Một số biện pháp phát triển hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng VP bank
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng em Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực, xuất phát từ thực tế của ngân hàng ngoài quốc doanh VPBank
Sinh viên
Đoàn Thị Thu Hương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Quản trị kinh doanh, đặc biệt là Thạc sĩ Nguyễn Thúy Anh- người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình thực tập tại ngân hàng ngoài quốc doanh VPBank, em cũng đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của các anh chị trong phòng Tín dụng của ngân hàng Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2008 Sinh viên
Đoàn Thị Thu Hương
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Tên đầy đủ
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
ALCO Hội đồng quản lý tài sản Nợ- tài sản Có
Trang 5
Danh mục bảng
Bảng 1 : Tình hình huy động vốn của VPBank giai đoạn 2006-2008 44
Bảng 2 : Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn 45
Bảng 3 : Tình hình hoạt động tín dụng VPBank giai đoạn 2006-2008 46
Bảng 4 : Doanh thu và lợi nhuận của VPBank giai đoạn 2006-2008 50
Bảng 5 : Các tỷ lệ an toàn vốn 50
Bảng 6 : Chỉ số lạm phát 52
Bảng 7 : Tốc độ tăng trưởng tín dụng của VPBank cuối năm 2005-2008 55
Bảng 8 : Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của VPBank cuối năm 2005-2008 55
Bảng 9 : Lãi suất huy động vốn của VPBank giai đoạn 2007-2008 (đơn vị: %/năm) 56
Bảng 10 : Tỷ trọng hoạt động cho vay của VPBank 2006-2008 56
Bảng 11 : Tỷ trọng đầu tư vào giấy tờ có giá của VPBank 57
Bảng 12 : Chỉ số trạng thái tiền mặt 62
Bảng 13: Dự trữ thanh toán của VPBank 2006-2008 63
Bảng 14 : Chỉ số dự trữ thanh toán 64
Bảng 15 : Chỉ số cho vay/tiền gửi 65
Bảng 16 : Chỉ số cơ cấu tiền gửi 66
Bảng 17 : Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn 68
Bảng 18 : Chỉ tiêu kế hoạch năm 2009 82
Danh mục biểu đồ Biểu đồ 1 : Nguồn vốn huy động của VPBank 2006-2008 45
Biểu đồ 2 : Tình hình dư nợ tín dụng giai đoạn cuối năm 2005-2008 47
Biểu đồ 3 : Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2005-2008 47
Biểu đồ 4 : Chỉ số trạng thái tiền mặt 62
Biểu đồ 5 : Chỉ số dự trữ thanh toán 64
Biểu đồ 6 : Chỉ số huy động vốn/cho vay 65
Biểu đồ 7 : Chỉ số cơ cấu tiền gửi 66
Biểu đồ 8 : Nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn 68
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ RỦI
RO THANH KHOẢN 4
I MỘT SỐ LÍ LUẬN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN 4
I.1 RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG 4
I.1.1 KHÁI NIỆM 4
I.1.2 PHÂN LOẠI RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG 5
I.2 RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NHTM 7
I.2.1 KHÁI NIỆM THANH KHOẢN VÀ RỦI RO THANH KHOẢN 7
I.2.2 PHÂN LOẠI RỦI RO THANH KHOẢN 10
I.2.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA RỦI RO THANH KHOẢN 11
II QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NHTM 14
II.1 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG 14
II.1.1 KHÁI NIỆM 14
II.1.2 QUY TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO 15
II.2 QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 16 II.2.1 KHÁI NIỆM 16
II.2.2 SỰ CẦN THIẾT CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 16
II.2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN 18
II.2.4 QUY TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN 22
III MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ RỦI RO THANH KHOẢN NỔI TIẾNG VÀ BÀI HỌC CHO CÁC NGÂN HÀNG 36
III.1 MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ RỦI RO THANH KHOẢN 36
III.1.1 RỦI RO THANH KHOẢN Ở ANH – THẢM HỌA NORTHERN ROCK 36
III.1.2 RỦI RO THANH KHOẢN Ở CÁC NHTM NGA NĂM 2004 37
III.1.3 RỦI RO THANH KHOẢN Ở CÁC NHTM MỸ NĂM 2007 38
III.1.4 RỦI RO THANH KHOẢN TẠI VIỆT NAM 39
III.2 BÀI HỌC RÚT RA ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG 40
III.2.1 ĐỐI VỚI NHNN 40
Trang 7III.2.2 ĐỐI VỚI CÁC NHTM: 40
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG RỦI RO THANH KHOẢN VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK 42
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VPBANK 42
I.1 LỊCH SỬ DOANH NGHIỆP 42
I.2 LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG 43
I.3 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 43
I.3.1 MỘT SỐ KẾT QUẢ KINH DOANH CỤ THỂ 43
I.3.2 KẾT QUẢ CHUNG : 49
II TÌNH HÌNH RỦI RO THANH KHOẢN VÀ THỰC HIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK 51
II.1 CÁC NGUY CƠ DẪN ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN TẠI VPBANK 51
II.1.1 CÁC YẾU TỐ KHÁCH QUAN 51
II.1.2 YẾU TỐ CHỦ QUAN : 54
II.2 MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ THANH KHOẢN CỦA VPBANK 58
II.2.1 BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ THANH KHOẢN 58
II.2.2 NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI VPBANK 60
II.3 LƯỢNG HÓA RỦI RO THANH KHOẢN TẠI VPBANK 61
II.4 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA VPBANK 69
II.4.1 TĂNG CUNG THANH KHOẢN 69
II.4.2 GIẢM CẦU THANH KHOẢN 70
III ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THANH KHOẢN TẠI VPBANK 70
III.1 MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 70
III.1.1 TRIỂN KHAI THÀNH CÔNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG 70
III.1.2 SỰ RA ĐỜI CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN LÝ TSN-TSC (ALCO) 71
III.1.3 BƯỚC ĐẦU TRIỂN KHAI DỰ ÁN HIỆN ĐẠI HOÁ NGÂN HÀNG VÀ HỆ THỐNG THANH TOÁN TRONG TOÀN HỆ THỐNG 72
III.2 HẠN CHẾ 74
III.2.1 CÔNG TÁC QUẢN LÝ THANH KHOẢN CHƯA HOÀN TOÀN THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI, CHƯA ĐÁP ỨNG ĐƯỢC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ 74
III.2.2 CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THANH KHOẢN CHƯA THỰC SỰ VỮNG CHẮC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÒN NHIỀU HẠN CHẾ 74
Trang 8III.2.3 SỰ PHỐI HỢP TRONG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN QUẢN LÝ THANH KHOẢN CHƯA NHỊP NHÀNG, CHƯA PHÁT HUY ĐƯỢC SỨC MẠNH TỔNG THỂ
CỦA HỆ THỐNG 75
III.2.4 CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM HỖ TRỢ CÒN DÀN TRẢI, CHƯA THỰC SỰ HIỆU QUẢ 75
III.2.5 CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ THANH KHOẢN CHƯA CAO 75
III.2.6 HỆ THỐNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, THÔNG TIN QUẢN LÝ THANH KHOẢN CÒN LẠC HẬU 75
III.3 NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ HẠN CHẾ 76
III.3.1 NGUYÊN NHÂN KHÁCH QUAN 76
III.3.2 NGUYÊN NHÂN CHỦ QUAN 78
CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG VPBANK 81
I PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA VPBANK 81
I.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHNN VIỆT NAM VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN 81
I.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VPBANK TRONG THỜI GIAN TỚI 81
I.2.1 ĐỊNH HƯỚNG CHUNG 81
I.2.2 ĐỊNH HƯỚNG CỦA VPBANK TRONG VIỆC PHÒNG TRÁNH RỦI RO THANH KHOẢN 82
I.3 NHỮNG THÁCH THỨC VỚI NGÂN HÀNG VPBANK TRONG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN 84
I.3.1 CƠ CHẾ QUẢN LÝ 84
I.3.2 TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ VÀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH 84
I.3.3 HIỆU QUẢ VÀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG 85
I.3.4 TẬP QUÁN THANH TOÁN CỦA KHÁCH HÀNG 85
II GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI VPBANK 86
II.1 GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG VPBANK 86
II.1.1 HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN 86
II.1.2 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ THANH KHOẢN 88
II.1.3 TĂNG VỐN TỰ CÓ NHẰM TĂNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH 89
Trang 9II.1.4 ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ THANH KHOẢN 90
II.1.5 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ THANH KHOẢN 92
II.1.6 NÂNG CẤP VÀ LÀM CHỦ HỆ THỐNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 94
II.1.7 TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO VÀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ 95
II.1.8 ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN TRỊ, NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG ALCO 96
II.1.9 ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN 96
II.1.10 PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU, MẠNG LƯỚI 97
II.2 KIẾN NGHỊ VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 98
II.2.1 ỔN ĐỊNH MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VĨ MÔ 98
II.2.2 HOÀN THIỆN HÀNH LANG PHÁP LÝ 99
II.2.3 VẬN DỤNG LINH HOẠT CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 99
II.2.4 TĂNG CƯỜNG THANH TRA, GIÁM SÁT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM 100
II.2.5 ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH 101
KẾT LUẬN 103
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thế giới nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng hoạt động không thể thiếu sự có mặt của ngân hàng thương mại( NHTM) Với chức năng đặc biệt, các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế Trong những năm qua, cùng với những thành tựu đổi mới của đất nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam
đã có những đổi mới sâu sắc đóng góp vào việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong xu thế hội nhập kinh tế, tài chính khu vực và thế giới, hệ thống NHTM Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ cạnh tranh ngày càng gay gắt do sự xâm nhập của các tổ chức tín dụng nước ngoài khiến cho các NHTM Việt Nam đứng trước nhiều rủi ro Trước tình hình đó, công tác quản trị rủi ro trong hoạt động của NHTM là một trong những yêu cầu đầu tiên và quan trọng đòi hỏi các nhà quản lý điều hành NHTM cũng như cơ quan giám sát cần có sự quan tâm thích đáng nhằm đảm bảo duy trì sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cũng như sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia Trong số các rủi ro của ngân hàng, rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro mang tính đặc thù và có ảnh hưởng lớn đối với ngân hàng và sự ổn định của hệ thống tài chính Kể từ cuối tháng 11 năm 2007, theo đánh giá của các chuyên gia, nhiều NHTM Việt Nam đã lâm vào tình trạng khó khăn thanh khoản
1
Bảy tháng đầu năm 2008, tình trạng khan hiếm tiền đồng, lãi suất tiền gửi đồng Việt Nam liên ngân hàng tăng lên một cách chóng mặt đã đẩy các NHTM vào cuộc chạy đua lãi suất làm mặt bằng lãi suất huy động tăng dần lên từ 12% lên tới 18,6%/năm Trong khi đó, về phía NHNN Việt Nam đã hai lần tăng lãi suất cơ bản lên 12%/năm và 14%/năm, đồng thời, chỉ đạo các NHTM tuân thủ một cách nghiêm ngặt quy định không
áp dụng lãi suất kinh doanh vượt quá 150% lãi suất cơ bản và không được thu phí đối với hoạt động cho vay Mặc dù lãi suất huy động tăng cao như vậy nhưng theo nghiên cứu
1
Nguyễn Thị Mùi- Đảm bảo thanh khoản- yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của ngân hàng thương mại- Bài tham luận “Hội thảo quản trị rủi ro thanh khoản”.
Trang 11của một số chuyên gia thì thực sự đồng Việt Nam thu hút về ngân hàng lại không được như ý muốn của các nhà quản lý và tình trạng thanh khoản vẫn luôn bị những áp lực rất căng thẳng Nếu không được quản lý chặt chẽ, rủi ro thanh khoản có thể gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho ngân hàng như giảm năng lực tài chính, giảm uy tín, thậm chí có thể dẫn đến phá sản Không những thế, đặc điểm của rủi ro thanh khoản trong kinh doanh ngân hàng là có phản ứng dây chuyền và có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ
hệ thống ngân hàng thậm chí toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro thanh khoản của các NHTM đang là một vấn đề bức xúc cả trên phương diện lý thuyết và thực tiễn
Là một trong số những ngân hàng ngoài quốc doanh lớn của Việt Nam, hiểu được tầm quan trọng của hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản, ngân hàng VPbank bước đầu
đã có những biện pháp nhằm đánh giá và phòng ngừa rủi ro thanh khoản Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần giải quyết đề hoàn thiện công tác quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng Thấy được tính cấp thiết của vấn đề và sau thời gian nghiên cứu và tìm hiểu tại ngân hàng VPbank em quyết định lựa chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng VPbank”
II Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu xuyên suốt của đề tài nhằm:
Hệ thống các vấn đề lí luận về rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản tại NHTM nói chung và các phương pháp để quản trị rủi ro thanh khoản
Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng VPbank
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng VPbank
III Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu trên cơ sở tư duy của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các phương pháp được sử dụng cụ thể là: Phân tích, điều tra khảo sát thực tế kết hợp với những kiến thức đã học và đọc từ đó đưa ra kết luận
IV Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng VPbank sử dụng các số liệu trong thời gian từ năm 2006-2008
Trang 12V Kết cấu khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận sẽ được kết cấu thành 3 phần
Chương 1: Tổng quan về rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản Chương 2: Thực trạng rủi ro thanh khoản và hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng VPbank
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng VPbank
Trang 13Ch-¬ng 1 : TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ QUẢN
TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN
I Một số lí luận về rủi ro thanh khoản
I.1 Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
I.1.1 Khái niệm
Rủi ro là một khái niệm quen thuộc với cuộc sống con người Rủi ro xuất hiện ở mọi nơi trong cuộc sống và luôn de doạ đến cuộc sống của con người Như vậy, rủi ro là một phần của cuộc sống hàng ngày, là những nguy cơ tiềm ẩn có khả năng xảy ra và có thể sẽ mang lại những tổn hại về vật chất, tinh thần hoặc các yếu tố khác trong đời sống
xã hội
Khái niệm về rủi ro trong kinh doanh đã được đưa ra từ lâu nhưng cho đến gần đây, với sự phát triển của các ngành khoa học kinh tế lượng và các môn giúp lượng hoá các biến ngẫu nhiên trong hoạt động kinh doanh, rủi ro mới trở thành một đối tượng nghiên cứu và kinh doanh Theo định nghĩa truyền thống rủi ro là những sự kiện xảy ra
có thể làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ 2 Trong kinh doanh, rủi
ro luôn đồng hành với lợi nhuận Mọi quyết định trong kinh doanh đều được đưa ra trong điều kiên có rủi ro Vì vậy, theo khái niệm hiện đại, rủi ro trong kinh doanh là sự kiện mà kết quả kinh doanh hiện tại hoặc tương lai có khả năng khác biệt đáng kể so với mức dự kiến từ trước hay mức kỳ vọng Theo các nhàđầu tư thì những thay đổi không thể lường trước được hoặc không kiểm soát được chính là rủi ro 3
Ngân hàng là một loại hình trung gian tài chính với các chức năng chính là nhận tiền gửi, huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác Do tính chất hoạt động của mình mà ngân hàng luôn phải sống chung với rủi ro và kiếm tiền bằng việc chấp nhận rủi ro Theo ông Nguyễn Hoà Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Ngoại thương Việt nam (Vietcombank) đã nói: “Muốn có lợi nhuận phải chấp nhận
2
Nguyễn Thị Quy ( 2008) – Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp - Nhà xuất bản văn hóa- thông tin.
3 Nguyễn Văn Tiến ( 2007)- Quản trị Rủi ro trong Kinh doanh Ngân hàng – Nhà xuất bản Thống kê.
Trang 14rủi ro, không chấp nhận rủi ro sẽ không bao giờ thu được lợi nhuận Đó là sự thật, dù muốn hay không.” 4
Rõ ràng, rủi ro là một phần tất yếu không thể thiếu trong kinh doanh ngân hàng Vấn đề làm thế nào để các ngân hàng mặc dù hàng ngày đối mặt với rủi ro mà vẫn thu được lợi nhuận? Vì vậy, nghiên cứu về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là một vấn đề không thể bỏ qua
Một các khái quát, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động 5
Rủi ro trong kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế thị trưòng luôn luôn là một vấn đề cần được quan tâm, do hoạt động của ngân hàng có tính nhạy cảm cao, ảnh hượng mạnh đến sự ổn định của nền kinh tế- xã hội Nếu một ngân hàng nào đó gặp rủi ro mọi người sẽ đổ xô đi rút tiền gửi của mình thật nhanh để tránh bị tổn thất, gây đổ vỡ hệ thống
I.1.2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Hiện nay có rất nhiều cách phân loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng khác nhau, tuy nhiên khóa luận lựa chọn cách phân loại đơn giản của tác giả Joel Bessis trong cuốn
”Risk management in banking” trong đó rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được phân thành 7 loại như sau:
a Rủi ro tín dụng
Theo Joel Bessis rủi ro tín dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng của các khoản vay Rủi ro xảy ra khi khách hàng không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong số các rủi ro của ngân hàng Từ khái niệm trên, ta có thể phân tích rủi ro tín dụng thành các khoản sau:
Rủi ro đọng vốn: Đó là rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và/ hoặc lãi vay Sự sai hẹn này là do trễ hạn
4
Trần Quốc Quýnh (2008)- “ Những rủi ro lớn của các ngân hàng Mỹ”- Tạp chí ngân hàng ( 17) tr 33.
5 Nguyễn Thị Quy ( 2008) – Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp - Nhà xuất bản văn hóa- thông tin
Trang 15Rủi ro mất vốn: Đó là rủi ro khi khách hàng sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và/ hoặc lãi vay Sự sai hẹn này là do không thanh toán
b Rủi ro hoạt động
Là loại rủi ro tổn thất tài sản do hoạt động kém hiệu quả, hoạt động có vấn đề, có
vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian lận hay những thảm họa không lường trước được
Rủi ro hoạt động bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà một ngân hàng điều hành các hoạt động của mình Các ví dụ về rủi ro hoạt động là: việc cấu trúc hạn mức không phù hợp trong lĩnh vực kinh doanh nguồn vốn, quản trị tồi các quy trình quản lý tín dụng, cán bộ tham ô
c Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng thu nhập giảm do chênh lệch lãi suất giảm khi lãi suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến gắn với thay đổi nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kỳ hạn của tài sản và nguồn, quy mô và kỳ hạn của các hợp đồng kỳ hạn Rủi ro lãi suất có thể có một số hình thức khác nhau, như rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro đường cong lãi suất thay đổi, rủi ro tương quan lãi suất và rủi ro quyền chọn đi kèm
d Rủi ro thanh khoản
Xảy ra khi cung về tiền ít hơn cầu về tiền Rủi ro thanh khoản liên quan đến khả năng chuyển các tài sản chính thành tiền một cách nhanh chóng mà không chịu thất thoát
về giá cả Hay nói một cách khác rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không đủ tiền đáp ứng các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán, hoặc vì một biến cố nào đó mà khách hàng rút tiền ào ạt
e Rủi ro tỷ giá
Là rủi ro do sự biến động tỷ giá do đánh giá các yếu tố kinh tế tác động đến tỷ giá không chính xác dẫn đến thiệt hại tài sản cho ngân hàng
f Rủi ro thị trường
Trang 16Là loại rủi ro tổn thất tài sản, xảy ra khi có sự thay đổi của các điều kiện thị trường hay những biến động của thị trường làm ảnh hưởng đến lãi suất, tỷ giá ngoại hối, giá chứng khoán mà ngân hàng đầu tư
Rủi ro uy tín: là rủi ro dư luận đánh giá xấu về ngân hàng, gây khó khăn nghiêm trọng cho ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách hàng rời bỏ ngân hàng
Qua nghiên cứu và thực tiễn cho thấy tất cả các loại rủi ro chủ yếu trên đều có thể được nhận diện, đo lường để đưa ra các dự báo kịp thời có tính cảnh báo, trên cơ sở đó xây dựng những phương án nhằm ngăn ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại rủi ro gây ra nếu các NHTM xây dựng được một hệ thống chính sách quản lý rủi ro một cách hiệu quả
I.2 Rủi ro thanh khoản của NHTM
I.2.1 Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản
I.2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến tính thanh khoản
Để có thể hiểu rõ hơn các thuật ngữ liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản, khóa luận xin đưa ra một vài khái niệm sơ lược liên quan đến tính thanh khoản của ngân hàng
Tính thanh khoản của một NHTM chính là khả năng đáp ứng dòng tiền mặt rút ra khỏi ngân hàng đó 6 Nếu ngân hàng luôn sẵn sàng đáp ứng được điều này thì ngân hàng
đó có tính thanh khoản cao trong hoạt động và ngược lại Là một tổ chức kinh doanh bằng tiền vay của người khác, ngân hàng chỉ có thể tồn tại và phát triển được nếu nó luôn
6
Nguyễn Thị Quy ( 2008) – Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp - Nhà xuất bản văn hóa- thông tin
Trang 17thể hiện bằng hoạt động rằng, ngân hàng luôn đáp ứng mọi nơi, mọi lúc nhu cầu rút tiền của khách hàng gửi tiền Đây là thông điệp bất di bất dịch, mà ngân hàng luôn phải có trách nhiệm thực hiện đối với khách hàng
Tính thanh khoản của ngân hàng được hiểu là trạng thái luôn có lượng tiền khả dụng ở thời điểm cần thiết với chi phí thấp nhất khi ngân hàng có nhu cầu và khả năng nhanh chóng huy động được vốn thông qua vay nợ hoặc bán tài sản đáp ứng nhu cầu
đó 7
Tính thanh khoản của một ngân hàng phải được xem xét ở từng thời điểm cụ thể
và ở những thời điểm khác nhau, tính thanh khoản của ngân hàng là có thể là khác nhau
Tài sản Nợ ( TSN) : bao gồm tất cả những khoản nợ, những nghĩa vụ tài chính của ngân hàng và ngân hàng được sử dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh và có trách nhiệm trả trong một khoảng thời gian nhất định.8
Tài sản Có ( TSC) là các tài sản mà ngân hàng có quyền sở hữu (bao gồm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định hoạt) một cách hợp pháp, chúng là kết quả của các hoạt động trước đó, hiện đang được sử dụng cho những mục đích khác nhau nhằm mang lại thu nhập cho ngân hàng, tính đến một thời điểm nhất định Ở một góc độ tiếp cận khác, TSC là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng, là những tài sản được hình thành từ các nguồn vốn của ngân hàng trong quá trình hoạt động
Vốn khả dụng: là lượng TSC động mà ngân hàng có thể sử dụng ngay để thực hiện các nghĩa vụ trong thanh toán, chi trả theo yêu cầu của bên thụ hưởng Thông thường, vốn khả dụng của NHTM bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi thanh toán tại các NHTM khác - những tài sản mà ngân hàng có thể sử dụng ngay bất kỳ lúc nào 9
Dự trữ thanh toán: là khoản dự trữ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của Ngân hàng với khách hàng Dự trữ thanh toán bao gồm vốn khả dụng và các TSC có tính thanh khoản cao khác như: Các giấy tờ có giá có khả năng chuyển đổi nhanh thành tiền với chi phí thấp, bao gồm tín phiếu NHNN, tín phiếu Kho bạc Nhà nước, trái phiếu chính phủ.10
7
Nguyễn Văn Tiến ( 2007)- Quản trị Rủi ro trong Kinh doanh Ngân hàng – Nhà xuất bản Thống kê
8 Peter Rose ( 2004) – Quản trị ngân hàng thương mại- Nhà xuất bản tài chính
9 Quyết định 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/01/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Trang 18 Cung thanh khoản (còn gọi là luồng tiền vào): là khả năng cung ứng tiền của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc bán tài sản thanh khoản, khả năng huy động vốn mới và thu hồi các khoản cho vay đến hạn.10
Cầu thanh khoản (còn gọi là luồng tiền ra): là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng, bao gồm yêu cầu chi trả từ tài khoản tiền gửi
và nhu cầu vay của khách hàng.10
Khe hở thanh khoản: là chênh lệch giữa cung và cầu thanh khoản tại một thời điểm nhất định trong tương lai.10
Khủng hoảng thanh khoản: là tình huống ngân hàng không có khả năng đáp ứng nhu cầu chi trả của khách hàng (trong khoảng vài ngày làm việc).10
Cần phân biệt cơ chế hoạt động của ngân hàng và khả năng thanh khoản của ngân hàng Cơ chế hoạt động của ngân hàng đã được thể hiện qua bản chất là tổ chức đi vay để cho vay, kinh doanh tiền tệ Hoạt động theo cơ chế đó, nguyên tắc chi phối hoạt động của ngân hàng là lợi nhuận liên tục tăng trưởng Còn tính thanh khoản của ngân hàng thể hiện nguyên tắc tồn tại hay không tồn tại của một tổ chức kinh doanh bằng tiền đi vay Nguyên tắc đó là luôn đảm bảo chi trả nguồn tiền cho khách hàng Như thế, có thể ngân hàng đang có trạng thái kinh doanh tốt ở một khoảng thời gian nhất định, thể hiện qua các chỉ số về lợi nhuận, hệ số vòng quay của vốn, các chỉ số ROA, ROE…, nhưng chưa chắc ngân hàng đó đã có trạng thái thanh khoản cao
I.2.1.2 Khái niệm rủi ro thanh khoản
Khi ngân hàng không có khả năng thanh khoản hay không thể đáp ứng được yêu cầu về lượng tiền mặt rút ra khỏi ngân hàng thì được gọi là ngân hàng đã gặp rủi ro về thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không có khả năng thanh toán hoặc phải huy động vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán hoặc các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM 11
Trang 19Rủi ro thanh khoản là một loại rủi ro chủ yếu của NHTM, đó cũng có thể là tổng hợp của nhiều loại rủi ro khác nhau, nhưng là nguyên nhân trực tiếp có thể dẫn đến khủng hoảng thanh khoản, là nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản tại thời điểm mặc dù khả năng tài chính của NHTM vẫn đảm bảo, kinh doanh không bị thua lỗ, nhưng tại một thời điểm nào đó NHTM bị mất khả năng thanh toán
I.2.2 Phân loại rủi ro thanh khoản
Theo một số nghiên cứu thì rủi ro thanh khoản được thống nhất phân chia làm 3 loại: rủi ro thanh khoản có thể đến từ hoạt động bên TSN hoặc bên TSC, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản của NHTM
I.2.2.1 Rủi ro thanh khoản bên TSN
Rủi ro thanh khoản đến từ bên TSN có thể phát sinh bất cứ lúc nào khi người gửi tiền rút tiền trước hạn và cả khi đến hạn, nhưng NHTM không sẵn có nguồn vốn để thanh toán, để chi trả Với một lượng tiền gửi được yêu cầu rút ra lớn và đột ngột buộc NHTM phải đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ, phải huy động vốn đột xuất với chi phí vượt trội, hoặc bán bớt tài sản để chuyển hoá thành vốn khả dụng đáp ứng nhu cầu chi trả Khi
đó để đáp ứng nhu cầu ngay lập tức NHTM có thể phải bán tài sản với giá thấp hơn thị trường rất nhiều để có lượng vốn khả dụng cần thiết Trong trường hợp khác NHTM cũng có thể đi vay trên thị trường nhưng cũng do nhu cầu gấp về thời gian nên NHTM có thể phải vay với lãi suất cao hơn thị trường và cao hơn trường hợp mà NHTM có thời gian để tìm kiếm nguồn thanh khoản với chi phí rẻ hơn Như vậy để giải quyết rủi ro thanh khoản từ bên TSN, NHTM phải hao tổn một nguồn lực tài chính đáng kể đáp ứng nhu cầu thanh toán
I.2.2.2 Rủi ro thanh khoản bên TSC
Rủi ro thanh khoản từ bên TSC chủ yếu phát sinh liên quan đến việc thực hiện các cam kết tín dụng, cho vay Một cam kết tín dụng cho phép người vay vốn tiến hành rút tiền bất cứ lúc nào trong thời hạn theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Khi một người vay yêu cầu NHTM thực hiện cam kết tín dụng thì ngân hàng phải đảm bảo đủ tiền ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nếu không ngân hàng sẽ phải đối mặt với uy tín trên thương trường, thậm chí đối mặt với mất khả năng thanh toán Khi đó NHTM sẽ phải huy động thêm nguồn vốn mới với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá
Trang 20thấp Điều này đương nhiên là ảnh hưởng đến năng lực tài chính, ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM
I.2.2.3 Rủi ro thanh khoản từ hoạt động ngoại bảng
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ tài chính phái sinh, rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại bảng cũng ngày càng tăng Khi mà các nghĩa vụ thanh toán bất thường xảy ra như cam kết bảo lãnh, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi hay hợp đồng quyền chọn Các hợp đồng đó đến hạn thì sẽ phát sinh nhu cầu thanh khoản Khi đó NHTM có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu không có
kế hoạch chuẩn bị nguồn thanh khoản kịp thời, không có những tài sản nhanh chóng hay
dễ dàng chuyển thành tiền, những công cụ có thể giao dịch trên thị trường tiền tệ
I.2.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản
Nguyên nhân gây nên rủi ro thanh khoản có nhiều và nó đến từ mọi phía trong hoạt động kinh doanh ngân hàng: Từ chủ quan, khách quan; từ bản thân ngân hàng, từ khách hàng, cơ chế chính sách, từ các loại rủi ro khác đưa lại Tuy nhiên, trên góc độ nghiên cứu để tìm giải pháp hiệu quả đối với quản trị rủi ro thanh khoản, khóa luận đưa ra những loại nguyên nhân chủ yếu sau:
I.2.3.1 Nguyên nhân khách quan
a Nguyên nhân vĩ mô
Do tình hình kinh tế thế giới ảnh hưởng đến nền kinh tế - tài chính của một quốc gia nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng Khủng hoảng kinh tế dẫn tới chi phí huy động vốn tăng cao, ngược lại hiệu quả hoạt động cho vay và đầu tư giảm sút Xét ở một khía cạnh khác, khủng hoảng xảy ra làm giảm sút niềm tin vào hệ thống tài chính Tổ chức và dân cư sẽ tiến hành rút tiền ồ ạt tại các NHTM, bất kể kỳ hạn Trong khi đó thì các NHTM đã “trót” rót vốn vào các hoạt động đầu tư và cho vay dài hạn nên không thể đáp ứng kịp nhu cầu rút ồ ạt nói trên Như vậy, rủi ro thanh khoản xảy
ra Đây đang là thực tế trong điều kiện kinh tế Việt nam hiện tại mà các NHTM cũng
là nạn nhân
Thứ hai tăng trưởng tín dụng quá nóng cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản Tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM năm 2007 là 53,89% 12 Sự tăng
12 Nguyễn Thị Mùi- Đảm bảo thanh khoản- yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của ngân hàng thương mại- Bài tham luận “Hội thảo quản trị rủi ro thanh khoản”.
Trang 21trưởng tín dụng quá nóng của các NHTM đi kèm với cơ cấu đầu tư không hợp lý, tập trung lớn vào đầu tư bất động sản chạy theo lợi nhuận sẽ phát sinh rủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự mất cân đối về kỳ hạn giữa TSC và TSN do ngân hàng đã sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn, chính điều này đã tạo ra sự rủi ro thanh khoản cao đối với NHTM
b Nguyên nhân từ phía khách hàng
Do cầu thanh khoản tăng đột biến vì những nguyên nhân không lành mạnh như cạnh tranh hay tung tin đồn Điều này khiến cho khách hàng hoang mang và ồ ạt đi rút tiền Với số lượng tiền rút lớn trong khi ngân hàng chưa thu hồi được các khoản vay khiến cho khả năng thanh khoản của ngân hàng bị đe dọa nghiêm trọng
Nhu cầu thanh khoản của khách hàng luôn đòi hỏi ở mức ngày càng cao: Những vướng mắc về thanh khoản, tức khắc làm xói mòn niềm tin của công chúng vào ngân hàng Và hậu quả cũng tương tự như trên, đó là cầu thanh khoản sẽ tăng đột ngột
I.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân đầu tiên liên quan đến trình độ và nghiệp vụ của các nhân viên trong các ngân hàng Do chiến lược quản trị của các ngân hàng thực hiện thiếu bài bản
và do sự yếu kém của công tác kế hoạch hóa, các ngân hàng không thể dự tính trước được nhu cầu các khoản cho vay cũng như việc dự đoán nhu cầu rút tiền của khách hàng Khi nhu cầu rút tiền vượt quá mức dự tính, các ngân hàng này sẽ gặp khó khăn
về thanh khoản Nhân viên nhìn nhận hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung, hoạt động thanh khoản nói riêng là một màu hồng đến khi gặp sự cố không chống đỡ kịp;
Một nguyên nhân chủ quan khá phổ biến nữa là các NHTM là “chạy theo phong trào”, trong đó có các phong trào đáng chú ý: như các áp lực tăng lợi nhuận bằng mọi giá; áp lực tăng tổng tài sản; áp lực tăng dư nợ, lôi kéo khách hàng; hay áp lực chạy đua, ai làm gì thì mình phải làm cái nấy để không thua kém ai…dẫn đến hậu quả khó lường Điển hình là một số ngân hàng chạy theo mục tiêu lợi nhuận trước mắt nên có những chính sách cho vay quá cởi mở, dẫn đến hạ thấp các điều kiện cho vay, các khách hàng vay có điều kiện kém, hệ quả tất yếu là rủi ro tín dụng và sau đó là rủi
ro thanh khoản Ví dụ như vụ cho vay thế chấp nhà tại Mỹ: khủng hoảng tín dụng cho vay thế chấp nhà với đối tượng thu nhập thấp
Nguyên nhân thứ ba là do đặc điểm của tài sản tài chính: Sự nhạy cảm của tài sản tài chính với những thay đổi lãi suất Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút
Trang 22tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn; điều này xảy ra ngay cả trong
hệ thống giữa các NHTM với nhau (tiền từ ngân hàng này chạy sang ngân hàng khác); Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất thấp đã thoả thuận Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là đến thanh khoản của ngân hàng Ngoài ra, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thị giá của các tài sản mà ngân hàng đem bán để tăng thanh khoản, và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ của ngân hàng Bên cạnh đó, lạm phát cũng khiến cho khách hàng e dè, không còn tin tưởng gửi tiền ở ngân hàng nữa mà chuyển sang các hình thức giữ tiền an toàn hơn như vàng hoặc ngoại tệ khiến cho lượng tiền gửi vào ngân hàng ít và lượng tiền rút ra thì nhiều
Nguyên nhân thứ tư là do sử dụng mất cân đối về thời hạn giữ nguồn vốn vốn huy động và đầu tư vốn: Ngân hàng huy động vốn với thời hạn ngắn, nhưng thực tế các ngân hàng thường sử dụng cho vay với thời hạn dài hơn Điều này, tất yếu dẫn đến không trùng khớp về thời hạn đến hạn giữa TSC và TSN Thực tế này do chính ngân hàng gây ra và sự đối mặt với tiềm ẩn về rủi ro thanh khoản xảy ra bất cứ lúc nào Trên thực tế, ít khi có luồng tiền ròng bên TSC lại vừa khít để trang trải luồng tiền ròng bên TSN Mà mất cân đối là chủ yếu, và thường là nguồn thanh khoản thấp hơn nhu cầu thanh toán Nếu xuất hiện nhu cầu thanh khoản lớn, lúc này rủi ro thanh khoản sẽ xảy
ra Thực tế, các ngân hàng thường có một tỷ lệ đáng kể ở TSN có đặc điểm là phải hoàn trả tức thời, khi người gửi có nhu cầu, như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn có thể rút trước hạn, tài khoản NOW do đó, ngân hàng luôn phải sẵn sàng thanh khoản
Nguyên nhân thứ năm là do tính liên kết hệ thống giữa các NHTM để đảm bảo
an toàn thanh toán còn yếu, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao tạo khe hở cho khách hàng gửi tiền “làm giá, tăng lãi suất” hoặc rút tiền chuyển sang các NHTM khác dẫn đến làm suy yếu khả năng chống đỡ thiếu hụt thanh khoản của hệ thống
Nguyên nhân thứ sáu, các ngân hàng có vốn chủ sở hữu quá nhỏ bé, chẳng hạn như các ngân hàng tư nhân trong vụ khủng hoảng thanh khoản tại Nga, 90% ngân hàng
Trang 23ở đây có số vốn dưới 10 triệu USD 13
Các ngân hàng nhỏ thường khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, hoặc chỉ vay được với lãi suất cao, đặc biệt là đối với nguồn vốn vay, áp lực là rất lớn khi các ngân hàng này phải gánh chịu chi phí cao để có thể khắc phục khó khăn trong việc giải quyết vấn đề thanh khoản Vì vậy, nhiều ngân hàng do tiềm lực vốn tự có mỏng nên phải "bóc ngắn, cắn dài" Họ sử dụng một tỷ lệ lớn nguồn vốn huy động ngắn hạn để đầu tư vào các lĩnh vực dài hạn và nhiều rủi ro như bất động sản và chứng khoán Đây là việc đầu tư rất mạo hiểm rất dễ rất đến rủi ro thanh khoản
Điều quan trọng mà các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm hàng đầu trong quản trị rủi ro thanh khoản là ngân hàng có thể bị đóng cửa (thu hồi giấy phép kinh doanh), trong trường hợp ngân hàng không tăng đủ và kịp thời nguồn thanh khoản, dù rằng khả năng thanh khoản cuối cùng của ngân hàng là tốt Điều này, đòi hỏi quản trị rủi ro thanh khoản trong kinh doanh ngân hàng phải thường xuyên coi trọng và phải trở thành vấn đề thường trực
II Quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM
II.1 Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
II.1.1 Khái niệm
Bản chất hoạt động kinh doanh của các NHTM là dùng uy tín để thu hút nguồn vốn và dùng năng lực quản trị rủi ro để sử dụng nguồn vốn và phát triển dịch vụ khác một cách hiệu quả Do đó, hoạt động kinh doanh của ngân hàng bao gồm rất nhiều rủi ro Các ngân hàng cần đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm
ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro có thể chấp nhận được Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi ro Quá trình đánh giá và và kiểm soát rủi ro đó được gọi là quản trị rủi ro
Quản trị rủi ro của các NHTM có thể hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của các nhà quản trị ngân hàng lên các đối tượng quản trị và khách thể kinh doanh nhằm mục tiêu phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh từ đó
13
http://www.doanhnhan360.com.vn
Trang 24nâng cao mức độ an toàn, khả năng sinh lời và đạt được các mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn của các ngân hàng 14
Việc xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro có vai trò sống còn đối với hoạt động ngân hàng Hoạt động quản trị rủi ro giúp xác định và kiểm soát rủi ro ở mức có thể chấp nhận được Chủ tịch tập đoàn tài chính Citigroup Walter Wriston đã nói lên vai trò quan trọng của hoạt động quản trị rủi ro như sau: ” Toàn bộ cuộc sống trong ngân hàng là quản trị rủi ro” 15 Hoạt động quản trị rủi ro do đó là một bộ phận cốt lõi trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng Hiệu quả kinh doanh của NHTM tùy thuộc vào năng lực quản trị rủi ro
và là thước đo năng lực của một NHTM
II.1.2 Quy trình quản trị rủi ro
Mỗi ngân hàng đều có một quy trình quản trị rủi ro riêng, phù hợp với từng quy
mô, năng lực của mình Nhưng nhìn chung, để quản trị rủi ro, các NHTM đều tuân theo các bước sau
a Xác định rủi ro
Từ các thông tin, nhận xét phán đoán của ban quản trị rủi ro, NHTM sẽ nhận biết
là mình đang có nguy cơ phải đối mặt với loại rủi ro nào Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất hay rủi ro thanh khoản, rủi ro vận hành Mỗi loại rủi ro đều có nhưng đặc điểm để phán đoán riêng
b Phân tích, đo lường rủi ro
Trên cơ sở các rủi ro đã được nhận biết, ban quản trị rủi ro của NHTM sẽ thu thập
số liệu thông tin để đo lường mức độ rủi ro đó bằng các phương pháp định tính và định lượng Bằng cách này, NHTM sẽ biết được chính xác mức độ nguy hiểm của rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải
c Đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro
Sau khi đánh giá được các rủi ro đó, đo lường được mức độ rủi ro, ngân hàng sẽ đưa ra biện pháp quản trị thích hợp Bằng cách này, NHTM sẽ không còn bất ngờ trước các rủi ro và có khả năng kiểm soát được rủi ro
d Kiểm tra kiểm soát rủi ro
14
Nguyễn Thị Quy ( 2008) – Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp - Nhà xuất bản văn hóa- thông tin.
15Trần Quốc Quýnh (2008)- “ Những rủi ro lớn của các ngân hàng Mỹ”- Tạp chí ngân hàng ( 17) tr 33.
Trang 25Sau khi kiểm soát được rủi ro, giúp ngân hàng không bị chịu tác động của rủi ro nữa song ban quản trị rủi ro vẫn luôn cần kiểm tra kiểm soát rủi ro Để bất cứ khi nào xuất hiện các dấu hiệu gây rủi ro thì ngân hàng có thể xử lý kịp thời
II.2 Quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại
II.2.1 Khái niệm
Quản trị rủi ro thanh khoản là việc ngân hàng sử dụng hệ thống các cơ chế quản lý, giải pháp nghiệp vụ và công cụ kỹ thuật thích hợp nhằm duy trì thường xuyên trạng thái cân bằng cung và cầu thanh khoản, xử lý kịp thời những tình huống rủi ro thanh khoản nhưng vẫn đảm bảo khả năng sinh lời cho ngân hàng 16
Quản trị rủi ro thanh khoản được coi là một lĩnh vực quan trọng trong quản trị tài chính đối với tất cả các định chế tài chính Các định chế tài chính trong quá trình hoạt động đều có hình thức đi vay ngắn hạn và cho vay dài hạn, do vậy cần phái có hình thức quản lý để đối phó với tình trạng thiếu thanh khoản tiềm tàng
Để có thể quản lý thanh khoản tốt các nhà quản trị ngân hàng cần phải đảm bảo được các mục tiêu sau
Tuân thủ quy định của NHNN và pháp luật
Đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ thanh toán đến hạn của toàn hệ thống với chi phí hợp lý, đảm bảo an toàn trong hoạt động
Giảm thiểu rủi ro thanh khoản thông qua quá trình nhận biết, ước tính, theo dõi, kiểm soát rủi ro theo chuẩn mực quốc tế
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh
II.2.2 Sự cần thiết của hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
Công thức CAMELS thể hiện 6 yếu tố căn bản ảnh hưởng tới hoạt động của NHTM Quản lý tốt 6 yếu tố này sẽ có khả năng giảm thiểu những nguy cơ gây nên sự đổ
vỡ ngân hàng, đó là: (1) Vốn (C - Capital); (2) Chất lượng TSC (A - Asset Quality); (3) Khả năng quản lý (M - Managment Ability); (4) Khả năng sinh lời (E - Erning); (5) Khả năng thanh khoản (Liqidity); (6) Độ nhạy cảm với thị trường (Sensitive) Trong 6 yếu tố
16
Nguyễn Đức Trung (2008) – “ Rủi ro thanh khoản của các ngân hàng hàng thương mại trong điều kiện nền kinh
tế Việt Nam nhiều biến động- thực trạng và giải pháp”- Tạp chí ngân hàng (14) tr 33-40.
Trang 26trên đây, thì khả năng thanh khoản được xem như một yếu tố nhạy cảm nhất, có khả năng ảnh hưởng rất nhanh tới hoạt động của NHTM Vì vậy, quản trị rủi ro thanh khoản có vai trò quan trọng đối với những hoạt động cơ bản của ngân hàng bởi những lý do sau:
Thứ nhất, giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời có sự đánh đổi Ngân hàng càng tập trung nhiều vốn để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản thì khả năng sinh lời của ngân hàng sẽ càng thấp và ngược lại, nếu ngân hàng muốn đạt nhiều lợi nhuận thì phải chịu nhiều rủi ro, mạo hiểm về thanh khoản Trong thực tế, các NHTM
có xu hướng không muốn duy trì mức vốn ngân hàng cần thiết do khoản tài sản này không sinh lợi Thêm vào đó, với thị trường tiền tệ ngày càng phát triển, rất nhiều NHTM cho rằng không quá khó khăn để vay được một khối lượng vốn lớn tại bất kỳ thời điểm nào khi có nhu cầu, nên không cần tích trữ quá nhiều dự trữ thanh khoản dưới hình thức những tài sản dễ bán Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra rằng yêu cầu về thanh khoản là vấn đề không thể xem nhẹ, một số NHTM đã phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt tiền mặt nghiêm trọng Khả năng thanh khoản tốt nghĩa là ngân hàng có thể tính toán và dự đoán chính xác luồng vốn vào và ra khỏi ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào, đồng nghĩa với việc ngân hàng hoàn toàn có thể chủ động trong sử dụng nguồn vốn của mình và tối đa hoá hiệu quả sử dụng vốn Khi đó, thu nhập sẽ tăng, tạo
cơ hội cho NHTM mở rộng hoạt động cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Thứ hai, rủi ro thanh khoản tác động lớn đến uy tín của ngân hàng Khi ngân hàng bộc lộ mình đang gặp khó khăn trong vấn đề về thanh khoản, niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng sẽ giảm sút nghiêm trọng Điều tất yếu là khách hàng sẽ không muốn chịu rủi ro và nhanh chóng rút toàn bộ số tiền đã gửi ở ngân hàng để chuyển sang một ngân hàng khác hoặc một hình thức đầu tư khác Suy giảm lòng tin của khách hàng chính là con đường ngắn nhất đưa các NHTM đến với khủng hoảng thanh khoản rồi phá sản
Thứ ba, rủi ro thanh khoản mang tính hệ thống Các NHTM được xem như huyết mạch của nền kinh tế Nếu hệ thống NHTM hoạt động ổn định có nghĩa là cả cơ thể kinh tế sẽ hoạt động ổn định Tất nhiên, sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng hệ thóng NHTM lại là lĩnh vực có ảnh hưởng sâu sắc nhất, tác động tới mọi mặt hoạt động kinh tế – xã hội Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính hệ thống cao, vì vậy, khi rủi ro thanh khoản xảy ra tại một ngân hàng nào đó sẽ rất
dễ dẫn đến khủng hoảng thanh khoản đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng Chính tầm
Trang 27ảnh hưởng lớn này càng đặt ra yêu cầu hệ thóng NHTM hoạt động ổn định và kinh doanh hiệu quả, kiểm soát tốt rủi ro, trong đó, kiểm soát rủi ro thanh khoản được xem
là vấn đề có tính quyết định
II.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản
II.2.3.1 Nguyên nhân phát sinh nhu cầu thanh khoản
Nguyên nhân phát sinh nhu cầu thanh khoản là một trong những nhân tố hàng đầu làm ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của các NHTM Với một nhu cầu thanh khoản phát sinh nhất định tại thời điểm nào đó, NHTM sẽ phải lựa chọn giữa các khả năng cung thanh khoản hiện có để có quyết định kịp thời, đúng đắn và hiệu quả
Ví dụ thời điểm chi trả lương và thưởng của doanh nghiệp, chi trả và thanh toán của Bảo hiểm xã hội hay Kho bạc Nhà nước, tiêu dùng trong dịp Tết nguyên Đán ;… hay doanh
số cho vay vốn các thời điểm thu mua nông sản, thuỷ hải sản là những yếu tố có xu hướng lặp đi lặp lại về mức độ, thời điểm và thời gian kéo dài thì ngân hàng phải căn
cứ vào kinh nghiệm và có thể tin cậy vào kết quả dự báo này Trong trường hợp này, các NHTM sẽ sử dụng các nguồn vốn huy động để thỏa mãn nhu cầu thanh khoản mang tính mùa vụ Lợi ích của việc dùng các nguồn vốn huy động là NHTM có thể cơ cấu lại danh mục đầu tư và cho vay trên cơ sở nguồn vốn sẵn có vào những lúc cao điểm thời vụ Bằng cách này, NHTM có thể sử dụng vốn để cho vay và đầu tư vào những lúc không phải mùa vụ và sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn là giữ cố định một khoản tiền trong các giai đoạn có nhu cầu mùa vụ không lớn
Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên nhân có tính chu kỳ mùa vụ mà ngân hàng có thể dự đoán được theo kinh nghiệm thì còn rất nhiều những nguyên nhân phát sinh nhu cầu thanh khoản khác mà các nhà quản trị rủi ro cũng phải tính đến Ví dụ khi lãi suất tăng, khi phát sinh lạm phát thì nhu cầu thanh khoản của ngân hàng sẽ tăng, do đó các NHTM cần có các biện pháp để có thể đáp ứng nhu cầu thanh khoản tăng đột ngột trong giai đoạn đó Trong trường hợp này, các NHTM sẽ phải đi vay vốn trên thị trường liên ngân hàng, bán bớt các giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao để đáp ứng nhu cầu thanh khoản
II.2.3.2 Kỳ hạn của yêu cầu vốn thanh khoản của NHTM
Trang 28Kỳ hạn của yêu cầu vốn thanh khoản của NHTM là khoảng thời gian mà ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thiếu thanh khoản Kỳ hạn của yêu cầu vốn thanh khoản cũng là yếu tố quan trọng tác động đến quyết định thanh khoản Một điều rõ ràng cho quyết định của nhà quản lý là khi thiếu hụt thanh khoản ngắn hạn tức ngân hàng phải đối mặt với sự thiếu hụt thanh khoản trong thời gian ngắn, ngân hàng sẽ có xu hướng sử dụng các nguồn vay trên thị trường tiền tệ hoặc bán có kỳ hạn tài sản thanh khoản hơn là đi huy động để bù đắp, ngược lại với việc thiếu hụt thanh khoản dài hạn ngân hàng lại có xu hướng tăng cường nguồn vốn huy động hơn là vay nóng Một cách tương tự đối với trường hợp dư thừa thanh khoản, trường hợp dư thừa ngắn hạn ngân hàng sẽ có xu hướng đầu tư vào các tài sản thanh khoản hoặc cho các định chế tài chính khác vay, trong trường hợp dư thừa dài hạn ngân hàng lại có kế hoạch sử dụng để giải ngân cho vay đối với nền kinh tế hoặc đầu tư vào những TSC kỳ hạn dài như giấy tờ có giá dài hạn, đầu tư bất động sản
II.2.3.3 Khả năng tham gia các thị trường tiền tệ của NHTM
Đây là một yếu tố quyết định nguồn cung thanh khoản của NHTM do đây là kênh tạo nguồn thanh khoản tương đối nhanh chóng với chi phí tương đối hợp lý, đặc biệt là nguồn vay từ hạn mức được NHNN cấp theo các quy chuẩn và điều kiện đang tiến dần đến thông lệ quốc tế Tuy nhiên, một điều rõ ràng là các NHTM nhỏ bị hạn chế về khả năng đi vay từ các nguồn này và phải dựa vào việc bán hoặc chứng khoán hóa tài sản của mình Nhưng như nói ở trên, các NHTM này sở hữu rất ít các khoản chứng khoán hoá tài sản của mình Còn hạn mức đi vay từ các định chế tài chính và Ngân hàng trung ương sẽ được để dành phòng cho những trường hợp phát sinh nhu cầu thanh khoản đột xuất
Các NHTM tại trung tâm tiền tệ và các NHTM khu vực lớn lại có điều kiện hoàn toàn ngược lại Nếu được quản lý một cách hợp lý thì những NHTM này thường có khả năng tiếp cận được với nhiều nguồn vốn khác nhau trên các thị trường tài chính trong nước cũng như quốc tế như chứng chỉ tiền gửi lớn có khả năng chuyển nhượng, thương phiếu, chấp nhận của ngân hàng, trái phiếu, tín phiếu Do vậy, các NHTM có quy mô lớn thường có xu hướng lựa chọn các nguồn thanh khoản huy động này để đáp ứng các nhu cầu thanh khoản phát sinh nhiều hơn so với các NHTM quy mô nhỏ
Trong thực tế có nhiều NHTM lại thuộc khu vực trung gian giữa hai thái cực trên Các nguồn vốn huy động bao gồm không chỉ nguồn vốn đi vay của Ngân hàng Trung ương mà cả những hình thức khác như chứng chỉ tiền gửi giá trị lớn và các khoản nợ
Trang 29được đem đấu thầu Những NHTM quy mô trung bình này thường thiếu khả năng tiếp cận thị trường tiền tệ trong nước và đa số các thị trường quốc tế khác Ngoài ra, các NHTM này cũng có những hạn chế tương đối về vốn vay so với các NHTM quy mô lớn khác Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, những NHTM loại này chủ yếu dùng đến nguồn vốn vay mang tính thời vụ hoặc bán tài sản thanh khoản
II.2.3.4 Chiến lược kinh doanh của NHTM
Chiến lược kinh doanh của một NHTM cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng Từ chiến lược kinh doanh, NHTM sẽ cụ thể hoá thành các quy định về quản lý thanh khoản cũng như các hoạt động khác có liên quan Chiến lược đó chứa đựng những hướng dẫn cụ thể hoặc ngầm định về thanh khoản
do đội ngũ quản trị điều hành cấp cao tại hội sở chính của NHTM đưa ra Chiến lược kinh doanh sẽ thể hiện NHTM sẽ chấp nhận phụ thuộc đến mức nào vào những nguồn vốn không ổn định và có thể sẽ bị suy giảm mạnh trong thời kỳ kinh tế khó khăn Nếu một NHTM không sử dụng hoặc chỉ sử dụng rất ít nguồn vốn mua về để đáp ứng nhu cầu thanh khoản (tức là hoàn toàn dựa vào những TSC linh hoạt của mình) thì NHTM đó được coi là đi theo chiến lược kinh doanh thận trọng Tuy nhiên chiến lược này thì không
dễ và trong thời gian vừa qua, tại Việt Nam chỉ có một số NHTM nhà nước và NHTM cổ phần đáp ứng được nhu cầu về thanh khoản Số còn lại, do sức ép tăng trưởng quy mô TSC, sức ép lợi nhuận trước cổ đông nên không có TSC linh hoạt
Chiến lược khác là những NHTM luôn tìm cách tăng nguồn vốn huy động thuộc tất cả các loại hình nguồn vốn khác nhau, chừng nào mà tổng chi phí vốn của những nguồn vốn này vẫn còn thấp hơn mức sinh lời ròng mà ngân hàng có thể sẽ thu về khi đem đầu tư chúng Thậm chí khi tình huống quá khó khăn còn tạm thời chấp nhận lỗ để chờ vào lợi nhuận ở giai đoạn sau Những NHTM như vậy nói chung thường phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn bên ngoài và điều này thể hiện một chiến lược mạnh dạn, đôi khi
đó là sự mạo hiểm, thậm chí là thể hiện thiếu kinh nghiệm trong quản trị rủi ro thanh khoản Chính sự lựa chọn đó là câu trả lời cho cuộc đua tăng lãi suất huy động vốn VNĐ
và USD trên thị trường thời gian qua cũng như hiện nay Đồng thời, người quản trị điều hành mạnh dạn cũng phải nhận thức một điều là chính uy tín của ngân hàng mới là yếu tố quan trọng nhất quyết định khả năng ngân hàng tiếp cận được các nguồn vốn trên thị trường tiền tệ Tuy nhiên, chiến lược kinh doanh vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những phương pháp mà từng ngân hàng sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình Đây
Trang 30luôn là một bài toán khó đối với những NHTM chưa có bề dày về quản trị điều hành NHTM nói chung và quản trị rủi ro thanh khoản nói riêng
II.2.3.5 Chi phí của các nguồn thanh khoản
Một nhân tố nữa ảnh hưởng tới công tác quản trị thanh khoản mà các nhà quản trị điều hành NHTM luôn luôn tính đến chính là chi phí của các nguồn thanh khoản Thông thường, nguyên lý có tính thường trực đó là NHTM sẽ lựa chọn một nguồn vốn sẵn nào
đó có mức chi phí thấp nhất mà vẫn đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thanh khoản Nguyên tắc chi phí tối thiểu này còn phụ thuộc vào những điều kiện tiếp cận thị trường tiền tệ cũng như triết lý quản lý, chiến lược kinh doanh của bản thân ngân hàng Trường hợp ngân hàng dự định bán một tài sản để giải quyết nhu cầu thanh khoản thì phí tổn ở đây chính là nguồn thu nhập còn lại từ tài sản mà ngân hàng đã chấp nhận từ bỏ khi quyết định bán tài sản sau khi đã cộng, trừ tất cả các khoản lỗ lãi, thuế, phí môi giới Khi muốn
sử dụng các nguồn vốn huy động thì chi phí sẽ không chỉ bao gồm các chỉ phí trả lãi mà còn cả chi phí cho dự trữ bắt buộc, chi phí xử lý, phí bảo hiểm và các chi phí liên quan khác nữa
Bên cạnh những chi phí có thể so sánh được trực tiếp với nhau, các NHTM còn phải chú ý đến chênh lệch về chi phí tại những thời kỳ khác nhau Ví dụ, khi gặp phải trường hợp nhu cầu vay vốn tăng lên do nguyên nhân thời vụ thì NHTM có thể giải quyết bằng các chứng chỉ tiền gửi giá trị lớn hay các hợp đồng mua lại, hoặc các công cụ phái sinh Điểm khác nhau cơ bản giữa hai công cụ này là ở chỗ hợp đồng mua lại thường được tái ký trên cơ sở hàng ngày thậm chí đôi khi cả đối với khách hàng khác Hơn thế,
do đây là những hợp đồng bán và mua chứng khoán trên giấy tờ nên chúng đòi hỏi phải
xử lý một khối lượng công việc rất lớn bằng văn bản Do vậy, tổng phí tổn của các hợp đồng mua lại thường rất khác nhau và tăng lên tùy theo độ dài thời gian cần sử dụng vốn Ngược lại, việc phát hành chứng chỉ tiền gửi sẽ làm NHTM phải chịu mức chi phí cố định cao (bao gồm phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí khuyến mại và dự trữ không được hưởng lãi) nhưng lại không có chi phí khả biến, sau khi chứng chỉ tiền gửi đã được phát hành thì sẽ không phát sinh thêm chi phí nữa Như vậy, nếu không kể đến những yếu tố cần cân nhắc thì NHTM nên tài trợ cho nhu cầu mở rộng tín dụng kỳ hạn ngắn bằng các hợp đồng mua lại và nhu cầu mở rộng tín dụng trong thời hạn dài hơn bằng các chứng chỉ tiền gửi
Trang 31Quản trị rủi ro thanh khoản có tính thông lệ quốc tế nhưng phải vận dụng phù hợp vào đặc thù nền kinh tế Việt Nam, khi mà diễn biến kinh tế vĩ mô chưa ổn định Quy
mô và chất lượng hoạt động giữa các NHTM ở nước ta còn có khoảng cách khá xa nhau Những rủi ro về chính sách và rủi ro về thị trường còn ở mức độ rất lớn, ảnh hưởng nhiều đến quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM Đây là vấn đề lớn và phức tạp trong quản trị điều hành một NHTM
II.2.4 Quy trình quản trị rủi ro thanh khoản
II.2.4.1 Tổ chức quản trị rủi ro thanh khoản
Các NHTM cần lập ra một ban quản lý thanh khoản, mọi bộ phận trong ngân hàng đều có vai trò trong việc quản trị rủi ro thanh khoản Dưới đây, khóa luận xin đưa ra một
mô hình quản lý thanh khoản khá điển hình ở các ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam Một mô hình quản lý thanh khoản của các ngân hàng thương mại thường bao gồm:
Uỷ ban quản lý rủi ro:
o Đảm bảo hoạt động của ngân hàng phù hợp với chiến lược thanh khoản đã đặt ra;
o Đảm bảo các chính sách và thủ tục cần thiết cho quản lý rủi ro thanh khoản được thực hiện;
o Quản lý tình hình thanh khoản và cơ cấu rủi ro của ngân hàng một cách định kỳ, dễ hiểu và đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng;
o Giám sát hoạt động của Uỷ ban quản lý tài sản/công nợ và việc xử lý các vấn đề quan trọng của Uỷ ban này
Uỷ ban quản lý tài sản/công nợ (ALCO) ALCO có trách nhiệm quản lý khả năng thanh khoản nói chung bao gồm các công việc chính sau:
o Xây dựng và thực hiện các thủ tục quy trình quản lý khả năng thanh khoản, đảm bảo rằng các thủ tục quy trình luôn được cập nhật để đảm bảo tính đầy đủ, thận trọng;
Trang 32o Xây dựng và xem xét các hạn mức đảm bảo khả năng thanh toán đầy đủ các trường hợp vượt hạn mức được xem xét và phê duyệt;
o Quyết định cơ cấu bảng cân đối kế toán - các tài sản và công nợ theo tính thanh khoản và theo thời gian đáo hạn
o Lập các báo cáo cho Ban giám đốc, Uỷ ban quản lý rủi ro về các hoạt động thanh khoản và cơ cấu rủi ro của ngân hàng một cách thường xuyên;
o Lập kế hoạch dự phòng chỉ rõ các hoạt động quản lý trong trường hợp có khủng hoảng và khả năng thanh khoản
Ban giám đốc chi nhánh: trực tiếp chỉ đạo thực hiện quản lý rủi ro thanh khoản tại các đơn vị mình quản lý
II.2.4.2 Nhận biết rủi ro thanh khoản
Nhận biết rủi ro thanh khoản là một trong những khâu quan trọng trong quá trình quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Để nhận biết rủi ro thanh khoản, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng phải chú ý những điểm sau:
Yếu tố đầu tiên để nhận biết rủi ro thanh khoản đó là tình hình biến động của nền kinh tế Đây là nhân tố dễ dàng có ảnh hưởng đến tính thanh khoản của NHTM Nếu nền kinh tế phát triển ổn định và lành mạnh, các doanh nghiệp và tổ chức vay tiền của ngân hàng sẽ dễ dàng trả được nợ Do đó, ngân hàng sẽ quản lý tốt được tỷ lệ nợ xấu của mình Thêm vào đó, nền kinh tế phát triển lành mạnh khiến cho người dân cũng trở nên tin tưởng hơn vào hệ thống ngân hàng và điều tất yếu là lượng tiền gửi vào ngân hàng sẽ tăng lên Ngược lại, khi nền kinh tế có các dấu hiệu bất ổn, suy thoái, lạm phát, ngay lập tức người dân sẽ rút bớt lượng tiền gửi của mình về để đảm bảo an toàn Lượng nợ xấu,
nợ khó đòi của ngân hàng cũng tăng lên… Vì vậy, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng cần luôn theo dõi những biến động của nền kinh tế không chỉ trong nước, trong khu vực
mà phải trên toàn thế giới Một ví dụ điển hình về tác động của nền kinh tế đến tình hình thanh khoản trong thời gian qua đó là cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ sau đó đã lan rộng
ra toàn thế giới và các ngân hàng của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nặng nề và có nhiều lúc tính thanh khoản của một số ngân hàng ở nước ta đã bị đe dọa nghiêm trọng
Thứ hai, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng cần liên tục theo dõi các chính sách quyết định của NHNN Đây là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ và trực tiếp nhất đến khả năng thanh khoản của ngân hàng Rất nhiều các quyết định chính sách của NHNN có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NHTM Ví dụ như khi
Trang 33NHNN yêu cầu tăng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, yêu cầu mua một lượng giấy tờ có giá hay quy định tỷ lệ cho vay chứng khoán bất động sản chỉ chiếm 3% tổng dư nợ cho vay như thời gian vừa qua Vì vậy, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng cần phải dự đoán trước được tình hình thị trường, linh hoạt trước các quyết định chính sách của NHNN, đồng thời phải có các biện pháp hợp lý để đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng luôn được duy trì ở mức ổn định, không làm ảnh hưởng đến uy tín đồng thời cũng không lưu giữ quá nhiều các tài sản có độ thanh khoản cao làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng
Thứ ba, khi ngân hàng phải đối mặt với những tin đồn xấu Điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng Họ sẽ có xu hướng rút tiền ra khỏi ngân hàng để gửi sang ngân hàng khác Trong khi đó, các khoản cho vay hay đầu tư của ngân hàng chưa thu hồi đến cầu thanh khoản lơn hơn cung khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro thanh khoản Một ví dụ điển hình đó là vụ ngân hàng Northern Rock của Anh hay ngân hàng Phương Nam, ngân hàng ACB ở nước ta trong thời gian qua Vì vậy, ngay khi xuất hiện những tin đồn như vậy, các nhà quản trị ngân hàng cần có biện pháp xử lý kịp thời như thông cáo báo chí để trấn an tinh thần của khách hàng, yêu cầu sự giúp đỡ của NHNN và huy động nguồn vốn kịp thời như vốn vay liên ngân hàng hay vay các tổ chức tín dụng khác để đề phòng các khách hàng rút tiền tránh nguy cơ thâm hụt thanh khoản rồi dẫn đến rủi ro thanh khoản
Thứ tư, các nhà quản trị rủi ro trong ngân hàng thường xuyên phải tính toán lượng cung cầu thanh khoản trong ngân hàng bằng các phương pháp lượng hóa rủi ro thanh khoản Bất cứ khi nào cầu thanh khoản vượt khỏi lượng cung thanh khoản theo một tỷ lệ nhất định thì có nghĩa là ngân hàng đang phải đối mặt với thâm hụt thanh khoản Nếu hiện tượng này kéo dài thì có nghĩa là ngân hàng đang phải đối mặt với rủi ro thanh khoản Dễ dàng nhận thấy nhất đó là căn cứ vào tốc độ tăng trưởng nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng tín dụng Nếu lượng tín dụng của ngân hàng tăng quá nhanh so với nguồn vốn huy động được đó là dấu hiệu báo trước ngân hàng có khả năng phải đối mặt với rủi
ro thanh khoản Khi đó, ngân hàng cũng cần có biện pháp để giảm thiểu khe hở thanh khoản bằng việc đi vay liên ngân hàng, hay thực hiện nghiệp vụ thị trường mở tại NHNN, có các chính sách để tăng cường nguồn vốn huy động từ dân…
Nếu như xuất hiện bất kỳ vấn đề nào trên đây thì nhà quản trị ngân hàng cần phải xem xét cẩn thận các chính sách và thực tiễn hoạt động kinh doanh của ngân hàng để từ
Trang 34đó tìm ra nguyên nhân và phương pháp giải quyết nhằm cải thiện khả năng thanh khoản của ngân hàng
II.2.4.3 Lượng hóa rủi ro thanh khoản
a Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn
Thực chất của phương pháp này là đo lường cung cầu thanh khoản, trong đó phần chủ yếu của cung cầu thanh khoản là tiền gửi và cho vay nên phương pháp này tập trung vào đo lường những thay đổi dự tính trong tiền gửi và cho vay của ngân hàng Khi nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không cân bằng ngân hàng hàng sẽ phải đối mặt với khe hở thanh khoản Khe hở thanh khoản được đo bằng độ chênh lệch giữa tổng vốn và
sử dụng vốn
Khe hở thanh khoản = Thay đổi dự tính _ Thay đổi dự tính
trong tổng tiền gửi trong tổng cho vay
Khe hở thanh khoản dương khi nguồn thanh khoản vượt quá sử dụng thanh khoản, khi đó phần thặng dư thanh khoản được sử dụng cho mục đích đầu tư vào những tài sản sinh lời cho tới khi ngân hàng có nhu cầu tiền mặt trong tương lai
Những bước chính trong phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn bao gồm:
Bước 1: Dự báo nhu cầu vay vốn và tiền gửi kỳ hạn: Nhu cầu vay vốn và lượng tiền gửi cần phải được ước lượng trong giai đoạn ngân hàng ước tính trạng thái thanh khoản (giai đoạn kế hoạch)
Bước 2: Tính sự thay đổi dự tính về cho vay và tiền gửi kỳ hạn :Những thay đổi
dự tính trong cho vay và tiền gửi cần phải được tính toán cho giai đoạn kế hoạch
Bước 3: Xác định khe hở thanh khoản
Nhà quản lý thanh khoản phải ước tính trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng, thâm hụt hay thặng dư trong giai đoạn kế hoạch bằng cách so sánh mức thay đổi dự tính trong cho vay và trong tiền gửi Ngân hàng sử dụng nhiều kỹ thuật thống kê khác nhau cùng với sự đánh giá và kinh nghiệm của người quản lý để xây dựng những dự báo về cho vay và tiền gửi Ví dụ, ngân hàng có thể phát triển những dự báo như:
Thay đổi của tổng số tiền vay trong khoảng dự báo tuỳ thuộc vào: Tăng trưởng GDP dự kiến, lợi nhuận doanh nghiệp dự kiến, tỷ lệ tăng trưởng về cung ứng tiền của NHTW…
Trang 35 Thay đổi của tổng số tiền gửi và các khoản nợ phi tiền gửi trong khoảng dự báo tuỳ thuộc vào: Tăng trưởng về thu nhập cá nhân dự kiến, mức tăng bán lẻ ước tính, tỷ
lệ tăng trưởng của NHTW, lợi suất dự kiến cho tiền gửi trên thị trường tiền tệ, tỷ lệ lạm phát dự kiến
Từ những dự báo như trên, nhà quản trị thanh khoản có thể ước tính
Mức thâm hụt (-) hay thặng dư (+) thanh khoản dự tính
= Thay đổi dự tính _ Thay đổi dự tính
trong tổng tiền gửi trong tổng cho vay
Đơn giản hơn nữa, người ta phân chia dự báo về mức tăng của khoản tiền gửi và cho vay trong tương lai thành 3 bộ phận:
Phần xu hướng: Ngân hàng ước tính phần này bằng cách xây dựng một đường
xu thế sử dụng giá trị tại các thời điểm cuối năm, cuối quý, cuối tháng đối với tổng tiền gửi và cho vay trong vòng ít nhất 10 năm gần đây
Phần mùa vụ: Phần này đo lường sự thay đổi của tổng tiền gửi và cho vay trong những tuần, những tháng nhất định dưới tác động của yếu tố thời vụ trên cơ sở so sánh với mức tiền gửi và cho vay tại thời điểm cuối năm gần nhất
Phần chu kỳ: Phần này thể hiện sự sai lệch so với tổng lượng tiền gửi và cho vay dự tính ( được đo bằng phần xu hướng và phần mùa vụ), phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế trong năm
Sau khi đã xác định các con số dự tính về tiền gửi và cho vay, các nhà quản lý ngân hàng sử dụng chúng để ước lượng trạng thái thanh khoản của ngân hàng là thặng dư hay thâm hụt trong giai đoạn trước mắt Từ đó, nhà quản lý ngân hàng lập kế hoạch về nguồn thanh khoản sẽ được sử dụng Trước hết là đánh giá dự trữ của ngân hàng về tài sản thanh khoản có thể sử dụng và sau đó quyết định nguồn vốn thanh khoản mà ngân hàng có thể sử dụng
Ví dụ: Xác định nhu cầu thanh khoản theo phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn tại ngân hàng A
Bảng cân đối kế toán tại ngân hàng A ngày 31/12/2008
Tài sản Số tiền Nguồn vốn Số tiền
Trang 36Giả sử qua số liệu thống kê, mức tăng trưởng về tiền gửi, tiền vay qua các năm là 12% năm Mức thay đổi thời vụ và chu kỳ được xác định như bảng dưới đây:
Cho vay 5000 Các khoản vay 1600 Đầu tư 800 Vốn chủ sở hữu 600
Chỉ số thời vụ%
(3)
Tăng giảm thời vụ (4=(2)*(3)
Tăng giảm chu kỳ (5)
Tổng cộng (6=(2)+(4)+(5)
Trang 37Bảng 3: Dự báo khe hở thanh khoản của Ngân hàng A năm 2008
Đơn vị: tỷ đồng Tháng
Bảng 2: Dự báo mức thay đổi tiền gửi tại Ngân hàng A năm 2008 (đơn vị: tỷ VND) Tháng
(1)
Xu hướng (2)
Chỉ số thời vụ(%) (3)
Tăng giảm thời vụ (4)=(2)*(3)
Tăng giảm chu
kỳ (5)
Tổng cộng (6)=(2)+(4)+(5)
Trang 38ngân hàng về tài sản thanh khoản có thể sử dụng và sau đó quyết định nguồn vốn mà ngân hàng sẽ có thể phải huy động
b Phương pháp tiếp cận cấu trúc quỹ:
Nếu như phương pháp nguồn vốn và sử dụng vốn giúp ngân hàng đo lường cả nguồn Cung và nguồn cung thanh khoản thì phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn chỉ quan tâm đến Cầu thanh khoản Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản dựa vào việc phân chia cơ cấu nguồn vốn huy động theo khả năng nguồn vốn này bị rút ra khỏi ngân hàng
để xác định yêu cầu thanh khoản của ngân hàng Phương pháp này gồm 5 bước:
Bước 1: Nguồn vốn được phân chia thành các nhóm Có nhiều tiêu chí để phân chia nguồn vốn Khóa luận sử dụng tiêu chí phân chia theo xác suất rút vốn
- Nguồn vốn nóng: vốn vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất hoặc được dự tính sẽ
bị rút khỏi ngân hàng trong kỳ kế hoạch
- Nguồn vốn kém ổn định: các khoản tiền gửi của khách hàng trong đó một phần đáng kể (25-30%) sẽ có thể bị rút khỏi NH tại một thời điểm nào đó trong kỳ kế hoạch
- Nguồn vốn ổn định: khoản mục vốn mà nhà quản trị ngân hàng tin tưởng chắc chắn rằng ít có khả năng bị rút khỏi ngân hàng (trừ một bộ phận rất nhỏ trong tổng số)
Bước 2: Xác định yêu cầu dự trữ thanh khoản cho nguồn vốn trên
Nhà quản lý thanh khoản phải dành riêng một phần vốn thanh khoản tùy theo những nguyên tắc quản lý đối với mỗi nhóm vốn nêu trên
Thông thường tỷ lệ dự trữ thanh khoản được lựa chọn như sau:
- Tỷ lệ dự trữ thanh khoản lớn nhất cho nguồn vốn nóng, thường là 95%
- Tỷ lệ dự trữ thanh khoản cho nguồn vốn kém ổn định, thường là 30%
- Tỷ lệ dự trữ thanh khoản thấp nhất cho nguồn vốn ổn định: <= 15%
Dự trữ thanh khoản vốn
= 0.95* (Nguồn vốn nóng – DTBB)+ 0.30* (Nguồn vốn kém ổn định – DTBB)+ 0.15* (Nguồn vốn ổn định – DTBB)
DTBB: dữ trữ bắt buộc
Bước 3: Xác định yêu cầu cho các khoản vay có chất lượng: Ngân hàng phải luôn sẵn sàng thực hiện các khoản cho vay chất lượng cao vào mọi lúc, nghĩa là đáp ứng yêu cầu tín dụng hợp pháp của những khách hàng thỏa mãn các tiêu chuẩn chất lượng cho vay mà ngân hàng đặt ra Ngân hàng phải có dự trữ thanh khoản hợp lý trong tay bởi vì khi một khoản cho vay được thực hiện, người đi vay sẽ sử dụng số tiền
Trang 39vay trong nhiều ngày và như vậy vốn sẽ chảy ra khỏi ngân hàng Thực tế, nhiều người hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng ngày nay thường cho rằng ngân hàng nên chấp nhận thực hiện tất cả các khoản cho vay chất lượng cao vì điều này không những đem lại lợi nhuận từ các khoản phí và lãi cho ngân hàng mà còn đem lại các khách hàng trung thành cho ngân hàng Điều này gợi ý rằng nhà quản lý phải cố gắng dự tính con
số vay tối đa tiềm năng và cần có lượng dự trữ thanh khoản hay năng lực vay vốn hợp
lý, tương đương với toàn bộ ( 100%) phần chênh lệch giữa tổng dư nợ thực tế và tổng cho vay tối đa tiềm năng
Bước 4: Xác định tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng
Tổng dự trữ Dự trữ thanh Dự trữ thanh
thanh khoản = khoản vốn + khoản cho vay
= 0.95* (Nguồn vốn nóng – DTBB) + 0.30* (Nguồn vốn kém ổn định – DTBB) + 0.15* (Nguồn vốn ổn định – DTBB)+ 1.00* (Quy mô cho vay tối đa – Tổng dư nợ hiện tại)
Bước 5: Xác định yêu cầu theo các kịch bản
Yêu cầu thanh khoản dự tính = Tổng Pr(xi)*NLPxi
+ Xi: Các kịch bản được xây dựng
+ Pr(xi): Xác suất kịch bản i xảy ra
+ NLPxi: Yêu cầu thanh khoản Xi
Nhà quản trị thanh khoản phải xây dựng lên các kịch bản để có thể tính toán được yêu cầu thanh khoản Các kịch bản có thể xảy ra như: giai đoạn cuối năm, trường hợp xảy
ra lạm phát…Mỗi kịch bản sẽ đưa ra các yêu cầu thanh khoản khác nhau, do đó nhà quản
lý thanh khoản cần có các chiến lược để đáp ứng nhu cầu thanh khoản đúng đắn và kịp thời
Ví dụ: Đo lường yêu cầu thanh khoản của ngân hàng với cách tiêp cận cấu trúc vốn:
1 Ngân hàng ABC dự tính phân chia nguồn vốn tiền gửi và phi tiền gửi thành: Nguồn vốn nóng: 25 tỷ VND; Nguồn vốn kém ổn định: 24 tỷ VND ; Nguồn vốn ổn định: 100 tỷ VND
Ngân hàng ABC (trừ 3% dự trữ bắt buộc đối với các khoản tiền gửi) dự tính sẽ duy trì 95% dự trữ đối với nguồn vốn nóng, 30% dự trữ đối với nguồn vốn kém ổn định, 15% dự trữ đối với nguồn vốn ổn định
Trang 402 Dư nợ cho vay hiện tại của ABC là 135 tỷ VND, mức tối đa gần đây là140 tỷ VND, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bình quân là 10%/năm Ngân hàng sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu vay vốn của khách hàng có chất lượng tốt Ta có:
Dự trữ thanh khoản vốn = 95% x ( 25 – 0,03 x 25) + 30% x ( 24 – 0,03x 24) + 15% x ( 100 – 0,03 x 100) = 44,75 tỷ VND
Dự trữ thanh khoản cho vay = 1,00 x ( 140 x 1,1- 135) = 19 tỷ VND
Tổng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng = dự trữ thanh khoản vốn + dự trữ thanh khoản cho vay = 44,57 + 19 = 63,57 tỷ VND
Xác định yêu cầu theo các kịch bản :
Trạng thái thanh khoản dự tính tuần tới
Xác suất phẩn
bổ cho từng trường hợp
c Phương pháp tiếp cận chỉ số tài chính
Đây là phương pháp so sánh một số chỉ tiêu cơ bản và những đặc điểm của bảng cân đối tài sản giữa các ngân hàng có quy mô hoạt động ngang nhau và trên cùng địa bàn
Có rất nhiều các chỉ tiêu được sử dụng, song khóa luận chỉ sử dụng một số chỉ tiêu đơn giản để dánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng
Một số chỉ tiêu quản lý thanh khoản thông dụng:
i Chỉ số trạng thái tiền mặt
Tiền mặt + TG tại TCTD khác Chỉ số trạng thái tiền mặt = -
Tổng TSC