1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ

114 591 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Giải Pháp Thúc Đẩy Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Ấn Độ
Tác giả Thỏi Cẩm Linh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế đối ngoại
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ẤN ĐỘ

Họ và tên sinh viên : Thái Cẩm Linh

Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Hà Nội, tháng 05/2009

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC ẤN ĐỘ 4

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4

1.1.1 KHÁI NIỆM 4

1.1.2 NỘI DUNG CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 5

1.1.3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 6

1.1.4 VAI TRÒ CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 8

1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC ẤN ĐỘ 10

1.2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA ẤN ĐỘ 10

1.2.2 ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA ẤN ĐỘ 12 1.2.3 ĐẶC ĐIỂM CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ 14

1.2.4 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ 15

1.2.5 VÀI NÉT VỀ NỀN KINH TẾ ẤN ĐỘ 17

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ẤN ĐỘ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY 29

2.1 TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ 29

2.1.1 QUAN HỆ CHÍNH TRỊ, NGOẠI GIAO 29

2.1.2 QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ, THƯƠNG MẠI 30

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU GIỮA VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY 34

2.2.1 QUY MÔ VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG XUẤT NHẬP KHẨU 34

Trang 3

2.2.2 CƠ CẤU HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU GIƢÃ VIỆT NAM VÀ

ẤN ĐỘ 37

Trang 4

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM –

ẤN ĐỘ 62

2.3.1 THÀNH TỰU CHỦ YẾU 62

2.3.2 NHỮNG HẠN CHẾ CƠ BẢN 63

2.3.3 NGUYÊN NHÂN 64

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ẤN ĐỘ 68

3.1 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ẤN ĐỘ TRONG THỜI GIAN TỚI 68

3.1.1 CƠ HỘI 68

3.1.2 NHỮNG THÁCH THỨC, TRỞ NGẠI 69

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ẤN ĐỘ 72

3.2.1 GIẢI PHÁP VĨ MÔ 72

3.2.2 GIẢI PHÁP VI MÔ 81

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

B¶ng 1.1 Tû träng kim ng¹ch xuÊt khÈu cña Ên §é sang mét sè thÞ tr-êng chñ yÕu 26 B¶ng 1.2 Tû träng kim ng¹ch nhËp khÈu cña Ên §é tõ mét sè thÞ tr-êng chñ yÕu 28 B¶ng 2.1 TrÞ gi¸ xuÊt nhËp khÈu gi÷a ViÖt Nam vµ Ên §é giai ®o¹n 2001-

2005 34 B¶ng 2.2 Khèi l-îng vµ trÞ gi¸ xuÊt khÈu mét sè mÆt hµng chñ yÕu cña ViÖt Nam sang Ên §é n¨m 2008 40 B¶ng 2.3 Khèi l-îng vµ trÞ gi¸ xuÊt khÈu mÆt hµng h¹t tiªu cña ViÖt Nam sang Ên §é giai ®o¹n 2001-2008 43 B¶ng 2.4 Khèi l-îng vµ trÞ gi¸ xuÊt khÈu mÆt hµng chÌ cña ViÖt Nam sang

Ên §é giai ®o¹n 2001-2008 45 B¶ng 2.5 Khèi l-îng vµ trÞ gi¸ xuÊt khÈu mÆt hµng than cña ViÖt Nam sang

Ên §é giai ®o¹n 2001-2008 47 B¶ng 2.6 Khèi l-îng vµ trÞ gi¸ nhËp khÈu mét sè mÆt hµng chñ yÕu cña ViÖt Nam tõ Ên §é n¨m 2008 53 B¶ng 2.7 Khèi l-îng vµ trÞ gi¸ nhËp khÈu chÊt dÎo nguyªn liÖu cña ViÖt Nam

tõ Ên §é giai ®o¹n 2001-2008 56 B¶ng 2.8 Khèi l-îng vµ trÞ gi¸ nhËp khÈu s¾t thÐp cña ViÖt Nam tõ Ên §é giai ®o¹n 2001-2008 59 B¶ng 2.9 TrÞ gi¸ nhËp khÈu nguyªn phô liÖu ngµnh dÖt may, da giµy cña ViÖt Nam tõ Ên §é giai ®o¹n 2001-2008 61

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ấn Độ các năm 2006,

2007, 2008 36 Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang ấn Độ giai đoạn 2001-2005 38 Biểu đồ 2.3 Trị giá xuất khẩu mặt hàng giày dép của Việt Nam sang ấn Độ giai đoạn 2001-2008 49 Biểu đồ 2.4 Trị giá xuất khẩu mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam sang ấn Độ giai đoạn 2001-2008 50 Biểu đồ 2.5 Tỷ trọng mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ ấn Độ giai đoạn 2001-2008 52 Biểu đồ 2.6 Trị giá nhập khẩu d-ợc phẩm của Việt Nam từ ấn Độ giai đoạn 2001-2008 57

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh

mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và sự chấm dứt chiến tranh lạnh, toàn cầu hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển tất yếu của quan

hệ kinh tế quốc tế, phá tan xu hướng khép kín của mỗi quốc gia trên hành tinh đồng thời tăng cường sự tuỳ thuộc về lợi ích kinh tế giữa các quốc gia Trong bối cảnh đó, thương mại quốc tế là một lĩnh vực hoạt động đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới, phát huy những lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng tiềm năng về vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lý tiên tiến từ bên ngoài, duy trì và phát triển văn hoá dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại

Ấn Độ đang nổi lên ở khu vực và trên thế giới Là nền kinh tế lớn thứ

ba châu Á, Ấn Độ đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của khu vực Đặc biệt trong những năm gần đây, Ấn Độ luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới Mở rộng quan hệ với Ấn Độ sẽ giúp Việt Nam trở thành một quốc gia quan trọng trong khu vực

Với phạm vi địa lý rộng lớn, dân số đông thứ 2 thế giới, tầng lớp thu nhập cao ngày càng đông, Ấn Độ được coi là thị trường khổng lồ với sức mua ngày càng gia tăng và nhu cầu sẽ ngày càng đa dạng Hơn nữa, thị trường Ấn

Độ được dự đoán sẽ mở cửa hơn trong thời gian tới với mặt bằng thuế quan nhìn chung giảm dần So với thị trường Mỹ và EU, thị trường Ấn Độ được đánh giá là tương đối dễ tính, có yêu cầu về chủng loại và chất lượng hàng hóa nhập khẩu tương đối phù hợp với trình độ sản xuất của Việt Nam

Việt Nam - Ấn Độ đã có quan hệ hữu nghị truyền thống từ lâu đời, khởi nguồn từ những mối liên hệ và giao lưu lịch sử sâu xa về văn hóa, tôn giáo

Trang 8

tiền bối kiệt xuất của hai nước là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng J Nehru tạo dựng nền móng, các thế hệ lãnh đạo kế tiếp và nhân dân hai nước dày công vun đắp

Ấn Độ là một trong 10 bên đối thoại quan trọng của ASEAN Là thành viên của ASEAN, đồng thời là nước có quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện tốt đẹp với Ấn Độ, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam là không ngừng tăng cường quan hệ hợp tác với Ấn Độ trong cả khuôn khổ song phương và đa phương

Mặc dù quan hệ thương mại giữa hai nước đã tăng lên rõ rệt từ mức khởi điểm khoảng 50 triệu USD vào giữa thập kỷ 1980 lên 1,5 tỷ USD năm

2007 Triển vọng tăng cường quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và

Ấn Độ vẫn hết sức phong phú và to lớn, phù hợp với mong muốn, nguyện vọng chung và với sự nỗ lực của cả hai bên

Từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ” làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu tổng quát thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ trong thời gian qua cùng với những thành tựu và hạn chế còn tồn tại cản trở đến sự phát triển thương mại giữa hai nước, để từ đó đưa ra giải pháp cụ thể, đối với nhà nước và các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước ngày càng tốt đẹp hơn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ Phạm vi nghiên cứu của đề tài: tập trung vào xem xét, đánh giá hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam - Ấn Độ từ năm 2001 đến nay bao gồm: quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu giữa hai nước

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Khoá luận sử dụng phương pháp lý luận kết hợp với nghiên cứu thực tiễn, phân tích định tính kết hợp với phân tích định lượng

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, phụ lục, khóa luận được chia thành ba chương trong đó bao gồm:

Chương 1: Lý luận chung về thương mại quốc tế và tổng quan về đất nước Ấn Độ

Chương 2: Đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn

Hà Nội, tháng 5 năm 2008

Sinh viên thực hiện Thái Cẩm Linh

Trang 10

Không thể có một quốc gia nào trên thế giới tồn tại độc lập, phát triển

có hiệu quả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Quan hệ kinh tế quốc tế là bộ phận cốt lõi tạo nên tính hữu cơ của nền kinh tế thế giới, nhờ đó mà các nền kinh tế quốc gia có thể liên kết với nhau như một thể thống nhất

Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại xét trên phạm vi toàn thế giới Quan hệ kinh tế đối ngoại là toàn bộ các mối quan hệ về kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ của một quốc gia với bên ngoài ( “bên ngoài” ở đây bao gồm các quốc gia, vùng lãnh thổ khác; các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại mang tính khu vực hoặc toàn cầu; các công ty, tập đoàn)

Những hình thức chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm: quan hệ

về di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ, quan hệ về di chuyển quốc tế vốn đầu tư, quan hệ về di chuyển quốc tế sức lao động, quan hệ kinh tế quốc tế trong lĩnh vực khoa học công nghệ, quan hệ về di chuyển quốc tế các phương tiện tiền tệ

Quan hệ về di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ là một hình thức quan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu Trong thực tế, các quan hệ di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ được gọi là thương mại quốc tế Thương mại quốc tế có mầm mống từ hàng ngàn năm nay, nó ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữa vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế

Trang 11

Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia, thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên [1, trang 59]

Thương mại quốc tế giữa quốc gia này với quốc gia khác được gọi là quan hệ thương mại song phương (ví dụ như quan hệ thương mại Việt Nam –

Ấn Độ)

1.1.2 Nội dung của thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế được chia ra làm hai nhóm:

- Thương mại hàng hoá hữu hình: là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc buôn bán, trao đổi các sản phẩm, hàng hoá thể hiện dưới dạng vật chất, hữu hình Thương mại hàng hoá hữu hình ra đời sớm nhất và cho đến nay vẫn là hình thức quan trọng nhất trong thương mại quốc tế

- Thương mại hàng hoá vô hình (hay thương mại dịch vụ): là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán, trao đổi các sản phẩm vô hình, phi vật chất được thực hiện thông qua các hoạt động của con người Các hình thức thương mại dịch vụ chủ yếu: dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ thông tin, dịch vụ tài chính, dịch vụ vận tải, dịch vụ du lịch

Thương mại quốc tế thường được nghiên cứu dưới ba góc độ Góc độ thứ nhất nhìn nhận hoạt động thương mại trên quan điểm toàn cầu, tìm ra những quy luật, xu hướng, vấn đề mang tính chất chung nhất trên thế giới, không phụ thuộc vào lợi ích của từng quốc gia Góc độ thứ hai đứng trên lợi ích và quan điểm của từng quốc gia để xem xét hoạt động buôn bán chủ yếu của quốc gia đó với các quốc gia khác trên thế giới Góc độ thứ ba gắn với hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty nhằm mục đích thu lợi cao nhất cho công ty

Trên góc độ một quốc gia thương mại quốc tế chính là hoạt động xuất nhập khẩu (ngoại thương) Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho

Trang 12

nước ngoài, và nhập khẩu là việc mua hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài Xuất nhập khẩu là những hoạt động cụ thể trong mua bán hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh tế trong nước với các đối tác nước ngoài Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, các quan hệ thương mại giữa các quốc gia, các khu vực được mở rộng hơn, do đó các quan hệ thị trường, đặc biệt là xuất nhập khẩu giữa các nước tăng trưởng ngày càng mạnh mẽ và phát triển cao cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Nội dung của khoá luận này sẽ chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hoá hữu hình giữa Việt Nam và Ấn Độ

1.1.3 Những đặc điểm phát triển chủ yếu của thương mại quốc tế

- Thương mại quốc tế những năm gần đây có xu hướng tăng nhanh, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất, điều đó đưa đến tỷ trọng kim ngạch ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở cửa gia tăng của nền kinh tế mỗi quốc gia ra thị trường thế giới

- Tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hoá vô hình nhanh hơn tốc

độ tăng trưởng của thương mại hàng hoá hữu hình thể hiện sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia Điều này đã kéo theo nhiều quốc gia đang có sự đầu tư phát triển nhiều lĩnh vực dịch vụ

- Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc với những xu hướng chính sau:

+ Giảm mạnh tỷ trọng của nhóm hàng nguyên vật liệu, tăng nhanh tỷ trọng của dầu mỏ và khí đốt

+ Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế tạo, nhất là máy móc, thiết bị và những mặt hàng tinh chế

+ Giảm tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng nhiều lao động giản đơn, tăng nhanh những mặt hàng kết tinh lao động phức tạp

Trang 13

- Tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao tăng nhanh

- Sự phát triển của nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm vi

và phương thức cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau, không những về mặt chất lượng, giá cả mà còn về điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, các dịch vụ sau bán hàng… và các tiêu chuẩn khác gắn với trách nhiệm xã hội và quyền lợi người tiêu dùng

Đi đôi với các quan hệ thương mại, sự phân công lao động quốc tế, hợp tác đầu tư, hợp tác khoa học và kỹ thuật, chuyển giao công nghệ… ngày càng

đa dạng và phong phú, bổ sung cho nhau và thúc đẩy nhau phát triển

- Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã hàng hoá diễn ra liên tục, đòi hỏi phải năng động, nhạy bén khi gia nhập thị trường thế giới Các sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao có sức cạnh tranh mạnh

mẽ trong khi các sản phẩm, nguyên liệu thô ngày càng mất giá, kém sức cạnh tranh

- Sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hoá thương mại, song mặt khác, giữa các liên kết kinh tế quốc tế cũng hình thành các hàng rào mới, yêu cầu bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi hơn

- Vai trò của WTO ngày càng quan trọng trong điều chỉnh thương mại quốc tế Có thể coi WTO là một tổ chức quốc tế có uy lực nhất trong điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế Các thể chế điều chỉnh của WTO ngày càng có hiệu lực đối với nhiều nước, mức độ điều chỉnh và tính chất điều chỉnh cũng ngày càng sâu sắc và hiệu quả hơn

- Thương mại điện tử đang trở thành cách thức giao dịch phổ biến và quan trọng trong thương mại quốc tế

Trang 14

1.1.4 Vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế quốc dân

Làn sóng toàn cầu hoá kinh tế đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực, các ngành kinh tế trên thế giới, trong đó có thương mại quốc tế Trong điều kiện hiện nay, thương mại quốc tế có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào Đối với Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là mở rộng thị trường để thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng, ngành hàng mà chúng ta có lợi thế góp phần tăng trưởng, phát triển kinh tế, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, xác định rõ vai trò của thương mại quốc tế cho phép tác động đúng hướng và tạo được những điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển

1.1.4.1 Thương mại quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất và góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế

Thương mại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế Do xuất khẩu và nhập khẩu là hai hành động ngược chiều nhau nên khi phân tích vai trò của xuất nhập khẩu cần xem xét nó trong mối quan hệ biện chứng với nhau: xuất khẩu là tạo điều kiện để nhập khẩu, mặt khác nhập khẩu trong nhiều trường hợp (nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu ) lại là yếu

tố thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu phát triển Xuất khẩu vừa thể hiện năng lực cạnh tranh của một quốc gia vừa tạo nguồn lực ngoại tệ để nhập khẩu Kim ngạch xuất khẩu càng cao và nhập khẩu nguyên nhiên liệu, thiết bị – máy móc càng tốt thì càng tạo điều kiện để nền kinh tế trong nước có thể sản xuất với quy mô lớn hơn và đạt hiệu quả cao trên cơ sở chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế, tạo thêm công ăn việc làm, tạo giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nước, kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm bật dậy các nhu cầu tiềm tàng của người tiêu dùng

Trang 15

1.1.4.2 Thương mại quốc tế phát triển tác động mạnh tới sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng hiện đại

Đối với nền kinh tế có quy mô nhỏ, lạc hậu, đang phát triển như Việt Nam nếu không mở cửa hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới thì không thể phát triển nhanh được và sẽ tụt hậu xa hơn nữa Vì vậy sự mở rộng thương mại quốc tế, đặc biệt là đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng mà chúng ta có nhiều lợi thế là một trong những tiền đề, động lực trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực Không chỉ như vậy mà mở rộng hoạt động thương mại quốc tế cũng sẽ góp phần khắc phục những tàn dư của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển nhanh nền kinh tế nước ta sang

cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là về các mặt như hình thức tổ chức sản xuất, cách thức kinh doanh, cán bộ, văn hóa doanh nghiệp…

Cơ cấu kinh tế nước ta vẫn đang rất lạc hậu, do đó phát triển thương mại quốc tế sẽ trực tiếp góp phần thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá Chính việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu có tác động lớn đến thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu tiêu dùng, thay đổi công nghệ, thay đổi phong cách làm việc và tạo ra sự cạnh tranh từ

đó dẫn đến nâng cao hiệu quả nền kinh tế quốc dân

1.1.4.3 Thương mại quốc tế phát triển góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

Thương mại quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu, tăng trưởng sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô, năng lực khai thác các nguồn lực của đất nước và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Đồng thời nó còn thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội, hình thành và

cơ cấu lại các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Trang 16

Mở rộng sự tham gia thương mại quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh quốc tế trên thị trường trong và ngoài nước và điều đó sẽ tạo môi trường liên tục gây áp lực buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng cải tiến công tác quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, tiết kiệm các nguồn lực qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế và năng lực sản xuất của doanh nghiệp

1.1.4.4 Thương mại quốc tế có tác động trực tiếp đến quan hệ đối ngoại

Thương mại quốc tế góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bước đưa thị trường Việt Nam hội nhập với thị trường thế giới, biến Việt Nam thành bộ phận của phân công lao động quốc tế Đó cũng là con đường để giúp nền kinh tế có bước phát triển nhảy vọt và nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế

đường biên giới đất liền và 5.700 km bờ biển

Có thể chia địa hình Ấn Độ thành ba vùng chính: vùng núi Himalaya, vùng đồng bằng sông Gange (sông Hằng) và bán đảo Ấn Độ Các bang phía Bắc và Đông Bắc Ấn Độ nằm một phần trên dãy Himalaya Nằm ở phía Nam

và song song với vùng núi Himalaya là đồng bằng sông Hằng, một vành đai đất thấp rộng hình thành bởi con sông Hằng và các phụ lưu của nó Vùng này

Trang 17

bao gồm một số khu vực có mức sản xuất nông nghiệp cao nhất Ấn Độ Sa mạc Thar - một vùng đất khô cằn và rộng lớn, nằm ở tận cùng phía Tây Nam của đồng bằng sông Hằng và trải dài đến tận Pakistan Bán đảo Ấn Độ được bao bọc bởi hầu hết là những vùng duyên hải phì nhiêu Những con đường mậu dịch xưa đã biến các thành phố và thị trấn của vùng này thành những trung tâm thương mại về vải vóc và đồ gia vị

Thủ đô của Ấn Độ là New Delhi, có diện tích 1.483 km2 và dân số là

16 triệu người New Delhi không những là trung tâm thương mại lớn nhất miền Bắc Ấn Độ, mà còn là trung tâm công nghiệp lớn nhất cũng như là trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế trọng yếu của đất nước

1.2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất của Ấn Độ là đất và nước Khoảng 50% diện tích đất đai là những vùng có thể canh tác được, nguồn nước ngầm dưới lòng đất rất lớn Đồng bằng sông Hằng là một trong những vùng đất phì nhiêu nhất của Ấn Độ Ở đây nước ngầm rất dồi dào và gần mặt đất nên thuận lợi cho việc canh tác Mỗi năm vùng này có thể trồng

Trang 18

canh tác tại đây Rừng bao phủ 22% diện tích đất đai và cung cấp một nguồn tài nguyên khác cho Ấn Độ, đó là nhiều loại cây gỗ có giá trị thương mại cao như: tếch, sến, lim, táu, hồng mộc… Ấn Độ có nguồn khoáng sản phong phú

và đa dạng gồm: than đá (trữ lượng đứng thứ 4 thế giới), quặng sắt, mangan, bauxit, mỏ titanium, crôm, đồng, khí đốt thiên nhiên, kim cương, dầu mỏ, đá vôi…

1.2.2 Đặc điểm dân cƣ và đặc trƣng văn hóa Ấn Độ

1.2.2.1 Đặc điểm về dân cư

Ấn Độ là nước đông dân thứ hai trên thế giới với 1,134 tỷ người (2007), tỷ lệ tăng dân số là 1,4%, với 29,2% dân số sống tại các vùng thành thị Cơ cấu dân số trẻ với khoảng 53% dân số dưới 25 tuổi, điều này hứa hẹn cung cấp cho thị trường lao động Ấn Độ một nguồn nhân lực dồi dào Theo

dự đoán của ADB (Asian Development Bank), đến năm 2020, 47% dân số Ấn

Độ sẽ trong độ tuổi 15-59 (hiện nay là 35%) Trong lúc dân số trong độ tuổi lao động của Mỹ, Tây Âu, kể cả Trung Quốc, theo dự báo sẽ không ngừng sụt giảm Khi đó, Ấn Độ sẽ trở thành nơi có lực lượng lao động và tiêu dùng

đông đảo nhất

Hiến pháp Ấn Độ quy định tự do tín ngưỡng, không có quốc giáo Mặc

dù 80% dân số theo đạo Hindu, Ấn Độ cũng là đất nước có số lượng tín đồ Hồi giáo đứng thứ ba thế giới với 14% dân số theo đạo Hồi Các nhóm tôn giáo chính khác gồm: Thiên chúa giáo, đạo Sikh, đạo Jain, đạo Phật

Số lượng ngôn ngữ mẹ đẻ tại Ấn Độ được ước lượng lên tới 1.652 Đa số những ngôn ngữ đó xuất phát từ hai nhóm ngôn ngữ chính: Aryan (được sử dụng bởi 74% dân số) và Dravidian (được 24% dân số sử dụng) Hiến pháp Ấn Độ công nhận 19 ngôn ngữ chính Tiếng Hindi là ngôn ngữ dân tộc có gần 50% dân

số sử dụng Tiếng Anh được dùng làm ngôn ngữ chính thức của chính phủ, công

sở và trong giáo dục và được sử dụng rộng rãi trong mọi quan hệ giao dịch

Trang 19

Sự khác biệt về chủng tộc, tôn giáo ở Ấn Độ dần dần tạo nên thành kiến

và phân biệt trong dân chúng: người ta không kết hôn với người khác tôn giáo; người miền Bắc (người Aryan) khó lấy người miền Nam (người Dravidian); người da nâu khó lấy người da trắng… Ngày nay, sự phân biệt có giảm bớt phần nào do tác động của thời đại, tuy vậy sự thành kiến giữa các vùng, giữa các tôn giáo, đẳng cấp và chủng tộc vẫn ngấm ngầm tồn tại

1.2.2.2 Những nét văn hoá nổi bật của Ấn Độ

Ấn Độ có một di sản văn hóa phong phú và đặc trưng duy nhất, và luôn tìm cách giữ gìn những truyền thống của mình trong suốt lịch sử đồng thời vẫn hấp thu các phong tục, truyền thống và tư tưởng từ phía cả những kẻ xâm lược và những người dân nhập cư Nhiều hoạt động văn hoá, ngôn ngữ, phong tục và các công trình kiến trúc là những ví dụ cho sự đan xen văn hóa qua hàng thế kỷ Ấn Độ có 22 di sản văn hóa thế giới và 5 di sản tự nhiên thế giới, trong số đó, nổi tiếng nhất là đền Taj Mahal ở Agra Là quê hương của một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới và là sự tiếp nối các triều đại thống trị suốt dọc chiều dài và chiều rộng đất nước, Ấn Độ có rất nhiều ví dụ tiêu biểu về các kiến trúc cung điện Các cung điện của Rajasthan và miền Trung Ấn Độ là những công trình nổi tiếng nhất Tôn giáo là một phần trung tâm trong cuộc sống hàng ngày của người dân Ấn Độ Các thành phố thiêng - các điểm dừng trong cuộc hành hương xuyên đất nước của đạo Hindu, các tu viện phật giáo, các nhà thờ nổi tiếng, các ngôi đền Gurudwara và các nhà thờ Hồi giáo tôn nghiêm thể hiện rõ đặc trưng của kiến trúc tôn giáo

Không chỉ nổi tiếng bởi âm nhạc cùng những triết lý và tôn giáo cổ đại, đất nước rộng lớn này còn có vô số các hội chợ, lễ hội với những bài thánh ca và các màn biểu diễn ghi dấu đậm nét cuộc sống hàng ngày phát triển qua nhiều thế kỷ, và giờ đây lại được pha trộn với những ảnh hưởng từ

Trang 20

đáo đã tạo nên sự đa dạng của Ấn Độ, làm cho đất nước này thực sự trở thành một trong những điểm đến tuyệt vời nhất trên thế giới đối với bất kỳ khách du lịch nào

1.2.3 Đặc điểm chế độ chính trị

1.2.3.1 Tổ chức nhà nước và chính phủ

Ngày 26 tháng 1 năm 1950, Ấn Độ tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Nhà nước Ấn Độ được tổ chức theo hình thức liên bang và theo chế độ dân chủ đại nghị Cộng hoà Ấn Độ có 28 bang và 7 vùng lãnh thổ trực thuộc trung ương Mặc dù mỗi bang đều có cơ cấu lập pháp riêng, nhưng các luật quốc gia vẫn có quyền lực cao hơn các luật pháp bang Hiến pháp Ấn Độ đã được chính thức thông qua năm 1950, dựa theo nền tảng Comman law từ Anh được tu chỉnh nhiều lần Chính phủ Ấn Độ có ba cơ quan đứng đầu: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp Lãnh đạo hiện nay: Tổng thống Pratibha Patil (nữ Tổng thống đầu tiên của Ấn Độ) nhiệm kỳ bắt đầu từ tháng 7-2007; Thủ tướng Manmohan Singh nhiệm kỳ từ tháng 5-2004; Chủ tịch Quốc hội S Chatterjee nhiệm kỳ từ tháng 6-2004

a) Cơ quan lập pháp : Quốc hội liên bang gồm hai nghị viện: Thượng nghị viện (Hội đồng Nhà nước) và Hạ nghị viện (Hội đồng Nhân dân)

b) Cơ quan hành pháp: Chính phủ Liên bang gồm có: Tổng thống, Phó tổng thống và Hội đồng Bộ trưởng, đứng đầu là Thủ tướng

Tổng thống là người bảo vệ Hiến pháp và Tư lệnh tối cao của các lực

lượng vũ trang Ấn Độ Tổng thống do cử tri đoàn bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm Theo Điều 74(1) của Hiến pháp Ấn Độ quy định rõ Tổng thống chỉ thực hiện quyền của mình theo lời khuyên và cố vấn của Thủ tướng Vì vậy Thủ tướng mới là người nắm thực quyền

Trang 21

Phó tổng thống cũng do cử tri đoàn bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm Phó

tổng thống đồng thời giữ chức Chủ tịch Thượng nghị viện và thay thế Tổng thống khi Tổng thống vắng mặt

Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm Tổng thống

cũng bổ nhiệm các Bộ trưởng theo đề nghị của Thủ tướng Thủ tướng và Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm tập thể trước Hạ nghị viện và cố vấn cho Tổng thống khi điều hành công việc

c) Cơ quan tư pháp

Ngành tư pháp độc lập của Ấn Độ gồm Tòa án Tối cao, do Tổng chưởng lý lãnh đạo Tòa án tối cao có quyền tài phán phúc thẩm đối với các Tòa án cấp cao Có 18 Tòa án cấp cao sơ thẩm, mỗi tòa có quyền tài phán đối với một bang hay một nhóm bang nhỏ Mỗi bang có một hệ thống tòa án cấp thấp hơn

1.2.3.2 Các đảng phái chính trị

Chế độ chính trị ở Ấn Độ cho phép nhiều đảng phái chính trị hoạt động,

4 đảng phái chính trị lớn nhất ở Ấn Độ là: Đảng Quốc Đại (I); Đảng Nhân dân

Ấn Độ (BJP), Đảng Cộng sản Ấn Độ (CPI); Đảng Cộng sản Ấn Độ Mácxít

(CPI-M) Đảng Quốc Đại (I) là đảng phái chính trị lớn và lâu đời nhất ở Ấn

Độ, được thành lập năm 1885, là đại diện của tầng lớp tư sản dân tộc và trí thức, có khoảng 25 triệu đảng viên chính thức và hàng triệu người có cảm tình với đảng, tích cực ủng hộ Đảng cầm quyền hầu như liên tục từ khi Ấn Độ giành độc lập (trừ giai đoạn 1977 – 1979 và 1989 – 1990; 1998 -2004) Trong cuộc tổng tuyển cử bầu Hạ nghị viện khoá 14 tháng 5-2004, Đảng Quốc Đại (I) và liên minh đã thắng cử, giành được 219 ghế, riêng Quốc Đại (I) giành được 142 ghế

1.2.4 Chính sách đối ngoại của Ấn Độ

Ấn Độ là một trong những nước có nền văn minh lâu đời nhất trên thế

Trang 22

nghệ thông tin, có nhiều thế mạnh về phát triển kinh tế, khoa học – kỹ thuật, quân sự Chính những yếu tố này đã làm cho Ấn Độ luôn được coi là một cường quốc trong khu vực và ngày càng có vị thế trên trường quốc tế

Sau khi giành được độc lập từ thực dân Anh, Thủ tướng đầu tiên của

Ấn Độ J.Nehru đã đề ra chính sách đối ngoại: “Chung sống hòa bình, tự lực

tự cường và hợp tác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không liên kết, ủng hộ phi thực dân hoá, giải trừ vũ khí, xây dựng trật tự kinh tế quốc tế công bằng và đấu tranh trên toàn cầu chống phân biệt chủng tộc”

[6, trang 63]

Hiện nay Ấn Độ vẫn tiếp tục duy trì chính sách “ không liên kết” nhưng ngày càng theo chiều hướng mềm dẻo hơn theo hướng cân bằng lực lượng giữa các nước lớn vì lợi ích quốc gia dân tộc Ấn Độ đẩy mạnh chính sách ngoại giao đa dạng, đa hướng ở cường độ cao, tạo những bước đột phá trong quan hệ quốc tế, đặc biệt theo đuổi chính sách ngoại giao thực dụng xích lại gần hơn với Mỹ và các nước phương Tây nhưng vẫn duy trì quan hệ cân bằng với các nước lớn còn lại như Nga, Nhật Bản; nhấn mạnh tăng cường quan hệ với EU - đối tác có lợi ích chiến lược với Ấn Độ Ấn Độ có quan hệ thân thiết với các nước đang phát triển ở Nam Mỹ và châu Phi, đặc biệt với Brazil và Mexico

Một trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ là tăng cường quan hệ với các nước châu Á và các nước láng giềng Với khu vực Nam Á,

Ấn Độ tích cực thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư để tạo sự gắn kết, tăng cường hợp tác khu vực thông qua Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) Tuy nhiên, Pakistan vẫn là một thách thức lớn đối với Ấn Độ Kashmir là nguyên nhân sâu sa dẫn đến ba cuộc chiến tranh vào những năm

1947, 1965 và 1971 giữa Ấn Độ và Pakistan Thời gian gần đây, nhờ sự nỗ lực của hai bên và cộng đồng quốc tế, quan hệ Ấn Độ - Pakistan được cải thiện, nhất là từ khi Pakistan có chính quyền dân sự mới Tuy nhiên, vụ tấn

Trang 23

công khủng bố vào thành phố Mumbai, Ấn Độ ngày 27-11-2008 lại đẩy hai quốc gia Nam Á này trở lại trạng thái căng thẳng và thù địch Đối với Trung Quốc, vốn có quan hệ bất đồng từ trước do tranh chấp lãnh thổ nên việc cải thiện quan hệ với Trung Quốc là vấn đề phức tạp Ấn Độ chủ trương có thái

độ kiềm chế, mềm dẻo hơn, giải quyết những bất đồng tranh chấp thông quan đối thoại hoà bình, giữ môi trường thân thiện, hoà bình giữa hai nước để phát triển kinh tế Với Đông Á, Ấn Độ triển khai chính sách “hướng Đông” và tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực này, trong đó chọn ASEAN

là một trong những trọng tâm đột phá

Ấn Độ gia nhập WTO năm 1995 và ngày có tầm ảnh hưởng tại lớn tại

tổ chức này Ấn Độ là thành viên Liên hiệp quốc từ năm 1945, với hơn 55.000 quân nhân và nhân viên cảnh sát từng phục vụ trong 35 chiến dịch gìn giữ hòa bình tại bốn châu lục Ấn Độ tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, đang phấn đấu để trở thành ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc và gia nhập APEC

1.2.5 Vài nét về nền kinh tế Ấn Độ

1.2.5.1 Tình hình phát triển kinh tế

Sau độc lập, Ấn Độ chọn đường lối kinh tế trung ương kế hoạch hóa, với mục đích đảm bảo một sự phân phối công bằng và hiệu quả tài nguyên quốc gia cho mục tiêu phát triển kinh tế cân bằng Ủy ban kế hoạch được lập

ra do đích thân Thủ tướng làm chủ tịch soạn và chỉ đạo các kế hoạch 5 năm Lĩnh vực tư nhân được giám sát chặt chẽ bởi các qui định ngặt nghèo Ấn Độ

đã hầu như tự cô lập với các thị trường thế giới nhằm bảo hộ nền kinh tế còn mong manh của mình Tuy vậy, Ấn Độ không hoàn toàn là một nền kinh tế quốc doanh, mà là một nền kinh tế hỗn hợp, vừa có một vài đặc tính kinh tế thị trường vừa tuân thủ những mệnh lệnh kinh tế chỉ huy

Từ năm 1991, Chính phủ Ấn Độ đã tiến hành cải cách toàn diện nền

Trang 24

hướng về xuất khẩu, cải cách nông thôn, phát triển nông nghiệp và kết cấu

hạ tầng, khuyến khích đầu tư nước ngoài, bảo đảm giáo dục và chăm sóc y tế

cơ bản cho mọi người dân Cho đến nay, công cuộc cải cách kinh tế đã đem lại cho nền kinh tế Ấn Độ bước phát triển đáng khích lệ Trong hai thập kỷ qua, tầng lớp trung lưu đã tăng gấp bốn lần, lên đến 300 triệu người, trong khi đó mỗi năm đều giảm nghèo được 1% dân số (đã khấu trừ tăng dân số)

Ấn Độ được đánh giá là một trong những nước có thành tích kinh tế tốt nhất thế giới trong 1/4 thế kỷ qua Đặc biệt, trong 4 năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ luôn được xếp vào loại cao nhất trên thế giới với mức tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 8%/năm; riêng năm tài chính 2006-

2007 (năm tài chính được tính từ ngày 1-4 năm này đến ngày 31-3 năm sau), GDP của Ấn Độ tăng 9,6% Với mức tăng trưởng là 9% năm tài chính 2007-

2008, Ấn Độ đánh dấu năm thứ 5 liên tiếp đạt mức tăng trưởng GDP trên 8% Nếu xét GDP tính theo tỷ giá USD, WB (World Bank) đánh giá Ấn Độ

là nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới với GDP đạt 1.171 tỷ USD, còn dựa vào GDP tính theo ngang giá sức mua (PPP), Ấn Độ là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới sau Nhật Bản, Trung Quốc và Mỹ Tuy nhiên, dân số khổng lồ đã làm cho GDP bình quân đầu người chỉ đạt mức 1.042 USD, đứng thứ 122 trên thế giới và được WB xếp trong nhóm các nước có nền kinh tế đang phát triển Tiền tệ của Ấn Độ là Rupi

Tăng trưởng của Ấn Độ dựa nhiều vào ngành dịch vụ, điều này ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả và sự phát triển bền vững của nền kinh tế và cũng được thấy ở sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu hàng xuất khẩu Dịch vụ chiếm 52,8% GDP của Ấn Độ và tạo việc làm cho 1/3 lực lượng lao động của đất nước này Trong 10 năm qua, ngành dịch vụ của Ấn Độ luôn đạt mức tăng trưởng bình quân 8-9%/năm và có chiều hướng nhanh hơn công nghiệp chế tạo Hiện Ấn Độ được xem như một trong số các “trung tâm dịch

vụ của thế giới” bởi nước này đang tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ nổi trội

Trang 25

như tư vấn công nghệ thông tin, dịch vụ kinh doanh nguồn ngoài, dịch vụ công nghệ thông tin từ xa, dịch vụ hỗ trợ văn phòng (Back-office), phân tích tài chính

Ấn Độ dựa nhiều vào xuất khẩu phần mềm và dịch vụ, vào kinh doanh nguồn ngoài sử dụng nhiều chất xám, khó có thể bị cạn kiệt mà cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và tri thức tiềm năng sẽ tiếp tục gia tăng và hầu như không có giới hạn Nhờ đó, nền kinh tế Ấn Độ hầu như thoát khỏi những chao đảo kinh tế toàn cầu, mức độ ổn định cũng đáng nể như tỉ lệ tăng trưởng Kết quả là bất bình đẳng xã hội ở Ấn Độ thấp hơn ở các nước đang phát triển khác Chỉ số Gini đo lường bất bình đẳng thu nhập ở Ấn Độ chỉ là 0,33 trong khi ở Trung Quốc là 0,45 và ở Brazil là 0,59

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức mà Ấn Độ phải tập trung khắc phục để có thể tiến nhanh trên con đường trở thành cường quốc kinh tế

Đó là chất lượng điều hành và tính hiệu quả của bộ máy Nhà nước chưa cao, điển hình là chính sách trong thu hút vốn đầu tư; thâm hụt ngân sách lớn (trên 5%); nợ nước ngoài cao (28% GDP); cơ sở hạ tầng nghèo nàn; còn nhiều rào cản và hạn chế đối với kinh tế thị trường Còn một số trở ngại trong cả luật lao động và chính sách thương mại đã hạn chế việc mở rộng lực lượng sản xuất đối với thành phần kinh tế nhỏ Ngoài ra, Ấn Độ còn nhiều khó khăn do tốc độ tăng dân số khá nhanh (1,4%/năm), tỷ lệ người biết đọc biết viết còn thấp (66%), đói nghèo chưa được giải quyết thỏa đáng (35% dân số dưới mức đói nghèo) và mức độ chênh lệch giàu nghèo lớn, giá cả tăng, điện nước thiếu ảnh hưởng tới đời sống nhân dân, nhất là tầng lớp dân nghèo

Trang 26

mục tiêu phát triển đàn bò sữa và dê sữa nhằm đáp ứng sữa tươi chất lượng cao, giá rẻ phục vụ cho mọi người dân Và thế giới gọi đó là những cuộc cách mạng trí tuệ, giúp một nước đông dân như Ấn Độ chiến thắng đói nghèo, vươn lên là một nước đảm bảo đủ lương thực và xuất khẩu

Nông nghiệp chiếm 17,8% GDP của Ấn Độ trong năm 2007 và tạo công ăn việc làm cho khoảng 60% dân số trong độ tuổi lao động Ngành nông nghiệp cũng đóng góp 14,7% cho tổng thu nhập xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu thô cho hầu hết các ngành công nghiệp (dệt, tơ lụa, đường, nhà máy xay, các sản phẩm sữa)

Ấn Độ là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về đay và sợi đay Không những thế, Ấn Độ là nước có sản lượng sữa cao nhất thế giới Ấn Độ cũng là nhà sản xuất hàng đầu thế giới về rau quả, cà phê, đường và gia vị Về các loại ngũ cốc,

Ấn Độ đứng thứ hai thế giới về lúa mỳ, lúa gạo và thứ một thế giới về đậu

Với 60% dân số sống nhờ vào nông nghiệp nhưng trọng tâm cải cách của Chính phủ lại không hướng vào nông nghiệp (tăng trưởng của ngành nông nghiệp chỉ đạt 2,6% năm 2007-2008) mà chú trọng phát triển một hoặc vài ngành công nghiệp mũi nhọn nên các cơ hội việc làm không được mở rộng Tỷ lệ thất nghiệp vẫn gia tăng và một bộ phận không nhỏ dân số ở các vùng nông thôn vẫn phải sống trong điều kiện nghèo khổ Nếu vấn đề không được giải quyết ổn thoả thì cư dân nông thôn sẽ tiếp tục di chuyển ra các thành phố nhiều hơn để tìm kiếm việc làm và thu nhập

1.2.5.3 Công nghiệp

Ấn Độ đã có những tiến bộ khổng lồ trong các lĩnh vực công nghiệp đa dạng và là một trong 10 cường quốc công nghiệp trên thế giới Các sản phẩm công nghiệp chính của Ấn Độ, có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế là: dệt may, hóa chất, chế biến thực phẩm, thép, thiết bị vận tải, xi măng, khai mỏ, máy móc và phần mềm Đặc biệt, Ấn Độ đã cũng có được những thành tựu ấn tượng trong ngành ô tô, xe máy và sản phẩm điện tử như: ti vi, tủ lạnh Tăng

Trang 27

trưởng công nghiệp năm 2007-2008 là 8,9%, góp phần tạo công ăn việc làm cho 12% lực lượng lao động, công nghiệp chiếm tỷ trọng 29,4% GDP

a) Ngành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin

Công nghiệp điện tử cùng với công nghệ thông tin (IT) là hai ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Ấn Độ cả về sản lượng và trị giá xuất khẩu, với giá trị sản lượng hai ngành tăng từ 18,92 tỷ USD năm 2002-2003 lên 56,80 tỷ USD năm 2007-2008, tăng trưởng bình quân 20%/năm Năm 2007-2008, xuất khẩu các sản phẩm điện tử và IT đạt 34,28 tỷ USD, so với 29,95 tỷ USD năm 2006-07, tăng 14.5% Trong đó, xuất khẩu phần mềm và dịch vụ đạt 32 tỷ USD năm 2007-08, so với 27,6 tỷ USD trong năm 2006-07, tăng 15,9% Tốc độ tăng trưởng này đã thấp hơn các năm trước, được ghi nhận là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và sự tăng giá của đồng Rupi Năm 2006-2007, 61% trong tổng doanh thu xuất khẩu phần mềm của Ấn Độ là sang Mỹ, 18% sang Anh; các sản phẩm công nghệ thông tin chiếm 30% thị trường phần mềm thế giới

Cuộc “Cách mạng chất xám” vào giữa những năm 90, đã đưa Ấn Độ

trở thành siêu cường phần mềm máy tính trên thế giới IT là một lĩnh vực mà

Ấn Độ có lợi thế cạnh tranh như nguồn nhân lực có chỉ số IQ cao, nói tiếng Anh thành thạo, đòi hỏi ít chi phí về cơ sở hạ tầng Sự phát triển công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế và chất lượng sống của người dân Số chuyên gia IT ở Ấn Độ tăng từ 284.000 năm 1999-2000 lên 1,63 triệu năm 2006-2007 Năm 2007-2008, ngành công nghệ thông tin tạo công ăn việc làm trực tiếp cho 2 triệu lao động và 8 triệu việc làm gián tiếp Tỷ lệ đóng góp của ngành công nghệ thông tin vào GDP tăng từ 5,2% năm 2006-2007

lên 5,5% năm 2007-2008

b) Ngành công nghiệp dệt may

Công nghiệp dệt may có vai trò sống còn trong nền kinh tế Ấn Độ Sản

Trang 28

nghiệp, chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu Công nghiệp dệt may có số lượng lao động gần 38 triệu người Hiện sợi bông vẫn là chất liệu chiếm ưu thế, song Ấn Độ đang trở thành nhà sản xuất đứng thứ 2 trên thế giới về mặt hàng lụa và đứng trong danh sách 5 nước sản xuất vải sợi hàng đầu thế giới Năm

2007, theo Viện sản xuất hàng dệt may của Mỹ, mặt hàng vải sợi xuất khẩu của Ấn Độ sang Mỹ đã lên tới trên 2,5 tỷ USD trong khi sản phẩm vải sợi của

Mỹ xuất khẩu sang Ấn Độ vẫn duy trì ở mức dưới 25 triệu USD So với các nước khác, ngành dệt may Ấn Độ có một số lợi thế riêng có nguồn nguyên liệu ổn định, bởi hiện Ấn Độ là nước sản xuất chỉ lớn nhất thế giới (chiếm 25% thị phần thế giới); là nhà sản xuất sợi bông hàng đầu

c) Công nghiệp dược phẩm

Năm 2007-2008, công nghiệp dược phẩm đạt doanh thu nội địa hơn 5

tỷ USD và doanh thu xuất khẩu là 4, 15 tỷ USD đã cho thấy kết quả khả quan của sự phát triển ngành dựa vào nền tảng công nghệ hiện đại Hiện nay, các công ty sản xuất dược phẩm quốc nội không những đã cung cấp đầy đủ thuốc men cho dân chúng trong nước mà còn xuất khẩu sản phẩm y dược sang những quốc gia khác tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-Tinh

d) Công nghiệp chế tác đá quý và kim hoàn

Đây là một trong những ngành công nghiệp thu được nhiều ngoại tệ ở

Ấn Độ Xuất khẩu đá quý và đồ trang sức của Ấn Độ tăng từ mức 5,4 tỷ USD năm 1995-1996 lên 19,82 tỷ USD, chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007-2008 Đây là ngành công nghiệp được người Ấn Độ rất quan tâm bởi nó đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên liệu thô nhập khẩu với năng suất và kỹ thuật cao của nguồn nhân lực nội địa, hơn nữa là nhu cầu rất lớn

của thị trường quốc tế

1.2.5.4 Đầu tư

Trang 29

Đầu tư nước ngoài (FDI) tại Ấn Độ từ tháng 1 đến tháng 9-2008 đạt 29,09 tỷ USD, tăng so với mức 13,71 tỷ USD cùng kỳ năm trước Tổng FDI

từ tháng 8-2001 đến tháng 9-2008 là 96,425 tỷ USD Các nước dẫn đầu trong đầu tư vào Ấn độ là: Mauritius, Singapore, Mỹ, Anh, Hà Lan, Nhật, Đức, đảo Síp, Pháp, các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) FDI tập trung vào các ngành chính : dịch vụ (tài chính và phi tài chính), viễn thông, xây dựng, bất động sản, ôtô, điện, luyện kim, hóa dầu, ga và hóa chất

Cùng với việc thu hút đầu tư của nước ngoài vào trong nước, các doanh nghiệp Ấn Độ cũng tích cực trong việc đầu tư ra nước ngoài trong những lĩnh vực mà Ấn Độ có thế mạnh như công nghệ thông tin, sản phẩm cơ khí, hóa chất… Hiện nay, các tập đoàn Ấn Độ đầu tư ra nước ngoài, chủ yếu thông qua hình thức liên doanh hoặc mua lại công ty Năm 2006, thông qua gần 150 thỏa thuận mua bán lớn, các công ty Ấn Độ đã mua lại các công ty trên thế giới với trị giá lên tới gần 20 tỷ USD Những thị trường đầu tư chính của Ấn

Độ chủ yếu là các nước khu vực Trung Đông và Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) Tổng vốn đầu tư của Ấn Độ hiện có tại nước ngoài (tính đến tháng 12/2007) là 37,5 tỷ USD Hiện nay rất nhiều nước trong khu vực đang tiến hành các biện pháp chủ động và tích cực để đón nhận làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp Ấn Độ

1.2.5.5 Thương mại quốc tế

a) Chính sách thương mại của Ấn Độ trong giai đoạn hiện nay

Đến năm 1991, Ấn Độ tiến hành cải cách toàn diện nền kinh tế, bao gồm cả chính sách thương mại Chính sách thương mại mới được ban hành năm đã đánh dấu một bước ngoặt, chuyển từ chính sách tự cấp tự túc và đóng cửa sang chính sách mở cửa, hướng mạnh vào xuất khẩu nhằm cải thiện cán cân thanh toán, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu, tăng cưòng khả năng đầu tư trong nước và thúc đẩy tự do hoá thương mại Chính sách đổi mới đã đem lại

Trang 30

cho nền kinh tế Ấn Độ những bước phát triển vượt bậc, giúp Ấn Độ trở thành nước xuất khẩu có vị thế trong khu vực và trên thế giới

Tuy vậy, Ấn Độ vẫn là thị trường bảo hộ mậu dịch lớn ở châu Á, điều này làm cho Ấn Độ chưa phát huy được đầy đủ tiềm năng của mình và vẫn chưa hội nhập được hoàn toàn với thế giới Vì vậy, đến năm 2004, để phù hợp với xu thế tự do hoá thương mại trên toàn cầu, Ấn Độ lại đưa ra chính sách

thương mại cải cách mạnh bạo hơn so với chính sách năm 1991 Chính sách

này có hiệu lực trong thời hạn 5 năm từ năm 2004 đến năm 2009, về cơ bản vẫn dựa trên cơ sở chính sách năm 1991, nhưng chính sách này mở rộng tự do cho xuất nhập khẩu và đặc biệt chú trọng đến hoạt động nhập khẩu những hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho việc thúc đẩy nền kinh tế và đưa ra cách chương trình cụ thể hơn Chính sách thương mại 2004-2009 có những nội dung chính sau:

- Thực hiện chính sách tự do hoá thương mại kết hợp với các chính sách bảo hộ sản xuất trong nước

- Đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là các mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao nhưng vẫn rất chú ý đến các mặt hàng sử dụng nhiều lao động để tạo việc làm cho người dân

- Đa dạng hoá mặt hàng và đa phương hoá thị trường xuất khẩu

- Nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho tất cả các lĩnh vực của nền kinh

tế, đặc biệt là thông qua việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại

để nâng cao giá trị gia tăng và tăng năng suất đối với từng sản phẩm trong khi vẫn duy trì chất lượng quốc tế của sản phẩm

- Nới lỏng việc quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp và tạo

ra một môi trường trong sạch và tin cậy để thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các thương nhân tại Ấn Độ

- Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, xuất nhập khẩu ; giảm bớt các chi phí ngoài sản xuất

Trang 31

- Dựa trên cơ cấu hàng xuất khẩu được ưu tiên để hợp lý hoá hơn nữa

hệ thống thuế

b) Hoạt động xuất nhập khẩu

Kim ngạch xuất nhập khẩu

Từ khi mở cửa mạnh mẽ, kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ tăng liên tục với tốc độ nhanh chóng Nếu như năm 1990-1991 con số này chỉ là 18,143 tỷ USD thì sau 10 năm thực hiện cải cách giá trị xuất khẩu đã là 44,56

tỷ USD năm 2000-2001, tăng gần 2,5 lần Sau khi áp dụng chính sách thương mại mới năm 2004, kim ngạch xuất khẩu Ấn Độ đã bước tăng trưởng nhảy vọt lên 83,5 tỷ USD và duy trì mức trên 100 tỷ USD cho các năm tiếp theo

Cùng với kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu cũng tăng nhanh chóng Ấn Độ luôn nhập siêu, chỉ xuất siêu 2 lần là vào năm 1972-1973: xuất khẩu đạt 2,55 tỷ USD, nhập khẩu 2,415 tỷ USD, thặng dư 135 triệu USD và năm 1976-1977: xuất khẩu 5,753 tỷ USD, nhập khẩu 5,677 tỷ USD, thặng dư

77 triệu USD, đây đều là những năm Ấn Độ áp dụng chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu Có thể thấy với tốc độ tăng nhập khẩu ngày càng cao, thậm chí còn tăng nhanh hơn tốc độ tăng xuất khẩu thì cán cân thương mại sẽ bị thâm hụt nặng nề Thực tế, năm 1990-1991, Ấn Độ chỉ thâm hụt hơn 5 tỷ USD và duy trì ở xung quanh mức này cho tới năm 2000-2001, sau đó mức thâm hụt này ngày càng tăng mạnh và lên đến đỉnh điểm là năm 2007-2008 khi mà cán cân thương mại bị thâm hụt tới gần 90 tỷ USD

Năm 2007-2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ đạt

414,545 tỷ USD Trong đó, Ấn Độ xuất khẩu 162,983 triệu USD (chiếm

21,2% GDP) và nhập khẩu 251,562 triệu USD (chiếm 24,3% GDP) Theo thống kê của WTO, năm 2007 xuất khẩu của Ấn Độ chiếm 1% tổng thương mại hàng hoá thế giới và nhập khẩu chiếm tỷ trọng 1,5%

Cơ cấu xuất nhập khẩu

Trang 32

Ấn Độ giành ưu tiên cho các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao, biến chúng trở thành nòng cốt trong cơ cấu xuất khẩu của mình, tạo sức sống mới

và lâu bền cho hoạt động xuất khẩu Hàng chế biến, chế tạo chiếm hơn 75% tổng giá trị xuất khẩu Các mặt hàng xuất khẩu chính: phần mềm máy tính, sản phẩm điện tử, máy móc, hóa chất, sản phẩm từ da thuộc, dầu khí, trang sức, hàng dệt may

Nhập khẩu của Ấn Độ rất lớn vì đây chính là đầu vào của sản xuất và tiêu dùng Các mặt hàng nhập khẩu chính của Ấn Độ là máy móc, dầu thô, than, ngọc trai, đá quý, vàng bạc, phân bón, hóa chất Mặt hàng nhập khẩu lớn nhất trong giai đoạn hiện nay của Ấn Độ là nhiên liệu, chiếm hơn 30% kim ngạch nhập khẩu, con số này cho thấy Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhiên liệu bên ngoài Các mặt hàng ngọc trai, đá quý, vàng bạc cũng chiếm tỷ trọng nhập khẩu khá lớn của Ấn Độ Vì đây là các mặt hàng có giá trị lớn Ấn Độ nhập khẩu nhiều nhằm phuc vụ cho ngành công nghiệp gia công, chế tác và xuất khẩu đồ trang sức Bên cạnh đó, chủng loại mặt hàng nhập khẩu vào Ấn Độ ngày càng đa dạng do Chính phủ Ấn Độ đã nới lỏng việc quản lý nhập khẩu và nhiều mặt hàng đã được đưa vào danh sách hàng hoá được nhập khẩu tự do

Thị trường xuất nhập khẩu

- Mặc dù thị trường xuất khẩu của Ấn Độ rất đa dạng, nhưng các nước lớn và các nước phát triển lại chiếm tỷ lệ xuất khẩu lớn của Ấn Độ (xem bảng 1.1) Do các sản phẩm Ấn Độ xuất sang các nước đó chủ yếu là các mặt hàng

có giá trị cao như: phần mềm, phần cứng máy tính; đồ trang sức, kim hoàn điều này phù hợp với cơ cấu hàng xuất khẩu và chính sách thương mại ưu tiên xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao của Ấn Độ

Bảng 1.1 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ sang một số thị

trường chủ yếu

Trang 33

- Thị trường nhập khẩu chủ yếu của Ấn Độ là các nước có khoáng sản (đặc biệt là dầu mỏ như Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất - UAE, Ả Rập)

để phục vụ cho nhu cầu nhiên liệu và sản xuất trong nước và các nước phát triển để có thể nhập khẩu máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại nhằm phát

triển kinh tế

Trang 34

Bảng 1.2 Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Ấn Độ từ một số thị

Trung Quốc và Mỹ liên tục là hai thị trường nhập khẩu lớn nhất của Ấn

Độ trong nhiều năm Trong năm 2007-2008, Ả Rập và UAE là thị trường nhập khẩu lớn thứ ba và thứ tư của Ấn Độ do nhu cầu sử dụng nhiên liệu đặc biệt là dầu mỏ của Ấn Độ ngày càng tăng cao

Trang 35

CHƯƠNG 2 : ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ẤN ĐỘ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

2.1 TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM - ẤN ĐỘ

Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ vốn có truyền thống lịch sử lâu đời và qua thử thách của thời gian ngày càng phát triển tốt đẹp, có thể coi đây là mối quan hệ hữu nghị điển hình trong quan hệ quốc tế ngày nay Ngày 7-1-1972, hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Từ đây quan hệ hai nước bước sang một giai đoạn mới – giai đoạn hợp tác trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục

2.1.1 Quan hệ chính trị, ngoại giao

Quan hệ chính trị Việt Nam - Ấn Độ rất tốt đẹp, chiếm vị trí nổi bật

trong quan hệ hai nước và tạo tiền đề cho các quan hệ khác phát triển Một trong những biểu hiện đặc sắc của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ là lãnh đạo cấp cao hai nước thường xuyên thăm viếng lẫn nhau, nhất là từ năm

1975 trở lại đây Gần đây nhất, về phía các nhà lãnh đạo Việt Nam thăm chính thức Ấn Độ có chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng từ ngày 4 đến ngày 6-7-2007; về phía các nhà Lãnh đạo Ấn Độ thăm chính thức Việt Nam có chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil từ ngày 24 đến ngày 28-11-2008 Những chuyến thăm này thể hiện sự coi trọng mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của mỗi nước, đưa đến sự thông cảm, hiểu biết lẫn nhau, làm cho hai nước ngày càng xích lại gần nhau, tạo khung pháp lý cho quan hệ song phương không ngừng được củng cố và phát triển Đặc biệt, trong chuyến thăm Ấn Độ năm 2003 của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, hai bên đã ký Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hợp tác toàn diện Việt Nam - Ấn Độ bước sang Thế kỷ 21 Đây là một văn

Trang 36

kiện có ý nghĩa hết sức quan trọng, đề ra những định hướng lớn cho sự phát triển sâu rộng của quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 Nhân chuyến thăm chính thức của Tổng thống Ấn Độ Pratibha Patil tại Việt Nam năm 2008, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Tổng thống Ấn Độ đã chứng kiến lễ ký Biên bản ghi nhớ thành lập Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ 2009 giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Phòng Thương mại Ấn Độ Thành lập Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ 2009 sẽ mở đường cho các cuộc tiếp xúc, trao đổi thông tin, tìm kiếm cơ hội kinh doanh, tăng cường hoạt động đầu tư và giao thương giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước

Không những trong khuôn khổ song phương, hai nước cũng tích cực hỗ trợ và hợp tác chặt chẽ với nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế như Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết, ASEM, APEC, các cơ chế hợp tác của ASEAN như ARF, Cấp cao Đông Á và hợp tác sông Hằng - sông Mêkông

- Trên cơ sở của mối quan hệ chính trị tốt đẹp, hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục và khoa học kỹ thuật cũng không ngừng được củng cố và phát triển Tháng 12/1982, Uỷ ban Hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế, Thương mại và Khoa học kỹ thuật đã được thành lập và chính thức đi vào hoạt động Đến nay, hai bên đã tổ chức được 13 kỳ họp luân phiên giữa New Delhi và Hà Nội, kỳ họp gần đây nhất diễn ra tại New Delhi năm 2007 và kỳ họp lần thứ 14 sẽ tổ chức tại Hà Nội trong năm 2009 Uỷ ban Hỗn hợp là một trong những cơ chế quan trọng và hữu hiệu, giúp thúc đẩy quan hệ giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng, ngân hàng, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá, giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản, bưu chính viễn thông…

2.1.2 Quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại

2.1.2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ

Trang 37

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Ấn Độ được bắt đầu từ năm

1956, khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Lãnh sự với việc ký

Hiệp định thương mại ngày 22-8-1956

Hai bên đã ký nhiều Hiệp định thương mại, Nghị định thư thương mại tạo cơ sở pháp lý khá vững chắc cho quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Trong đó, Hiệp định thương mại được ký kết năm 1978 1có ý nghĩ vô cùng quan trọng, được coi là mang tính chất khung pháp lý cho các Nghị định thư được ký kết sau này Hiệp định thương mại gần đây nhất được ký kết giữa hai nước là vào năm 1997 2 Về cơ bản, Hiệp định này có nội dung tương tự như Hiệp định năm 1978 vì chỉ có tính chất là hiệp định khung, nhưng có một số chỉnh lý và bổ sung về cơ cấu hàng xuất nhập khẩu giữa hai nước cũng như các điều khoản của Hiệp định để phù hợp với tình hình thực tiễn

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nên quan hệ thương mại giữa hai nước trước thời điểm năm 1991 chỉ ở mức độ cầm chừng Các doanh nghiệp quốc doanh của Việt Nam hoạt động theo cơ chế bao cấp không mấy năng động trong việc tìm kiếm bạn hàng nước ngoài Còn Ấn Độ, khi đó vẫn theo đuổi chính sách kinh tế hướng nội, tự lực tự cường, ưu tiên sản xuất thay thế nhập khẩu không khuyến khích xuất khẩu

Năm 1991, Chính phủ Ấn Độ đã thực hiện một loạt cải cách toàn diện, theo hướng chuyển sang kinh tế thị trường, tự do hoá và mở cửa, nâng cao khả năng cạnh tranh, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế Ấn Độ đã thực hiện cải cách mạnh mẽ chính sách thương mại, từ bỏ dần chế độ tự cấp tự túc

và đóng cửa chuyển sang chính sách mở cửa và hướng ngoại Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới mở cửa nền kinh tế được Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ Hội Nghị Trung ương lần thứ 6 (khoá IV) cuối năm 1986 Từ đó đến nay đất nước ta thực sự có những biến đổi sâu sắc Hoạt động ngoại

1 Xem phụ lục 1

Trang 38

thương có những bước tiến vượt bậc nhờ thực hiện chính sách mở cửa đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại Những sự thay đổi căn bản về đường lối, chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như của Chính phủ Ấn Độ đã đem lại cục diện mới, một sự khởi sắc cho

quan hệ thương mại song phương

Ngày 12-9-1990 tại New Delhi, Việt Nam và Ấn Độ ký kết Nghị định thương mại, trong đó Việt Nam dự kiến xuất khẩu sang Ấn Độ 16 mặt hàng với kim ngạch 50 triệu USD Nhưng thực chất kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ năm 1991 chỉ đạt 5,5 triệu USD với 3 mặt hàng là gạo, than

và gỗ Nguyên nhân là do mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam khi đó còn hạn chế, sản xuất không đủ để xuất khẩu Nhưng sang đến năm 1992 Việt Nam đã xuất khẩu được 6 mặt hàng với tổng trị giá 19,4 triệu USD, tăng 252,7% so với năm 1991 Tuy 3 năm sau 1993-1994-1995, xuất khẩu của Việt Nam sang

Ấn Độ đều tăng trưởng âm nhưng vẫn duy trì ở mức trên 10 triệu USD Nhập khẩu hàng hoá từ Ấn Độ giai đoạn 1991-1995 đạt 130,8 triệu USD, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá hai nước đạt 199,1 triệu USD

Sang giai đoạn 1996-2000, quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ có những bước phát triển mới Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn này đều vượt giai đoạn 1991-1995 Tổng giá trị xuất nhập khẩu tăng nhanh chóng, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 697,3 triệu USD bằng 3,5 lần của giai đoạn 1991-1995 Bước vào thế kỷ XXI, kim ngạch thương mại hàng năm giữa hai nước lần đầu tiên vượt ngưỡng 200 triệu USD Xuất khẩu năm 2000 bằng 8,5 lần xuất khẩu năm 1991 và bằng 4,5 lần xuất khẩu 1995 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 1996-2000 là 47,9% so với con số tăng trưởng bình quân 25,12% của giai đoạn 1991-1995 Nhập khẩu duy trì ở mức trên 100 triệu USD bắt đầu từ năm 1998 và đạt mức 178,4 triệu USD vào năm

2000 Kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh kéo theo cán cân thương mại cũng bị

Trang 39

thâm hụt lớn hơn 5 năm trước 5 năm này Việt Nam nhập siêu từ Ấn Độ 499,1 triệu USD, gấp 8 lần so với nhập siêu của giai đoạn 1991-1995

2.1.2.2 Hợp tác đầu tư

Ấn Độ là một trong những nước đầu tư sớm vào Việt Nam Từ năm

1988 đến hết ngày 19-12-2008, Ấn Độ có 30 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 195,636 triệu USD, vốn thực hiện đạt hơn 578 triệu USD, đứng thứ 31/84 quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư vào Việt Nam Các dự án tiêu biểu: Dự án liên doanh xây dựng Nhà máy khí ga Nam Côn Sơn, liên doanh FPT và APTECH lập trung tâm đào tạo các chuyên gia công nghệ thông tin cho Việt Nam tại Ấn Độ

Năm 2007 đã đánh dấu một bước chuyển lớn trong đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam Tháng 2-2007, Tập đoàn ESSAR đã ký thỏa thuận đầu tư một

dự án thép cán nóng tại Bà Rịa - Vũng tàu trị giá 527 triệu USD Tháng 5/2007, Tập đoàn TATA của Ấn Độ đã ký Bản ghi nhớ (MOU) với Tổng công ty thép Việt Nam để nghiên cứu xây dựng nhà máy thép liên hợp Hà Tĩnh, khai thác mỏ sắt Thạch Khê với công suất 4,5 triệu tấn thép/năm Hai

dự án này đã đưa Ấn Độ vào nhóm 10 nước và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất tại Việt Nam năm 2007, và Việt Nam trở thành nước nhận đầu tư lớn nhất của

Ấn Độ trong các nước ASEAN năm 2007 Hiện nay, Ấn Độ có khoảng 70 công ty đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam Các văn phòng này chủ yếu hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực: dược phẩm, máy móc, thiết bị, phụ tùng, hóa chất, vật tư nông nghiệp, viễn thông, công nghệ thông tin

2.1.2.3 Về tín dụng

Các khoản tín dụng ưu đãi Chính phủ Ấn Độ dành cho Việt Nam ngày càng được sử dụng có hiệu quả hơn Khoản tín dụng ưu đãi ký tháng 8-2004 trị giá 27 triệu USD đã được sử dụng hết và là khoản tín dụng được thực hiện hiệu quả nhất từ trước đến nay Năm 2007, Ấn Độ chính thức tuyên bố cấp một

Trang 40

Với những thuận lợi của công cuộc đổi mới ở Việt Nam và công cuộc cải cách, mở cửa ở Ấn Độ cùng quyết tâm của Lãnh đạo hai nước về việc đẩy mạnh quan hệ kinh tế – thương mại cho ngang tầm với tiềm năng và quan hệ chính trị tốt đẹp, kế thừa những thành tựu của thời kỳ trước, quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại Việt nam - Ấn Độ bước sang một thời kỳ phát triển mới

2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU GIỮA VIỆT NAM VÀ ẤN ĐỘ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

2.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu

Xuất khẩu Nhập khẩu

Cán cân thương mại Trị giá

Tăng trưởng

so với năm trước

Trị giá

Tăng trưởng

so với năm trước

Ngày đăng: 07/05/2014, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] GS.TS. Đỗ Đức Bình và PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng đồng chủ biên (2008), Giáo trình kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế quốc tế
Tác giả: GS.TS. Đỗ Đức Bình và PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng đồng chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
[2] GS.PTS Tô Xuân Dân chủ biên (1997), Quan hệ kinh tế quốc tế- Lý thuyết và thực tiễn, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế quốc tế- Lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: GS.PTS Tô Xuân Dân chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1997
[3] PGS.TS Võ Văn Đức (2004), Phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Tác giả: PGS.TS Võ Văn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
[4] Phí Trọng Hiếu (2006), “Ấn Độ với chính sách vươn vòi”, Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, (24), tr 38-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ với chính sách vươn vòi”, "Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Phí Trọng Hiếu
Năm: 2006
[5] Xuân Hiếu (2004), “Cải cách thuế và hoạt động thương mại ở Ấn Độ”, Tạp chí Thông tin tài chính, (13), tr 26-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thuế và hoạt động thương mại ở Ấn Độ”, "Tạp chí Thông tin tài chính
Tác giả: Xuân Hiếu
Năm: 2004
[6] PGS. TS Nguyễn Xuân Sơn – TS. Nguyễn Văn Du (2006), Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Xuân Sơn – TS. Nguyễn Văn Du
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[7] TS. Phạm Thái Quốc chủ biên (2008), Nghiên cứu so sánh tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc & Ấn Độ, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc & Ấn Độ
Tác giả: TS. Phạm Thái Quốc chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2008
[8] Hồ Anh Thái (2008), Xin chào Ấn Độ, Nhà xuất bản Văn Nghệ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xin chào Ấn Độ
Tác giả: Hồ Anh Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Nghệ
Năm: 2008
[9] Đinh Kim Thuỷ (2005), “ Ấn Độ với chính sách hướng Đông”, Tạp chí Thương mại, (20), tr 15-16-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ với chính sách hướng Đông”, "Tạp chí Thương mại
Tác giả: Đinh Kim Thuỷ
Năm: 2005
[10] Đỗ Hữu Vinh (2006), Marketing xuất nhập khẩu, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing xuất nhập khẩu
Tác giả: Đỗ Hữu Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2006
[12] Tổng cục Thống Kê, Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trị giá xuất nhập khẩu phân theo nước và vùng
Tác giả: Tổng cục Thống Kê
[13] Tổng cục Thống Kê (2008), Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2007
Tác giả: Tổng cục Thống Kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
[14] Tổng cục Thống kê (2008), Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 2006, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 2006
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
[15] Tổng cục Thống kê (2006), Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới (1986-2005), Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam 20 năm đổi mới (1986-2005)
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
[16] Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế Bộ Ngoại Giao (2002), Hiệp định thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước
Tác giả: Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế Bộ Ngoại Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[21] World Trade Organization (2008), International trade statistics. CÁC TRANG WEB Sách, tạp chí
Tiêu đề: International trade statistics
Tác giả: World Trade Organization
Năm: 2008
[11] Bộ Công Thương, Báo cáo về xuất khẩu, nhập khẩu và thị trường Ấn Độ các năm 2001-2005 Khác
[17] Asian Development Bank (2008), Key indicators for Asian & the Pacific 2008 Khác
[18] Department of Information Technology, Ministry of Communication & Information Technology, Government of India, Annual Report 2007 – 2008 Khác
[19] Ministry of Commerce & Industry, Government of India, Annual Report 2007 – 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2.  Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Ấn Độ từ một số thị - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ
Bảng 1.2. Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Ấn Độ từ một số thị (Trang 34)
Bảng 2.1.  Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ giai đoạn - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ
Bảng 2.1. Trị giá xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ giai đoạn (Trang 40)
Bảng 2.2. Khối lƣợng và trị giá xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ
Bảng 2.2. Khối lƣợng và trị giá xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của (Trang 46)
Bảng 2.3. Khối lƣợng và trị giá xuất khẩu mặt hàng hạt tiêu của Việt - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ
Bảng 2.3. Khối lƣợng và trị giá xuất khẩu mặt hàng hạt tiêu của Việt (Trang 49)
Bảng 2.4. Khối lƣợng và trị giá xuất khẩu mặt hàng chè của Việt Nam - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ
Bảng 2.4. Khối lƣợng và trị giá xuất khẩu mặt hàng chè của Việt Nam (Trang 51)
Bảng 2.6. Khối lƣợng và trị giá nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu của - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ
Bảng 2.6. Khối lƣợng và trị giá nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu của (Trang 59)
Bảng 2.7. Khối lƣợng và trị giá nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ
Bảng 2.7. Khối lƣợng và trị giá nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt (Trang 62)
Bảng 2.8. Khối lƣợng và trị giá nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Ấn - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ
Bảng 2.8. Khối lƣợng và trị giá nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Ấn (Trang 65)
Bảng 2.9. Trị giá nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may, da giày của - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ
Bảng 2.9. Trị giá nhập khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may, da giày của (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w