1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

112 4,5K 20
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Và Định Giá Cổ Phiếu Của Các Công Ty Tăng Trưởng Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Tác giả Trần Thị Thanh Huyền
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản thân ban lãnh đạo của các doanh nghiệp này thường xuyên phải định giá lại cổ phiếu của doanh nghiệp để đưa ra những quyết định huy động vốn, sử dụng vốn hiệu quả nhằm duy trì tốc độ

Trang 1

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU

CỦA CÁC CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thanh Huyền Lớp : Anh 4

Khóa : 45 Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Nguyễn Đình Thọ

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG 10

I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG 10

1 Phân loại các công ty trên thị trường chứng khoán theo tốc độ tăng trưởng 10

1.1 Những doanh nghiệp tăng trưởng chậm 10

1.2 Những doanh nghiệp vững mạnh 11

1.3 Những doanh nghiệp tăng trưởng nhanh 11

1.4 Những doanh nghiệp phát triển theo chu kỳ 12

1.5 Những doanh nghiệp đang trên đường đi xuống 13

1.6 Những doanh nghiệp có tài sản ngầm 13

2 Khái niệm công ty tăng trưởng 14

3 Các đặc điểm của công ty tăng trưởng 14

3.1 Ngành nghề kinh doanh 14

3.2 Về ban lãnh đạo 16

3.3 Về quy mô hoạt động 17

3.4 Về khả năng cạnh tranh 18

3.5 Về chiến lược kinh doanh 19

3.6 Về các chỉ tiêu tài chính 21

II CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG 23

1 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu của các công ty trên thị trường chứng khoán 23

1.1 Các nhân tố vĩ mô 23

1.1.1 Tình hình chính trị 23

Trang 3

1.1.2 Môi trường pháp luật 24

1.1.3 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 24

1.1.4 Tỷ giá hối đoái 25

1.1.5 Lạm phát và lãi suất 25

1.1.6 Thâm hụt ngân sách 26

1.1.7 Cung ứng tiền tệ và chi tiêu của người tiêu dùng 26

1.1.8 Thái độ, tâm lý 27

1.2 Các nhân tố thuộc về ngành kinh tế 27

1.2.1 Tốc độ tăng trưởng của ngành 27

1.2.2 Chu kỳ kinh doanh của ngành 28

1.2.3 Mức độ độc quyền của ngành 28

1.2.4 Mức độ rủi ro của ngành 29

1.3 Các nhân tố nội tại của doanh nghiệp 30

1.3.1 Các yếu tố định tính 30

1.3.2 Các hệ số tài chính 32

2 Một số mô hình định giá cổ phiếu 37

2.1 Mô hình chiết khấu cổ tức 37

2.1.1 Mô hình không tăng trưởng (Zero Growth) 40

2.1.2 Mô hình Gordon (cổ tức tăng trưởng đều) 41

2.1.3 Mô hình chiết khấu cổ tức tăng trưởng hai giai đoạn 41

2.1.4 Mô hình H để định giá tăng trưởng 41

2.2 Mô hình sử dụng tỷ số giá/ thu nhập P/E 43

2.3 Mô hình chiết khấu dòng tiền tự do 44

2.3.1 Mô hình chung của FCFF 45

2.3.2 Mô hình tăng trưởng ổn định 45

2.3.3 Mô hình phát triển qua hai giai đoạn 45

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 48

I GIỚI THIỆU CÁC CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 48

Trang 4

1 Thị trường chứng khoán Việt Nam 48

2 Các công ty tăng trưởng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 50

II PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU 51

1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới cổ phiếu 51

1.1 Các yếu tố vĩ mô 51

1.1.1 Tổng sản quốc nội (GDP) 51

1.1.2 Tỷ giá hối đoái 53

1.1.3 Lạm phát và Lãi suất 54

1.1.4 Thâm hụt ngân sách 56

1.1.5 Chi tiêu của người tiêu dùng và lạm phát 56

1.2 Các yếu tố ngành kinh tế 57

2 Thị giá cổ phiếu trên TTCK Việt Nam ngày 2/4/2010 59

3 Định giá cổ phiếu tại thời điểm 2/4/2010 60

3.1 Giới thiệu chung về Công ty 60

3.1.1 Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT 60

3.1.2 Công ty cổ phần Tập đoàn Hoà Phát (HPG) 62

3.1.3 Công ty cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) 62

3.1.4 Công ty cổ phần khoan và dịch vụ dầu khí (PVD) 63

3.1.5 Công ty cổ phần thép Việt ý (VIS) 63

3.2 Định giá cổ phiếu theo mô hình P/E 64

3.3 Định giá cổ phiếu theo mô hình chiết khấu cổ tức (DDM) 64

3.4 Định giá cổ phiếu theo mô hình chiết khấu dòng tiền 68

III MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG VIỆC ĐỊNH GIÁ CÁC CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG TẠI VIỆT NAM 69

1 Khó khăn trong việc lựa chọn phương thức định giá 69

2 Khó khăn trong việc lựa chọn các thông số và giả định cho việc định giá 69

3 Các khó khăn phát sinh từ phía Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước 71

4 Các khó khăn phát sinh từ các tổ chức kinh doanh chứng khoán 74

Trang 5

CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO KHẢ

NĂNG PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG 76

I TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 76

II CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG HIỆU QUẢ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 79

1 Lựa chọn phương thức định giá 79

2 Lựa chọn các thông số và giả định cho việc định giá 81

III ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 84

1 Đối với Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước 84

1.1 Tăng tính chính xác, đầy đủ và kịp thời trong công bố thông tin của các doanh nghiệp 84

1.2 Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin về ngành và thị trường 85

1.3 Phát triển hoạt động các tổ chức xếp hạng tín dụng 86

1.4 Tăng quy mô thị trường 88

1.5 Phổ biến rộng rãi kiến thức về chứng khoán và đầu tư chứng khoán 89

2 Đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán 89

2.1 Đào tạo nhân lực chất lượng cao 89

2.2 Cung cấp thông tin minh bạch 90

3 Đối với nhà đầu tư: 90

KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: Tính β cho các công ty tăng trưởng

PHỤ LỤC 2: Định giá cổ phiếu tăng trưởng theo FCFF

PHỤ LỤC 3: Tổng hợp Báo cáo tài chính của các công ty tăng trưởng

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2: Phân loại ngành và các chỉ tiêu về Quy mô, tăng trưởng 58

Bảng 6: Giá cổ phiếu tính theo mô hình chiết khấu cổ tức 67

Bảng 7: Giá cổ phiếu tính theo mô hình chiết khấu dòng tiền 68

Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam qua các năm 52

Trang 7

FPT Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT

HPG Công ty cổ phần Tập đoàn Hoà Phát

PNJ Công ty cổ phần Vàng Bạc Đá quý Phú Nhuận

PVD Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ Dầu khí

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phân tích và định giá cổ phiếu đóng một vai trò hết sức quan trọng trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và thị trường tài chính Việt Nam nói chung Phân tích và định giá cổ phiếu có ý nghĩa to lớn đối với phần lớn các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán Việt Nam và thị trường tài chính Việt Nam Đó chính là các doanh nghiệp, nhà đầu tư và các ngân hàng Doanh nghiệp sử dụng phân tích và định giá cổ phiếu để đưa ra các quyết định về huy động và sử dụng vốn; nhà đầu tư sử dụng phân tích và định giá

cổ phiếu cho mục đích đầu tư; còn các ngân hàng sử dụng phân tích và định giá cổ phiếu trong các quyết định cho vay Phân tích và định giá cổ phiếu đóng vai trò quan trọng là thế, nhưng hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt Nam, phân tích và định giá cổ phiếu vẫn chưa được sử dụng rộng rãi do gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong quá trình phân tích và định giá Đó là những khó khăn trong việc lựa chọn mô hình định giá, trong ước lượng tham

số cho việc định giá hay các khó khăn khác phát sinh từ Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước, các công ty chứng khoán và các nhà đầu tư

Trong các doanh nghiệp cần được định giá thì định giá các doanh nghiệp tăng trưởng có một tầm quan trọng hơn cả Bản thân ban lãnh đạo của các doanh nghiệp này thường xuyên phải định giá lại cổ phiếu của doanh nghiệp để đưa ra những quyết định huy động vốn, sử dụng vốn hiệu quả nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng đề ra, các ngân hàng cũng thường dễ dàng cho vay hơn với các doanh nghiệp tăng trưởng và nhà đầu tư cũng ưa thích đầu tư vào các doanh nghiệp tăng trưởng, vì vậy công tác phân tích và định giá cổ phiếu của doanh nghiệp tăng trưởng diễn ra thường xuyên hơn

Trang 9

Vì vậy, em đã chọn đề tài "Phân tích và định giá cổ phiếu của các công

ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khoá luận là nhằm tổng hợp các mô hình định giá cổ phiếu tăng trưởng, để từ đó lựa chọn mô hình phù hợp nhất với từng loại hình công ty tăng trưởng Đồng thời nêu lên những khó khăn trong phân tích và định giá cổ phiếu tăng trưởng trên thị trường chứng khoán Việt Nam để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị giúp cho việc phân tích, định giá chính xác và thuận lợi hơn; giúp cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như các ngân hàng có những quyết định đúng đắn nhất cho mục đích sử dụng vốn và huy động vốn, đầu tư hay cho vay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của khoán luận là các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của khoá luận xin phép tập trung vào giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2009 để từ đó định giá cổ phiếu tăng trưởng vào thời điểm tháng 4/2010; và khóa luận cũng xin phép được tập trung vào cổ phiếu của doanh nghiệp tăng trưởng nhanh - một trong sáu loại doanh nghiệp tăng trưởng: doanh nghiệp tăng trưởng chậm, doanh nghiệp vững mạnh, doanh nghiệp tăng trưởng nhanh, doanh nghiệp phát triển theo chu kỳ, doanh nghiệp đang trên đường đi xuống và doanh nghiệp có tài sản ngầm

4 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như mô tả, phân tích, thống kê, tổng hợp và đưa ra các ví dụ thực tế, từ đó làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu

Trang 10

trường chứng khoán Việt Nam

Chương III: Kiến nghị một số giải pháp để nâng cao khả năng phân tích và

định giá cổ phiếu tăng trưởng

Do những hạn chế về trình độ, thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế nên khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong được

sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy, cô giáo

Cuối cùng em xin đặc biệt cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đình Thọ - người

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo giảng dạy tại Khoa Tài Chính Ngân Hàng – trường Đại học Ngoại Thương đã trang bị cho em những kiến thức nền tảng để em có thể tiếp cận và nghiên cứu đề tài này

Trang 11

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÂN TÍCH VÀ

ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG

I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TĂNG TRƯỞNG

1 Phân loại các công ty trên thị trường chứng khoán theo tốc độ tăng trưởng

Trong hoạt động phân tích và định giá cổ phiếu, có rất nhiều cách phân loại khác nhau, mỗi nhà phân tích và định giá cổ phiếu lại có một cách phân loại cho riêng mình Đối với các nhà phân tích và định giá cổ phiếu tăng trưởng thì việc phân loại doanh nghiệp chủ yếu dựa vào tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp Theo cách thức phân loại này, ta có thể phân loại các doanh nghiệp thành các nhóm sau:

1.1 Những doanh nghiệp tăng trưởng chậm

Thông thường thì người ta nghĩ rằng những công ty lớn, nổi tiếng và chiếm nhiều thị phần sẽ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân Nhưng thực tế thì không phải như vậy Những công ty này ban đầu tăng trưởng rất nhanh nhưng sau một thời gian chúng sẽ tăng trưởng chậm lại và trở nên trì trệ hơn bởi một trong hai lý do: hoặc là chúng đã phát triển đến mức giới hạn, hoặc là chúng không còn năng động

để nắm lấy các cơ hội Bộ máy của các công ty này thường quá cồng kềnh

và vận hành không hiệu quả, ban quản lý thiếu sự năng động, kém thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Những công ty này thường hoạt động trong những ngành không tăng trưởng hoặc tăng trưởng chậm Hoặc là hoạt động trong ngành có tốc độ tăng trưởng khá nhưng lại đang xuất hiện nhiều công ty cạnh tranh xuất hiện trên thị trường với

Trang 12

những thế mạnh riêng và sự năng động đang dần chiếm lĩnh thị phần của các công ty đi trước

1.2 Những doanh nghiệp vững mạnh

Đây là những doanh nghiệp có quy mô lớn, có thương hiệu nổi tiếng

và đang đạt được tốc độ tăng trưởng khá nhờ ban quản trị năng động, hoạt động kinh doanh hiệu quả Mặc dù những doanh nghiệp này không phải là những công ty có tốc độ tăng trưởng cao nhưng họ tăng trưởng nhanh hơn những doanh nghiệp tăng trưởng chậm

Thông thường trong danh mục đầu tư của các nhà đầu tư lớn thường

có cổ phiếu của các doanh nghiệp này nhờ tính thanh khoản cao và nó là công cụ bảo vệ tốt nhất trong những thời điểm khủng hoảng ngắn hạn hoặc khó khăn Phần lớn những doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực hàng tiêu dùng hoặc những sản phẩm thiết yếu Nhu cầu về những sản phẩm này không suy giảm hoặc là giảm rất ít trong thời kỳ nền kinh tế gặp khó khăn Tuy nhiên khi nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao thì những lĩnh vực này cũng chỉ tăng trưởng với tốc độ ở mức trung bình

1.3 Những doanh nghiệp tăng trưởng nhanh

Đây thường là những doanh nghiệp mới, quy mô nhỏ và rất năng động, thường đạt được tốc độ tăng trưởng cao, tùy tình hình kinh tế mà dao động trong khoảng từ 25 đến 50% một năm; trong điều kiện kinh tế suy thoái thì tỷ lệ nỳ từ 15 đến 30% Nếu nhà đầu tư có sự lựa chọn sáng suốt thì đây là những doanh nghiệp có tiềm năng tăng giá cổ phiếu rất lớn

Một doanh nghiệp tăng trưởng nhanh mặc dù phần lớn là hoạt động trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp không nằm trong một lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao mà vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh Có thể các doanh nghiệp này chỉ

Trang 13

cần một phân khúc thị trường nhỏ trong các ngành công nghiệp chậm phát triển là cũng có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao Họ là những doanh nghiệp rất năng động và hiệu quả, có lợi thế cạnh tranh cao nên lôi kéo thành công khách hàng của các doanh nghiệp khác

Tuy nhiên cũng tồn tại một số rủi ro đối với các doanh nghiệp phát triển quá nóng này, nhất là khi những doanh nghiệp non trẻ, đầu tư quá mức trong khi không đủ tiềm lực tài chính Hơn nữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường không thích những công ty phát triển nhanh nhưng không còn đủ sức để duy trì tốc độ tăng trưởng cao và có nguy cơ tăng trưởng chậm Khi điều này xảy ra thì giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó sẽ giảm rất nhanh

1.4 Những doanh nghiệp phát triển theo chu kỳ

Doanh nghiệp phát triển theo chu kỳ là những doanh nghiệp mà việc tăng hay giảm trong doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp tuân theo những quy luật ổn định, các nhà đầu tư chuyên nghiệp có thể dự báo được điều này Trong một ngành tăng trưởng thì hoạt động kinh doanh sẽ liên tục mở rộng, nhưng trong một ngành công nghiệp tuần hoàn thì nó sẽ mở rộng rồi thu hẹp, sau đó lại mở rộng

Những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như sản xuất ô tô, xây dựng, sản xuất thép, hoá chất… là những doanh nghiệp phát triển có tính chu kỳ Khi nền kinh tế thoát khỏi khó khăn, các công ty này thường hoạt động rất tốt, giá cổ phiếu của chúng có xu hướng tăng nhanh hơn giá

cổ phiếu của các công ty tăng trưởng vững mạnh Nhưng nếu nhà đầu tư lựa chọn sai thời điểm trong chu kỳ tuần hoàn để mua cổ phiếu thì họ sẽ gặp phải nguy cơ giảm giá cổ phiếu rất lớn

Trang 14

Cổ phiếu phát triển theo chu kỳ rất dễ tạo ra sự nhầm lẫn cho nhà đầu tư Nếu nhà đầu tư không thận trọng sẽ tưởng đây là loại cổ phiếu an toàn và dễ dàng đầu tư vào đó Bởi vì hầu hết những doanh nghiệp này đều rất lớn mạnh và danh tiếng, vì vậy nhà đầu tư thường xếp chúng vào nhóm những công ty vững mạnh

1.5 Những doanh nghiệp đang trên đường đi xuống

Những doanh nghiệp thuộc danh mục này có chung nhiều đặc điểm như hoạt động không hiệu quả, quản lý kém, trì trệ, có thể có nhiều bê bối… Đây không phải là những doanh nghiệp tăng trưởng chậm mà chúng

là những doanh nghiệp không hề tăng trưởng Những doanh nghiệp này khó mà phục hồi sau những khó khăn như những doanh nghiệp phát triển theo chu kỳ và thường phải đối mặt với những rủi ro tiềm tàng

1.6 Những doanh nghiệp có tài sản ngầm

Đây là những doanh nghiệp sở hữu tài sản nào đó rất giá trị nhưng trong báo cáo tài chính có thể chưa phản ánh hoặc phản ánh không đúng giá trị tài sản này và phần lớn các nhà đầu tư không biết đến Trong việc phát hiện cơ hội đầu tư vào những doanh nghiệp này thì những thông tin nội bộ là lợi thế lớn nhất

Tài sản ngầm có thể biểu hiện dưới dạng bất động sản, kim loại, dầu

mỏ, các loại thuốc được cấp bằng phát minh sáng chế… Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, rất nhiều doanh nghiệp Nhà nước khi cổ phần hoá,

sở hữu rất nhiều bất động sản giá trị, nhưng do chế độ kế toán hiện hành chưa bắt buộc phải phản ánh giá trị quyền sử dụng đất vào bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp nên có nhiều bất động sản có giá trị lớn không được đưa vào bảng cân đối kế toán Có nhiều nhà đầu tư nhanh nhạy biết được

Trang 15

trước các nhà đầu tư khác và họ đã thu được những khoản lợi nhuận rất lớn

từ khoản đầu tư của mình

2 Khái niệm công ty tăng trưởng

Công ty tăng trưởng mà sinh viên muốn đề cập trong luận văn này

chính là các công ty tăng trưởng nhanh, tức là những công ty được nhà đầu

tư kỳ vọng sẽ có lợi nhuận sẽ tăng trưởng nhanh và bền vững trong tương lai để có thể nâng cao giá trị của công ty đó so với giá trị hiện tại đang được thị trường đánh giá Vì vậy khi nhà đầu tư đầu tư vào cổ phiếu của

các công ty này theo giá hiện tại sẽ kỳ vọng thu được lợi nhuận trong tương lai vì họ kỳ vọng rằng trong tương lai giá trị của các công ty đó sẽ được nâng lên và do đó thị trường sẽ đánh giá giá trị của công ty đó cao hơn mức giá hiện tại

3 Các đặc điểm của công ty tăng trưởng

Trong thực tế thì các công ty tăng trưởng nhanh rất đa dạng, chúng

có đặc điểm chung là có tiềm năng tăng trưởng lớn, song về các yếu tố khác thì chúng không hẳn là theo một khuôn mẫu nhất định nào Tuy nhiên phần lớn trong số đó sẽ hội tụ những đặc điểm chính sau:

3.1 Ngành nghề kinh doanh

Các công ty tăng trưởng nhanh hoặc là hoạt động trong một ngành

có tốc độ tăng trưởng nhanh, hoặc là phát hiện và khai thác có hiệu quả một phân khúc thị trường còn bị bỏ ngỏ trong một ngành tăng trưởng chậm, hay có khả năng đưa ra những sản phẩm mới có lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành

- Ngành nghề kinh doanh có tốc độ tăng trưởng cao: sẽ có những

nhiều doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao Các doanh nghiệp này không cần có lợi thế cạnh tranh vượt trội và hiệu quả kinh doanh ở vị trí

Trang 16

dẫn đầu mà có thể chỉcần hoạt động ở mức trung bình và giữ được thị phần của mình trong một ngành tăng trưởng cao thì cũng đã có thể đạt được thành tích tăng trưởng cao Tuy nhiên nếu nhà đầu tư dự báo không tốt và đầu tư vào những doanh nghiệp này vào thời điểm ngành tăng trưởng này sắp bão hoà tức là thời điểm cuối của chu kỳ tăng trưởng của ngành thì mức giá mà nhà đầu tư đã bỏ ra để mua cổ phiếu của các công ty này trước đây với kỳ vọng sẽ duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài thì nhà đầu tư có thể bị thua lỗ lớn Hơn nữa những doanh nghiệp có thành tích hoạt động trung bình trong một ngành tăng trưởng nhanh có thể dễ bị tổn thương trong trường hợp ngành kinh doanh đó diễn biến không thuận lợi Đối với nhà đầu tư không có nhiều kinh nghiệm và khả năng dự báo còn hạn chế thì chỉ nên đầu tư khi phát hiện được doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh và hiệu quả dẫn đầu ngành, hoạt động kinh doanh trong một ngành không phát triển theo chu kỳ (hoặc tính chu kỳ ở mức thấp) với mức giá hợp lý

- Ngành có tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thậm chí là không tăng trưởng: Các công ty tăng trưởng hoạt động trong các ngành có thể là

một doanh nghiệp năng động, đã xác định được một khoảng trống của thị trường hay là một phân khúc thị trường nào đó chưa được khai thác, và các công ty này thiết kế được những sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng tốt, có hiệu quả phân khúc thị trường đó, điều đó sẽ mang lại sự tăng trưởng nhanh cho các công ty đó Hoặc là những công ty đưa ra được những sản phẩm hay dịch vụ mới, có lợi thế vượ trội so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, do

đó họ chiếm được thị phần của đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, để duy trì được tốc độ tăng trưởng cao thì các công ty này phải thường xuyên nghiên cứu và đưa ra được những sản phẩm mới có lợi thế vượt trội, vì các sản phẩm mới có thể bị đối thủ cạnh tranh sao chép rất nhanh

Trang 17

3.2 Về ban lãnh đạo

Để điều hành một doanh nghiệp thành công, ban lãnh đạo doanh nghiệp phải là những người có tâm huyết, gắn bó với doanh nghiệp, nhất là những lúc mà doanh nghiệp phải trải qua những giai đoạn phát triển khó khăn Nếu ban lãnh đạo không tâm huyết với doanh nghiệp thì rất khó có thể chèo lái doanh nghiệp vượt qua được những khó khăn trở ngại và vì một động cơ nào đó, có thể đưa ra những quyết định không đảm bảo quyền lợi cho cổ đông Thông thường, nếu ban lãnh đạo yêu ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời là những nhà sáng lập và nắm giữ một

số lượng cổ phần đủ lớn thì sẽ tâm huyết với doanh nghiệp hơn là những nhà lãnh đạo chỉ được thuê để làm công việc đó Vì khi là nhà sáng lập thì ban lãnh đạo xem doanh nghiệp như là đứa con tinh thần của mình nên sự phát triển của nó rất quan trọng đối với họ

Kinh nghiệm chuyên môn và kinh nghiệm quản lý cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thành công của một nhà lãnh đạo doanh nghiệp Các nhà đầu tư thường đánh giá cao những người có nhiều năm kinh nghiệm về chuyên môn và quản lý trong ngành

Ngoài các yếu tố về tâm huyết và kinh nghiệm một nhà lãnh đạo thành công còn cần phải có tư duy chiến lược, sự sáng tạo và đổi mới, biết cách thu hút và khai thác nhân tài, và có tham vọng lớn Tư duy chiến lược

sẽ giúp định hướng doanh nghiệp phát triển đúng hướng trong dài hạn, tận dụng được các cơ hội và khai thác được tối đa thế mạnh của mình Sự sáng tạo và đổi mới sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển năng động hơn, có khả năng thích nghi cao với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, nhạy bén trong việc nhận biết và khai thác cơ hội Khả năng thu hút và khai thác nhân tài sẽ giúp cho doanh nghiệp có lợi thế hơn đối với các doanh nghiệp khác trong ngành và luôn có chi phí lao động thấp so với giá trị mà đội ngũ

Trang 18

lao động mang lại Và cuối cùng là một ban lãnh đạo có tham vọng sẽ luôn tìm mọi cách để doanh nghiệp phát triển nhanh và có hiệu quả, chiến thắng trong cạnh tranh, tăng trưởng về thị phần

3.3 Về quy mô hoạt động

Về mặt lý thuyết thì chu kỳ phát triển của một doanh nghiệp thường trải qua bốn giai đoạn đó là khởi đầu, tăng trưởng, bão hoà và suy thoái Trong thực tế thì mõi doanh nghiệp có tuổi đời khác nhau, có thời gian của mỗi giai đoạn khác nhau và có thể chỉ trải qua một vài giai đoạn trong toàn

bộ chu kỳ đó Như vậy, những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, đang trong giai đoạn tăng trưởng sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn những doanh nghiệp có quy mô lớn và đi vào giai đoạn bão hoà

Nếu đánh giá chung thì những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ thường có tốc độ tăng trưởng cao hơn các doanh nghiệp lớn Nguyên onhân là do các doanh nghiệp lớn thường có quy mô khá cồng kềnh, trì trệ, kém năng động Các doanh nghiệp này thường là đã chiếm một thị phần tương đối lớn và do vậy nó không có đất để có thể phát triển với tốc độ cao Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao, các doanh nghiệp này phải mở rộng, xâm nhập được thị trường mới, hoặc có sản phẩm vượt trội so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh để có thể chiếm lĩnh thị phần, hoặc có sản phẩm mới hứa hẹn mang lại doanh thu lớn để đảm bảo cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp

Ngược lại với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là những doanh nghiệp năng động hơn Các doanh nghiệp này thường mới phát hiện được một khoảng trống, một phân khúc thị trường có nhiều tiềm năng và họ đang cố gắng để đáp ứng tốt nhu cầu của phân khúc thị trường đó Vì vậy họ có thị trường để đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian

Trang 19

3.4 Về khả năng cạnh tranh

Để đánh giá khả năng cạnh tranh thành công của một doanh nghiệp chúng ta sẽ đánh giá cả hai mặt của cạnh tranh đó là áp lực cạnh tranh của ngành và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Về áp lực cạnh tranh của ngành: phụ thuộc vào mức độ độc quyền

của ngành, các rào cản gia nhập ngành cao hay thấp Nếu một ngành có mức độ độc quyền cao và rào cản gia nhập ngành cao thì doanh nghiệp đó

có thể thu được lợi nhuận độc quyền nhờ khả năng định giá độc quyền, và các rủi ro xuất phát từ nguyên nhân cạnh tranh sẽ rất thấp Đối với những doanh nghiệp này thì tốc độ tăng trưởng của họ phụ thuộc chủ yếu vào tốc

độ phát triển của ngành

Về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: phụ thuộc vào các yếu tố

như: Chất lượng sản phẩm, giá, tính độc đáo của sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp Để có thể chiến thắng trong cạnh tranh, duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, sản phẩm của doanh nghiệp phải có chất lượng vượt trội, được bán với giá tương đối thấp so với chất lượng mà nó mang lại, và nó phải có tính độc đáo, không thể bị nhầm lẫn với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của khách hàng mục tiêu so với sản phẩm của đối thủ Ngoài ra, một doanh nghiệp sở hữu một thương hiệu nổi tiếng cũng có lợi thế cạnh tranh nhất định, nhất là đối với những ngành mà sản phẩm của các công ty tương đối đồng nhất, khách hàng rất khó đánh giá và so sánh chất lượng sản phẩm của các công

ty khác nhau, thì lúc đó thương hiệu của sản phẩm là rất quan trọng vì khách hàng lựa chọn sản phẩm chủ yếu dựa vào uy tín của doanh nghiệp

và thương hiệu của sản phẩm

Như vậy có thể nói để đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian tương đối dài thì doanh nghiệp hoặc là phải hoạt động trong một

Trang 20

ngành kinh doanh có rào cản gia nhập ngành tương đối lớn và có tốc độ tăng trưởng cao

3.5 Về chiến lược kinh doanh

Trong một môi trường kinh doanh thay đổi ngày càng nhanh chóng, tốc độ xuất hiện các cơ hội và nguy cơ cũng nhanh hơn đối với các doanh nghiệp Vì vậy để doanh nghiệp đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn thì doanh nghiệp phải xây dựng cho mình được một chiến lược kinh doanh phù hợp để đón đầu các cơ hội và có biện pháp đẩy lùi các nguy cơ Một chiến lược đúng đắn và phù hợp phải đảm bảo được khả năng phát huy tối đa lợi thế, điểm mạnh của doanh nghiệp mình và khắc phục được những điểm yếu đang tồn tại

Về cơ bản, khi xây dựng chiến lược kinh doanh, các nhà xây dựng chiến lược cần trả lời được các câu hỏi sau:

- Phương hướng phát triển trong dài hạn, tức là mục tiêu mà doanh nghiệp sẽ vươn tới trong dài hạn là ở đâu;

- Thị trường và phạm vi thị trường mà doanh nghiệp sẽ tham gia Doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường nào và những hoạt động nào

mà doanh nghiệp cần phải thực hiện để tham gia trên thị trường đó;

- Lợi thế của doanh nghiệp là ở đâu và làm thế nào để doanh nghiệp phát huy nó? Tức là doanh nghiệp làm thế nào để hoạt động tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đó;

- Những nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, các mối quan hệ, năng lực kỹ thuật, trang thiết bị…) cần phải có để có thể cạnh tranh được;

- Những nhân tố từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp;

Trang 21

- Những giá trị và kỳ vọng mà các cổ đông của doanh nghiệp cần là gì?

Quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược bao gồm phân tích chiến lược, lựa chọn chiến lược và thực hiện chiến lược

Để phân tích và đánh giá chiến lược của một doanh nghiệp có phù hợp hay không nhà đầu tư có thể thu thập thông tin từ các nguồn như bản cáo bạch, trang web của doanh nghiệp… Ở đó sẽ nêu rõ về môi trường hoạt động kinh doanh, điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp và chiến lược phát triển trong dài hạn của doanh nghiệp Nhà đầu tư phải đưa ra được đánh giá của mình về tính khả thi của chiến lược và khả năng thực hiện chiến lược đó của doanh nghiệp để từ đó đưa ra các dự báo hỗ trợ cho công tác định giá doanh nghiệp của nhà đầu tư

Khi đánh giá chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, nhà đầu tư cần cảnh giác với những doanh nghiệp có chiến lược đa dạng hoá quá mức, không tập trung vào những lĩnh vực ngành nghề mà mình có thế mạnh và kinh nghiệm Khi đó khả năng cạnh tranh của nó thường có xu hướng giảm sút và khó đi tới thành công Việc đa dạng hoá kinh doanh quá mức có thể

là hệ quả của việc xây dựng chiến lược thiếu thận trọng, chạy theo lợi nhuận trước mắt nhưng không ý thức được đầy đủ những rủi ro có thể xảy

ra và cũng có thể là xuất phát từ tham vọng bành trướng của ban lãnh đạo doanh nghiệp không xuất phát từ động cơ tối đa hoá lợi ích cho cổ đông

Như vậy có thể nói để duy trì được tốc độ tăng trưởng trong dài hạn thì doanh nghiệp phải có được một chiến lược kinh doanh khả thi, đảm bảo mức tăng trưởng cao hàng năm, được xây dựng trên những nguồn lực hiện

có của doanh nghiệp và dự báo tốt về những thay đổi của môi trường kinh doanh

Trang 22

3.6 Về các chỉ tiêu tài chính

Mặc dù các chỉ tiêu tài chính của một công ty phụ thuộc vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động của doanh nghiệp, các giai đoạn phát triển trong chu kỳ hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp… nên không thể đưa ra những đặc trưng mang tính cụ thể về các chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh Tuy nhiên khi đặt các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh với các doanh nghiệp có cùng điều kiện để so sánh thì các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh sẽ

có các chỉ tiêu tài chính có xu hướng như sau:

- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng: Như phần trên đã nêu về khái niệm của công ty tăng trưởng, đây là những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu, lợi nhuận, quy mô tài sản… Nếu các chỉ tiêu này được duy trì trong cả những thời gian mà môi trường kinh doanh của công ty gặp khó khăn thì mức độ bền vững của sự tăng trưởng

sẽ cao hơn Tuy nhiên đây là số liệu tăng trưởng trong quá khứ, để duy trì được tốc độ tăng trưởng trong tương lai doanh nghiệp cần phải có mức đầu

tư hợp lý và khả năng mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm mới…

- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán: Do các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao thường cần một lượng vốn tái đầu tư hàng năm lớn, do đó tiền mặt dự trữ thường không nhiều, nhu cầu vốn lớn

có thể dẫn tới mức độ vay vốn cao hơn mức trung bình Vì vậy các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của các doanh nghiệp này thường không cao, tuy nhiên đối với các doanh nghiệp có chỉ số này thấp quá thì

ca cơ sở rủi ro như rủi ro thanh toán, rủi do do biến động lãi suất… là rất lớn

- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản và nguồn vốn: Vớ i nhóm chỉ tiêu này thì các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao và các

Trang 23

doanh nghiệp bình thường không có sự khác biệt lớn nào Nếu doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao mà nguồn vốn tài trợ cho việc đầu tư lại chủ yếu dựa vào vốn vay chứ không phải dựa vào lợi nhuận tích luỹ thì trong cơ cấu nguồn vốn thường nguồn vốn vay có tỷ trọng lớn và rủi ro hoạt động của doanh nghiệp này sẽ cao

- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động: Doanh nghiệp tăng trưởng cao thường có các chỉ tiêu này rất tốt Nhờ có khả năng khai thác tốt các tài sản của mình nên các doanh nghiệp này thường có giá thành thấp, khả năng cạnh tranh cao Các chỉ tiêu như vòng quay của tổng tài sản, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu, tỷ lệ doanh thu trên tài sản cố định… thường rất cao Các chỉ tiêu này cũng phản ánh rất tốt khả năng điều hành của ban lãnh đạo doanh nghiệp

- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp:

Để một doanh nghiệp đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh thì nó phải tạo ra được một nguồn tiền mặt hàng năm lớn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư của mình Vì vậy chỉ có những doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao mới đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh Do đó các chỉ tiêu như tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu, tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu… của các doanh nghiệp tăng trưởng thường khá cao

- Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tính cho mỗi cổ phần: Do khả năng sinh lợi cao nên chỉ tiêu thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) của các doanh nghiệp này thường khá cao Hơn nữa do có tốc độ tăng trưởng cao nên nhà đầu tư thường đặt kỳ vọng rất lớn và cổ phiếu của các doanh nghiệp này nên nó thường được giao dịch ở mức giá khá cao do đó chỉ tiêu giá trên thu nhập (P/E) thường cao Tuy nhiên nếu mua cổ phiếu có chỉ tiêu P/E quá cao nhà đầu tư có thể gặp phải rủi ro lớn và mức sinh lời cũng thấp do thị trường đã đánh giá cao tiềm năng phát triển của doanh nghiệp đó vì vậy cơ

Trang 24

hội mua cổ phiếu ở mức giá rẻ là không còn Nhà đầu tư cần tìm kiếm những công ty có tiềm năng tăng trưởng cao, tuy nhiên chưa được thị trường nhận biết, do đó nó vẫn được giao dịch ở mức P/E thấp Ngoài ra, chỉ tiêu hệ số giá trị trường trên giá trị sổ sách (P/B) của các doanh nghiệp này thường cao Còn tỷ suất cổ tức trên giá thị trường (D/P) thường thấp

do các doanh nghiệp này thường dùng phàn lớn lợi nhuận thu được để tái đầu tư, nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng, còn lợi nhuận dành cho việc chi trả cổ tức thường là thấp

II CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG TRƯỞNG

1 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu của các công

Thay đổi chính trị cũng làm cho nhiều quy định và sự kiểm soát của Chính phủ trong một số ngành được thắt chặt và một số quy định trong các ngành khác lại được nới lỏng Chúng đều có tác động rất lớn tới kết quả kinh doanh của mỗi ngành, mỗi công ty

Trang 25

1.1.2 Môi trường pháp luật

Môi trường pháp luật cũng là yếu tố cơ bản gây tác động tới thị trường chứng khoán Các cơ quan Chính phủ tác động tới thị trường chứng khoán bằng luật Chẳng hạn, những quy định về giá cả dịch vụ sẽ gây tác động trực tiếp tới ngành dịch vụ công cộng Luật chống độc quyền thường làm giảm giá chứng khoán của các công ty bị điều chỉnh bởi nó Luạt thâu tóm sáp nhập công ty có thể gây tác động tiêu cực haytích cực đến một nhóm các công ty Chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Trung ương

có thể gây tác động to lớn đến thị trường… Do vậy môi trường pháp lý cần được xem xét theo các góc độ như:

- Hệ thống hành lang pháp lý của thị trường chứng khoán được xây dựng như thế nào? Có đủ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư hay không?

- Các luật pháp liên quan có trùng chéo, mâu thuẫn không?

- Khả năng thực thi pháp luật thế nào?

- Những mặt khuyến khích, ưu đãi và hạn chế được quy định trong

Trang 26

1.1.4 Tỷ giá hối đoái

Khi nhà đầu tư nhận định rằng đồng nội tệ có thể bị phá giá trong thời gian tới thì nhà đầu tư đó sẽ quyết định không đầu tư vào chứng khoán hoặc sẽ tìm cách thay thế chứng khoán bằng tài sản ngoại tệ vì chứng khoán chính là tiền, nếu tiền mất giá thì giá trị chứng khoán sẽ bị giảm Nếu được phép đầu tư ra thị trường nước ngoài thì có thể nhà đầu tư này sẽ chuyển vốn ra đầu tư ở nước ngoài

1.1.5 Lạm phát và lãi suất

Đây là hai nhân tố rất quan trọng gây ảnh hưởng lớn tới quyết định đầu tư vào thị trường chứng khoán Lạm phát dẫn đến sự khác nhau giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực, thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp Thêm vào đó, sự thay đổi không mong đợi của tỷ lệ lạm phát sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới của doanh nghiệp Không những thế, tỷ lệ lãi suất và tỷ lệ lạm phát khác nhau còn tác động đến các khâu thanh toán giữa các nước và tỷ giá hối đoái

Lãi suất tác động đến chi phí vốn và lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư khi đầu tư vào chứng khoán do đó nó tác động trực tiếp tới giá chứng khoán, tuy nhiên mối quan hệ này không hoàn toàn diễn ra một chiều Nếu xét trên phương diện tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đơn thuần thì có thể xảy ra một số trường hợp sau:

- Nếu lãi suất tăng lên do lạm phát thì giá hàng hoá bán ra của các công ty có thể tăng cùng với lạm phát do chi phí đầu vào tăng Điều này dẫn đến thu nhập của công ty cũng tăng lên Do vậy giá cổ phiếu trong trường hợp này có thể giữ ổn định vì tuy lãi suất chiết khấu tăng lên nhưng dòng thu nhập cũng tăng theo, hai nhân tố này bù đắp cho nhau và giữ cho

Trang 27

- Nếu lãi suất tăng nhưng các dòng thu nhập tương lai của công ty tăng không nhiều vì các công ty không có khả năng tăng giá kịp với lạm phát thì trong trường hợp này giá cổ phiếu sẽ giảm xuống

- Lãi suất tăng nhưng giá trị các dòng thu nhập tương lai của công ty giảm vì các nhân tố làm lãi suất tăng lại đồng thời gây tác động đến thu nhập Chẳng hạn, công ty phải huy động vốn với lãi suất cao do cạnh tranh vốn lớn, song đến khi hàng hoá được sản xuất và bán ra thì lại gặp sự cạnh tranh gay gắt, trong khi sức mua có hạn Điều này có thể dẫn đến giảm giá hàng hoá trong khi chi phí đầu vào vẫn tăng, do vậy thu nhập của công ty giảm sút

Tuy nhiên, thông thường khi lạm phát và lãi suất cao thì Chính phủ

sẽ áp dụng chính sách tín dụng và tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát,

do đó tiền trong lưu thông sẽ ít đi, nguồn vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán do đó cũng sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí là ảnh hưởng rất mạnh, cộng với yếu tố tâm lý bất án khi các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế bất ổn thì nhà đầu tư có xu hướng chuyển kênh đầu tư sang vàng và bất động sản Tình hình này sẽ dẫn đến sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán

1.1.6 Thâm hụt ngân sách

Bất kỳ sự thâm hụt ngân sách nào đều phải được bù đắp bằng các khoản vay của Chính phủ.Giá trị các khoản vay của Chính phủ càng lớn sẽ càng có tác động để làm tăng lãi suất chuẩn Các khoản vay của Chính phủ quá lớn sẽ cản trở việc vay nợ và đầu tư cá nhân do lãi suất và bóp nghẹt việc đầu tư kinh doanh

1.1.7 Cung ứng tiền tệ và chi tiêu của người tiêu dùng

Một chính sách tiền tệ thắt chặt với tốc độ cung tiền giảm sẽ làm giảm việc cung cấp vốn lưu động và sẽ hạn chế việc mở rộng sản xuất kinh

Trang 28

doanh đối với tất cả các doanh nghiệp Bên cạnh đó, một chính sách tiền tệ thắt chặt với lãi suất định trước có thể làm tăng lãi suất thị trường và do vậy chi phí của các công ty sẽ tăng Còn đối với các cá nhân thì việc vay vốn để mua nhà hay các hàng hoá lâu bền như ô tô và thiết bị sẽ trở nên đắt đỏ hơn Do đó, chính sách tiền tệ tác động đến tất cả các bộ phận của một nền kinh tế Và do vậy nó tác động đến thị trường chứng khoán trên cả hai phương diện đó là tác động thông qua tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và tác động thông qua lượng tiền trong túi của các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư vào thị trường chứng khoán

1.1.8 Thái độ, tâm lý

Thái độ và tâm lý, sự lạc quan hay bi quan với nền kinh tế của người tiêu dùng và nhà sản xuất là yếu tố quyết định đến nền kinh tế Ví dụ, nếu người tiêu dùng biết mức thu nhập của mình trong tương lai sẽ tăng thì họ sẵn sàng chỉ tiêu cho các khoản tiêu dùng có giá trị lớn Cũng tương tự như vậy, các doanh nghiệp sẽ tăng sản lượng nếu họ đoán trước được sẽ có một nhu cầu rất lớn về sản phẩm của mình

Đặc biệt tâm lý lạc quan hay bi quan của các nhà đầu tư có ảnh hưởng cực kỳ lớn nếu không muốn nói là quyết định đến giá cổ phiếu, đặc biệt là đối với những thị trường còn non trẻ như ở Việt Nam, nơi mà trình

độ của nhà đầu tư còn nhiều hạn chế, chiến lược đầu tư chủ yếu là ngắn hạn nên quyết định đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều bởi tâm lý đám đông

1.2 Các nhân tố thuộc về ngành kinh tế

1.2.1 Tốc độ tăng trưởng của ngành

Tốc độ tăng trưởng của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào tốc

độ phát triển của ngành mà doanh nghiệp đó hoạt động Nếu một doanh nghiệp hoạt động trong một ngành đang đi xuống thì doanh nghiệp đó rất

Trang 29

khó để có thể tăng trưởng ở mức cao Vì để đạt được điều đó thì nó phải chiếm được thị phần của các doanh nghiệp khác với tốc độ cao hơn tốc độ suy giảm của ngành Nếu một doanh nghiệp hoạt động trong một ngành không tăng trưởng thì để doanh nghiệp hoạt động trong ngành đó tăng trưởng nó cũng phải có lợi thế cạnh tranh hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh

để chiếm lĩnh thị phần Còn nếu một doanh nghiệp hoạt động trong một ngành có tốc độ tăng trưởng cao thì chỉ cần giữ vững thị phần của nó là cũng có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao rồi

1.2.2 Chu kỳ kinh doanh của ngành

Những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành có chu kỳ phát triển rõ rệt thường được gọi là các doanh nghiệp chu kỳ Những doanh nghiệp này có sự phát triển theo chu kỳ rất rõ nét, ví dụ như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất ô tô, sắt thép, xây dựng, bất động sản… Khi đầu tư vào những doanh nghiệp trong các lĩnh vực này chúng ta phải biết được thời điểm chúng ta đầu tư đang là giai đoạn nào trong chu

kỳ phát triển của ngành đó Nếu chúng ta đầu tư vào thời điểm bắt đầu đi lên của ngành thì lợi nhuận thu được là rất lớn Tuy nhiên nếu lựa chọn sai thời điểm thì rủi ro cũng rất cao

Mặc dù vậy, có một số ngành kinh doanh ít biến động theo chu kỳ, các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành này khá ổn định, ví dụ như ngành sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu, dược phẩm, đào tạo, năng lượng…

Trang 30

hấp dẫn thì sẽ lôi cuốn các doanh nghiệp khác vào kinh doanh, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành sẽ ngày càng tăng và do đó mà lợi nhuận của các doanh nghiệp sẽ giảm

Như vậy mức độ độc quyền của ngành sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành đó và do đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp đó Những ngành càng có tính độc quyền cao, rào cản gia nhập ngành càng lớn thì giá cổ phiếu của các doanh nghiệp trong ngành đó càng cao và ngược lại

Có nhiều mức độ độc quyền khác nhau và nguyên nhân dẫn đến độc quyền cũng rất đa dạng Nếu là độc quyền tự nhiên thì thường là do ngành kinh doanh đó cho phép các doanh nghiệp hoạt động trong đó đạt được thu nhập tăng theo quy mô, tức là khi quy mô tăng lên thì mức lợi nhuận thu được trên mỗi sản phẩm sẽ tăng lên Nếu là độc quyền thường thì do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể là do một hay một số nguyên nhân như: Chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào đó; chế độ bản quyền đối với phát minh sáng chế và sở hữu trí tuệ; do sở hữu được một nguồn lực rất khan hiếm…

1.2.4 Mức độ rủi ro của ngành

Mức độ rủi ro của ngành sẽ ảnh hưởng đến mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do đó nó sẽ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp trong ngành đó Có thể phân các ngành kinh doanh thành ngành có mức độ rủi ro cao, ngành có mức độ rủi ro trung bình và ngành có mức độ rủi ro thấp

- Các ngành có mức độ rủi ro cao là những ngành có rủi ro đặc thù lớn hoặc là những ngành rất nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế nói chung ví dụ như ngành bất động sản, du lịch, sân golf, sòng bạc, ngành

Trang 31

nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao, ngành sản xuất xe hơi, ngành nông nghiệp…

- Các ngành có mức độ rủi ro trung bình là những ngành có mức độ rủi rod dặc thù vừa phải và không quá nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế như ngành ngân hàng, năng lượng, xây dựng, giao thông vận tải, viễn thông…

- Các ngành có mức độ rủi ro thấp là những ngành ít có những rủi ro đặc thù và ít nhạy cảm với những biến động của nền kinh tế như ngành sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu, ngành y tế, giáo dục đào tạo, ngành điện, nước…

1.3 Các nhân tố nội tại của doanh nghiệp

1.3.1 Các yếu tố định tính

(1) Ban lãnh đạo doanh nghiệp

Có thể nói ban lãnh đạo là linh hồn của doanh nghiệp do vậy khả năng và tâm huyết của ban lãnh đạo ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại va fpt của doanh nghiệp Tuy nhiên việc đánh giá khả năng và tâm huyết của ban lãnh đạo không hề đơn giản, sau đây là những khía cạnh mà nhà đầu tư nên tập trung đánh giá về ban lãnh đạo:

- Trình độ, kinh nghiệm: bao gồm cả trình độ về chuyên môn và trình độ quản lý, kinh nghiệm làm việc và quản lý trong ngành

- Mức độ tâm huyết với doanh nghiệp của ban lãnh đạo: Đây là yếu

tố không dễ đánh giá, tuy nhiên nhà đầu tư nên nhìn trên hai góc độ là tình yêu nghề nghiệp của họ và vai trò, thời gian gắn bó của họ đối với doanh nghiệp trong quá trình phát triển

- Khả năng đặt lợi ích của cổ đông lên trên hết trong các quyết định điều hành hoạt động kinh doanh: Sự xung đột lợi ích giữa cổ đông và ban

Trang 32

lãnh đạo tồn tại khá nhiều, nhất là trong các doanh nghiệp lớn, nơi tỷ lệ nắm giữ cổ phần của ban lãnh đạo thường thấp Vì vậy trong điều hành hoạt động kinh doanh ban lãnh đạo có thể đưa ra những quyết định hướng đến lợi ích kinh tế và quyền lực của họ nhiều hơn lợi ích của cổ đông Vì vậy trong các doanh nghiệp mà tỷ lệ nắm giữ cổ phần của ban lãnh đạo thấp thì việc thiết lập một cơ chế kiểm soát của hội đồng quản trị, cơ chế khen thưởng và kỷ luật tối đối với ban lãnh đạo là rất quan trọng

(2) Uy tín của doanh nghiệp và thương hiệu

Uy tín và thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp, tuy nhiên nếu nó chưa được định giá và hạch toán và bảng cân đối kế toán thì nó sẽ

là nhân tố làm tăng giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp

- Uy tín của doanh nghiệp nói chung là sự tin tưởng, là niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp Khi khách hàng có sự tin tưởng đối với doanh nghiệp thì khách hàng thường lựa chọn sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp đó Nhờ vậy mà công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp có được sự phát triển vững chắc nhờ doanh nghiệp có được chỗ đứng tốt trong lòng khách hàng

- Thương hiệu của các dòng sản phẩm cụ thể:

Theo Jack Trout và Steve Rivkin thì "Thương hiệu là một cam kết tuyệt đối về chất lượng, dịch vụ và giá trị trong một thời gian dài được chứng nhận qua hiệu quả sử dụng và bởi sự thoả mãn của khách hàng Thương hiệu là hình ảnh có tính chất văn hoá, lý tính, cảm tính, trực quan

và độc quyền mà bạn liên tưởng tới khi nhắc đến một sản phẩm hay một công ty"

Như vậy, có thể nói rằng thương hiệu sản phẩm là nhãn hiệu của sản phẩm đã được doanh nghiệp "thổi" vào đó một "linh hồn" sống động, có cá

Trang 33

tính, có niềm tin nhất quán, có ấn tượng và cảm nhận tốt về sản phẩm về công ty

(3) Văn hoá doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp, góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp Có thể hiểu văn hoá doanh nghiệp là hệ thống các giá trị đặc trưng được xây dựng nên

và gìn giữ trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và tạo thành hệ thống các chuẩn mực về tinh thần và vật chất chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và các mối quan hệ, thái độ và hành vi ứng xử của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi

và thực hiện các mục tiêu đã đề ra

1.3.2 Các hệ số tài chính

Các hệ số và chỉ tiêu tài chính giúp nhà đầu tư biết được tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty trong quá khứ và hiện tại cũng như biết được tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp như thế nào Qua đó nhà đầu tư có thể kết hợp với môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh của ngành để dự báo sự phát triển trong tương lai của doanh nghiệp

Từ đó nhà đầu tư có thể xác định giá trị của doanh nghiệp dựa trên những giả định mà mình đưa ra Các hệ số tài chính của một doanh nghiệp có thể được phân thành các nhóm như sau:

(1) Nhóm các hệ số phản ánh khả năng thanh toán

Các hệ số về khả năng thanh toán cho biết khả năng của một doanh nghiệp trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn Chúng so sánh các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn như nợ phải trả hoặc thương phiếu

Trang 34

phải trả với tài sản lưu động hoặc luồng tiền sẵn có để đáp ứng các nghĩa

vụ này Khả năng thanh toán thường được phân tích bằng việc tính toán:

- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời: Hệ số này được tính bằng cách lấy tài sản lưu động chia cho nợ ngắn hạn Hệ số này được sử dụng để xem xét khả năng thanh toán nợ đến hạn thanh toán của doanh nghiệp

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Hệ số này được tính bằng cách lấy tài sản lưu động trừ đi hàng tồn kho, còn lại chia cho nợ ngắn hạn Hệ

số này giúp nhà phân tích tính khả năng thanh toán nợ ngắn hạn chính xác hơn so với hệ số khả năng thanh toán hiện thời bởi vì tử số đã được loại bỏ bớt khoản mục hàng tồn kho

- Hệ số tài sản tiền tệ: Hệ số này được tính toán bằng cách lấy tiền sẵn có cộng với chứng khoán khả mại cộng với luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh rồi tất cả chia ra nợ ngắn hạn

(2) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài sản và nguồn vốn

- Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản: Chỉ tiêu này cho phép nhà đầu tư biết được tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản của công ty là bao nhiêu Tỷ lệ này phụ thuộc vào tính chất của ngành nghề kinh doanh Nếu

tỷ lệ này phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp khai thác tốt hơn tài sản của mình

- Tỷ lệ tổng tài sản (hay tổng nguồn vốn) trên vốn chủ sở hữu: tỷ lệ này nói lên mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp vay nợ càng nhiều Các doanh nghiệp cần

có một tỷ lệ này hợp lý, tùy thuộc vào quy mô và ngành nghề kinh doanh, đảm bảo cân đối được khả năng sinh lời và mức độ rủi ro có thể chấp nhận được

- Tài sản lưu động ròng: Chỉ tiêu này được tính bằng tài sản lưu động trừ đi nợ ngắn hạn Nếu một doanh nghiệp bình thường thì chỉ tiêu

Trang 35

này phải dương Ngược lại nếu chỉ tiêu này âm thì doanh nghiệp đang dùng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn Hành động này sẽ dẫn đến một nguy cơ về rủi ro thanh toán rất là cao khi khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả sẽ không có nguồn vốn tương ứng để trả nợ

(3) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất hoạt động

- Doanh thu trên tổng tài sản: Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đơn vị tài sản của doanh nghiệp mỗi năm tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu Chỉ tiêu này khá hữu dụng khi so sánh các doanh nghiệp có cùng quy mô và ngành nghề hoạt động nhằm đánh giá xem doanh nghiệp nào sử dụng tài sản của mình có hiệu suất cao hơn, phản ánh tốc độ quay vòng tài sản của doanh nghiệp

- Vòng quay vốn lưu động: chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy giá vốn hàng bán trong năm chai cho vốn lưu động bình quân trong năm Nó phản ánh tốc độ quay vòng vốn lưu động bình quân trong năm

- Vòng quay các khoản phải thu: Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tổng doanh thu trong năm chia cho các khoản phải thu bình quân trong năm Nó phản ánh tốc độ quay vòng các khoản phải thu trong năm của doanh nghiệp

- Vòng quay hàng tồn kho: Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy giá vốn hàng bán trừ khấu hao trong năm chia cho hàng tồn kho bình quân trong năm Nó phản ánh tốc độ quay vòng hàng tồn kho trong năm của doanh nghiệp

(4) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Chỉ tiêu này có thể được các nhà đầu tư tính bằng nhiều phương pháp Có thể lấy lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh hoặc lợi nhuận trước thuế hoặc lợi nhuận sau thuế để

Trang 36

chia cho doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích phân tích của từng nhà đầu tư Tuy nhiên thông thường chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho doanh thu thuần trong kỳ Nó phản ánh trong mỗi đồng doanh thu mà doanh nghiệp nhận được thì có bao nhiêu đồng là lợi nuậun của doanh nghiệp

- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân trong kỳ

Nó phản ánh khả năng sinh lời của tổng tài sản nói chung của doanh nghiệp Khi so sánh khả năng sinh lời nói chung của hai doanh nghiệp người ta thường so sánh chỉ tiêu này với nhau

- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ, nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu Đây cũng là một chỉ tiêu được các nhà đầu tư quan tâm trong việc đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp

(5) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp

- Tốc độ tăng trưởng doanh thu: Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ và khả năng tăng trưởng về doanh thu của doanh nghiệp Thông thường doanh thu của doanh nghiệp sẽ tăng mạnh khi sản phẩm của doanh nghiệp tăng mạnh, hoặc có sản phẩm hay dự án mới đi vào hoạt động, khai thác, hoặc thị trường mới được mở rộng Tốc độ tăng trưởng doanh thu là cơ sở cho sự tăng trưởng về mọi mặt của doanh nghiệp

- Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc gia nhập lợi nhuận cho chủ sở hữu Nếu doanh thu của doanh nghiệp tăng mà lợi nhuận không tăng tương ứng thì cần phải

Trang 37

doanh nghiệp đưa dự án mới vào hoạt động mà trong thời gian đầu có thể chưa mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng về dài hạn thì dự

án đó lại có hiệu quả cao

- Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản: chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng về quy mô kinh doanh nói chung của doanh nghiệp trong kỳ

(6) Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tính cho mỗi cổ phần

- Thu nhập một cổ phần (EPS): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông (sau đi trừ đi khoản trích lập quỹ khen thưởng phúc lợi) chia cho tổng số cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ,

nó phản ánh thu nhập mà mỗi cổ phiếu mang lại cho cổ đông

- Hệ số giá trên thu nhập (P/E): Chỉ tiêu này được tính bằng cách l

ấy giá của cổ phiếu chia cho EPS của cổ phiếu đó, nó phản ánh thời gian thu hồi vốn của cổ đông nếu EPS và số cổ phiếu lưu hành của công ty không thay đổi

- Hệ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (P/B): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy giá thị trường của cổ phiếu chia cho giá trị sổ sách của mỗi cổ phiếu, nó phản ánh mức độ đắt hay rẻ của giá cổ phiếu so với giá trị sổ sách của cổ phiếu đó

- Tỷ suất cổ tức trên trị giá (D/P): Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy cổ tức mà mỗi cổ phiếu nhận được chia cho thị giá của nó đang giao dịch trên thị trường Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ cổ tức mà nhà đầu tư nhận được so với số tiền bỏ ra để đầu tư vào cổ phiếu đó

Trang 38

2 Một số mô hình định giá cổ phiếu

2.1 Mô hình chiết khấu cổ tức

Giá cổ phiếu hiện tại chính là giá trị quy về hiện tại của toàn bộ các luồng thu nhập trong tương lai Cốt lõi của việc định giá theo phương pháp này có hai yếu tố:

+ Thu nhập trên mỗi cổ phiếu ước đoán cho tương lai

+ Tỷ lệ lãi suất yêu cầu

Vì thế để xác định được giá trị cổ phiếu theo phương pháp định giá này trước tiên phải tính được tỷ lệ lãi suất yêu cầu và ước đoán được thu nhập của cổ phiếu trong tương lai

* Làm thế nào để xác định được thu nhập qua đầu tư vào cổ phiếu?

Giả sử một nhà đầu tư mua một cổ phiếu với giá trong năm là P0 Liệu năm sau người đó thu được lợi nhuận là bao nhiêu, thu nhận được cổ tức và lãi vốn (chênh lệch giá cổ phiếu năm sau so với năm trước)

Nếu ký hiệu cổ tức năm sau là D1 và giá cổ phiếu năm sau là P thì: thu nhập dự kiến vào năm sau là: D1 + (P1 + P0)

Nếu năm sau, nhà đầu tư bán cổ phiếu thì thu nhập thực tế là: D1 + (P1 + P0) Nếu năm sau, nhà đầu tư vẫn giữ cổ phiếu thì thu nhập lãi vốn (P1 - P0) chưa được thựchiện mà chỉ thu được D1 Nhiều người cho rằng thu nhập chắc chắn của người đầu tư là D1 còn lãi vốn chưa thực hiện nên không quan trọng Điều này là sai lầm vì nếu giá cổ phiếu giảm liên tục trong các năm tiếp theo thì nhà đầu tư sẽ bị mất vốn khá lớn Vì vậy, khi tính lãi của người đầu tư cổ phiếu, phải tính đủ cả hai thành phần và cổ tức

và lãi vốn

Như vậy, tỷ suất lợi nhuận dự đoán khi năm nay bỏ vốn mua cổ phiếu với giá P

Trang 39

* Tính tỷ suất lợi nhuận đầu tư (r) - hay còn gọi là tỷ lệ chiết khấu

Để tính được tỷ suất này phải dựa trên mức độ rủi ro của công ty phát hành Rõ ràng là nếu công ty đó có độ rủi ro càng cao thì mức lợi suất đem lại càng lớn, khi đó nhà đầu tư mới có thể đầu tư vào cổ phiếu của công ty đó Để xác định r, người ta có thể dùng một số công thức khác nhau tùy thuộc vào cơ cấu vốn của công ty phát hành Công thức phổ biến nhất là áp dụng theo mô hình CAPM (Capital Asset Pricing Model):

r = rf +  (rm - rf) Trong đó: + rf: Lợi suất phi rủi ro

+ rm: Lợi suất danh mục thị trường + : đo lường mức độ nhạy cảm của lợi suất của từng cổ phiếu so với biến động của lợi suất thị trường

Về mặt lý thuyết, công thức trên chỉ nên áp dụng trong trường hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu Nếu công ty phát hành cả cổ phiếu lẫn trái phiếu (hoặc có vay nợ) thì r cần được xác định theo chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) như sau:

+ rs (hay r): lãi suất gọi vốn cổ phần hay còn gọi là tỷ suất vốn hoá thị trường (lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư khi mua cổ phiếu)

+ rb: lãi suất vay nợ

Trang 40

+ S, B: khối lượng vốn cổ phần và vốn vay tương ứng

Tuy nhiên, trong trường hợp công ty phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thì chưa thể áp dụng các công thức trên để ước tính r vì chưa

có căn cứ về mức độ rủi ro của công ty Vì thế, để có thể xác định được r, nhà đầu tư cần pahir căn cứ vào tỷ suất thu nhập dự tính của các cổ phiếu

có cùng mức rủi ro với cổ phiếu cần định giá, vì để đảm bảo điều kiện cân bằng trong các thị trường vốn hoạt động hoàn hảo thì tất cả các loại chứng khoán có độ cùng rủi ro đều phải chào bán với cùng một tỷ suất thu nhập

dự tính Đôi khi để thuận tiện trong cách tính toán, người ta có thể lấy khung lãi suất chung hiện hành trên thị trường để xác định r

* Tính D 1 : Thông thường việc ước tính cổ tức năm đầu (D1) được dựa trên

số liệu về cổ tức trong quá khứ, chính sách phân chia cổ tức trong tương lai; ước tính thu nhập năm sau của công ty để từ đó ước tính ra giá trị cổ tức có thể nhận được trong năm tới (D1)

* Tính g (tốc độ tăng trưởng của công ty): Việc ước tính tỷ lệ tăng trưởng

cổ tức của công ty phải dựa trên đánh giá tiềm năng phát triển của công ty

về lâu dài chứ không chỉ đơn thuần trong một số năm tới, vì tốc độ tăng trưởng được giả định là mức tăng trưởng g đều đặn của công ty trong suốt thời gian hoạt động Do vậy, các số liệu để tính toán g phải là mức dự toán bình quân về lâu dài

Ngày đăng: 07/05/2014, 18:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.NGƯT. Đinh Xuân Trình, PTS.Nguyễn Thị Quy (1998), Giáo trình Thị trường chứng khoán, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán
Tác giả: PGS.NGƯT. Đinh Xuân Trình, PTS.Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
2. Th.S.Lê Thị Mai Linh, Ủy Ban Chứng Khoán nhà nước, Trung tâm Nghiên Cứu và bồi dưỡng Nghiệp vụ Chứng khoán (2003), Giáo trình Phân tích và đầu tư chứng khoán, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và đầu tư chứng khoán
Tác giả: Th.S.Lê Thị Mai Linh, Ủy Ban Chứng Khoán nhà nước, Trung tâm Nghiên Cứu và bồi dưỡng Nghiệp vụ Chứng khoán
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2003
3. TS. Đào Lê Minh, Ủy ban Chứng Khoán NHà Nước, Trung tâm nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ Chứng khoán (2002), Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: TS. Đào Lê Minh, Ủy ban Chứng Khoán NHà Nước, Trung tâm nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ Chứng khoán
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2002
4. Nguyễn Tấn Bình (2005), Phân tích hoạt động doanh nghiệp, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Tấn Bình
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2005
5. Nguyễn Minh Sơn (2006), Tìm hiểu về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Nguyễn Minh Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2006
6. PGS.TS. Bùi Kim Yến, trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, Bộ môn Thị trường chứng khoán (2007), Bài tập và bài giải phân tích chứng khoán và định giá chứng khoán, NXB Thống kêTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập và bài giải phân tích chứng khoán và định giá chứng khoán
Tác giả: PGS.TS. Bùi Kim Yến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
7. Richard A.Brealey, Stewart C.Myers, Alan J.Marcus (2001), Fundamental of corporate Finance, McGraw-Hill Primis Custom Publishing, Boston Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamental of corporate Finance
Tác giả: Richard A.Brealey, Stewart C.Myers, Alan J.Marcus
Năm: 2001
8. Aswath Damodaran (2003), Investment Philosophies, John Wiley & Son, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investment Philosophies
Tác giả: Aswath Damodaran
Năm: 2003
9. Benjamin Graham (2003), The Intelligent Investor, HarperCollins, America Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Intelligent Investor
Tác giả: Benjamin Graham
Năm: 2003
10. Charterd Financial Analyst – Level 1 (2008), Financial Statement Analysis, Pearson Custom Publishing, BostonCác website 1. www.sbv.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Statement Analysis, "Pearson Custom Publishing, Boston Các website 1
Tác giả: Charterd Financial Analyst – Level 1
Năm: 2008
3. www.finance.yahoo.com 4. www.investopedia.com 5. www.vndirect.com.vn 6. www.fpts.com.vn 7. www.tvsi.com.vn 8. www.ssi.com.vn 9. www.mot.gov.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: thị giá cổ phiếu ngày 2/4/2010  60 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3 thị giá cổ phiếu ngày 2/4/2010 60 (Trang 6)
Bảng 1: Các công ty tăng trưởng trên TTCK Việt Nam - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 1 Các công ty tăng trưởng trên TTCK Việt Nam (Trang 52)
Bảng 2: Phân loại ngành và các chỉ tiêu về quy mô, tăng trưởng - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 2 Phân loại ngành và các chỉ tiêu về quy mô, tăng trưởng (Trang 59)
Bảng 3: Thị giá cổ phiếu ngày 2/4/2010 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3 Thị giá cổ phiếu ngày 2/4/2010 (Trang 61)
Bảng 4: P/E ngành của các công ty cần định giá - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4 P/E ngành của các công ty cần định giá (Trang 65)
Bảng 6: Giá cổ phiếu tính theo mô hình chiết khấu cổ tức - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 6 Giá cổ phiếu tính theo mô hình chiết khấu cổ tức (Trang 68)
Bảng 7: Giá cổ phiếu tính theo mô hình Chiết khấu dòng tiền - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 7 Giá cổ phiếu tính theo mô hình Chiết khấu dòng tiền (Trang 69)
Bảng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
ng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 (Trang 106)
Bảng cân đối kế toán 2005-2009 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng c ân đối kế toán 2005-2009 (Trang 106)
Bảng cân đối kế toán 2005-2009 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng c ân đối kế toán 2005-2009 (Trang 107)
Bảng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
ng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 (Trang 108)
Bảng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
ng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 (Trang 109)
Bảng cân đối kế toán 2005-2009 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng c ân đối kế toán 2005-2009 (Trang 109)
Bảng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
ng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 (Trang 110)
Bảng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 - khóa luận tốt nghiệp phân tích và định giá cổ phiếu của các công ty tăng trưởng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam
ng Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009 (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w