Sự tham gia của các định chế tài chính, chủ yếu của các ngân hàng thương mại, các quỹ đầu tư và các công ty chứng khoán đã góp phần quan trọng làm tăng chất lượng, hiệu quả và tính sôi đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Mai Anh
Giáo viên hướng dẫn : ThS Phan Trần Trung Dũng
Hà Nội, tháng 5 năm 2010
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÕ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3
I Tổng quan về thị trường tài chính 3
1 Thị trường tài chính 3
1.1 Khái niệm và chức năng 3
1.2 Cấu trúc 4
1.2.1 Theo cơ cấu của thị trường 4
1.2.2 Theo thời hạn luân chuyển vốn 4
1.2.3 Theo cách thức tổ chức 4
2 Giới thiệu về thị trường chứng khoán 5
2.1 Khái niệm 5
2.2 Vai trò 5
2.3 Nguyên tắc hoạt động 6
2.4 Cấu trúc 6
2.4.1 Theo phương thức giao dịch 6
2.4.2 Theo phương thức tổ chức và giao dịch 6
2.4.3 Theo công cụ lưu thông 6
II Tổng quan về các định chế tài chính 7
1 Định chế tài chính 7
1.1 Khái niệm 7
1.2 Phân loại 7
1.2.1 Căn cứ vào mục đích hoạt động 7
1.2.2 Căn cứ vào mức độ thực hiện chức năng trung gian 8
1.3 Vai trò 8
Trang 31.3.1 Chuyển đổi thời gian đáo hạn của các công cụ tài chính 8
1.3.2 Chuyển dịch và đa dạng hóa rủi ro 8
1.3.3 Giảm chi phí giao dịch 9
1.3.4 Tạo lập các cơ chế cho việc thanh toán 9
2 Nhóm định chế nhận gửi 9
2.1 Giới thiệu chung 9
2.2 Ngân hàng thương mại 9
2.2.1 Khái niệm 9
2.2.2 Chức năng 10
2.2.3 Các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán 11
3 Nhóm định chế đầu tư 15
3.1 Giới thiệu chung 15
3.2 Quỹ đầu tư chứng khoán 15
3.2.1 Khái niệm 15
3.2.2 Hoạt động 15
4 Nhóm định chế dựa trên hợp đồng 17
4.1 Giới thiệu chung 17
4.2 Công ty bảo hiểm 17
4.2.1 Khái niệm 17
4.2.2 Hoạt động trên thị trường chứng khoán 18
5 Nhóm định chế trên thị trường chứng khoán 19
5.1 Công ty chứng khoán 19
5.1.1 Khái niệm 19
5.1.2 Hoạt động 20
5.2 Ngân hàng đầu tư 23
5.2.1 Khái niệm 23
5.2.2 Các nghiệp vụ chính 23
III Vai trò của các định chế tài chính đối với thị trường chứng khoán 26
1 Ngân hàng thương mại 26
Trang 41.1 Tạo hàng hóa cho thị trường chứng khoán 26
1.2 Trung gian chứng khoán 26
1.3 Điều chỉnh cung cầu chứng khoán 27
1.4 Cung cấp thông tin trên thị trường chứng khoán 27
1.5 Định chế quản lý thị trường chứng khoán 28
2 Quỹ đầu tư chứng khoán 28
2.1 Tăng lượng cung chứng khoán và tạo sự đa dạng về hàng hóa góp phần phát triển thị trường sơ cấp 28
2.2 Góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp 28
3 Công ty bảo hiểm 29
3.1 Khơi dòng một nguồn vốn lưu chuyển lớn, bổ sung vốn cho thị trường chứng khoán 29
3.2 Mở rộng các đối tượng tham gia thị trường 29
3.3 Góp phần xã hội hóa hoạt động đầu tư chứng khoán 30
4 Công ty chứng khoán và ngân hàng đầu tư 30
4.1 Tạo ra cơ chế huy động vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế 30
4.2 Góp phần ổn định giá cả chứng khoán trên thị trường 30
4.3 Góp phần tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới trên thị trường 30
4.4 Giúp cơ quan quản lý thị trường quản lý, giám sát các hoạt động trên thị trường một cách có hiệu quả 31
4.5 Góp phần giảm chi phí giao dịch, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả cho các nhà đầu tư 31
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 32
I Thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay 32
1 Hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam sau 10 năm 32
1.1 Giai đoạn năm 2000 – 2005: Giai đoạn sơ khai của TTCK Việt Nam 32
Trang 51.2 Giai đoạn năm 2006 : Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam 33
1.3 Giai đoạn năm 2007: TTCK Việt Nam bùng nổ 34
1.4 Giai đoạn năm 2008: Chung xu thế của nền kinh tế, TTCK Việt Nam khép lại với sự sụt giảm mạnh 34
2 Tổng quan hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 35 2.1 Tình hình chung 35
2.1.1 Thị trường cổ phiếu 35
2.1.2 Thị trường trái phiếu 36
2.1.3 Thị trường UPCoM 38
2.2 Quy mô các thị trường 39
II Ngân hàng thương mại 40
1 Thực trạng hoạt động 40
1.1 Hoạt động trực tiếp 40
1.1.1 Trên thị trường sơ cấp 40
1.1.2 Trên thị trường thứ cấp 43
1.2 Hoạt động gián tiếp 46
1.2.1 Tham gia thành lập công ty chứng khoán 46
1.2.2 Kinh doanh chứng khoán và các nghiệp vụ trung gian 47
2 Đánh giá 47
III Quỹ đầu tư chứng khoán 48
1 Thực trạng hoạt động 48
1.1 Lựa chọn chiến lược đầu tư 50
1.2 Phát hành chứng chỉ quỹ 51
1.3 Đầu tư vào các chứng khoán 51
1.4 Niêm yết giá trị tài sản ròng của quỹ 52
1.5 Mua bán, trao đổi chứng chỉ quỹ 53
2 Đánh giá 55
IV Công ty bảo hiểm 56
1 Thực trạng hoạt động 56
Trang 61.1 Hoạt động đầu tư chứng khoán 56
1.2 Hoạt động phát hành 58
1.3 Niêm yết cổ phiếu trên thị trường 59
1.4 Tham gia thành lập công ty chứng khoán 60
2 Đánh giá 60
V Công ty chứng khoán và ngân hàng đầu tư 61
1 Thực trạng hoạt động 61
1.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán 64
1.2 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành 65
1.3 Nghiệp vụ tự doanh 66
1.4 Nghiệp vụ tư vấn 67
1.5 Các nghiệp vụ khác 68
2 Đánh giá 69
CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 71
I Định hướng của Nhà nước 71
1 Giai đoạn đến năm 2010 71
1.1 Phát triển các định chế tài chính trung gian cho thị trường chứng khoán Việt Nam 71
1.2 Phát triển các nhà đầu tư có tổ chức 71
2 Giai đoạn năm 2010 – 2020 72
II Một số đề xuất nâng cao vai trò của các định chế tài chính ở Việt Nam 72
1 Đối với Nhà nước 72
1.1 Tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định 72
1.2 Tạo lập thị trường tiền tệ vững mạnh 73
1.3 Hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán Việt Nam và công tác pháp chế của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước 74
1.4 Đổi mới quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán 76
Trang 71.5 Lập quỹ bình ổn thị trường chứng khoán 77
2 Đối với các định chế tài chính 78
2.1 Kết hợp các định chế tài chính tổ chức thành mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng 78
2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hoạt động của các định chế tài chính trên thị trường chứng khoán 81
2.3 Hoàn thành cổ phần hoá các ngân hàng thương mại Nhà nước nhằm nâng cao tiềm lực về vốn 82
2.4 Mở rộng hình thức quỹ đầu tư chứng khoán 84
2.5 Chuyên môn hóa hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm 85
2.6 Tổ chức lại hoạt động của các công ty chứng khoán 87
3 Đối với các chủ thể khác trên thị trường chứng khoán 88
3.1 Các tổ chức phát hành 88
3.2 Các cơ quan kế toán, kiểm toán 89
3.3 Các nhà đầu tư cá nhân 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Phụ lục Danh sách nghiệp vụ của các Công ty chứng khoán 93
Trang 8TTGDCK : Trung tâm giao dịch chứng khoán
HOSE : Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM HASTC : Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội HNX : Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
QĐTCK : Quỹ đầu tư chứng khoán
CTQLQ : Công ty quản lý quỹ
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 1 Quy mô TTCK Việt Nam trong 5 năm đầu
Bảng 2 Quy mô TTCK Việt Nam năm 2006
Bảng 3 Quy mô niêm yết Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
(Tính đến tháng 3/2010)
Bảng 4 Quy mô niêm yết Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
(Tính đến tháng 3/2010)
Bảng 5 Kết quả một số đợt bảo lãnh phát hành TPCP năm 2009
Bảng 6 Danh mục chứng khoán nợ năm 2009 của NHTMCP Sài Gòn
– Hà Nội
Bảng 7 Giới thiệu các Quỹ đầu tƣ đã niêm yết trên TTCK Việt Nam
(Tính đến tháng 3/2010)
Bảng 8 Kết quả hoạt động năm 2009 của các Quỹ
Bảng 9 Danh mục đầu tƣ của các Quỹ năm 2009
Bảng 10 Giá trị tài sản ròng (NAV) của các Quỹ năm 2009
Bảng 11 Kết quả kinh doanh năm 2009 của một số CTCK lớn
Bảng 12 Kết quả kinh doanh năm 2009 của các CTCK mới niêm yết
Bảng 13 Các CTCK dẫn đầu về hoạt động tự doanh CK năm 2009
Hình 1 Biểu đồ giá các chứng chỉ quỹ năm 2009
Hình 2 Thị phần môi giới cổ phiếu năm 2009
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán là một bộ phận không thể thiếu được trong hệ thống tài chính, đồng thời, là một kênh huy động vốn rất hiệu quả đối với một quốc gia theo nền kinh tế thị trường Đây là nơi mà các chủ thể tổ chức và cá nhân tham gia tích cực vào các hoạt động mua bán trao đổi các công cụ tài chính dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy thị trường chứng khoán vận hành thông suốt và trợ giúp đắc lực cho nền kinh tế nhờ sự có mặt của các trung gian hay các định chế tài chính Mặt khác, các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán trên thị trường cũng mang lại lợi nhuận đáng kể cho các tổ chức này
Sự tham gia của các định chế tài chính, chủ yếu của các ngân hàng thương mại, các quỹ đầu tư và các công ty chứng khoán đã góp phần quan trọng làm tăng chất lượng, hiệu quả và tính sôi động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong gần 10 năm hoạt động qua Vì vậy, nhận thức được đúng vai trò và thúc đẩy hoạt động của các định chế tài chính trong tiến trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam là thực sự cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng cũng như sự cấp thiết của việc ổn định hoạt động của các định chế tài chính nhằm xây dựng một thị trường chứng khoán bền vững và có sức ảnh hưởng trong nền kinh tế khu vực, mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là trên cơ sở lý luận về vai trò của các tổ chức này để phân tích thực trạng hoạt động của các định chế tài chính tại thị trường chứng khoán Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của
hệ thống các định chế tài chính đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của các định chế tài chính đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 11Những vấn đề xung quanh hoạt động và ảnh hưởng của các định chế tài chính đối với thị trường chứng khoán Việt Nam rất phức tạp và rộng lớn Trong khuôn khổ đề tài, phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở các định chế nội địa tại Việt Nam (bao gồm các định chế 100% vốn nội địa và các định chế có vốn đầu
tư nước ngoài) và đi sâu vào một số định chế tham gia trực tiếp và chủ yếu vào thị trường
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài khóa luận tốt nghiệp dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, kết hợp logic và lịch sử…
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài các phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo,
Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục các bảng biểu, nội dung cơ bản của
khóa luận tốt nghiệp gồm 03 chương như sau:
Chương I: Các định chế tài chính và vai trò đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán
Chương II: Thực trạng hoạt động và ảnh hưởng của các định chế tài chính đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương III: Một số đề xuất nâng cao vai trò của các định chế tài chính đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Phan Trần Trung Dũng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do đây là một đề tài tương đối rộng, kiến thức của em còn hạn chế và thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài khó tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến từ phía các thày cô giáo cùng bạn đọc để giúp em hoàn thiện đề tài này tốt hơn nữa Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 12CHƯƠNG I: CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I Tổng quan về thị trường tài chính
1 Thị trường tài chính
1.1 Khái niệm và chức năng
Thị trường tài chính là một khái niệm rất rộng, do vậy có không ít cách định nghĩa, ví dụ:
Định nghĩa 1: “Thị trường tài chính là nơi mà thông qua đó tất cả các
hãng kinh doanh, các hộ gia đình, và chính phủ trong nước hay ngoài nước có nguồn tài chính dư thừa, tiết kiệm có thể tìm kiếm, giao dịch, và ký kết hợp đồng vay mượn hay mua bán những chứng chỉ sở hữu tài sản với các hãng kinh doanh, các hộ gia đình, và chính phủ trong nước hay ngoài nước khác, những người có nhu cầu sử dụng các nguồn tài chính để thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu
hóa của thị trường và cách thức hoạt động của thị trường
Định nghĩa 2: “Thị trường tài chính là nơi giao dịch, là thị trường giao
dịch, mua bán, trao đổi các sản phẩm tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế”2 Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động diễn ra trên thị trường và thời hạn luân chuyển hàng hóa của thị trường
Như vậy, có thể khái quát lại: “Thị trường tài chính là nơi diễn ra sự dịch
chuyển vốn từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn, cụ thể là các hoạt động giao dịch, mua bán, trao đổi quyền sử dụng các nguồn lực tài chính thông qua việc mua bán các công cụ tài chính” Định nghĩa này cho thấy mục
tiêu của thị trường tài chính là thu hút các thành viên của thị trường (người thừa vốn và người thiếu vốn) tham gia vào các hoạt động của thị trường (giao dịch, mua bán và trao đổi các công cụ tài chính) để nâng cao hiệu quả sử dụng các
Trang 13nguồn lực tài chính trong một nền kinh tế Cụ thể, chủ thể thừa vốn sẽ tìm kiếm lợi nhuận thông qua hoạt động đầu tư và chủ thể thiếu vốn sẽ bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay các nhu cầu khác
Thị trường tài chính (TTTC) là loại thị trường bậc cao chỉ tồn tại và hoạt động trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tài chính của một quốc gia Bên cạnh là kênh dẫn vốn đắc lực, thị trường tài chính còn kích thích hoạt động tiết kiệm, đầu tư và làm gia tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính Với những chức năng trên, thị trường tài chính tạo lập được nhiều nguồn vốn cho nền kinh tế, giúp khai thác triệt để và hiệu quả các nguồn lực tài chính để từ đó thúc đẩy quá trình tự do hóa tài chính
và hội nhập kinh tế thế giới
1.2 Cấu trúc
Căn cứ vào bản chất, phương thức hoạt động và đối tượng là các công cụ tài chính, có nhiều cách phân chia thị trường tài chính
1.2.1 Theo cơ cấu của thị trường
- Thị trường sơ cấp: nơi phát hành lần đầu các giấy tờ có giá để huy động
và tập trung vốn
- Thị trường thứ cấp: nơi mua bán, trao đổi các giấy tờ có giá đã phát
hành trên thị trường sơ cấp
1.2.2 Theo thời hạn luân chuyển vốn
- Thị trường tiền tệ: nơi giao dịch, mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn Thời
gian đáo hạn của các chứng khoán trên thị trường tiền tệ thường dưới một năm
- Thị trường hối đoái: nơi giao dịch, mua bán, trao đổi ngoại tệ và các
phương tiện thanh toán quốc tế, là thị trường phi tập trung
- Thị trường chứng khoán: nơi giao dịch, mua bán các giấy tờ có giá trung
và dài hạn
1.2.3 Theo cách thức tổ chức
- Thị trường có tổ chức: là thị trường giao dịch tập trung ở sở giao dịch,
hàng hóa là các chứng khoán đã được niêm yết
Trang 14- Thị trường không có tổ chức: là thị trường giao dịch không tập trung, giao
dịch ở ngoài sở giao dịch, hàng hóa là các chứng khoán chưa được niêm yết
2 Giới thiệu về thị trường chứng khoán
2.1 Khái niệm
Là một bộ phận quan trọng của thị truờng tài chính, “Thị trường chứng
khoán là một cơ chế thông qua đó người mua và người bán có thể tiến hành tìm
kiếm, giao dịch, trao đổi và mua bán chứng khoán” Thị trường chứng khoán
(TTCK) chính là nơi tập hợp các tổ chức giúp cho sự mua bán tài sản đầu tư được thuận lợi, tạo tính thanh khoản cao cho người đầu tư, nơi mọi hoạt động đều diễn ra công bằng và mục tiêu cuối cùng là giúp người cần vốn tìm được
nguồn vốn từ nhiều người riêng lẻ trong toàn xã hội
Thị trường chứng khoán được coi là thị trường huy động vốn dài hạn trực tiếp, không qua trung gian, khác với hoạt động ngân hàng là hoạt động cung cấp vốn ngắn hạn gián tiếp, thông qua tổ chức trung gian là ngân hàng Đối với các công ty có triển vọng, cần có sản phẩm mới, công nghệ cao và có sức cạnh tranh
thì thị trường chứng khoán là nơi đáp ứng vốn dài hạn hiệu quả nhất
2.2 Vai trò
Thị trường chứng khoán là nơi cung cấp vốn dài hạn cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, được tổ chức bao gồm nhiều hình thức hoạt động và được kiểm soát chặt chẽ bởi pháp luật Mỗi nước đều có hệ thống pháp luật và hệ thống luật lệ của các tổ chức thành viên để điều hành hoạt động của thị trường thực hiện tốt chức năng nối liền nguồn cung và nguồn cầu vốn về đầu tư, thể hiện vai trò quan trọng trong:
- Hỗ trợ hoạt động huy động và sử dụng vốn đầu tư một cách hiệu quả thông qua việc kết nối người cung cấp với người sử dụng vốn
- Cung cấp cơ sở hạ tầng cho hoạt động tìm kiếm, giao dịch, trao đổi chứng khoán cho các nhà đầu tư
- Tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán (CK)
Trang 15- Là phong vũ biểu của nền kinh tế và cơ sở cho các chính sách kinh tế vĩ
mô của Nhà nước
2.3 Nguyên tắc hoạt động
Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính phát triển cao trong nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế riêng biệt được tiêu chuẩn hóa và mang tính quốc tế, theo bốn nguyên tắc hoạt động:
- Trung gian mua bán
- Công khai
- Đấu giá
- Pháp chế mọi giao dịch
2.4 Cấu trúc
Tùy theo tiêu chí, thị trường chứng khoán được phân chia như sau:
2.4.1 Theo phương thức giao dịch
- Thị trường sơ cấp/ Thị trường cấp một/ Thị trường phát hành (Primary market): là nơi mà các loại CK được cơ quan phát hành bán cho các nhà đầu tư,
hay các CK lần đầu tiên được bán ra thị trường
- Thị trường thứ cấp/ Thị trường cấp hai/ Thị trường luân chuyển chứng khoán (Secondary market): là thị trường mua đi bán lại các loại CK đã được
phát hành ở thị trường sơ cấp Khi đó CK trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, được bán cho nhà đầu tư thứ hai mà không làm tăng quy mô đầu tư vốn
2.4.2 Theo phương thức tổ chức và giao dịch
- Sở giao dịch chứng khoán/ TTCK tập trung/ TTCK chính thức: nơi mua
bán các CK được niêm yết trong danh sách của thị trường
- Thị trường OTC/ TTCK phi tập trung/ TTCK không chính thức/ Thị trường qua quầy: là thị trường không có địa điểm giao dịch cụ thể, giao dịch qua
hệ thống điện thoại và vi tính nối mạng các CK mới phát hành lần đầu
2.4.3 Theo công cụ lưu thông
- Thị trường cổ phiếu: là thị truờng phát hành và mua đi bán lại các cổ
phiếu đã được phát hành
Trang 16- Thị trường trái phiếu: là thị truờng phát hành và mua đi bán lại các trái
phiếu đã được phát hành, bao gồm thị trường trái phiếu chính phủ và thị trường trái phiếu công ty
- Thị trường chứng khoán phái sinh: là thị truờng phát hành và mua đi
bán lại các loại CK phái sinh đã được phát hành
II Tổng quan về các định chế tài chính
1 Định chế tài chính
1.1 Khái niệm
Các định chế tài chính trung gian (hay các trung gian tài chính) là những
tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ Hoạt động chủ yếu và thường
xuyên của các định chế tài chính là huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội dưới các hình thức tiền gửi, phí bảo hiểm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và các loại chứng từ có giá khác, sau đó sử dụng các nguồn vốn huy động này để cấp tín dụng cho vay hoặc thực hiện các hoạt động đầu tư tài chính và các hoạt động kinh doanh khác chủ yếu nhằm mục đích lợi nhuận Như vậy, các
định chế tài chính (ĐCTC) là những chủ thể đóng vai trò truyền dẫn vốn một cách gián tiếp từ người có vốn sang người cần vốn
1.2 Phân loại
Có hai cách chủ yếu phân loại hệ thống định chế tài chính:
1.2.1 Căn cứ vào mục đích hoạt động
- Các định chế kinh doanh
Việc huy động vốn và đầu tư vốn dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế giữa chi phí huy động vốn và thu nhập từ việc sử dụng vốn, tức là kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận
Nhóm định chế tài chính này bao gồm: ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán,…
Trang 17- Các định chế vì mục đích xã hội
Hoạt động của các định chế tài chính trung gian này nhằm mục đích hỗ trợ xã hội, duy trì ổn định sản xuất và đời sống xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận
Nhóm định chế tài chính này bao gồm: ngân hàng chính sách xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội,…
1.2.2 Căn cứ vào mức độ thực hiện chức năng trung gian
Cách phân loại này dựa trên những điểm tương đồng trong nghiệp vụ và vai trò của các định chế tài chính đối với thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, bao gồm:
- Các định chế nhận gửi: ngân hàng thương mại, hiệp hội cho vay và tiết
kiệm, liên hiệp tín dụng
- Các định chế đầu tư: công ty tài chính, quỹ đầu tư
- Các định chế dựa trên hợp đồng: công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí
- Các định chế trên thị trường chứng khoán: công ty chứng khoán, ngân
hàng đầu tư
1.3 Vai trò
1.3.1 Chuyển đổi thời gian đáo hạn của các công cụ tài chính
Nhờ có các ĐCTC, cả người đầu tư và người đi vay đều có thể lựa chọn được những thời hạn thích hợp với mục tiêu của mình, tránh tình trạng người vay phải tìm người đồng ý chấp nhận thời hạn vay của mình
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư thường không thích cho vay dài hạn nên với việc đưa ra các khoản tiền gửi ngắn hạn nối tiếp nhau, các ĐCTC sẵn sàng đáp ứng các khoản cho vay dài hạn hơn
1.3.2 Chuyển dịch và đa dạng hóa rủi ro
Khi các nhà đầu tư đặt tiền của họ vào các quỹ đầu tư, những quỹ này có thể đầu tư số tiền đó vào CK của một số công ty lớn với danh mục đầu tư phong phú, đa dạng Bằng cách này, quỹ đầu tư đã giảm đến mức thấp nhất rủi ro đối với số vốn của các nhà đầu tư
Trang 181.3.3 Giảm chi phí giao dịch
Các ĐCTC là các nhà đầu tư chuyên nghiệp, dễ dàng thu hút được những người mua và những người bán thay vì để những người này tự tìm kiếm nhau Hầu hết các ĐCTC đều có đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên phân tích và quản lý các công cụ tài chính, có thể soạn thảo các hợp đồng chuẩn hoặc những hợp đồng phức tạp hơn, giám sát việc tuân thủ các điều kiện của hợp đồng cho vay và có những hành động cần thiết khác nhằm tối thiểu hóa chi phí hợp đồng, chi phí xử lý thông tin cũng như bảo vệ lợi ích cho chính bản thân các định chế
1.3.4 Tạo lập các cơ chế cho việc thanh toán
Ngày nay đa số các giao dịch được thực hiện không sử dụng tiền mặt mà thông qua séc, thẻ tín dụng, chuyển tiền điện tử,… Các ĐCTC sẽ đảm nhận những phương thức thanh toán này, từ đó giúp giảm lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường
2 Nhóm định chế nhận gửi
2.1 Giới thiệu chung
Các định chế nhận gửi là các định chế tài chính trung gian mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân, sau đó sử dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng và thực hiện các hoạt động trung gian thanh toán
Nhóm ĐCTC nhận gửi bao gồm: các ngân hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay và các liên hiệp tín dụng
Nhóm định chế này thực hiện huy động vốn thông qua nhận các khoản tiền gửi sau đó cho vay lại hoặc đầu tư trên TTCK Hai nguồn thu nhập chính của nhóm này là từ tiền lãi cho vay, lãi đầu tư và tiền phí (phí bảo lãnh, phí L/C, phí thông báo, hoa hồng ủy thác)
2.2 Ngân hàng thương mại
Trang 19hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.” (Khoản 2 Điều 20) Luật này còn quy
định: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.” (Khoản 7 Điều 20)
Như vậy, ngân hàng thương mại là một định chế tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên
2.2.2 Chức năng
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và trên cơ sở hệ thống ngân hàng phát triển, ngân hàng thương mại (NHTM) thể hiện các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng trung gian tín dụng: NHTM là trung gian thực hiện việc tập
trung, huy động các nguồn vốn tạm thời, nhàn rỗi trong nền kinh tế như: tiền tiết kiệm của dân cư, vốn bằng tiền của các doanh nghiệp, tổ chức… vào nguồn vốn tín dụng để cấp tín dụng (cho vay) trở lại, đáp ứng nhu cầu về vốn cho các đối tượng cần vốn
- Chức năng trung gian thanh toán: NHTM làm trung gian thanh toán để
thực hiện các giao dịch cho/giữa các khách hàng của mình nhằm hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại của các đối tượng này
- Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng: bên cạnh việc làm trung gian
tín dụng và thanh toán, NHTM còn cung cấp đa dạng các nghiệp vụ ngân hàng
để đáp ứng nhu cầu không ngừng phát triển của các khách hàng (dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ kiều hối, dịch vụ ủy thác, dịch vụ tư vấn đầu tư…)
Trang 202.2.3 Các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán
Nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu có vai trò quan trọng đối với NHTM khi thành lập và bổ sung vốn trong suốt quá trình hoạt động và phát triển Giống như các doanh nghiệp niêm yết, NHTM phải tuân theo các quy định của TTCK khi phát hành lần đầu hay bổ sung cổ phiếu
Nếu NHTM có nhu cầu huy động vốn với số lượng lớn và dài hạn thì trái phiếu là một công cụ thích hợp NHTM có thể phát hành nhiều loại trái phiếu có điều kiện về lãi suất hấp dẫn để thu hút được các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
- Đầu tư trực tiếp
Nhờ tiềm lực tài chính mạnh và khả năng sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư dài hạn, các NHTM có thể đóng vai trò là nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu, đặc biệt là đối với trái phiếu chính phủ (TPCP), vốn đòi hỏi tầm nhìn đầu tư trung
và dài hạn
- Phân phối, bảo lãnh phát hành
Tại một số thị trường tài chính lớn trên thế giới, các trung gian tài chính, trong đó có các NHTM đóng vai trò quan trọng trên thị trường trái phiếu với tư
cách là đại lý sơ cấp (Primary Dealers) hoặc bảo lãnh phát hành
Tại Việt Nam, bảo lãnh phát hành là phương thức phổ biến nhất đối với TPCP Với độ tín nhiệm cao và tiềm lực tài chính mạnh, các NHTM có ưu thế
Trang 21lớn khi tham gia bảo lãnh phát hành Bên cạnh đó, TPCP còn được chào bán qua
Sở giao dịch chứng khoán và bán lẻ qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
a.2 Trên thị trường thứ cấp
- Kinh doanh trái phiếu
Trái phiếu là một công cụ mang lại thu nhập ổn định và thường xuyên cho các NHTM so với một loại CK khác là cổ phiếu vừa có mức độ an toàn vốn thấp hơn vừa không được tham gia đầu tư trực tiếp Trong hoạt động này, các NHTM
có đối tác thường là các NHTM khác và các CTCK Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh trái phiếu, công trái với các nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng có tiềm năng phát triển lớn nếu được tổ chức thật sự chuyên nghiệp Một ưu điểm nữa của hình thức kinh doanh này là không bị giới hạn bởi thời gian giao dịch của TTCK
tập trung
- Sản phẩm phái sinh
Các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh như: hoán đổi, kỳ hạn, quyền chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường Ở đây, sự kết hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với TTCK sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều công cụ để kinh doanh (đầu cơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời tăng tính thanh khoản của thị trường
- Cho vay chứng khoán
Nghiệp vụ cho vay CK rất phổ biến đối với các TTCK phát triển, dưới nhiều hình thức nghiệp vụ khác nhau như: Cầm cố CK, nghiệp vụ repo cổ phiếu, mua khống T + 2, các nghiệp vụ bảo chứng, uỷ thác đầu tư , chính là các nghiệp vụ sử dụng đòn bẩy tài chính Nghiệp vụ cho vay CK giữa các trung gian tài chính có phạm vi rộng hơn cả về danh mục CK cho vay cũng như danh mục tài sản thế chấp Bên vay thế chấp tài sản khi nhận CK và phải trả lại CK, đồng thời nhận lại tài sản thế chấp khi đáo hạn Việc cho vay CK thực sự góp phần làm tăng tính thanh khoản của thị trường, đồng thời có thể giúp các bên tham gia (đặc biệt là đối với các trung gian tài chính) tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh CK đi vay hoặc nhận thế chấp
Trang 22- Ngân hàng lưu ký chứng khoán
Thành viên lưu ký là một tổ chức được phép cung cấp các dịch vụ về lưu
ký CK cho khách hàng, thay mặt khách hàng nắm giữ CK ký gửi, đảm bảo mọi quyền lợi phát sinh đối với CK của khách hàng vào trung tâm lưu ký Ngoài các CTCK, thành viên lưu ký có thể là các ngân hàng lưu ký thương mại được cấp phép hoạt động Khách hàng của các thành viên lưu ký không chỉ là các cá nhân đầu tư trong nước mà còn là các NĐT cá nhân, tổ chức nước ngoài lưu trú tại nước sở tại và các NĐT quốc tế tham gia vào TTCK của nước sở tại
- Ngân hàng chỉ định thanh toán
Đây là NHTM do UBCKNN chỉ định mở tài khoản thanh toán cho Trung tâm Giao dịch CK, Trung tâm Lưu ký CK, Sở Giao dịch CK và thành viên lưu
ký để phục vụ việc thanh toán tiền cho các giao dịch CK
b Hoạt động gián tiếp
b.1 Kinh doanh chứng khoán
Ở một số quốc gia, NHTM không được phép trực tiếp kinh doanh CK mà phải lập công ty chứng khoán (CTCK) hạch toán độc lập như là một công ty con của ngân hàng để tránh rủi ro và đảm bảo quyền lợi cho những người gửi tiền
Về bản chất đây chính là nghiệp vụ tự doanh CK, CTCK trực thuộc sẽ mua bán
CK cho chính mình và tự gánh chịu rủi ro nếu có Hoạt động kinh doanh CK có thể chia làm hai nhóm: hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư CK
- Đối với hoạt động ngân quỹ, CTCK trực thuộc thường đầu tư ngắn hạn vào các CK có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và có tính ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được để tích trữ, nâng cao khả năng thanh toán
- Đối với hoạt động đầu tư, CTCK trực thuộc sẽ đầu tư vào nhiều loại CK hơn và thời hạn đầu tư cũng dài hơn nhằm tìm kiếm lợi nhuận Thông qua CTCK trực thuộc, NHTM có thể sử dụng các khoản vốn huy động để thường xuyên tham gia TTCK bằng cách mua cổ phiếu và trái phiếu của khách hàng rồi bán lại để hưởng chênh lệch giá mua và bán
Trang 23b.2 Các nghiệp vụ trung gian
Đóng vai trò là một ĐCTC quan trọng bậc nhất, NHTM rất chú trọng phát triển các hoạt động trung gian trên TTCK như: đại lý, bảo lãnh phát hành CK; đăng ký, thanh toán bù trừ, lưu ký CK; môi giới CK; tư vấn CK Các nghiệp vụ này cũng do CTCK trực thuộc NHTM đảm nhiệm
- Nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành CK là nghiệp vụ cơ bản thể hiện vai
trò trung gian của NHTM trong việc phân phối CK Đối với nghiệp vụ đại lý phát hành, CTCK trực thuộc chỉ đứng ra nhận phân phối CK ra thị trường cho nhà phát hành để hưởng hoa hồng đại lý Còn đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành CK, CTCK trực thuộc phải mua trực tiếp toàn bộ hay một phần số CK của nhà phát hành, đảm bảo giá bán cố định và cam kết mua lại số CK không bán được
- Nghiệp vụ đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký CK là nghiệp vụ phổ
biến và hữu ích Sau khi khách hàng mở tài khoản, CTCK trực thuộc NHTM phải bảo quản CK, tiến hành mua bán, thanh toán, giao dịch CK theo yêu cầu và
tự hạch toán ghi sổ CK cho khách hàng Mảng thanh toán bù trừ các giao dịch
CK sẽ đáp ứng được nhu cầu thanh toán không sử dụng tiền mặt trên TTCK vì thực hiện thông qua hệ thống chuyển khoản của các NHTM
- Trong hoạt động môi giới CK, NHTM sẵn có nhiều lợi thế như: đội ngũ
nhân viên môi giới được đào tạo chuyên nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, mạng lưới chi nhánh rộng khắp và các mối quan hệ khách hàng lâu dài Khi thực hiện nghiệp vụ này, CTCK trực thuộc đứng ra thương lượng, mua bán CK hộ cho khách hàng và thu được nhiều lợi nhuận từ phí và hoa hồng giao dịch
- Để thực hiện tư vấn CK, CTCK trực thuộc tiến hành các hoạt động phân
tích CK của các doanh nghiệp niêm yết, đưa ra các báo cáo nhận định và khuyến nghị cho thị trường Các báo cáo phân tích này sẽ là nguồn thông tin cơ sở và quan trọng để đánh giá doanh nghiệp, định giá cổ phiếu rồi tư vấn cho các nhà đầu tư
Trang 243 Nhóm định chế đầu tƣ
3.1 Giới thiệu chung
Các trung gian đầu tƣ huy động vốn bằng cách phát hành các loại chứng
từ có giá nhƣ tín phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ,… sau đó sử dụng vốn đầu tƣ vào những mục đích riêng biệt vì quyền lợi của các chủ đầu tƣ
Nhóm ĐCTC đầu tƣ bao gồm: các công ty tài chính và các quỹ đầu tƣ chứng khoán
3.2 Quỹ đầu tư chứng khoán
Theo cách phân loại phổ biến nhất là theo tính chất huy động vốn, Quỹ đầu tƣ chứng khoán có hai dạng là: quỹ đóng và quỹ mở Quỹ đóng là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ quỹ đầu tƣ khi nhà đầu tƣ có nhu cầu bán lại Quỹ mở là quỹ có tổng vốn biến động theo từng ngày giao dịch do nhà đầu tƣ đƣợc quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tƣ cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch
Các bên tham gia hoạt động của quỹ đầu tƣ chứng khoán (QĐTCK) bao gồm: Công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát, công ty kiểm toán và công ty luật
Trang 25lược đầu tư, phát hành cổ phiếu quỹ, đầu tư vào các CK, niêm yết cổ phiếu quỹ
và giá trị đầu tư của nhà đầu tư và mua bán, trao đổi cổ phiếu quỹ
a Lựa chọn chiến lược đầu tư
QĐTCK thu hút vốn rộng rãi từ công chúng và thuộc sở hữu của chính các nhà đầu tư này để đầu tư vào các CK của các tổ chức niêm yết Nhiệm vụ của các quỹ này là tìm kiếm khả năng sinh lợi trên TTCK cho công chúng đầu tư thay cho việc gửi tiền ngân hàng Chính vì thế, QĐTCK phải lựa chọn được một danh mục CK hợp lý và có chiến lược đầu tư hiệu quả để đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư vào quỹ
b Phát hành chứng chỉ quỹ
Có hai hình thức phát hành là: các QĐTCK bán trực tiếp chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu công ty quỹ cho các nhà đầu tư hoặc phân phối gián tiếp qua các ĐCTC trung gian trên TTCK như ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán hay công ty quản lý danh mục đầu tư
Các chứng chỉ quỹ là các CK phù hợp cho nhiều nhà đầu tư công chúng trên thị trường và là công cụ đầu tư được các nhà đầu tư tổ chức ưa thích nếu quỹ được quản lý tốt bởi các nhà quản lý chuyên nghiệp
c Đầu tư vào các chứng khoán
Sau khi huy động được vốn từ các nhà đầu tư, vốn này sẽ được các QĐTCK sử dụng vào việc mua các CK trong danh mục đầu tư mục tiêu với tỷ trọng các CK hợp lý theo các phân tích, đánh giá và phương án của các nhà quản
lý đầu tư Việc lựa chọn danh mục phù hợp là rất quan trọng do giá CK biến động liên tục trên thị trường có thể gây ảnh hưởng đến giá trị tài sản ròng của quỹ
và giá trị của người đầu tư
Hoạt động đầu tư CK của QĐTCK sẽ được thực hiện thông qua các môi giới trung gian trên TTCK, thường là các CTCK Do mức độ chuyên nghiệp của các nhà quản lý quỹ và khối lượng giao dịch lớn nên chi phí giao dịch CK của các quỹ vẫn kinh tế hơn nhiều so với việc các nhà đầu tư tham gia cá nhân trên thị trường
Trang 26d Niêm yết giá trị tài sản ròng của quỹ
Giá trị tài sản ròng của quỹ đầu tư chứng khoán (Net Asset Value – NAV)
là giá trị thị trường danh mục đầu tư của quỹ tại thời điểm tính toán trừ đi các khoản nợ của quỹ Giá trị này được tính cho toàn bộ quỹ và tính trên từng cổ phiếu quỹ hay chứng chỉ quỹ
Đây là một chỉ số quan trọng, được tính toán thường xuyên và niêm yết công khai để hấp dẫn các nhà đầu tư và là cơ sở cho quỹ đánh giá cổ phiếu quỹ cho các giao dịch Đối với nhà đầu tư, sau khi mua cổ phiếu quỹ, giá trị tài sản ròng của quỹ là cơ sở để tính toán giá trị tài sản mình nắm giữ, từ đó ra quyết định tiếp tục nắm giữ hay bán trên thị trường để thu hồi vốn
e Mua bán, trao đổi chứng chỉ quỹ
Việc mua bán chứng chỉ quỹ có thể thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ (với dạng quỹ mở) hoặc qua các trung gian trên thị trường (với dạng quỹ đóng) Nếu một QĐTCK hoạt động mạnh trên thị trường thì chứng chỉ quỹ đó sẽ
là một lựa chọn hấp dẫn như một CK tiềm năng nào khác mà nhiều nhà đầu tư
nhắm đến
4 Nhóm định chế dựa trên hợp đồng
4.1 Giới thiệu chung
Các định chế dựa trên hợp đồng thu nhận vốn định kỳ trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận với khách hàng Các ĐCTC này có xu hướng sử dụng vốn vào các hoạt động đầu tư CK và các hoạt động đầu tư trung và dài hạn khác
Nhóm ĐCTC dựa trên hợp đồng bao gồm: các công ty bảo hiểm (nhân thọ
và phi nhân thọ) và các quỹ hưu trí
4.2 Công ty bảo hiểm
4.2.1 Khái niệm
Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000: “Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh
nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm”
Trang 27Như vậy, công ty bảo hiểm thu hút tiền từ công chúng để trang trải cho một số cá nhân trong những người đóng tiền gặp rủi ro hoặc đến tuổi nghỉ hưu theo thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm ký giữa công ty với cá nhân hoặc tổ chức liên quan Với lượng tiền lớn trong tay, các loại hình công ty bảo hiểm (CTBH) có một tiềm năng lớn trong việc tham gia đầu tư vào TTCK nên cần có khả năng lựa chọn và quản lý tốt các danh mục đầu tư, để có được thu nhập hợp
lý trên khoản đầu tư với rủi ro tương ứng
4.2.2 Hoạt động trên thị trường chứng khoán
a Hoạt động đầu tư chứng khoán
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm chỉ là cách thức huy động nguồn vốn đầu
tư cho CTBH (dưới dạng phí bảo hiểm thu được), còn hoạt động then chốt, mang
ý nghĩa sống còn với CTBH chính là hoạt động đầu tư CTBH thường tham gia đầu tư trên hai dạng là: đầu tư trực tiếp (dùng vốn mở doanh nghiệp để sản xuất kinh doanh) và đầu tư tài chính (chủ yếu là vào các công cụ của TTCK)
CTBH thường đầu tư chủ yếu vào CK tại những nước có TTCK phát triển
ở trình độ cao và thường chú ý vào các loại sau:
- Cổ phiếu: Các CTBH thường chú trọng đặc biệt đầu tư vào cổ phiếu của
những công ty hàng đầu vì tính ổn định giá trị và tính thanh khoản cao hay của các công ty trong những ngành có triển vọng
- Trái phiếu: Đây cũng là một loại CK được các CTBH quan tâm Các
loại trái phiếu thường được đầu tư là trái phiếu Chính phủ hoặc chính quyền địa phương và trái phiếu công ty có đảm bảo Ngoài ra, do kỳ hạn của trái phiếu thường gần với kỳ hạn của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nên càng được ĐCTC này chú ý
- Các dạng hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, đặc biệt là hợp đồng mua bán ngoại tệ có kỳ hạn: Dạng CK này được CTBH lựa chọn để chủ
động được lượng ngoại tệ và tránh lãng phí lượng vốn nếu dự trữ dưới dạng tiền gửi ngoại tệ
Trang 28- Các loại CK khác: cổ phiếu công ty nhỏ, trái phiếu công ty không đảm
bảo, cổ phiếu phát hành lần đầu cũng được đầu tư, nhưng với tỷ trọng thấp do độ
an toàn thấp
Hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư CK muốn đạt hiệu quả thì CTBH còn phải chú trọng đến việc quản lý danh mục đầu tư Bên cạnh đó, để
đảm bảo thực hiện nguyên tắc đầu tư “bảo toàn và phát triển vốn đầu tư, đem
lại lợi nhuận đầu tư mong muốn”, danh mục đầu tư của CTBH càng cần phải
được chia ra và quản lý theo những danh mục riêng biệt bao gồm: danh mục đầu
tư ngắn hạn, danh mục đầu tư trung – dài hạn và danh mục đầu tư CK riêng biệt
b Các hoạt động khác
Hiện nay, các CTBH chủ yếu được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần, vì vậy ngoài đầu tư CK, định chế này còn có thể tham gia vào TTCK với hoạt động huy động vốn rộng rãi từ công chúng thông qua phát hành CK (cổ phiếu, trái phiếu) hoặc phát hành thêm để bổ sung vốn điều lệ và hoạt động niêm yết trên
Sở Giao dịch CK
5 Nhóm định chế trên thị trường chứng khoán
Các định chế trên thị trường chứng khoán được thành lập theo pháp luật, thực hiện một số hoạt động trên TTCK như: môi giới CK, tự doanh CK, bảo lãnh phát hành CK, tư vấn đầu tư CK… Nhóm ĐCTC này hoạt động chủ yếu trên TTCK và có vai trò vô cùng quan trọng là trung gian giữa các nhà đầu tư với các tổ chức phát hành
Nhóm ĐCTC trên TTCK bao gồm: các công ty chứng khoán và các ngân hàng đầu tư
5.1 Công ty chứng khoán
5.1.1 Khái niệm
Công ty chứng khoán là một ĐCTC trung gian quan trọng, tham gia vào nhiều hoạt động của TTCK Tuy nhiên, công ty chứng khoán thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện nên để thực hiện các hoạt động trên TTCK thì phải đáp
Trang 29ứng nhiều điều kiện do luật pháp quy định như Luật Chứng khoán hay một số văn bản dưới luật khác có liên quan
Vì vậy có thể định nghĩa: Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính
trung gian có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoạt động trên thị trường chứng khoán
5.1.2 Hoạt động
Do sự phát triển không ngừng của TTCK, ngày nay công ty chứng khoán (CTCK) không chỉ là những công ty chỉ chuyên kinh doanh một loại dịch vụ như môi giới hoặc bảo lãnh… mà đã trở thành những “ngân hàng đầu tư nhỏ” với nhiều hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh CK và cả lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, bảo hiểm
Nhìn chung hoạt động của CTCK được chia thành bốn mảng nghiệp vụ bao gồm: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và một số nghiệp vụ phụ trợ khác
a Nghiệp vụ môi giới
Về bản chất, môi giới CK là hoạt động kết nối những người cần mua và người cần bán CK với nhau
Theo Luật Chứng khoán 2006: “Môi giới CK là việc CTCK làm trung
gian thực hiện mua, bán CK cho khách hàng”, nghĩa là CTCK sẽ đại diện cho
khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch CK hoặc thị trường OTC Vì thế, sau mỗi giao dịch mua bán CK thành công, hai bên mua bán đều trả cho CTCK phí môi giới giao dịch là một tỷ lệ trên tổng giá trị giao dịch (trên Sở giao dịch) hoặc đã tính kèm vào giá (trên thị trường OTC)
Ngoài ra, do TTCK ngày càng mở rộng quy mô nên thông tin thị trường thay đổi liên tục khiến các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn trong việc nắm bắt và
xử lý nên hoạt động môi giới của CTCK còn bao gồm mảng tư vấn khách hàng Khi đó, bên cạnh việc cung cấp thông tin thị trường, các nhân viên môi giới có thể đưa ra những đề xuất chiến lược đầu tư mang lại lợi nhuận tối đa và rủi ro tối thiểu cho các nhà đầu tư
Trang 30b Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Theo Luật Chứng khoán 2006: “Bảo lãnh phát hành CK là việc tổ chức
bảo lãnh phát hành (công ty chứng khoán) cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán CK, nhận mua một phần hay toàn bộ CK của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số CK còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng”
Theo định nghĩa trên, có thể chia thành ba loại bảo lãnh phổ biến là:
- Bảo lãnh chắc chắn: CTCK nhận mua toàn bộ số CK trong đợt phát
hành sau đó bán ra công chúng Hoa hồng bảo lãnh là chênh lệch giá mua với giá bán của CTCK, trong đó giá bán là giá thị trường
- Bảo lãnh cố gắng tối đa: CTCK hứa sẽ cố gắng tối đa để bán hết số CK
trong đợt phát hành, số không bán được sẽ trả lại Hoa hồng bảo lãnh được tính trên số CK bán được
- Bảo lãnh đảm bảo tất cả hoặc không: CTCK phải bán hết một lượng CK
tối thiểu trên tổng số CK phát hành tương đương với số vốn tổ chức phát hành cần nếu không toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy
c Nghiệp vụ tự doanh
Theo Luật Chứng khoán 2006: “Tự doanh CK là việc CTCK mua hoặc
bán chứng khoán cho chính mình” Điều này nghĩa là CTCK sẽ dùng tiền của
mình mua bán CK để hưởng lợi từ chênh lệch giá hoặc từ cổ tức, trái tức mà nhà phát hành trả, đồng thời cũng chấp nhận rủi ro từ hoạt động này
Nghiệp vụ tự doanh có thể được thực hiện theo hình thức giao dịch trực tiếp trên Sở giao dịch hoặc gián tiếp trên thị trường OTC Trên Sở giao dịch, CTCK đặt lệnh mua bán CK vào hệ thống như các nhà đầu tư và lệnh có thể được thực hiện với bất kỳ khách hàng nào không xác định trước Trên thị trường OTC, các CTCK sẽ tiến hành mua bán CK với nhau hoặc với các đối tác thông qua thương lượng với sự trợ giúp của hệ thống máy tính nối mạng
Trang 31d Các nghiệp vụ phụ trợ
CTCK còn thực hiện một số nghiệp vụ phụ trợ không chỉ đóng góp vào thu nhập của công ty mà còn hỗ trợ hiệu quả cho các nghiệp vụ chính ở trên
- Nghiệp vụ cho vay: CTCK có thể trợ giúp các khách hàng của mình
bằng cả tín dụng và chính loại CK đầu tư Hình thức cho vay bằng tín dụng (còn gọi là cho vay kí quỹ) là việc CTCK cho khách hàng vay tiền để mua CK và dùng CK làm vật đảm bảo, khi đó khách hàng chỉ phải kí quỹ một phần và phần còn lại được công ty cho vay Hình thức cho vay bằng CK thực chất là việc CTCK cho khách hàng vay CK để thực hiện bán khống
- Nghiệp vụ tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty:
Với nghiệp vụ tư vấn đầu tư, CTCK sẽ cung cấp các thông tin về CK, đánh giá và nhận định về tổ chức phát hành… để giúp các nhà đầu tư mua bán
CK thành công Có hai hình thức tư vấn: trực tiếp (nhân viên tư vấn của CTCK gặp gỡ hoặc trao đổi với khách hàng qua thư, điện thoại) và gián tiếp (chỉ cung cấp thông tin cho khách hàng qua các phương tiện thông tin để khách hàng tự ra quyết định đầu tư)
Với nghiệp vụ tư vấn tài chính công ty, CTCK sẽ trợ giúp cho tổ chức phát hành trong việc phân tích tài chính doanh nghiệp, định giá doanh nghiệp, tư vấn phát hành, cơ cấu… nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn,
CK có tiềm năng hơn và quan trọng là tạo điều kiện cho các nghiệp vụ khác của chính CTCK
- Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư: Đây là dạng cao hơn của nghiệp vụ
tư vấn đầu tư vì có sự ủy thác của khách hàng cho CTCK trong việc ra quyết định đầu tư theo những nguyên tắc của khách hàng Cụ thể, khi thực hiện hoạt động này, CTCK sau khi ký hợp đồng ủy thác đầu tư, được khách hàng giao tiền và CK của mình, có trách nhiệm bảo quản CK và kinh doanh CK thay cho khách hàng
- Nghiệp vụ lưu ký CK: là việc CTCK nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao
CK cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu
Trang 32CK Khi đó, CTCK sẽ được nhận các khoản phí lưu ký gồm: phí gửi, rút và chuyển nhượng CK
Ngoài các nghiệp vụ trên, CTCK còn có thể tiến hành một số hoạt động khác như: cầm cố CK, quản lý quỹ đầu tư, quản lý vốn, cung cấp thông tin, kinh doanh bảo hiểm…
5.2 Ngân hàng đầu tư
5.2.1 Khái niệm
Ngân hàng đầu tư là một định chế tài chính có chức năng chính là tư vấn,
hỗ trợ cho các doanh nghiệp và chính phủ trong việc huy động các nguồn vốn trung và dài hạn trên thị trường vốn
Ngân hàng đầu tư giúp các khách hàng của mình huy động vốn bằng cách phát hành các loại CK vốn (cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi) hoặc CK nợ (trái phiếu) ra thị trường
5.2.2 Các nghiệp vụ chính
Một ngân hàng đầu tư (NHĐT) hiện đại chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ: nghiệp vụ NHĐT, hoạt động đầu tư, nghiên cứu, quản lý đầu tư, ngân hàng bán buôn và nghiệp vụ nhà môi giới chính
a Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư
Đây là nghiệp vụ truyền thống của NHĐT, bao gồm hai nghiệp vụ cơ bản
là dịch vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành CK, và nghiệp vụ mới mở rộng là tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) và tái cơ cấu doanh nghiệp
Nghiệp vụ NHĐT với khoản phí rất lớn từ các khách hàng doanh nghiệp, quỹ đầu tư, nhà đầu tư tổ chức, chính phủ và chính quyền địa phương mang lại nhiều lợi nhuận và là nguồn để NHĐT thực hiện các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ khác
b Nghiệp vụ đầu tư
Khác với nghiệp vụ ngân hàng đầu tư diễn ra chủ yếu trên thị trường sơ cấp, nghiệp vụ đầu tư chủ yếu diễn ra trên thị trường thứ cấp, bao gồm hai mảng: môi giới và đầu tư
Trang 33Nghiệp vụ môi giới chủ yếu được áp dụng cho các sản phẩm CK niêm yết, trong đó NHĐT đóng vai trò trung gian nhận lệnh và khớp lệnh cho các khách hàng Nghiệp vụ đầu tư được chia thành nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng và nghiệp vụ tự doanh
Nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng được áp dụng cho các sản phẩm CK giao dịch trên thị trường OTC Là nhà tạo lập thị trường với chức năng tạo thanh khoản, NHĐT tiến hành các giao dịch mua bán với các khách hàng một cách thụ động hoặc chủ động để tìm kiếm các khoản chênh lệch giá
Nghiệp vụ đầu tư tự doanh mang tính rủi ro cao hơn vì hai lý do: ngân hàng mang vốn của mình ra kinh doanh và nghiệp vụ này áp dụng cho cả CK niêm yết và không niêm yết Khi đó, NHĐT tìm kiếm lợi nhuận biến động giá bằng cách chủ động nắm giữ trạng thái “mua” hoặc “bán” và đánh cược với sự biến động của thị trường
c Nghiệp vụ nghiên cứu
Đây là nghiệp vụ do các nhân viên nghiên cứu thực hiện nhằm theo dõi tình hình hoạt động của các loại CK trên thị trường để giúp các nhà đầu tư có thể ra được các quyết định mua bán của mình đúng lúc
Các sản phẩm nghiên cứu rất đa dạng, bao gồm các báo cáo nghiên cứu chung như kinh tế vĩ mô, nghiên cứu ngành, nghiên cứu chiến thuật đầu tư và nghiên cứu sản phẩm Ngoài ra, nghiệp vụ nghiên cứu còn bao gồm việc xây dựng, phát triển các công cụ phân tích và quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng
d Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn
Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn là một loại nghiệp vụ đầu tư song có đối tượng chủ yếu là các sản phẩm thay thế, bao gồm đầu tư bất động sản, cho vay
sử dụng đòn bẩy tài chính, các thỏa thuận tín dụng lớn như cho vay đồng tài trợ
và tài trợ dự án
Một mảng quan trọng của ngân hàng bán buôn thuộc dòng sản phẩm CK vốn là đầu tư vốn tư nhân, là việc ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp chưa niêm yết có tiềm năng để phát triển làm tăng giá trị thông qua tái cơ cấu tài
Trang 34chính và hoạt động Việc đầu tư vào các doanh nghiệp vốn tư nhân có thể thực hiện từ giai đoạn khởi nghiệp đến các giai đoạn trưởng thành và phát triển của doanh nghiệp
Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn là một hoạt động tự doanh mang tính rủi
ro rất cao vì thời hạn nắm giữ sản phẩm thường dài hơn so với nghiệp vụ đầu tư các sản phẩm CK truyền thống
e Nghiệp vụ quản lý đầu tư
Do mang lại thu nhập ổn định và mức rủi ro thấp, đây là một nghiệp vụ dần trở thành một mảng kinh doanh quan trọng của NHĐT Quản lý đầu tư có thể phân thành nghiệp vụ quản lý tài sản và nghiệp vụ quản lý gia sản
Quản lý tài sản bao gồm quản lý quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư cho các khách hàng tổ chức
Quản lý gia sản hay dịch vụ ngân hàng cá nhân (private banking) bao
gồm dịch vụ tư vấn và quản lý tài sản cho các khách hàng có thu nhập cao
f Nghiệp vụ nhà môi giới chính
Nghiệp vụ nhà môi giới chính ra đời khắc phục được việc sử dụng cùng một lúc nhiều nhà môi giới của các quỹ đầu cơ dẫn đến sự phân tán các nguồn lực trong việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ Các NHĐT lớn sẽ tận dụng thế mạnh của mình với hệ thống cơ sở hạ tầng sẵn có để cung cấp một loạt dịch vụ
từ A-Z cho các quỹ đầu cơ, thậm chí cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ miễn phí giúp các quỹ này có thể tập trung vào công việc kinh doanh chính là đầu tư Việc sử dụng nhà môi giới chính không có nghĩa là các quỹ đầu cơ không quan
hệ với các nhà môi giới khác Điều này chỉ có nghĩa là các quỹ tiến hành thuê ngoài các hoạt động không cơ bản và tập trung hóa việc xử lý giao dịch cho nhà môi giới chính để họ thay mặt ký kết thực hiện các giao dịch với các nhà môi giới khác
Trang 35III Vai trò của các định chế tài chính đối với thị trường chứng khoán
1 Ngân hàng thương mại
NHTM cùng với các CTCK trực thuộc có vai trò quan trọng đối với TTCK trên nhiều phương diện: tạo hàng hoá, làm tổ chức trung gian, cung cấp thông tin, điều tiết cung cầu và quản lý các ĐCTC trên thị trường
1.1 Tạo hàng hóa cho thị trường chứng khoán
Vai trò của NHTM trong việc tạo ra hàng hoá cho TTCK thể hiện dưới hai góc độ:
Dưới góc độ trực tiếp, các NHTM cổ phần tham gia với tư cách là nhà phát hành cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc vốn bổ sung thêm trong quá trình hoạt động Bên cạnh đó, tất cả các loại hình NHTM đều có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn từ nền kinh tế và các CTCK trực thuộc còn bán các loại CK khác như: trái phiếu chính phủ, chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn Những việc này đã tạo cho TTCK một khối lượng hàng hoá rất lớn ở thị trường thứ cấp
Dưới góc độ gián tiếp, CTCK trực thuộc NHTM với tư cách là một tổ chức trung gian thực hiện các nghiệp vụ trung gian chứng khoán như môi giới
CK, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư CK, đã góp phần không nhỏ giúp các tổ
chức kinh tế khác phát hành CK, tạo sự đa dạng về hàng hoá cho TTCK
1.2 Trung gian chứng khoán
Trên một TTCK quy mô và đầy biến động, rất khó để các nhà đầu tư tìm được đối tác cần mua bán chứng khoán để giao dịch với nhau Hơn nữa không phải nhà đầu tư nào cũng được trang bị đủ kiến thức, tích lũy đủ kinh nghiệm và
có đủ thông tin để đầu tư thành công và thu được những khoản lợi nhuận mong muốn Do vậy, với tư cách là một tổ chức trung gian, NHTM sẽ giúp hai bên gặp nhau thông qua các nghiệp vụ của mình trên TTCK Ví dụ, các CTCK trực thuộc khi thực hiện môi giới chứng khoán có hai nhiệm vụ chính là: nhiệm vụ cung cấp thông tin và tư vấn khách hàng; đồng thời, cung cấp các sản phẩm và dịch
Trang 36vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích khách hàng
NHTM có nhiều lợi thế để hoạt động như một trung gian tài chính trên TTCK như: nghiệp vụ quản lý tài khoản tiền gửi tạo tiền đề cho việc tích luỹ vốn
để mua bán CK, kinh nghiệm về hoạt động tín dụng tạo điều kiện cho việc mua bán
CK được thuận lợi khi có nhu cầu đầu tư và đặc biệt là kinh nghiệm về tổ chức thanh toán giúp NHTM thực hiện tốt việc chi trả trong mua bán chứng khoán
1.3 Điều chỉnh cung cầu chứng khoán
NHTM với hai hoạt động cơ bản nhất là nhận tiền gửi và cho vay có tác động rất lớn đến hoạt động của TTCK, mà cụ thể là giá cả, cung và cầu của CK trên thị trường Trên thực tế, nhà đầu tư quyết định đầu tư vào lĩnh vực nào có khả năng sinh lời và mức độ rủi ro chấp nhận được nên lãi suất tiền gửi và cho vay của các NHTM cũng có tác động không nhỏ đến mức cung cầu CK trên thị trường và giá của những CK đó
Một vai trò khác của NHTM đối với cung cầu CK trên thị trường chứng khoán đó là cung cấp cơ chế giá cho các khoản đầu tư Trên thị trường thứ cấp, NHTM sẽ tạo cơ chế giá CK thông qua các Sở giao dịch CTCK trực thuộc giúp nhà đầu tư đánh giá giá trị khoản đầu tư của mình, sau đó toàn bộ các lệnh mua bán CK được tập hợp tại Sở, và trên cơ sở đó giá CK sẽ được xác định theo quy luật cung cầu Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành CK, CTCK trực thuộc còn thực hiện vai trò tạo cơ chế giá CK thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành Ngoài ra, thông qua hoạt động tự doanh, các CTCK này còn can thiệp vào thị trường, góp phần điều chỉnh giá CK
1.4 Cung cấp thông tin trên thị trường chứng khoán
Hoạt động môi giới CK của các CTCK trực thuộc luôn đi kèm hoạt động tư vấn nên còn cung cấp thông tin theo yêu cầu của khách hàng, thông tin về triển vọng của các CK trong tương lai, thông tin về chính sách tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng cân nhắc… Bên cạnh đó, các
Trang 37NHTM cũng cung cấp các thông tin rất đáng tin cậy về tình hình diễn biến thị trường giúp các cơ quan quản lý thị trường có những điều chỉnh phù hợp nhất
1.5 Định chế quản lý thị trường chứng khoán
Chính hoạt động của các CTCK trực thuộc NHTM và các nhân viên môi giới của họ là một yếu tố góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh CK Song song với việc thực hiện các nghiệp vụ, họ sẽ giúp người đầu tư luôn tuân thủ pháp luật trong quá trình tìm kiếm lợi ích, đồng thời cũng kịp thời phản ánh cho các nhà làm luật kịp thời chỉnh sửa những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật
2 Quỹ đầu tư chứng khoán
2.1 Tăng lượng cung chứng khoán và tạo sự đa dạng về hàng hóa góp phần phát triển thị trường sơ cấp
QĐTCK có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của thị trường sơ cấp với việc là một tổ chức phát hành thu hút vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ quỹ Việc QĐTCK phát hành các chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu quỹ đương nhiên làm tăng cung cho TTCK vì đây là các hàng hóa được giao dịch trên thị trường và cũng vì phương thức đầu tư chuyên nghiệp và khoa học của quỹ sẽ tạo cho công chúng thói quen đầu tư Ngoài ra, việc đầu tư vào CK của quỹ đã tạo ra cầu cho TTCK, làm cho CK của các tổ chức phát hành khác được tiêu thụ dễ dàng
2.2 Góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp
Với tư cách là nhà đầu tư trên thị trường, QĐTCK phải dành phần lớn giá trị tài sản để đầu tư vào TTCK theo danh mục đã lựa chọn Do tập trung một lượng vốn lớn từ nhiều nguồn nhàn rỗi nhỏ lẻ trong xã hội, QĐTCK có khả năng mua bán với khối lượng lớn một loại CK nào đó nên thường ảnh hưởng lớn tới
sự biến động của TTCK Nó góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp, giúp cho sự phát triển của thị trường này thông qua các hoạt động đầu
tư chuyên nghiệp với các phương pháp đầu tư khoa học
Trang 383 Công ty bảo hiểm
ĐCTC sẽ thực sự phát huy hết sức mạnh của nó khi thị trường tài chính với những cơ chế hoàn chỉnh được xác lập mà nền tảng là TTCK Thật vậy, TTCK đóng góp một phần vào sự phát triển của thị trường bảo hiểm nói chung
và của các CTBH nói riêng, trong khi CTBH với hoạt động đầu tư CK hiệu quả cũng tác động tích cực trở lại TTCK
3.1 Khơi dòng một nguồn vốn lưu chuyển lớn, bổ sung vốn cho thị trường chứng khoán
CTBH có khả năng tích tụ và tập trung vốn từ hàng ngàn hợp đồng bảo hiểm nhỏ lẻ của tất cả các nghiệp vụ thực hiện thành một nguồn vốn khổng lồ Chỉ đứng sau NHTM về độ lớn của nguồn vốn huy động nên CTBH cùng với các NHTM và các tổ chức tín dụng khác thực hiện tốt vai trò cung ứng vốn cho TTCK Hơn nữa, do tập trung được nhiều nguồn vốn từ khách hàng tham gia bảo hiểm, từ các cá nhân nhỏ lẻ đến các pháp nhân quan trọng, CTBH đầu tư hiệu quả trên TTCK chứng tỏ ĐCTC này có khả năng thu hút và đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy sự luân chuyển và sử dụng vốn trên thị trường
3.2 Mở rộng các đối tượng tham gia thị trường
Việc CTBH tham gia đầu tư trên TTCK cho thấy trong khuôn khổ luật pháp điều chỉnh, nhiều chủ thể trong một nền kinh tế có thể tìm đến một nguồn huy động vốn quy mô và hiệu quả TTCK với những hoạt động luân chuyển vốn nhịp nhàng có thể giúp Chính phủ giảm thâm hụt ngân sách, thực thi chính sách tiền tệ, các doanh nghiệp huy động được vốn để đầu tư phát triển, cải thiện tình hình tài chính, nâng cao khả năng quản lý và công chúng cũng được hưởng những thành quả đạt được của nền kinh tế
Hơn hết, CTBH còn có vai trò trong việc giảm nguy cơ tập trung quyền lực trong lĩnh vực tài chính Bởi lẽ, CTBH có quy mô vốn hoạt động đầu tư CK lớn nên Nhà nước càng cần thiết phải giám sát sự đa dạng hóa danh mục đầu tư của định chế này nhằm ngăn chặn sự kiểm soát, khống chế của CTBH với những
Trang 39tổ chức tài chính khác và tránh hiện tượng độc quyền trong việc thâu tóm những hoạt động kinh doanh lớn thông qua hoạt động đầu tư này
3.3 Góp phần xã hội hóa hoạt động đầu tư chứng khoán
Gắn liền với vai trò mở rộng đối tượng tham gia trên TTCK, CTBH đóng góp đáng kể cho việc xã hội hóa hoạt động đầu tư CK thông qua việc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm
Dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm, hoạt động của CTBH bảo toàn được nguồn vốn đầu tư, tránh tình trạng thất thoát vốn
và đảm bảo được quyền lợi cho những người tham gia bảo hiểm Người được bảo hiểm không chỉ được cam kết chi trả trong trường hợp rủi ro xảy ra mà còn nhận được những khoản lợi nhuận từ kết quả đầu tư trên TTCK của CTBH
4 Công ty chứng khoán và ngân hàng đầu tư
Công ty chứng khoán có thể thực hiện cùng một lúc nhiều nghiệp vụ nên
có ảnh hưởng trực tiếp đến các chủ thể tham gia thị trường và đóng vai trò quan trọng đối với thị trường chứng khoán
4.1 Tạo ra cơ chế huy động vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế
Thông qua CTCK, các nhà đầu tư tiếp cận được CK của các tổ chức phát hành, sau đó các CK này được lưu thông trên thị trường Nhờ sự có mặt của CTCK mà những nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi được tập hợp thành một lượng vốn lớn để đầu tư vào các doanh nghiệp và nền kinh tế
4.2 Góp phần ổn định giá cả chứng khoán trên thị trường
Bằng hoạt động tự doanh, CTCK đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường do
đó góp phần bình ổn giá cả CK và tạo dựng thị trường cho các CK mới phát hành lần đầu
4.3 Góp phần tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới trên thị trường
Vai trò này thể hiện rõ trong hoạt động môi giới của CTCK Cụ thể, các nhân viên môi giới của công ty tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên nắm bắt được nhu cầu và chuyển sang cho bộ phận nghiên cứu, phát triển sản phẩm của công ty rồi từ đó các sản phẩm dịch vụ mới ra đời Kết quả là có thêm nhiều sản
Trang 40phẩm dịch vụ, danh mục khách hàng đa dạng và phí dịch vụ ngày càng giảm góp phần thu hút được nhiều nguồn vốn hơn
4.4 Giúp cơ quan quản lý thị trường quản lý, giám sát các hoạt động trên thị trường một cách có hiệu quả
CTCK vừa là người bảo lãnh phát hành các CK mới vừa là trung gian mua bán và thực hiện các giao dịch trên thị trường do vậy nắm bắt được hầu hết thông tin về nhà phát hành, thông tin liên quan đến các giao dịch mua bán CK… Ngoài việc trực tiếp giúp các nhà đầu tư tiếp cận được những nguồn thông tin thị trường sâu sát và kịp thời, CTCK còn có nghĩa vụ cung cấp chính những thông tin đó cho các cơ quan quản lý nhằm mục tiêu quản lý thị trường Nhờ vậy, các
cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và ngăn chặn các hành vi thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường, nắm bắt được thực trạng thị trường để từ đó đưa
Bên cạnh đó, CTCK còn giúp nhà đầu tư tìm kiếm các cơ hội đầu tư có hiệu quả, sử dụng kiến thức đầu tư CK thực sự và tham gia thị trường một cách kịp thời, thuận lợi, do đó góp phần kích cầu cho TTCK