc sống riêng tư với công việc Điều này
được phản ánh ở cơ chế tuyển dụng, đề bạt, xét duyệt thầu…, tệ “đi cửa sau” trong giải quyết công việc còn phổ biến trong hoạt động của nhiều doanh nghiệp Việt
Nam Theo hai nhà kinh tế Nancy K Napier và Nguyễn Văn Thắng: “Chuyên môn
và quan hệ là hai vũ khí cạnh tranh cơ bản của doanh nghiệp Trong khi các tổ chức chuyên nghiệp ở các nước coi chuyên môn là yếu tố quan trọng hàng đầu thì các công ty Việt Nam thường hoạt động mạnh dựa trên các mối quan hệ, chuyên
b Ảnh hưởng của ý thức về thể diện
Ảnh hưởng tích cực của ý thức về thể diện được thể hiện ở lòng tự trọng của người lao động Việt Nam Nhiều người cống hiến hết mình cho công việc vì không muốn bị coi thường trong tập thể, và họ sẽ rời bỏ một vị trí làm việc mà ở đó họ không được tôn trọng Cũng vì sợ mất thể diện trước đám đông, nên người Việt Nam khá linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường Mặt trái của lối sống linh hoạt là làm nảy sinh thói quen tùy tiện của người Việt Nam Tình trạng co giãn giờ giấc (nhân viên đi muộn, về sớm; khai mạc cuộc họp muộn hơn dự tính,
7
Báo Kinh tế và phát triển – Số ra ngày 12/11/2005
Trang 38giao hàng chậm hơn so với hợp đồng…), thay đổi lịch làm việc, thay đổi các điều khoản đã được ký kết trong hợp đồng… xảy ra ở nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là ở các doanh nghiệp Nhà nước Nghiêm trọng hơn là thói tùy tiện gây ra ý thức coi thường luật pháp của các doanh nghiệp Việt Nam Hiện tượng tham nhũng, lách thuế, trốn thuế, vi phạm các quy định về vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm…còn phổ biến Thực trạng này cản trở nhiều đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế nước ta
c Ảnh hưởng của tâm lý muốn làm quan
Tâm lý coi trọng khoa bảng từ thời phong kiến có ảnh hưởng nặng nề tới cơ chế sử dụng lao động ở Việt Nam hiện nay Nhiều doanh nghiệp chỉ dựa vào bằng cấp và bảng điểm để tuyển dụng lao động Có những công việc chỉ cần kỹ năng lành nghề với trình độ học vấn trung học cơ sở, nhưng người tuyển dụng vẫn yêu cầu ứng cử viên phải có bằng đại học Thực trạng này khiến tâm lý học lấy điểm, lấy bằng để có được việc làm ổn định lương cao phổ biến trong giới học sinh sinh viên Chính vì thế, ở nước ta, khát vọng làm giàu và lòng tự hào được trở thành nhà kinh doanh còn chưa phổ biến Hiện tượng thiếu nhân công lành nghề mà lại thừa cử nhân “lý thuyết suông” ở nước ta đã lên đến mức báo động trong những năm gần đây Các doanh nghiệp phàn nàn rằng họ phải tự đào tạo hoặc đào tạo lại nguồn nhân lực do các trường đại học hoặc trường dạy nghề cung cấp Có thể nói một trong những nguyên nhân khiến chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam còn thấp chính là do tâm lý coi trọng bằng cấp của xã hội
d Ảnh hưởng của lối sống trọng tĩnh
Lối sống trọng tĩnh ảnh hưởng lên cách thức làm việc và kinh doanh của cá nhân cũng như các doanh nghiệp Người lao động Việt Nam thích những công việc
có tính ổn định cao, họ không thích thay đổi chỗ làm việc, đa phần muốn làm việc tại các doanh nghiệp Nhà nước vì công việc ổn định, dù đồng lương khá khiêm tốn
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam thích làm việc theo lối cũ, thường có xu hướng chọn những bạn hàng đã quen biết mặc dù giá cả không hấp dẫn bằng bạn
Trang 39hàng mới, nhưng ít gặp rủi ro Trong điều tra của tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số ra tháng 11/2005), mặc dù 50,25% nhà doanh nghiệp được hỏi có khát vọng làm giàu nhưng chỉ có 21,81% có ý chí làm giàu, tức là chưa tới một nửa số người muốn giàu
có dám thực hiện ước mơ của mình Lối sống trọng tĩnh, e ngại rủi ro trong kinh doanh đã hạn chế phần nào khả năng phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam
e Ảnh hưởng của tính cộng đồng
Do có tính cộng đồng cao nên người lao động Việt Nam hay quan tâm đến nhau và sẵn sàng quyên góp sức người sức của giúp đỡ nhau khi hoạn nạn hay khi doanh nghiệp gặp khó khăn Họ thường tham gia vào các hoạt động xã hội như: đền
ơn đáp nghĩa, chăm sóc mẹ liệt sĩ, ủng hộ đồng bào lũ lụt, viện trợ nhân đạo, ủng hộ học sinh nghèo vượt khó…
Việc lấy cộng đồng làm chuẩn mực khiến quản lý tổ chức ở Việt Nam thường được hiểu là quản lý một nhóm người chứ không phải là quản lý các cá nhân với đặc điểm riêng của họ Quan niệm lãnh đạo tập thể khiến việc ra quyết định ở doanh nghiệp Việt Nam đòi hỏi nhiều thời gian và chịu ảnh hưởng nhiều của tập thể Chính sự cồng kềnh của cơ chế lãnh đạo tập thể là nhân tố ảnh hưởng đến tính phản ứng kịp thời của doanh nghiệp Việt Nam trước các biến động của thị trường
f Ảnh hưởng của tư tưởng gia tộc
Có thể nói, gia đình có vị trí rất lớn trong suy nghĩ của mỗi người Việt Nam Tục ngữ Việt Nam có câu “An cư lạc nghiệp” để nhắc nhở rằng có gia đình ổn định mới có thể thành công được Tâm lý này ảnh hưởng nhiều tới quyết định lựa chọn nghề nghiệp và cống hiến hết mình cho công việc của người Việt Người lao động
nữ thường chọn những công việc có nhiều thời gian rảnh rỗi để chăm lo cho gia đình Kết quả điều tra của Trung tâm Pháp Việt năm 2007 cho thấy 61,01% số người được hỏi khẳng định là họ sẽ chọn công việc có nhiều thời gian rảnh rỗi dù
họ phải từ bỏ một công việc lương cao nhưng không có thời gian dành cho gia đình
Trang 40g Ảnh hưởng của tính địa phương cục bộ
Vì tinh thần tập thể của người Việt Nam ít nhiều mang tính địa phương cục
bộ nên sự hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt Nam trong cùng ngành nghề chưa cao Doanh nghiệp đi trước không truyền đạt kinh nghiệm cho doanh nghiệp đi sau
Có trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam cùng xuất khẩu gạo sang một thị trường,
đã cạnh tranh gay gắt với nhau bằng cách hạ giá xuống thật thấp để tranh giành khách Hiện tượng này không những gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế đất nước nói chung, mà cho cả chính bản thân doanh nghiệp nói riêng
h Ảnh hưởng của sự thủ tiêu vai trò cá nhân
Sự thủ tiêu vai trò cá nhân trong cộng đồng khiến người lao động Việt Nam không dám đi ngược lại ý kiến tập thể, họ phải ứng xử và hành động theo các chuẩn mực và quy tắc của tập thể đó, thiếu đi tính chủ động trong công việc, luôn chờ đợi
ý kiến chỉ đạo cấp trên, thậm chí sinh ra thói dựa dẫm ỷ lại vào tập thể Tình trạng
“cha chung không ai khóc”; coi tài sản của công ty là “của chùa”… gây nên sự lãng phí nguồn lực, làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta
Ngoài ra, sự thủ tiêu vai trò cá nhân trong tập thể khiến người lao động Việt Nam có xu hướng che giấu đi những cá tính riêng độc đáo của mình, họ thường rụt
rè, không dám nói lên suy nghĩ, chính kiến của mình tại các cuộc họp chính thức, nhưng sau đó thì có thể lại bàn tán bình luận… Điều này khiến các cuộc họp trong nhiều doanh nghiệp thường kém hiệu quả, mất rất nhiều thời gian mà vẫn không đưa ra được giải pháp cụ thể nào
i Ảnh hưởng của tính dung hợp, ôn hòa
Tính chất này của Văn hóa dân tộc giúp người Việt khá linh hoạt khi tiếp thu các giá trị văn hóa từ nước ngoài và tránh những “cú sốc văn hóa”, nhất là trong các doanh nghiệp vốn nước ngoài Ví dụ như: giới chủ Nhật Bản và nhân viên Việt Nam có thể cùng nhau chia sẻ những giá trị của đạo Khổng (trọng lễ nghi, trọng học vấn, tránh xung đột công khai trong các mối quan hệ…) Nhân viên Việt Nam cũng
có thể có tính năng động, thích nghi cao và quyết đoán giống người phương Tây…