1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ

117 704 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ
Tác giả Phạm Thị Kim Ngân
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Thu Thủy
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ

Trang 2

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới WTO, thể hiện sự hội nhập mạnh mẽ và toàn diện với thế giới thông qua các cam kết cụ thể cả trong lĩnh vực thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Trong đó, các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam được đánh giá là khá mạnh mẽ Vì vậy ngành dịch vụ bán lẻ của Việt Nam sẽ chịu nhiều tác động từ quá trình mở cửa thị trường trong lộ trình thực hiện các cam kết này

Ở thời điểm hiện tại, theo như lộ trình cam kết, Việt Nam đã chính thức mở cửa thị trường bán lẻ bằng việc cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực phân phối kể từ ngày 1/1/2009 Một số tập đoàn bán

lẻ nước ngoài đã có những bước đi đầu tiên khá vững chắc tại thị trường Việt Nam; một số khác đang chuẩn bị cho những kế hoạch lớn, dài hơi với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường bán lẻ hấp dẫn số một này – như họ đã làm và từng thành công tại nhiều quốc gia khác Đối mặt với áp lực cạnh tranh ngày càng lớn từ các “người khổng lồ” trên thị trường bán lẻ thế giới, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam rất dễ bị tổn thương trong điều kiện còn yếu kém về nhiều mặt Để trụ vững trên chính sân nhà,

dù năng lực cạnh tranh còn yếu, nhưng nếu có sự hỗ trợ thích hợp từ Nhà nước thông qua các công cụ quản lý Nhà nước hợp lý, hiệu quả, chắc chắn các doanh nghiệp sẽ thêm lớn mạnh

Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam

có nhiều ý kiến lo ngại rằng vẫn còn nhiều vướng mắc trong công tác quản lý Nhà nước như hệ thống các định chế pháp lý chưa đầy đủ, đồng bộ, thiếu các cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển…Vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu tác động của các công cụ quản lý Nhà nước hiện nay đối với thị trường dịch vụ bán lẻ

và tìm kiếm giải pháp để một mặt nâng cao hiệu quả quản lý nhằm phát triển thị trường đang phát triển sôi động này, một mặt tuân thủ các cam kết của WTO là cần thiết Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề trên, người viết xin lựa chọn nghiên cứu

Trang 3

đề tài khóa luận tốt nghiệp “Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ sau:

+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp bán lẻ, quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp bán lẻ

+ Tìm hiểu kinh nghiệm thành công của một số quốc gia trong công tác quản lý Nhà nước với thị trường dịch vụ bán lẻ

+ Phân tích, đánh giá thực trạng các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam

và tác động của các cam kết WTO đối với thị trường bán lẻ

+ Phân tích các công cụ quản lý Nhà nước hiện nay đối với các doanh nghiệp trên thị trường bán lẻ Việt Nam

+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp bán lẻ

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là công tác quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở việc phân tích các công cụ quản lý Nhà nước, trong đó tập trung vào công cụ hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam

Trang 4

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để hoàn thiện khóa luận, người viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp: hệ thống hóa, thống kê, phân tích, lý luận logic, so sánh

5 Kết cấu khóa luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận chia làm 3 chương:

Chương I: Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ

Chương II: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam

Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước nhằm phát triển doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

Người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Thu Thủy, khoa Quản trị kinh doanh, cùng các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại thương đã cho em những kinh nghiệm bổ ích trong nghiên cứu khoa học cũng như đã dành thời gian quý báu, chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này Trong quá trình nghiên cứu do còn hạn chế về trình độ nghiên cứu, thông tin, tài liệu tham khảo nên không thể tránh khỏi thiếu sót Người viết mong nhận được

sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc

Hà Nội, tháng 5 năm 2009

Sinh viên Phạm Thị Kim Ngân

Trang 5

CHƯƠNG I: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH

NGHIỆP BÁN LẺ 1.1 Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp bán lẻ

1.1.1 Khái niệm bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ

Có nhiều định nghĩa khác nhau về bán lẻ, trong đó có một số định nghĩa tiêu biểu sau đây:

Theo định nghĩa của Philip Kotler:

Bán lẻ là mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng cho cá nhân, không mang tính thương mại1

Bất kỳ một tổ chức nào làm công việc này cũng là một tổ chức bán lẻ, bất kể hàng hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (bán trực tiếp, qua bưu điện, qua điện thoại, hay qua máy bán hàng tự động) và ở đâu (trong cửa hàng, trên đường phố hay tại nhà người tiêu dùng)

Theo khoản 8, điều 3, Nghị định 23/2007/NĐ-CP ban hành ngày 12/2/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa

và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực

tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng

Trong văn bản giải thích của mình đối với Danh sách phân loại sản phẩm trung tâm CPC, Ban Thống kê của Liên Hợp Quốc đưa ra định nghĩa các dịch vụ

bán lẻ là “bán hàng hóa cho người tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình bao gồm các

dịch vụ kèm theo việc bán các hàng hóa đó (các dịch vụ bán lẻ)”2

Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa: Bán lẻ bao

gồm việc bán hàng hóa cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan3

Trang 6

Để hiểu được thế nào là doanh nghiêp bán lẻ, trước tiên ta phải hiểu thế nào

là doanh nghiệp Khoản 1, điều 4, Luật doanh nghiệp 2005 định nghĩa doanh nghiệp

như sau: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao

dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Như vậy bất kỳ doanh nghiệp nào thực hiện hoạt động kinh doanh bán lẻ thì

cũng được gọi là doanh nghiệp bán lẻ

Các doanh nghiệp bán lẻ hay các nhà bán lẻ có đủ loại quy mô và hình thức,

và luôn luôn xuất hiện thêm những kiểu bán lẻ mới Dù bán hàng cho một trong những giai tầng xã hội hay cho thị trường đại chúng, qua năm tháng những người bán lẻ đều có chung một ý nghĩ là họ phải làm việc trong những điều kiện của một môi trường biến đổi cực kỳ nhanh Những công thức bán lẻ của ngày hôm qua có thể không còn phù hợp trong ngày hôm nay và chắc chắn không phù hợp cho ngày mai nữa Các chức năng phân phối do các nhà bán lẻ thực hiện có thể phối hợp theo nhiều cách khác nhau để tạo ra các dạng mới của bán lẻ Có thể phân loại những

A Theo quyền sở hữu:

1 Cửa hàng độc lập

2 Các tổ chức bán lẻ nhiều cửa hàng (cửa hàng chuỗi, chi nhánh)

3 Các cửa hàng bán lẻ của nhà sản xuất

4 Các cửa hàng bán lẻ của người tiêu dùng

5 Các cửa hàng bán lẻ của nông dân

6 Các cửa hàng bán lẻ do Nhà nước quản lý

7 Cửa hàng của các công ty phúc lợi công cộng

B Theo loại hình kinh doanh

1 Cửa hàng bách hóa tổng hợp

2 Cửa hàng kinh doanh theo nhóm hàng

3 Cửa hàng chuyên doanh

4

Trương Đình Chiến – GS.PTS Nguyễn Văn Thường (1999), Quản trị hệ thống phân phối sản phẩm, NXB

Trang 7

C Theo mức độ liên kết dọc

1 Không có quan hệ liên kết (Chỉ có chức năng bán lẻ)

2 Liên kết với chức năng bán buôn

3 Liên kết với chức năng sản xuất

- Ở đó thường xuất hiện những hình thức bán lẻ mới mà sau đó được các cửa hàng lớn áp dụng

Trang 8

- Các cửa hàng này rất thuận tiện cho người tiêu dùng vì nó có mặt ở khắp mọi nơi

- Thường nó có đặc điểm là có khả năng thích ứng cao và dành cho người tiêu dùng những dịch vụ rất đặc biệt

- Họ tạo cho người mua cảm thấy mình là chủ

1.1.2 Vị trí, chức năng của doanh nghiệp bán lẻ:

1.1.2.1 Vị trí của dịch vụ bán lẻ trong dịch vụ thương mại

Dịch vụ bán lẻ là một bộ phận nằm trong lĩnh vực dịch vụ phân phối của ngành dịch vụ thương mại

Theo cách hiểu của WTO, họ không đưa ra khái niệm, định nghĩa về dịch vụ, dịch vụ thương mại và thương mại dịch vụ Thay vì đưa ra các khái niệm này, WTO dành sự quan tâm cho những quy định về các phương thức cung ứng dịch vụ thương mại giữa các nước thành viên Vì dịch vụ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thương mại quốc tế, tại vòng đàm phán Urugoay, các nước thành viên GATT đã đồng ý đưa dịch vụ vào nội dung đàm phán Và cũng vì dịch vụ là lĩnh vực nhạy cảm so với hàng hóa hữu hình, cho nên, để điều chỉnh các hoạt động thương mại dịch vụ, kết thúc vòng đàm phán Urugoay, các nước thành viên đã ký một hiệp định

đa biên dành riêng cho thương mại dịch vụ, đó là Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (Tiếng Anh là General Agreement on Trade Services, viết tắt là GATS) Để

cụ thể hóa hơn nữa các loại hình dịch vụ mà Hiệp định GATS điều chỉnh, WTO đưa

ra danh mục phân loại các dịch vụ theo ngành (Services Sectorial Classification List – GNS/W/120) Về cơ bản, phân loại dịch vụ của WTO dựa theo CPC (Danh mục phân loại các sản phẩm chủ yếu - Central Products Classification) WTO phân loại dịch vụ dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế Toàn bộ lĩnh vực dịch vụ được chia ra 12 ngành Mỗi ngành dịch vụ lại được chia ra các phân ngành, trong các phân ngành có liệt lê các hoạt động dịch vụ cụ thể Việc phân loại dịch vụ theo WTO rất thích hợp cho việc xúc tiến đàm phán về mở của thị trường dịch vụ quốc tế GATS điều chỉnh

dịch vụ bán lẻ là một trong các lĩnh vực của dịch vụ phân phối - bao gồm các dịch

Trang 9

vụ đại lý ăn hoa hồng, các dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ cấp quyền kinh doanh, các dịch vụ phân phối khác

1.1.2.2 Vị trí của doanh nghiệp bán lẻ trong hệ thống phân phối

Phân phối là quá trình lưu thông hàng hóa từ nhà chế tạo/sản xuất hay nhập khẩu tới các nhà phân phối trực tiếp/các đại lý bán hàng; hay các công ty thương mại, các đối tác thu mua tới tay người tiêu dùng/các khách hàng kinh doanh, nhà chuyên môn (các trung gian phân phối) Dù hoạt động phân phối có thể do chính người sản xuất thực hiện hay do các trung gian đảm nhiệm theo yêu cầu của người sản xuất, nó luôn được coi là chiếc cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Đối với người tiêu dùng, hoạt động phân phối được thể hiện chủ yếu tại các cửa hàng bán lẻ Vậy nhà bán lẻ là mắt xích cuối cùng của quá trình biến đổi, vận chuyển, dự trữ và đưa hàng hóa, dịch vụ đến tay người tiêu dùng Vị trí đó được thể hiện trong sơ đồ các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu thụ cuối cùng sau đây:

Sơ đồ 1: Các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất cho tới người tiêu thụ

5

Bộ Công thương Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại (2008), WTO và hệ thống phân phối Việt

Nam, NXB Lao động, trang 6

Trang 10

1.1.2.3 Chức năng của doanh nghiệp bán lẻ:

Nhà bán lẻ là một trung gian trong hệ thống phân phối, do đó nhà bán lẻ

- Thứ sáu, tổ chức lưu thông hàng hóa – vận chuyển và bảo quản, dự trữ hàng hóa

- Thứ bảy, đảm bảo kinh phí – tìm kiếm và sử dụng nguồn vốn để bù đắp các chi phí hoạt động

- Chấp nhận rủi ro – gánh chịu trách nhiệm về hoạt động của kênh

Việc thực hiện năm chức năng đầu hỗ trợ cho nhà bán lẻ ký kết các hợp đồng, còn việc thực hiện ba chức năng còn lại thì hỗ trợ cho việc hoàn tất thương vụ đã ký kết

1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp bán lẻ:

Để làm rõ hơn cách phân loại các nhà bán lẻ đã được đề cập ở phần 1 về khái niệm bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ, người viết xin phân tích cụ thể hơn các phương thức phân loại cửa hàng bán lẻ và đặc điểm của các loại hình bán lẻ đó:

1.1.3.1 Phân loại theo mức độ cung cấp dịch vụ

Trang 11

Theo số lượng dịch vụ nhà bán lẻ cung cấp, người ta chia thành 4 loại: những cửa hàng bán lẻ tự phục vụ, những cửa hàng bán lẻ tự do lựa chọn hàng hóa có người bán hàng để giúp đỡ, cửa hàng bán lẻ phục vụ hạn chế, cửa hàng bán lẻ phục

vụ đầy đủ

Bảng 1: Phân loại loại hình bán lẻ theo chỉ tiêu khối lượng dịch vụ cho người tiêu dùng

Tự phục vụ Tự do lựa chọn Phục vụ hạn chế Phục vụ đầy đủ Đặc

- Giá cả hấp dẫn

- Bán những mặt hàng chủ yếu thường dùng

- Bán những mặt hàng thường ngày

- Có nhiều dạng dịch vụ: Mức độ giúp đỡ cao hơn từ phía nhân viên, người tiêu dùng được hưởng dịch

vụ bán trả góp hoặc trả lại hàng

đã mua

- Bán những mặt hàng cần lựa chọn trước

- Có rất nhiều dạng dịch vụ: Dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt

- Bán hàng thời thượng

- Bán những mặt hàng cho nhu cầu đặc biệt

Bán hàng lưu động, cửa hàng bách hóa, cửa hàng bán qua điện thoại, cửa hàng tạp hóa

Cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng bách hóa tổng hợp

1.1.3.2 Phân loại theo chủng loại hàng hóa được bán

Theo nghĩa rộng ra có thể nói về chiều rộng và mức độ phong phú của chủng loại hàng hóa và dựa vào những đặc điểm đó để phân ra những kiểu cửa hàng chủ

Trang 12

yếu: cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng bách hóa tổng hợp, cửa hàng bán hàng tiêu dùng thường ngày, phức hợp thương mại

- Cửa hàng chuyên doanh: bán một số chủng loại hàng hóa thuộc dòng sản phẩm

hẹp và chuyên sâu, nhưng rất phong phú.Ví dụ cửa hàng quần áo, cửa hàng chỉ bán giày thể thao, cửa hàng chỉ bán máy tính

- Cửa hàng bách hóa tổng hợp: bán một số nhóm chủng loại hàng, mỗi nhóm chủng

loại do một bộ phận cửa hàng chuyên trách Đứng đầu các bộ phận này là người thu mua hay người bán

- Các siêu thị: Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ

suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng

- Cửa hàng phục vụ nhu cầu thường ngày: Thường là các cửa hàng thực phẩm có

quy mô tương đối nhỏ và nằm ở gần các khu dân cư, mở cửa tất cả các ngày trong tuần và đến khuya, bán một số chủng loại hàng thông dụng thường ngày với tốc độ quay vòng cao Các cửa hàng này làm việc kéo dài và chủ yếu phục vụ người tiêu dùng trong trường hợp “chữa cháy” nên thường bán với giá tương đối cao hơn Nhưng chúng đáp ứng được một trong những nhu cầu tiêu dùng quan trọng và người ta sẵn sàng trả giá cho những sự thuận tiện đã tạo ra cho họ Hiện nay mô hình cửa hàng này ở Việt Nam còn được biết đến với tên gọi cửa hàng tiện ích, cửa hàng tiện dụng Ngoài ra trong lĩnh vực bán lẻ hàng tiêu dùng còn xuất hiện mô hình “cây xăng – cửa hàng” Các cửa hàng bán lẻ này nằm kế bên trạm xăng, và người mua xăng có thể kết hợp mua rất nhiều mặt hàng tiêu dùng thường ngày như bánh mì, sữa, thuốc lá, bánh ngọt, cà phê…

- Siêu thị liên hợp, siêu thị bách hóa và các tổ hợp thương mại: kiểu cửa hàng vượt

hơn hẳn siêu thị thông thường về quy mô Siêu thị liên hợp là dạng siêu thị với chủng loại hàng được mở rộng do có bán cả thuốc không cần toa và thuốc theo toa Siêu thị bách hóa có quy mô diện tích lớn hơn siêu thị thông thường , cố gắng thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm cũng như về hàng hóa không phải thực phẩm thường dùng Ở các siêu thị bách hóa chính vì chủng loại mặt

Trang 13

hàng rộng nên giá cả thường cao hơn so với giá ở các siêu thị thông thường Tổ hợp thương mại vượt cả những siêu thị bách hóa về quy mô và diện tích, bao gồm siêu thị, cửa hàng hạ giá và kho – cửa hàng bán lẻ Chủng loại mặt hàng vượt ra ngoài phạm vi những hàng hóa thông thường, bao gồm cả đồ gỗ, đồ điện gia dụng lớn và nhỏ, quần áo và rất nhiều các mặt hàng khác So với mức giá thông thường của các siêu thị bách hóa, các tổ hợp thương mại áp dụng giá có chiết khấu

1.1.3.3 Phân loại theo sự quan tâm tương đối về giá cả:

Có thể phân loại các cửa hàng bán lẻ trên cơ sở hình thành giá cả của chúng Phần lớn các cửa hàng đều bán hàng theo giá trung bình và mức dịch vụ bình thường cho người tiêu dùng Một số cửa hàng bán hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao và theo giá cao hơn Ta sẽ xem xét các cửa hàng hạ giá, các mô hình sinh ra từ chúng dưới dạng kho – cửa hàng và cửa hàng giới thiệu sản phẩm bán theo catalog:

- Cửa hàng hạ giá: bán những hàng hóa tiêu chuẩn theo giá thấp hơn bằng cách

giảm định mức lợi nhuận và tăng khối lượng tiêu thụ Cửa hàng hạ giá thực sự có 5 đặc điểm sau: 1 nó luôn bán hàng theo giá thấp hơn giá thịnh hành ở các cửa hàng

có phụ giá cao và tốc độ quay vòng hàng dự trữ chậm; 2 nó coi trọng hàng hóa có nhãn hiệu phổ biến trong toàn quốc nên giá thấp hoàn toàn không phải do chất lượng hàng kém; 3 nó hoạt động theo phương pháp tự phục vụ với những tiện nghi tối thiểu; 4 Nó thường nằm ở khu vực có mức tiền thuê nhà thấp và thu hút người mua từ những nơi tương đối xa; 5 ở đó chỉ lắp đặt thiết bị thương mại đơn giản

- Các kho – cửa hàng: Kho - cửa hàng là một doanh nghiệp thương mại hạ giá với

khối lượng dịch vụ hạn chế và bỏ mọi thứ rườm rà với mục đích là bán một khối lượng lớn hàng theo giá hạ, thậm chí trưng bày hàng ngay trong thùng chứa Đối tượng phục vụ là những người mua phẩm cấp trung bình, quan tâm đến giá hạ và khả năng nhận được hàng ngay

- Các cửa hàng giới thiệu sản phẩm bán theo catalog: kết hợp các nguyên tắc bán

hàng theo catalog và những nguyên tắc bán hàng hạ giá để tiêu thụ nhiều chủng loại hàng hóa có nhãn hiệu bán chạy, thường là với phụ giá cao Các cửa hàng này xuất bản những cuốn catalog nhiều màu sắc và có thể lấy ở phòng trưng bày Trong

Trang 14

catalog ghi rõ giá quy định chính thức của từng mặt hàng và giá có chiết khấu của

nó Khách hàng có thể đặt hàng qua điện thoại hay đến gian trưng bày trực tiếp xem sản phẩm và mua những thứ có sẵn

1.1.3.4 Phân loại theo tính chất của gian hàng:

- Bán lẻ theo đơn đặt hàng qua bưu điện hay điện thoại: có các loại hình bán theo

đơn đặt hàng căn cứ vào catalog, marketing trực tiếp hoặc gửi thư trực tiếp, bán hàng qua điện thoại Ngày càng có nhiều phụ nữ đi làm nên đây là các hình thức giúp họ tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại

- Các máy bán hàng tự động: Các máy bán hàng tự động ngày nay đã vượt xa các

thế hệ tiền bối của nó với kết cấu thể hiện những thành tựu của kỹ thuật vũ trụ và máy tính Chúng có thể nhận tiền xu hay tiền giấy và trả lại tiền dư Máy được đặt ở mặt bằng thuận lợi như các nhà máy, cơ quan, cửa hàng lớn, trạm tiếp xăng và cả trên toa ăn của đường sắt Đây là một kênh phân phối tương đối đắt và chi phí của người bán khá cao do các máy nằm rải rác khắp nơi trên một địa bàn rộng, cần thường xuyên bổ sung hàng, hay hỏng hóc và một số khu vực còn bị mất cắp vặt Người tiêu dùng đôi khi khó chịu vì máy hư, không bổ sung hàng kịp thời và không thể trả hàng lại được

- Phục vụ đơn hàng có chiết khấu: hỗ trợ nhóm khách hàng đặc biệt, thường là công

nhân viên của những tổ chức lớn như trường học, bệnh viện, đoàn thể, cơ quan nhà nước, mua hàng theo giá có chiết khấu của một số người bán lẻ nhất định

- Bán hàng lưu động: hoạt động theo nguyên tắc đến từng nhà, từng cơ quan hay

theo nguyên tắc bố trí những cuộc hẹn mua bán tại nhà Ví dụ công ty Avon có một

ý tưởng độc đáo, xây dựng đội ngũ nhân viên nữ vừa là bạn, vừa là cố vấn cho các

bà nội trợ về mỹ phẩm, chào hàng rải khắp thế giới và biến công ty Avon thành công ty mỹ phẩm lớn nhất thế giới và công ty bán hàng lưu động lớn nhất thế giới

1.1.3.5 Phân loại theo loại hình sở hữu cửa hàng:

- Mạng lưới công ty: Là một trong những hiện tượng quan trọng và đáng kể nhất

ngành thương nghiệp bán lẻ trong thế kỷ 20 Mạng lưới cửa hàng là hai hay nhiều doanh nghiệp thương mại chung một quyền sở hữu và kiểm soát, bán những chủng

Trang 15

loại hàng tương tự nhau, có chung một bộ phận thu mua và tiêu thụ và cũng có thể

có hình thức kiến trúc như nhau

- Các hợp tác xã tiêu thụ: Là công ty bán lẻ thuộc quyền của chính người tiêu dùng,

khi dân cư của một cộng đồng nào đó chung tiền mở cửa hàng riêng của mình, cùng xác định những nguyên tắc hoạt động cho cửa hàng và bầu các thành viên của ban quản trị

- Tổ chức của những người có quyền ưu đãi: là sự liên kết theo hợp đồng giữa

những người chủ sở hữu quyền ưu đãi (nhà sản xuất, người bán sỉ hay tổ chức dịch vụ) và những người được hưởng quyền ưu đãi (những nhà kinh doanh độc lập, mua quyền sở hữu một hay một số điểm của hệ thống hoạt động trên cơ sở quyền ưu đãi đó) Điểm khác biệt cơ bản của tổ chức này so với các liên kết theo hợp đồng khác (mạng lưới tự nguyện, hợp tác xã bán lẻ) là thường bán một mặt hàng độc đáo, dịch

vụ độc đáo, một phương pháp hoạt động kinh doanh, tên thương mại, uy tín hay giấy phép của chủ sở hữu quyền ưu đãi

- Các tập đoàn bán lẻ: hợp nhất một số doanh nghiệp thuộc các hướng khác nhau và

hình thức bán lẻ khác nhau vào một mối với sự nhất thể hóa một phần các chức năng phân phối và quản lý

1.1.3.6 Phân loại theo mức độ tập trung cửa hàng:

Nguyên tắc cuối cùng để phân loại các doanh nghiệp bán lẻ là số lượng cửa hàng Ngày nay phần lớn các cửa hàng tập trung ở những khu thương mại do quy định của các cơ quan chính quyền địa phương phân vùng các hoạt động cũng như vì

ý muốn tạo cho người tiêu dùng nhiều khả năng mua sắm tất cả những thứ cần thiết trong một lần đi Những cửa hàng tập trung vào một chỗ cũng giải quyết nhiệm vụ như các siêu thị và các cửa hàng bách hóa tổng hợp, tiết kiệm thời gian và công sức của người tiêu dùng khi tìm kiếm hàng hóa cần thiết cho mình Có 4 kiểu tập trung

cơ bản:

- Khu vực kinh doanh trung tâm

- Các trung tâm thương mại khu vực

- Các trung tâm thương mại quận, huyện

Trang 16

- Các trung tâm thương mại phường, xã

1.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp bán lẻ

1.2.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế

Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có chủ đích của nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực của nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực lượng vật chất và tài chính, trên tất cả các lĩnh

Quản lý nhà nước về kinh tế là một tất yếu khách quan của mọi quốc gia, không kể chế độ chính trị - xã hội khác nhau Sự ra đời và tồn tại của nhà nước bao giờ cũng có nguồn gốc từ kinh tế, và ngược lại bất kỳ một hoạt động nào của nhà nước cũng, hoặc là thúc đẩy, hoặc là kìm hãm sự phát triển kinh tế Ngày nay sự cạnh tranh giữa các quốc gia cơ bản là về tiềm lực kinh tế Tiềm lực kinh tế đã trở thành thước đo về vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để bảo

vệ và duy trì sức mạnh của mỗi quốc gia Vấn đề quan trọng là mỗi nhà nước phải xác định được phạm vi, mức độ, vai trò của mình trong quản lý kinh tế sao cho phù hợp với bản chất và định hướng chính trị, đồng thời có tri thức và kỹ năng để thực hiện thành công, có hiệu quả vai trò của mình trong thực tế

1.2.2 Chức năng của quản lý Nhà nước về kinh tế

Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là hình thức biểu hiện phương hướng

và giai đoạn tác động có chủ đích của nhà nước, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà nhà nước phải tiến hành trong quá trình quản lý kinh tế đất nước

Thực chất chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là nhà nước tạo ra và thực hiện một cơ chế hay phương thức quản lý nền kinh tế quốc dân, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững

Phân tích chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là nhằm hiểu được nhà nước phải làm những công việc gì để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển

7

PGS.TS Nguyễn Cúc (Chủ biên) (2008), Tập bài giảng Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Đại học Kinh tế

Trang 17

Nhận thức rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là cơ sở khách quan để tổ chức

bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, từ chức năng mà sắp xếp bộ máy và bố trí biên chế về con người Mặt khác chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là những nhiệm

vụ tổng quát mà nhà nước phải thực hiện trong từng thời gian nhất định, do yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội và do tình hình, điều kiện cụ thể của từng giai đoạn lịch sử quy định Do đó, nhận thức về chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế cũng không cố định mà luôn biến động và phát triển Tuy nhiên các chức năng cơ bản, chủ yếu thường ít thay đổi, mà thay đổi thường xuyên là các nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế - các công việc cụ thể hóa chức năng quản lý trong không gian và thời gian nhất định

Các chức năng cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế nước ta được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:

1.2.2.1 Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo phương hướng tác động

Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ: “Trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp, Nhà nước cần tập trung thực hiện tốt các chức năng quản lý vĩ

mô sau đây:

- Tạo môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh

- Dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển

- Hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội

- Quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia…”

1.2.2.2 Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo giai đoạn tác động

a Định hướng phát triển kinh tế đất nước:

Định hướng phát triển kinh tế là quyết định trước những nhiệm vụ, những mục tiêu và những chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong khoảng thời gian thường là 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn

Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý của nhà nước và các chức năng quản lý khác phải căn cứ vào đó để thực hiện

Chức năng định hướng bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

Trang 18

- Xác định các nhiệm vụ, là xác định những công việc phải làm trong khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự phát triển kinh tế đất nước

- Xác định mục tiêu dài hạn của phát triển kinh tế đất nước Đây là nội dung quan trọng của chức năng định hướng, vì mục tiêu là khởi đầu của quản lý,

nó chi phối toàn bộ hoạt động quản lý Xác định mục tiêu đúng còn là cơ sở

để xác lập các nguyên tắc và bộ máy quản lý

- Xác định chiến lược phát triển kinh tế:

+ Các đường lối tổng quát, các chủ trương mà nhà nước sẽ thực thi trong một thời gian đủ dài

+ Các mục tiêu dài hạn cơ bản của đất nước

+ Các giải pháp chủ yếu để thu hút và phân bổ các nguồn lực, các tiềm năng trong và ngoài nước, nhằm đạt mục tiêu đã đề ra

b Lập kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là tập hợp các mục tiêu ở cấp quốc gia hay khu vực nhằm thực hiện các mục tiêu đó Nhà nước phải xây dựng các kế hoạch phát triển quốc gia dài hạn và trung hạn Kế hoạch dài hạn kéo dài từ 10 đến 20 năm hoặc lâu hơn, kế hoạch trung hạn kéo dài trong 5 năm, với những mục tiêu và giải pháp cụ thể hơn Các kế hoạch trung hạn được cụ thể hóa thành kế hoạch hàng năm, kết hợp với hệ thống ngân sách của Chính phủ và có tính đến viện trợ từ bên ngoài

đã được phê duyệt, để triển khai thực hiện

Chương trình là tổ hợp các mục tiêu, các chính sách, các thủ tục, các quy tắc, các nhiệm vụ, các bước phải tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng và các yếu tố cần thiết khác, để thực hiện một ý đồ lớn, một mục tiêu nhất định về phát triển kinh tế đất nước, vùng và ngành

Chương trình và kế hoạch có quan hệ với nhau và có điểm khác nhau Chương trình là một bộ phận của kế hoạch, hay một phương thức vận hành của kế hoạch để đưa nhiệm vụ kế hoạch vào thực tế cuộc sống Chương trình đảm bảo phối hợp một cách đồng bộ các biện pháp liên quan trong việc thực hiện các mục tiêu kế hoạch đề ra Chương trình tập trung những nguồn lực hạn hẹp vào giải quyết có

Trang 19

hiệu quả những trọng tâm của kế hoạch nhà nước trong từng thời kỳ, để tạo cơ cấu kinh tế mới

c Thiết lập khung khổ pháp luật về kinh tế

Pháp luật về kinh tế theo nghĩa rộng là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất – kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau và với các đơn vị hữu quan khác

Luật kinh tế là hành lang an toàn nhất cho các hoạt động kinh tế, đồng thời xác định địa vị pháp lý cho các tổ chức và các đơn vị kinh tế Trên cơ sở đó tạo lập

cơ sở pháp lý cho các hoạt động và nhà nước thực hiện sự quản lý của mình với các hoạt động đó

d Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các chính sách, các công cụ và các đòn bẩy kinh tế

Chính sách là tổng thể các phương thức, biện pháp, phương tiện nhất định, được nhà nước sử dụng, nhằm tác động đến cá nhân, nhóm người, xã hội, để đạt tới các mục tiêu bộ phận, trong quá trình thực hiện các mục tiêu tổng thể phát triển kinh tế xã hội như:

- Chính sách tài chính;

- Chính sách tiền tệ - tín dụng;

- Chính sách kinh tế đối ngoại…

đ Tổ chức và điều hành các hệ thống kinh tế trong nước hoạt động

Với chức năng tổ chức sản xuất, nhà nước phải hình thành các đơn vị kinh tế theo ngành, theo vùng, theo thành phần kinh tế và theo loại hình sản xuất – kinh doanh, cũng như các trung tâm khoa học, đào tạo và các đơn vị sự nghiệp, phục vụ cho phát triển kinh tế

Với chức năng điều hành, nhà nước phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, đơn vị trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo những mối quan hệ cần thiết trong quá trình thực hiện những mục tiêu kế hoạch của đất nước

e Kiểm tra, kiểm soát nền kinh tế

Trang 20

Chức năng này nhằm kịp thời phát hiện những sai sót, ách tắc, đồng thời phát hiện những cơ hội, vận hội tốt trong quá trình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội của đất nước, giữ đúng định hướng kế hoạch nhà nước đã đề ra

g Điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế:

Điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế là những tác động bổ sung của nhà nước đến nền kinh tế, nhằm sửa chữa những sai sót, tận dụng thời cơ để phát triển kinh tế

Điều chỉnh về kinh tế của nhà nước được thực hiện thông qua các công cụ và chính sách quản lý kinh tế, như luật pháp, kế hoạch, chính sách, các đòn bẩy kinh tế…

1.2.3 Các công cụ quản lý Nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp:

Thực chất của quản lý kinh tế vĩ mô là quá trình thiết kế mục tiêu kinh tế và căn cứ vào đó mà sử dụng công cụ quản lý hiện hữu và phương pháp quản lý thích hợp để điều tiết sự vận hành của nền kinh tế quốc dân theo quỹ đạo và mục tiêu đã định Mục tiêu quản lý đề ra dù có chính xác và khả thi đến đâu đi nữa, nhưng nếu không có công cụ quản lý tương ứng thì cũng không thể thực hiện được, vẫn chỉ là mục tiêu quản lý trên lý thuyết, chứ chưa phải mục tiêu quản lý trong hiện thực

Công cụ quản lý nói chung là tất cả mọi phương tiện mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra

Công cụ quản lý của Nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện hữu hình

và vô hình mà Nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể kinh tế trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân Chính nhờ đó công cụ quản lý

kinh tế với tư cách là vật truyền dẫn tác động của quản lý Nhà nước mà nhà nước chuyển tải được ý định và ý chí của mình lên mọi tổ chức và cá nhân sinh sống và hoạt động trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và các khu vực phạm vi ảnh hưởng có thể

ở bên ngoài

Công cụ quản lý Nhà nước chủ yếu là bằng pháp luật Bên cạnh đó, một công

cụ không kém phần quan trọng đó là sử dụng các chính sách, các đòn bẩy kinh tế tạo điều kiện cho phát triển kinh tế

Trang 21

1.2.3.1 Pháp luật

Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, vận động dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường trong môi trường cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối với xã hội nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng, chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp luật

Chức năng chủ yếu của pháp luật là điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục để đảm bảo và phát triển xã hội theo mục tiêu và phương hướng nhất định Thông qua việc thực hiện các chức năng này, pháp luật có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch nền kinh tế tự cấp, tự túc, khép kín sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, được thể hiện ở các mặt cơ bản sau đây:

a) Tạo tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, duy trì sự ổn định lâu dài của nền kinh tế quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững

Điều chỉnh kịp thời và hợp lý các quan hệ kinh tế là điều kiện cần thiết và bắt buộc để duy trì sự ổn định thường xuyên, lâu dài của nền kinh tế quốc dân, nhằm thực hiện mục tiêu tăng trường kinh tế liên tục với tốc độ và hiệu quả cao Muốn vậy, phải có các hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản áp dụng quy phạm pháp luật chuẩn xác trong quản lý nhà nước về kinh tế Nhờ chúng mà tạo được tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh kịp thời và hợp lý các quan hệ kinh tế, làm cho mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi vùng, mọi địa phương, mọi thành phần kinh

tế và mọi công dân yên tâm huy động các nguồn lực của mình vào sản xuất, kinh doanh với năng suất, chất lượng và hiệu quả

b) Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế quốc dân

Bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế bao gồm hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau: bình đẳng về quyền lợi và bình đẳng về nghĩa vụ; hai mặt đó phải thường xuyên tương ứng vơi nhau, ăn khớp với nhau, không được tách rời nhau và càng không được đối lập nhau Cạnh tranh là một quy luật kinh tế khách quan, là một giải

Trang 22

pháp có tính chiến lược để nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ thấp chi phí sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân vì mục tiêu hiệu quả cao Để đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế, một vấn đề rất quan trọng và Chính phủ nhiều nước quan tâm giải quyết là ban hành và thực thi luật chống độc quyền Trong đó, tạo lập cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể kinh tế, nhất là giữa các thành phần kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế quốc dân

c) Tạo cơ sở pháp lý cần thiết để kết hợp hài hòa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Tăng trưởng kinh tế bền vững là một mục tiêu chung, có tính chất toàn cầu

mà mọi quốc gia đều mong muốn và phấn đấu thực hiện Hiệu quả tăng trưởng kinh

tế theo quan niệm hiện đại được đánh giá thông qua các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Tăng trưởng kinh tế bền vững về thực chất

là tăng trưởng liên tục, ổn định GDP với tốc độ cao, tạo mở ngày càng nhiều công

ăn việc làm cho người lao động, hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp, khai thác và sử dụng hợp

lý, tiết kiệm các loại tài nguyên, bảo vệ sự trong lành của môi trường sinh thái

Để nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, Nhà nước cần đề ra và thực thi các quy phạm pháp luật có liên quan với việc kết hợp hài hòa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Thí dụ: Luật đất đai, luật doanh nghiệp, luật lao động, luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật bảo vệ môi trường

1.2.3.2 Kế hoạch

Kế hoạch theo nghĩa hẹp là phương án hành động trong tương lai; theo nghĩa rộng là quá trình xây dựng, quán triệt, chấp hành và giám sát, kiểm tra việc thực hiện phương án hành động trong tương lai Kế hoạch với tính cách là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước, bản thân là một hệ thống bao gồm nhiều nội dung hoạt động

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội: là đường lối chung tổng quát và giải pháp chủ yếu, tổng thể để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời gian dài

Trang 23

(ở nước ta thường là 10 năm) Thí dụ: chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000 do Đại hội VII của Đảng đề ra; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 do Đại hội IX của Đảng đề ra

- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội: là sự cụ thể hóa một bước chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nó là một tập hợp các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn lực tương ứng để thực hiện các mục tiêu theo không gian và thời gian Nước ta đề ra quy hoạch đô thị vào năm 1997, sau đó nhiều ngành cũng đề ra quy hoạch phát triển

để nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, ví dụ ngành Hàng hải Việt Nam dự định đưa ra quy hoạch phát triển đội tàu biển và quy hoạch phát triển

hệ thống cảng biển Việt Nam

- Kế hoạch trung hạn (kế hoạch 3 năm, kế hoạch 5 năm) là phương tiện chủ yếu để

cụ thể hóa các mục tiêu và các giải pháp đã được lựa chọn trong chiến lược Kế hoạch trung hạn mà thường là kế hoạch 5 năm, trong đó có phân bổ chỉ tiêu cho từng năm, là hình thái chủ yếu của kế hoạch, là định hướng khung cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

- Kế hoạch hàng năm: là sự cụ thể hóa của kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của kế hoạch trung hạn Kế hoạch hàng năm được xây dựng căn cứ vào mục tiêu và định hướng chiến lược, vào phương pháp, nhiệm vụ của kế hoạch trung hạn và vào kết quả phân tích tình huống

- Chương trình: được sử dụng rất phổ biến, để xác định một cách đồng bộ các mục tiêu cần đạt, các bước công việc phải tiến hành, các nguồn lực cần huy động để thực hiện một ý đồ nào đó Ví dụ: Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi giai đoạn 2006 – 2010

- Dự án: Tổng thể các hoạt động, các nguồn lực và các chi phí được bố trí chặt chẽ theo thời gian và không gian nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội cụ thể,

ví dụ: dự án xóa đói giảm nghèo của đồng bào các xã đặc biệt khó khăn ở vùng sâu vùng xa

- Ngân sách: là bảng tường trình bằng con số, sự huy động phân bổ các nguồn lực cho việc thực hiện các chương trình, dự án trong một giai đoạn nhất định

Trang 24

1.2.3.3 Chính sách

Chính sách là một trong các công cụ chủ yếu của Nhà nước sử dụng để quản

lý nền kinh tế quốc dân Dưới dạng chung nhất, mỗi chính sách cụ thể là một tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt tới các mục tiêu chung của sự phát triển kinh tế - xã hội Một chính sách bất kỳ thường gồm hai bộ phận: các mục tiêu cần đạt và các giải pháp cần áp dụng để thực hiện mục tiêu

Chính sách là một hệ thống phức tạp nhiều loại, theo lĩnh vực hoạt động, có thể đem các chính sách phân thành hia nhóm:

- Các chính sách xã hội (hoặc các chính sách phi kinh tế) chủ yếu là:

+ Chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình;

+ Chính sách xóa đói – giảm nghèo;

+ Chính sách bảo vệ môi trường…

Các chính sách là công cụ đặc thù và không thể thiếu được mà Nhà nước sử dụng để quản lý kinh tế vĩ mô Chúng có chức năng chung là tạo ra những kích

Trang 25

thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối, chiến lược của Đảng thành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội, đẩy nhanh và hữu hiệu sự tiến bộ của các hoạt động thuộc mục tiêu bộ phận mà chính sách nhằm hướng tới và thực hiện các mục tiêu chung của phát triển kinh tế quốc dân

Trong hệ thống các công cụ quản lý, các chính sách là bộ phận năng động nhất, có độ nhạy cảm cao trước những biến động trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra Thực tiễn nước ta

và nhiều nước trên thế giới đều chứng tỏ: phần lớn những thành công trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế đểu bắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng những chính sách kinh tế thích hợp, có năng suất cao để khai thác tối ưu các lợi thế so sánh của đất nước về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực, vốn, công nghệ, thị trường, kết cấu hạ tầng

1.2.4 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp bán lẻ

Việc quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ là một bộ phận trong việc quản lý Nhà nước đối với hệ thống phân phối Mỗi nền kinh tế đều có các hệ thống phân phối hàng hóa vĩ mô hoạt động rất phức tạp Nhà nước có vai trò quản

lý vĩ mô phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển các hệ thống phân phối hàng hóa hiện đại, hoạt động có hiệu quả cao Nhà nước phải đảm bảo các điều kiện

về môi trường kinh doanh để các hệ thống phân phối hàng hóa hoạt động có hiệu quả, bảo vệ các dòng chảy hàng hóa hợp pháp, hạn chế những dòng chảy hàng hóa tiêu cực, bất hợp pháp Đặc điểm của quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hệ thống phân phối hàng hóa là không can thiệp trực tiếp vào hoạt động phân phối của các doanh nghiệp và các hệ thống phân phối cụ thể mà chủ yếu là bằng các công cụ gián tiếp Vai trò quản lý của Nhà nước được thể hiện trên các mặt sau:

Một là, xây dựng và thực thi hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, chi phối hoạt động của các hệ thống phân phối hàng hóa nhằm đảm bảo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển hiệu quả các hệ thống phân phối hàng hóa Hệ

Trang 26

thống pháp luật phải đảm bảo hàng hóa lưu thông thông suốt qua các hệ thống phân phối, chống các hành vi độc quyền và các hình thức phân phối bất hợp pháp

Hai là, tác động đến sự hình thành, phát triển và hoạt động của hệ thống phân phối bằng các chiến lược, quy hoạch, chính sách để định hướng các dòng chảy hàng hóa và dịch vụ trên thị trường

Ba là, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của hệ thống phân phối thông qua xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động phân phối lưu thông hàng hóa của toàn nền kinh tế Ví dụ, đầu tư xây dựng hệ thống thông tin viễn thông, xây dựng hạ tầng giao thông, đường xá, bến cảng, kho bãi, xây dựng các kết cấu hạ tầng thương mại như chợ, trung tâm thương mại và dịch vụ…

Bốn là, quản lý hệ thống phân phối qua việc xây dựng bộ máy quản lý hành chính vĩ mô các hoạt động kinh doanh trên thị trường

Năm là, Nhà nước có chính sách và biện pháp chi phối trực tiếp đến sự hoạt động của các hệ thống phân phối hàng hóa, xây dựng các loại hình trung gian thương mại kiểu mới, xây dựng các mô hình liên kết mới trong phân phối…

Đây chính là nền tảng để các doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối nói chung, các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán lẻ nói riêng tồn tại và phát triển mạnh

mẽ trong môi trường tự do cạnh tranh ngày càng gay gắt

1.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp bán lẻ

1.3.1 Nhật Bản

Vào đầu những năm 50 của thế kỷ XX, hệ thống phân phối hàng hóa Nhật Bản còn mang nặng tính sản xuất nhỏ, hầu hết các cửa hàng bán lẻ kiểu gia đình, quy mô nhỏ Hình thức mua bán trên thị trường chủ yếu là các giao dịch ngẫu nhiên theo kiểu “mua đứt bán đoạn” Hệ thống phân phối hàng nông sản chủ yếu qua các chợ và các cửa hàng bán lẻ nhỏ Tuy nhiên sau một thời gian, Nhật Bản đã nhanh chóng mở cửa thị trường cho phép các công ty của Mĩ đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực bán lẻ

Trang 27

Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới với dân số trên 127 triệu người, doanh số bán lẻ khoảng một nghìn tỷ USD Nhờ đó Nhật Bản trở thành thị trường bán lẻ lớn thứ hai chỉ sau Mĩ (số liệu 2003) Tỉ lệ bán lẻ trên đầu người của Nhật là 8183 dollar, gần bằng Mĩ (8204 dollar) Điều đáng chú ý là Nhật có tỉ lệ bán

lẻ thực phẩm trên đầu người rất cao - 3367 dollar Nhật Bản là một nước giàu, thị trường tiêu thụ lớn, vì vậy Nhật Bản là mục tiêu hấp dẫn mà các nhà bán lẻ quốc tế chú ý Chính yếu tố cạnh tranh khốc liệt đã buộc các doanh nghiệp Nhật Bản phải nhanh chóng vận dụng những phương thức phân phối tiến bộ như chia hệ thống phân phối hàng hóa thành nhiều cấp độ trung gian Mỗi cấp độ trung gian được chuyên môn hóa cao vào một số chức năng phân phối nhất định Các công ty sản xuất lớn cũng nhanh chóng phát triển các hệ thống phân phối hiện đại theo kiển phương Tây Các cơ quan quản lý vĩ mô đã xây dựng hệ thống luật pháp điều chỉnh hoạt động phân phối lưu thông, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền Bên cạnh đó chính phủ cũng quan tâm phát triển hạ tầng cơ sở cho phân phối và phát triển các ngành kinh doanh hỗ trợ như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…

Năm 1998, Nhật Bản nới lỏng luật về các cửa hàng lớn; năm 1999 nới lỏng quy chế về thuốc tân dược Năm 2000 đánh dấu sự kiện Seveneleven đã vượt DAIE

và đứng đầu về doanh số bán lẻ và lần đầu tiên xuất hiện doanh nghiệp có vốn nước ngoài mang tên NIHONTOIZARASU Đây là thời kỳ ngành công nghiệp phân phối Nhật Bản chú ý đến những cải cách bắt đầu từ tập trung nghiên cứu người tiêu dùng tiến tới thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Môi trường cạnh tranh có sự thay đổi, từ cạnh tranh giữa các cửa hàng độc lập chuyển sang cạnh tranh có tính chất tổng hợp

và đa dạng hơn Năm 2002 có 1.3 triệu cửa hàng bán lẻ - khoảng 1 cửa hàng cho

100 người Trên dưới 70% cửa hàng được gọi là cửa hàng “Papa Mama” Năm 2004 ghi nhận quá trình hướng tới phục hồi kinh tế (Cách mạng lưu thông lần ba) và lần đầu tiên, doanh số của liên minh Aeon vượt qua Itoyokado, đứng đầu các doanh nghiệp bán lẻ tổng hợp Hiện nay các hình thức bán lẻ phát triển là: cửa hàng tiện ích; Trung tâm gia đình; cửa hàng tân dược; nhà sản xuất – bán lẻ hàng may mặc

Trang 28

Một số hình thức khác gặp khó khăn là cửa hàng bách hóa, GMS (siêu thị tổng hợp); vấn đề sống còn là cải tổ để “sống sót trên thương trường” và chuyển sang giai đoạn tấn công

Một số văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực bán lẻ tại Nhật Bản:

a Luật quy định vị trí nhà hàng bán lẻ có quy mô lớn

Tháng 6 – 2000 luật liên quan đến các biện pháp cần được áp dụng cho các nhà hàng bán lẻ có quy mô lớn nhằm bảo vệ môi trường sống đã có hiệu lực Thay thế luật điều chỉnh nhà hàng bán lẻ có quy mô lớn trước đây, luật này đã bảo vệ các

cơ sở bán lẻ quy mô vừa và nhỏ bằng cách giới hạn việc mở các chi nhánh bán lẻ quy mô lớn Mục đích của luật mới là nhằm tăng cường sự phát triển đúng đắn, bảo

vệ môi trường sống của các khu vực xung quanh Luật này là một trong số 3 bộ luật mới được áp dụng gần đây liên quan tới chính sách phát triển địa phương và môi trường đô thị Hai luật còn lại là luật cải thiện và tái thiết các trung tâm thành phố sửa đổi

Luật quy định vị trí cửa hàng bán lẻ có quy mô lớn này yêu cầu các cá nhân

và doanh nghiệp mới thành lập một cửa hàng bán lẻ lớn với diện tích sàn trên 1000

cho xe hơi và xe đạp, lối vào và ra các tuyến phố), sự tiện ích với người đi bộ, ngăn cản và giảm tiếng ồn, tăng cường tái chế và giảm chất thải, hợp tác với các cơ quan phòng chống cháy và các tai họa khác và quan tâm tới môi trường cộng đồng…

b Luật quy hoạch đô thị

Có hiệu lực từ năm 1968 nhằm thiết lập các điều khoản cần thiết cho công tác quy hoạch thành phố với mục tiêu thiết lập sự phát triển đúng đắn của thành phố

và công tác cải tạo một cách quy củ Theo luật này, đất đai quốc hữu hóa có thể được chia thành khu quy hoạch đô thị, khu quy hoạch tương đương đô thị hay khu vực quy hoạch phi đô thị Khu vực quy hoạch đô thị lại được chia tiếp thành các khu vực thúc đẩy đô thị hóa và khu vực giới hạn quá trình đô thị hóa Các khu vực đẩy mạnh quá trình đô thị hóa là những khu vực yêu cầu phát triển và bảo dưỡng nói chung, trong khi các khu vực còn lại là những khu vực trong đó quá trình đô thị

Trang 29

hóa cần được kiểm soát Khu vực đẩy mạnh đô thị hóa có các thiết kế cho mỗi khu riêng biệt về việc đất đai được sử dụng như thế nào, loại nhà hàng nào được phép xây dựng và chúng phải được xây dựng như thế nào (phân vùng)

c Luật chống độc quyền

d Luật chống các hình thức quà tặng không đúng mức và các thông báo sai trên sản phẩm

đ Luật chống cạnh tranh không bình đẳng

e Luật xúc tiến doanh nghiệp bán lẻ quy mô vửa và nhỏ

g Luật giao dịch thương mại cụ thể hóa (đặc định)

Bao gồm các hình thức bán hàng ngoài phạm vi cửa hàng và văn phòng bán hàng như bán hàng tận nhà, bán hàng theo đơn đặt hàng qua thư, bán hàng thông qua tiếp thị điện tử, tiếp thị đa cấp (mô hình kim tự tháp), các giao dịch cung cấp dịch vụ như phòng khám thẩm mĩ và các lớp học ngoại ngữ), và các giao dịch cung cấp dịch vụ kinh doanh…

h Luật về hợp đồng của người tiêu dùng năm 2000

i Luật vệ sinh an toàn thực phẩm

k Luật thuế đối với rượu

m Luật tăng cường sức khỏe

Luật tăng cường sức khỏe (trước đây là luật tăng cường dinh dưỡng), ngăn cấm các quảng cáo sai sự thực hay thực chất nhằm mục đích lừa dối người dân về tác dụng duy trì sức khỏe và lợi ích của sản phẩm được bán như loại thực phẩm (bao gồm cả các thuốc không có giấy phép hay phê duyệt và những sản phẩm tươi sống không phải đối tượng trong luật liên quan đến các vấn đề về thực phẩm )

Trang 30

Theo luật này những người có trách nhiệm trông nom các trang thiết bị do nhiều người sử dụng như các cửa hàng bách hóa, nhà hàng, trường học, bệnh viện, nhà hát… phải nỗ lực tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm chống khói thuốc là ở dạng bị động (hít phải khói thuốc của người khác trong phòng môi trường đóng hay khép kín)

xu hướng nổi trội là sát nhập giữa các công ty

Theo lộ trình mà Chính phủ Trung Quốc (TQ) đã cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) bắt đầu từ 11/12/2004, lĩnh vực bán lẻ tại đây được mở cửa một cách hoàn toàn Theo đó, các công ty, tập đoàn bán lẻ nước ngoài

sẽ không còn bị giới hạn ở thị phần, số cửa hàng hay vị trí của chúng Sau khi Trung quốc mở cửa thị trường, có khoảng 40 tập đoàn phân phối lớn của nước ngoài tràn vào khai thác thị trường tiềm năng này Sớm nhất là Carrefour (Pháp) vào Trung Quốc từ năm 1992, ngay khi nước này mở cửa thị trường bán lẻ cho đầu tư nước ngoài Những đại gia khác cũng góp mặt vào thị trường này như Tessco (Anh), Metro (Đức), Aeon (Nhật), Ikea (Thụy Điển), Makro (Hà Lan), McDonald’s (Mỹ) hay Dairy Farm (Hồng Kông)…

Sự tham gia của tập đoàn bán lẻ nước ngoài đã gây sức ép rất lớn với các nhà bán lẻ Trung Quốc 60% doanh thu bán lẻ rơi vào tay các tập đoàn bán lẻ nước ngoài, khiến các công ty bán lẻ Trung Quốc rơi vào tình thế rất khó khăn, một số bị phá sản Trong khoảng thời gian chưa tới 10 năm kể từ năm 1992 khi Trung Quốc cho phép thành lập các liên doanh bán lẻ bằng việc sửa đổi luật đầu tư nước ngoài, các công ty nước ngoài đã chiếm được 5 – 8% thị phần bán lẻ Chỉ trong vòng 2 năm sau khi tập đoàn bán lẻ lớn thứ hai thế giới Carrefour mở trung tâm bán lẻ thứ

Trang 31

hai tại Thượng hải, trong phạm vi 35 km, 3 công ty thuộc dạng “cá mập” trong nước

đã bị phá sản

Nguyên nhân dẫn đến việc thua kém của các công ty bán lẻ nội địa được biết đến một phần là do Bộ Thương mại đã nhượng bộ quá nhiều trong quá trình đàm phán trên lĩnh vực thương mại dịch vụ khi Trung Quốc gia nhập WTO và không quản lý một cách thật chặt chẽ hoạt động của các công ty bán lẻ nước ngoài Một số doanh nghiệp nước ngoài đã không ngồi chờ đến thời điểm ngày 11/12/2004 mà đã chủ động đi “cửa sau” qua chính quyền cấp thấp hơn Tại đây, chính quyền địa phương có vẻ dễ hơn trong việc cho phép các tập đoàn nước ngoài mở trung tâm bán lẻ Ngoài ra, nguyên nhân chính làm các công ty trong nước thua ngay trên sân nhà là xuất phát từ yếu tố chủ quan Ở tầm quốc gia, chưa có tập đoàn bán lẻ Trung Quốc nào được xem là đối thủ ngang cơ với các đại gia bán lẻ nước ngoài Hiện nay,

số lượng trung tâm, cửa hàng bán lẻ của các nhà đầu tư nước ngoài là không đáng

kể so với trong nước nhưng lại chiếm lĩnh được thị phần không nhỏ Họ có lợi thế

về kinh nghiệm thương trường trong cuộc đua Chính phủ Trung quốc nhận định các công ty trong nước không nên tiếp tục tranh cãi hay chỉ trích mà phải nỗ lực để

tự cứu mình, họ cần học hỏi kinh nghiệm từ chính những đối thủ nước ngoài

Khi các hãng bán lẻ lớn của nước ngoài chiếm lĩnh những vị trí đẹp nhất ở các thành phố lớn, thì các hãng phân phối của Trung Quốc có lẽ sẽ thích hợp hơn ở các thành phố cỡ trung bình, nơi mà năng suất thấp hơn Và có thể những hình thức kinh doanh khác sẽ phù hợp hơn như nhượng quyền thương mại từ McDonald’s, KFC và Tuppeware

Nhằm thích ứng với yêu cầu toàn cầu hóa kinh tề và việc gia nhập WTO, nâng cao hiệu suất vận hành nền kinh tế, trong những năm gần đây Chính phủ Trung Quốc đã tích cực thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa hiện đại, trong đó có lĩnh vực bán lẻ, cụ thể là:

(a) Cải cách các quy định và phương thức quản lý có liên quan, tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển của lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa hiện đại

Trang 32

- Điều chỉnh phương thức quản lý hành chính, tạo thuận lợi hơn cho việc đăng

ký kinh doanh của các doanh nghiệp phân phối và lưu thông hàng hóa, giảm thiểu việc quản lý phê chuẩn có tính chất hành chính

phân phối và lưu thông hàng hóa

hàng hóa ở thành thị, tạo thuận lợi cho xe cộ phân phối và lưu thông hàng hóa đi lại,

- Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa

- Mở rộng việc sử dụng trang thiết bị và kỹ thuật tiên tiến trong phân phối và lưu thông hàng hóa cũng như trong việc tiếp cận thông tin thị trường

(c) Xây dựng quy hoạch phát triển phân phối và lưu thông hàng hóa:

- Đẩy nhanh việc xây dựng các trung tâm phân phối và lưu thông hàng hóa mang tính xã hội hóa, chấn chỉnh lại các tổ chức phân phối và lưu thông hàng hóa

- Hiện tại các ban ngành có liên quan của Nhà nước đang xem xét xây dựng quy hoạch phát triển hệ thống phân phối và lưu thông hàng hóa thống nhất trên toàn Trung Quốc, chỉ đạo thúc đẩy sự phát triển của lưu thông hàng hóa hiện đại cả thành thị và nông thôn

(d) Thực hiện các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp phân phối và lưu thông hàng hóa:

Trang 33

- Khuyến khích các doanh nghiệp phân phối phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa, nâng cao hiệu quả, tiến hành sát nhập, cải tổ, liên hợp

- Hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng các kênh lưu thông vốn, thu hút vốn trên thị trường trong nước Khuyến khích các ngân hàng duy trì các khoản vay cho các doanh nghiệp phát triển tốt

- Tích cực thúc đẩy thị trường phân phối và lưu thông hàng hóa mở cửa ra bên ngoài, khuyến khích các doanh nghiệp lớn và vừa nước ngoài đến Trung Quốc Đặc biệt Trung Quốc cũng khuyến khích các nhà bán lẻ của mình đầu tư ra nước ngoài

để chiếm lĩnh thị trường các nước trong khu vực, thậm chí cả các nước phát triển như EU và Hoa Kỳ

(e) Tăng cường điều tiết giữa các ban ngành Chính phủ liên quan tới quản lý phân phối và lưu thông hàng hóa bởi quản lý phân phối và lưu thông hàng hóa liên quan tới nhiều ngành như hàng không, đường sắt, giao thông, thương mại…

1.3.3 Thái Lan

Trước cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, thương mại truyền thống vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống bán lẻ Thái Lan Lúc đó hệ thống bán lẻ hiện đại chỉ chiếm 30% tổng số thương mại của nước này Nhưng hiện nay, hệ thống bán

lẻ hiện đại của Thái Lan có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của hệ thống bán lẻ truyền thống và còn tiếp tục tăng do các tập đoàn bán lẻ nước ngoài sẽ

mở thêm các siêu thị và đại siêu thị tại Thái Lan Đối thủ cạnh tranh chủ yếu của các siêu thị vẫn là các chợ truyền thống Số lượng các cửa hàng hiện đại chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số cửa hàng bán lẻ của Thái Lan nhưng doanh thu của chúng lại chiếm hơn quá nửa tổng doanh số bán lẻ của Thái Lan Trong số các cửa hàng hiện đại, cửa hàng giảm giá, cửa hàng bách hóa lớn, đại siêu thị chiếm ưu thế,

kế tiếp là các trung tâm thương mại, cửa hàng tiện dụng và mô thình Cash & Carry, cuối cùng là siêu thị truyền thống

Hệ thống cửa hàng tiêu dùng ở Thái Lan (số liệu năm 2002)

* Mô hình hiện đại: 4.879 cái, trong đó

Trang 34

Các cửa hàng giảm giá 114 (gồm 93 đại siêu thị, 21 siêu thị bán buôn)

và thay đổi đối xử với khách hàng

- Tổ chức đào tạo trên toàn quốc để tăng hiểu biết cửa các chủ cửa hàng nhỏ bán lè truyền thống bề quản lý và tham gia bán lẻ hiện đại phù hợp với môi trường biến động

- Hiện đại hóa các cửa hàng nhỏ bán lẻ truyền thống thông qua việc cử các đội chuyên gia bán lẻ phát triển diện mạo cửa hàng giống như “cửa hàng tiện lợi”

- Trợ giúp các cửa hàng bán lẻ vừa và nhỏ để tăng khả năng kinh doanh

1.3.4 Một số bài học kinh nghiệm về quản lý Nhà nước các doanh nghiệp bán

lẻ cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm phát triển hệ thống phân phối và đặc biệt là bán lẻ thông qua công tác quản lý Nhà nước của một số quốc gia ở trên, có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

phải đi tắt đón đầu để hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới nên một mặt phải

mở rộng các quan hệ phân phối bán lẻ trực tiếp ở khu vực thị trường trung tâm qua

Trang 35

mạng lưới chợ, qua các hội chợ; mặt khác phải tăng cường các yếu tố cho sự phát triển của các phương thức phân phối tiến bộ thông qua phát triển các hệ thống phân phối hiện đại được các nhà bán lẻ chuyên nghiệp tổ chức và điều phối

trên thị trường nhằm tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp phát triển các hệ thống phân phối hàng hóa hiệu quả cần phải được đặc biệt quan tâm Hệ thống luật pháp phải tạo nên môi trường cạnh tranh lành mạnh Đây là một yếu tố điều kiện quan trọng để khuyến khích mọi loại hình kinh doanh tham gia phát triển các hệ thống phân phối cạnh tranh

phát triển các chuỗi siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng tổng hợp và chuyên doanh, các trung tâm bán buôn và mua bán hàng hóa Sự có mặt các công ty thương mại đa quốc gia là những nhân tố cân thiết thúc đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển các hệ thống phân phối hiện đại

coi trọng việc hỗ trợ để các doanh nghiệp bán lẻ phát triển các hệ thống phân phối của mình, thông qua các chính sách, biện pháp hỗ trợ cụ thể đối với các doanh nghiệp thương mại trong nước để cạnh tranh với được với các doanh nghiệp nước ngoài

Phát triển hệ thống giao thông, hệ thống thông tin, hệ thống kho tàng, bến bãi… chính là tạo lập các điều kiện để xây dựng các hệ thống phân phối hiện đại

Trang 36

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN THỊ TRƯỜNG

VIỆT NAM 2.1 Tổng quan chung về doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam có thể được mô tả khái quát như sau: các cửa hàng tạp hóa bán lẻ, các cửa hàng trung tâm với diện tích lớn và vị trí thuận tiện, các chợ đầu mối và chợ truyền thống, hệ thống bán hàng lưu động (hàng rong), các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt

Các cửa hàng bán lẻ đã tồn tại từ lâu và đến nay vẫn chiếm tới 90% tổng lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường Việt Nam Trong thời điểm hiện nay, các cửa hàng bán lẻ đã có sự thay đổi căn bản ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ với sự phân hóa khá rõ về chủng loại hàng hóa và cách thức trưng bày Ở các thành phố này, các cửa hàng bán lẻ đã không còn mang tính tạp hóa nữa mà mang tính “bán lẻ” – chủng loại mặt hàng giảm đi và số lượng các thương hiệu của cùng chủng loại tăng lên

Các cửa hàng trung tâm với diện tích lớn và vị trí thuận tiên hiện nay chưa nhiều, nhưng có thể nói đó là tương lai của thị trường bán lẻ hàng cao cấp Quản lý trung tâm là các công ty chuyên nghiệp với các công thức hoạt động được lập trình sẵn và các tiêu chí đánh giá hoạt động dài hạn

Các chợ đầu mối sẽ là kênh phân phối bị ảnh hưởng mạnh nhất khi Việt Nam tham gia vào WTO Đây là nơi mà sản phẩm sẽ được quyết định bởi hai nguồn lực: vốn cung ứng và sức mạnh thuyết phục hệ thống phân phối Chợ truyền thống là một trong những kênh lưu thông bán lẻ hàng hóa khá quan trọng đối với khu vực nông thôn Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa càng phát triển thì tỷ trọng của

nó càng giảm, nhưng nó không thể mất đi mà biến đổi và phục hồi gắn với các nét sinh hoạt văn hóa và du lịch

Trang 37

Hệ thống bán hàng lưu động (hàng rong): Hệ thống này rất hiệu quả ở các vùng quê nhưng nguồn hàng cung cấp của hệ thống này chính là các đại lý nhỏ hoặc thậm chí là các cửa hàng tạp hóa bán lẻ Do đó hệ thống này góp phần tăng sức mạnh của hệ thống tạp hóa bán lẻ

Các cửa hàng bán lẻ chuyên biệt: các cửa hàng này chỉ bán một chủng loại sản phẩm, có thể bán lẻ và cũng có thể cung cấp số lượng lớn theo yêu cầu Các cửa hàng này thường có uy tín cao trong chuyên môn thẩm định chất lượng và sự phù hợp của sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm mới Các cửa hàng này cũng có giá trị rất cao trong việc thuyết phục người mua hàng sẽ tiêu thụ sản phẩm nào và nếu thành công thì việc tiếp tục tiêu thụ trong một thời gian dài là đều có thể hi vọng được

Mặc dù quá trình hội nhập và sự phát triển của sản xuất kinh doanh đã tạo nên những bước tiến đáng kể trong hệ thống phân phối nhưng cho đến nay về cơ bản thị trường và người tiêu dùng Việt Nam vẫn hoàn toàn khác với những nước phát triển, với hàng trăm ngàn các cửa hiệu bán hàng phân bố từ thành thị tới nông thôn, luôn đáp ứng nhu cầu hàng ngày của người tiêu dùng Khác hẳn hành vi mua hàng tại các nước phát triển, người tiêu dùng Việt Nam vẫn có thói quen mua hàng hằng ngày thay vì tới siêu thị vào ngày cuối tuần để mua hàng đủ dùng cho cả tuần

Vì vậy, hệ thống các cửa hàng gần khu dân cư vẫn đang đóng một tỷ lệ lớn nhất trong toàn bộ hệ thống phân phối của thị trường Việt Nam

mặt bằng mới, hiện đại và tiện dụng hơn Do đó, các kênh bán hàng hiện đại đã xuất

Trang 38

hiện ở nước ta và ngày càng trở nên quen thuộc với nhiều người dân Việt Nam Theo Tổng cục Thống kê, năm 1995, Việt Nam chỉ có 10 siêu thị và 2 trung tâm thương mại thì đến năm 2007 đã có ít nhất 140 siêu thị và đại siêu thị, 20 trung tâm thương mại và gần 1 triệu m2 mặt bằng kinh doanh bán lẻ đang được đầu tư Đến năm 2008, Việt Nam đã có khoảng 400 siêu thị, 60 trung tâm thương mại và gần 2.000 cửa hàng tiện ích Dự kiến đến năm 2010, số siêu thị và trung tâm thương mại

sẽ tăng lần lượt là 62,5% và 150%

Dù phát triển nhanh và đầy cơ hội nhưng bên cạnh các yếu tố thuận lợi, thị trường bán lẻ Việt Nam cũng còn gặp nhiều khó khăn và thách thức cần phải vượt qua

2.1.2.1 Điểm mạnh

Thị trường bán lẻ Việt Nam có rất nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển

nhanh hơn nữa trong thời gian tới

a) Dân số đông, trẻ với dân số 85 triệu dân, trong đó 79 triệu người dưới 65 tuổi, khoảng 60 triệu người tiêu dùng, dự báo đến năm 2018 là 95 triệu dân và 70 triệu người tiêu dùng Lực lượng người tiêu dùng trẻ này dễ dàng tiếp nhận hình

thức bán hàng trực tiếp mới, sự hiểu biết về sản phẩm ngày càng được nâng cao

b) Thu nhập trung bình của người Việt Nam ngày càng tăng, trong đó nhóm

có tốc độ tăng thu nhập nhanh nhất trong khoảng 500-1.000 USD/tháng Bên cạnh

đó, tỷ lệ tiêu dùng trên thu nhập của người Việt Nam thuộc loại cao nhất ở Đông Nam Á Người Việt Nam tiêu dùng trung bình khoảng 70% thu nhập hàng tháng Điều này ảnh hưởng lớn tới mức tăng trưởng của thị trường bán lẻ Việt Nam trong những năm vừa qua, ví dụ như những năm trước, mức này luôn đạt bình quân 20%, thì đến năm 2007 đã tăng lên 25 – 27%… Doanh số bán lẻ toàn Việt Nam ước tính đến hết năm 2008 đạt 54,3 tỷ USD, tăng 20,5% so với 2007

Tỷ lệ mua sắm tại các siêu thị, trung tâm thương mại của người Việt Nam đã tăng

Trang 39

Bảng 2: Tỷ lệ mua sắm tại các siêu thị, trung tâm

thương mại

9

14

24 15

và năm 2008 đã vươn lên đứng đầu

d) Thị trường bán lẻ trị giá hơn 40 tỷ USD/ 1 năm Số lượng doanh nghiệp bán lẻ tăng tương đối nhanh qua các năm, đặc biệt từ năm 2004 đến năm 2006 Tính đến cuối năm 2006, số doanh nghiệp phân phối bán lẻ thực tế đang hoạt động kinh doanh trên phạm vi cả nước là 16.313 doanh nghiệp, tăng 2.912 doanh nghiệp so với 2005 và 8.785 doanh nghiệp so với năm 2000

Bảng 3: Số lƣợng doanh nghiệp phân phối bán lẻ 2000 -2006

Trang 40

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng liên tục tăng với tốc độ cao

và ổn định Tổng mức bán lẻ xã hội năm 2006 đạt 596207.1 tỷ đồng tăng 20.9% so với năm 2005, sơ bộ ước tính năm 2007 đạt tới 731809.7 tỷ đồng và nửa đầu năm

Kinh tế ngoài Nhà nước

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng (tỷ đồng)

Ngày đăng: 07/05/2014, 17:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công thương, Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại, (2008), WTO và hệ thống phân phối Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: WTO và hệ thống phân phối Việt Nam
Tác giả: Bộ Công thương, Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại
Năm: 2008
2. Bộ Thương mại, Viện nghiên cứu Thương mại, (2004), Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống phân phối hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bộ Thương mại, Viện nghiên cứu Thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản lý luận chính trị
Năm: 2004
4. GS, TS Nguyễn Thị Mơ, Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, Nhà xuất bản lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản lý luận chính trị
5. TS. Tăng Văn Nghĩa, (2008), Tài liệu học tập môn Pháp luật cạnh tranh và chống bán phá giá (Phần Luật Cạnh tranh), Trường Đại học Ngoại Thương, Khoa Quản trị kinh doanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập môn Pháp luật cạnh tranh và chống bán phá giá (Phần Luật Cạnh tranh)
Tác giả: TS. Tăng Văn Nghĩa
Nhà XB: Trường Đại học Ngoại Thương
Năm: 2008
6. Philip Kotler, (2006), Marketing căn bản, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing căn bản
Tác giả: Philip Kotler
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2006
7. GS.TS Đỗ Hoàng Toàn, PGS.TS Mai Văn Bưu, (2008), Giáo trình quản lý Nhà nước về kinh tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý Nhà nước về kinh tế
Tác giả: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn, PGS.TS Mai Văn Bưu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
8. Tổng cục thống kê, (2007), Niên giám thống kê, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2007
9. Tổng cục thống kê, (2008), Thực trạng các doanh nghiệp qua kết quả điều tra 2005, 2006, 2007; Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng các doanh nghiệp qua kết quả điều tra 2005, 2006, 2007
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2008
10. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện thông tin khoa học xã hội, (2003), WTO Những quy tắc cơ bản, Nhà xuất bản Khoa học xã hội.Luật và văn bản dưới Luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: WTO Những quy tắc cơ bản
Tác giả: Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện thông tin khoa học xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Luật và văn bản dưới Luật
Năm: 2003
14. Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ thương mại về việc ban hành quy chế siêu thị, Trung tâm thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM
Nhà XB: Bộ thương mại
Năm: 2004
16. Thông tư 05/2008/TT – BCT ngày 14/4/2008 Sửa đổi, bổ sung Thông tư 09/2007/TT – BTM.Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 05/2008/TT – BCT
Năm: 2008
3. PGS.TS Nguyễn Cúc, (2008), Tập bài giảng quản lý Nhà nước về kinh tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Khác
12. Nghị định 23/2007/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Khác
13. Quyết định số 27/2007/QĐ-TTg ngày 15/2/2007 Phê duyệt Đề án phát triển thương mại trong nước đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
15. Thông tư số 09/2007/TT-BTM, ngày 17/7/2007 Hướng dẫn thi hành Nghị định 23/2007/NĐ – CP Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân loại loại  hình  bán lẻ theo chỉ tiêu khối lượng dịch vụ cho người  tiêu dùng - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ
Bảng 1 Phân loại loại hình bán lẻ theo chỉ tiêu khối lượng dịch vụ cho người tiêu dùng (Trang 11)
Bảng 2: Tỷ lệ mua sắm tại các siêu thị, trung tâm - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ
Bảng 2 Tỷ lệ mua sắm tại các siêu thị, trung tâm (Trang 39)
Bảng 4: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 2000 – 2007 - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ
Bảng 4 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 2000 – 2007 (Trang 40)
Bảng  5:  Số  doanh  nghiệp  phân  phối  bán  lẻ  theo  quy  mô  lao  động  đến  31/12  (2004-2006) - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ
ng 5: Số doanh nghiệp phân phối bán lẻ theo quy mô lao động đến 31/12 (2004-2006) (Trang 42)
Bảng 6: Số doanh nghiệp phân phối bán lẻ theo quy mô vốn 2004 – 2006 - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ
Bảng 6 Số doanh nghiệp phân phối bán lẻ theo quy mô vốn 2004 – 2006 (Trang 43)
Bảng 7 : Tiêu thức phân hạng siêu thị, trung tâm thương mại - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ
Bảng 7 Tiêu thức phân hạng siêu thị, trung tâm thương mại (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w