Lớp từ ngữ này thường diễn tả hoặctạo ra sự liên tưởng đến những quan niệm, những đề tài, những sự vật, sự việc bịcoi là cấm kị trong văn hóa cộng đồng, ví dụ như tôn giáo, tâm linh, tìn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-BÙI THỊ NGỌC ANH
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI 2014
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-BÙI THỊ NGỌC ANH
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ HỌC
XÃ HỘI CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Lý luận Ngôn ngữ
Mã số: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Nguyễn Thị Thanh Bình
2 TS Bùi Thị Minh Yến
Trang 3HÀ NỘI 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nêutrong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trìnhnghiên cứu nào
Bùi Thị Ngọc Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 18
1.1 DẪN NHẬP 18
1.2 QUAN NIỆM VỀ TỪ NGỮ KIÊNG KỊ 19
1.2.1 Quan điểm của các tác giả ngoài nước về từ ngữ kiêng kị 19
1.2.2 Quan điểm của các tác giả trong nước về từ ngữ kiêng kị 25
1.2.3 Quan niệm của luận án về từ ngữ kiêng kị 27
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC XÃ HỘI LIÊN QUAN CÁCH TIẾP CẬN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 28
1.3.1 Vài nét thông tin chung về ngôn ngữ học xã hội 28
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội 30
1.3.3 Biến ngôn ngữ và biến xã hội .32
1.4 NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ EM THEO HƯỚNG NGÔN NGỮ HỌC XÃ HỘI 35
1.4.1 Về mục tiêu phát triển khả năng diễn đạt hiệu quả của trẻ 36
1.4.2 Về vai trò của ngôn ngữ dùng để nói với trẻ em 38
1.4.3 Về vai trò phản hồi của những người chăm sóc trẻ em 39
1.5 TIỂU KẾT 40
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ Ở HOÀI THỊ 42
2.1 DẪN NHẬP 42
2.2 SỐ LƯỢNG, TẦN SỐ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN LOẠI TỪ NGỮ KIÊNG KỊ Ở HOÀI THỊ 44
2.2.1 Số lượng từ ngữ kiêng kị được sử dụng 44
2.2.2 Tần số xuất hiện từ ngữ kiêng kị 46
2.2.3 Phân loại từ ngữ kiêng kị 48
2.3 SỰ PHỔ BIẾN CỦA TỪ NGỮ KIÊNG KỊ 50
Trang 52.3.1 Từ ngữ kiêng kị xuất hiện trong ngôn từ của người nói thuộc các thế
hệ, lứa tuổi, giới tính khác nhau 51
2.3.2 Từ ngữ kiêng kị xuất hiện trong giao tiếp ở mọi gia đình 53
2.4 MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ Ở HOÀI THỊ 57
2.4.1 Biểu thị sự tức giận 58
2.4.2 Phủ nhận, bác bỏ 62
2.4.3 Xúc phạm đối phương 64
2.4.4 Mắng yêu 65
2.4.5 Gây cười 66
2.4.6 Gây sự chú ý 69
2.4.7 Thể hiện sức mạnh 70
2.5 TIỂU KẾT 71
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA TUỔI VÀ GIỚI ĐẾN SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ 74
3.1 DẪN NHẬP 74
3.2 TUỔI VÀ SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ 76
3.2.1 Tuổi và số lượng từ ngữ kiêng kị được sử dụng 76
3.2.2 Tuổi và tần số xuất hiện từ ngữ kiêng kị 80
3.2.3 Sự sử dụng TNKK khi người lớn nói với bé lớn và người lớn nói với bé nhỏ 82
3.2.4 Phản ứng của người lớn khi nghe bé lớn và bé nhỏ sử dụng TNKK .86 3.3 GIỚI VÀ SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ 93
3.3.1 Giới và số lượng từ ngữ kiêng kị được sử dụng 94
3.3.2 Giới và tần số xuất hiện từ ngữ kiêng kị 100
3.3.3 Sự sử dụng TNKK khi người lớn nói với bé trai và người lớn nói với bé gái 102
3.3.4 Phản ứng của người lớn khi bé trai sử dụng TNKK và bé gái sử dụng TNKK 104
3.4 TIỂU KẾT 108
Trang 6CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP ĐẾN SỰ
SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ 110
4.1 DẪN NHẬP 1104.2 MIÊU TẢ CHUNG VỀ SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG CÁCTÌNH HUỐNG GIAO TIẾP 1114.3 SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG TÌNH HUỐNG GIAO TIẾPCÙNG GIỚI VÀ LẪN GIỚI 115
4.3.1 Sự xuất hiện của TNKK trong tình huống giao tiếp cùng giới và lẫn giới 115 4.3.2 Mức độ tăng cấp của các TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong nhóm cùng giới và trẻ chơi trong nhóm lẫn giới 120
4.4 SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG TÌNH HUỐNG GIAO TIẾPTRANG TRỌNG VÀ PHI TRANG TRỌNG 123
4.4.1 Sự xuất hiện của TNKK trong tình huống giao tiếp trang trọng và phi trang trọng 123 4.4.2 Mức độ tăng cấp của các TNKK trong tình huống giao tiếp trang trọng và phi trang trọng 134
4.5 SỰ SỬ DỤNG TỪ NGỮ KIÊNG KỊ TRONG TÌNH HUỐNG GIAOTIẾP CÓ SỰ THAY ĐỔI QUAN HỆ VỊ THẾ GIỮA NGƯỜI NÓI VÀNGƯỜI NGHE 136
4.5.1 Sự xuất hiện của TNKK trong tình huống giao tiếp có sự thay đổi quan hệ vị thế giữa người nói và người nghe 137 4.5.2 Mức độ tăng cấp của các TNKK trong tình huống giao tiếp có sự thay đổi quan hệ vị thế giữa người nói và người nghe 143
4.6 TIỂU KẾT 144KẾT LUẬN 147TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Số lượng TNKK được trẻ em và người lớn sử dụng ở Hoài Thị
Bảng 2.2 TNKK xuất hiện nhiều nhất trong giao tiếp của người dân Hoài ThịBảng 2.3 TNKK xuất hiện ít nhất trong giao tiếp của người dân Hoài Thị
Bảng 2.4 Tần số xuất hiện và tỉ lệ phần trăm của các nhóm TNKK
Bảng 2.5 Mức độ sử dụng TNKK trong từng hộ gia đình
Bảng 2.6 Mục đích sử dụng TNKK của người dân Hoài Thị
Bảng 3.1 TNKK ở Hoài Thị thường được người lớn và các bé nhỏ bé lớn sử dụngBảng 3.2 Mục đích sử dụng TNKK của bé nhỏ và bé lớn ở Hoài Thị
Bảng 3.3 Tuổi của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Bảng 3.4 Tuổi của người nói và xu hướng sử dụng TNKK
Bảng 3.5 Người lớn sử dụng TNKK với bé lớn và bé nhỏ
Bảng 3.6 Tỉ lệ TNKK của trẻ em Hoài Thị nói với người lớn và trẻ em
Bảng 3.7 Phản ứng của người lớn khi nghe bé lớn và bé nhỏ sử dụng TNKKBảng 3.8 TNKK ở Hoài Thị thường được các bé trai và bé gái sử dụng
Bảng 3.9 Mục đích sử dụng TNKK của bé trai và bé gái ở Hoài Thị
Bảng 3.10 Giới của người lớn và TNKK trong sử dụng
Bảng 3.11 Giới của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Bảng 3.12 Tỉ lệ sử dụng TNKK của người lớn với bé trai và bé gái
Bảng 3.13 Phản ứng của người lớn khi nghe bé trai và bé gái sử dụng TNKKBảng 4.1 Tần số các TNKK xuất hiện trong các tình huống giao tiếp (theo tỉ lệ)Bảng 4.2 Sự xuất hiện của các nhóm TNKK trong các tình huống giao tiếpBảng 4.3 Tỉ lệ sử dụng TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong nhóm
cùng giới - lẫn giới và các tình huống giao tiếp còn lạiBảng 4.4 Tỉ lệ xuất hiện TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong nhóm
cùng giới và lẫn giớiBảng 4.5 Mức độ tăng cấp của TNKK xuất hiện trong tình huống giao tiếp trẻ
chơi trong nhóm cùng giới và lẫn giớiBảng 4.6 TNKK của trẻ em xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang trọng và
phi trang trọngBảng 4.7 TNKK của người lớn xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang trọng
và phi trang trọngBảng 4.8 Tuổi của người nói và xu hướng sử dụng TNKK trong tình huống
giao tiếp trang trọngBảng 4.9 Mức độ tăng cấp của TNKK xuất hiện trong tình huống giao tiếp
trang trọng và phi trang trọngBảng 4.10 Trẻ em sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và người dưới
Trang 8Bảng 4.11 Người lớn sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và
người dướiBảng 4.12 TNKK của trẻ em Hoài Thị khi nói với người trên, người ngang
hàng và người dướiBiểu đồ 2.1 Số lượng TNKK được trẻ em và người lớn sử dụng ở Hoài ThịBiểu đồ 2.2 TNKK xuất hiện nhiều nhất trong giao tiếp của người dân Hoài ThịBiểu đồ 2.3 TNKK xuất hiện ít nhất trong giao tiếp của người dân Hoài ThịBiểu đồ 2.4 Tần số xuất hiện và tỉ lệ phần trăm của các nhóm TNKK
Biểu đồ 2.5 Mức độ sử dụng TNKK trong từng hộ gia đình
Biểu đổ 2.6 Mục đích sử dụng TNKK của người dân Hoài Thị
Biểu đồ 3.1 Tuổi của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Biểu đồ 3.2 Tuổi của người nói và xu hướng sử dụng TNKK
Biểu đồ 3.3 Người lớn sử dụng TNKK với bé lớn và bé nhỏ
Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ TNKK của trẻ em Hoài Thị nói với người lớn và trẻ em
Biểu đồ 3.5 Phản ứng của người lớn khi nghe bé lớn và bé nhỏ sử dụng TNKKBiểu đồ 3.6 Giới của trẻ em và tỉ lệ sử dụng TNKK
Biểu đồ 3.7 Tỉ lệ sử dụng TNKK của người lớn với bé trai và bé gái
Biểu đồ 3.8 Phản ứng của người lớn khi nghe bé trai và bé gái sử dụng TNKKBiểu đồ 4.1 Tần số các TNKK xuất hiện trong các tình huống giao tiếp (theo tỉ lệ)Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ TNKK xuất hiện trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong
nhóm cùng giới - lẫn giới và các tình huống giao tiếp còn lạiBiểu đồ 4.3 Tỉ lệ xuất hiện TNKK trong tình huống giao tiếp trẻ chơi trong
nhóm cùng giới và lẫn giớiBiểu đồ 4.4 TNKK của trẻ em xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang trọng
và phi trang trọngBiểu đồ 4.5 TNKK của người lớn xuất hiện trong tình huống giao tiếp trang
trọng và phi trang trọngBiểu đồ 4.6.Tuổi của người nói và xu hướng sử dụng TNKK trong tình huống
giao tiếp trang trọngBiểu đồ 4.7 Trẻ em sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và người dướiBiểu đồ 4.8 Người lớn sử dụng TNKK với người trên, người ngang hàng và
người dưới
Trang 9(trai, 5t): bé trai, 5 tuổi
(gái, 5t): bé gái, 5 tuổi
(lớn, 10t): bé lớn, 10 tuổi
(nhỏ, 5t): bé nhỏ, 5 tuổi
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Giống như trong nhiều ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt có một lớp từ ngữthường bị coi là những từ ngữ không nên dùng, cần kiêng tránh bởi chúng lànhững từ ngữ gây phản cảm cho người khác Lớp từ ngữ này thường diễn tả hoặctạo ra sự liên tưởng đến những quan niệm, những đề tài, những sự vật, sự việc bịcoi là cấm kị trong văn hóa cộng đồng, ví dụ như tôn giáo, tâm linh, tình dục.Những người sử dụng loại từ ngữ này thường bị đánh giá là vô học, thiếu vănhóa, mất lịch sự, thô lỗ, cộc cằn v.v…, trẻ em thường bị trách phạt, bị cấm dùngnhững từ ngữ đó, vì vậy chúng được dạy bằng cách dùng uyển ngữ để thay thếcho những từ ngữ kiêng kị (TNKK) nói trên
Tuy nhiên, mặc dù bị cấm đoán và bị đánh giá thấp, TNKK vẫn tồn tại từthời này qua thời khác trong vốn từ vựng tiếng Việt, nhất là trong giao tiếp ngônngữ của thanh thiếu niên trên các mạng xã hội hiện nay Để có thể có thái độ ứng
xử thỏa đáng trước hiện tượng này cần có sự chung tay góp sức của các chuyênngành khác nhau, trong đó có ngôn ngữ học Luận án (LA) này là một đóng gópvào sự nghiệp chung đó
1.2 TNKK là một lớp từ bị đánh giá thấp và quan điểm thường thấy đối vớichúng đơn giản là cấm sử dụng hoặc cần thiết lắm thì tránh sử dụng bằng cáchdùng uyển ngữ thay thế Vì vậy, TNKK chưa thực sự thu hút được sự quan tâmcủa các nhà Việt ngữ học Các công trình đã có thường đi theo hướng mô tả/phânloại TNKK và dùng uyển ngữ thay thế, nhưng mô tả TNKK và các cách tránh sửdụng chúng không giải thích được bản chất, sự tồn tại và phát triển của lớp từ
này Ví dụ, không thể giải thích được tại sao những từ như “con đĩ” lại là TNKK, không nên sử dụng trong khi có hẳn một xuất bản phẩm với tên “Xin lỗi em chỉ
là con đĩ” Thực ra, cũng giống như mọi hiện tượng xã hội khác, để tồn tại,
Trang 11TNKK cũng phải có chức năng xã hội của nó nên chúng ta chỉ có thể đánh giáđược những từ ngữ như trên có thô thiển, mất lịch sự hay không thông qua việctìm hiểu chức năng xã hội của nó, tức là nghiên cứu chúng trong mối tương liênchặt chẽ với hoàn cảnh giao tiếp mà chúng xuất hiện Nghiên cứu TNKK trong
hoàn cảnh giao tiếp cũng chính là cách tiếp cận TNKK từ góc độ ngôn ngữ học
xã hội, đó cũng chính là hướng tiếp cận của LA.
1.3 Hiện nay trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về TNKK, tuynhiên ở Việt Nam lại chưa có một đề tài, một LA nào nghiên cứu về đặc trưngngôn ngữ học xã hội, tức là ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như tuổi tác, giớitính, giai tầng v.v… đến sự sử dụng TNKK trong tiếng Việt Vì vậy, chúng tôi
chọn “Đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của từ ngữ kiêng kị trong tiếng Việt”, trên
cứ liệu giao tiếp ngôn ngữ ở Hoài Thị giai đoạn 2001 - 2002 - làm đề tài cho LA
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
Với các cách thức tiếp cận khác nhau, hiện nay ở trên thế giới, nghiên cứu
về TNKK đã dành được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnhvực khác nhau như tôn giáo, tâm lí, tâm lí học phát triển, và ngôn ngữ học xãhội, v.v Nhìn chung, các nghiên cứu về TNKK thường được tiếp cận theo haihướng, một là nghiên cứu theo hướng miêu tả từ vựng truyền thống và hai lànghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học xã hội Nghiên cứu theo hướng từ vựngtruyền thống thường miêu tả TNKK như là những đơn vị ngôn ngữ mất lịch sự,thô thiển, thậm chí tục tĩu Do đó TNKK phải bị cấm sử dụng hoặc tránh sử dụngbằng cách dùng uyển ngữ để thay thế Quan điểm ngôn ngữ học xã hội cho rằng:chỉ có thể hiểu được ý nghĩa của ngôn từ khi chúng hành chức trong hoàn cảnhgiao tiếp cụ thể Do đó, tính thô tục, mất lịch sự, thô lỗ của TNKK phụ thuộc vàocác yếu tố xã hội tạo nên hoàn cảnh giao tiếp mà chúng xuất hiện, ví dụ như tuổi,giới, vị thế giao tiếp, giai tầng, v.v… của những người tham gia giao tiếp, đề tàigiao tiếp, mức độ trang trọng hay thân tình của sự kiện giao tiếp, v.v…
Trang 122.1 Nghiên cứu từ ngữ kiêng kị theo hướng miêu tả từ vựng truyền thống
Xuất phát từ khía cạnh tôn giáo, Freud (1950) [49] và Steiner (1975) [98]
là những người đầu tiên nghiên cứu TNKK, cho rằng TNKK ban đầu là những từngữ thuộc tôn giáo, chỉ xuất hiện trong đời sống tín ngưỡng của con người Tuynhiên, cả hai tác giả đều cho rằng mặc dù khái niệm kiêng kị đang ngày càng trởnên lỏng lẻo hơn, kiêng kị đang chuyển dần từ lĩnh vực tôn giáo sang các lĩnhvực khác của đời sống con người, nhưng vẫn còn nhiều những kiêng kị không
được nói ra như: không được phép gọi tên những thế lực siêu nhiên như Chúa trời, ma quỷ; không được gọi tên về sự chết chóc, bệnh tật; không được nói những
lời nguyền rủa Ngoài ra, ở một số xã hội, còn phải kiêng nói đến sự nghèo hèn,nghề nghiệp tầm thường, và những thứ liên quan đến quần áo lót
Liên quan đến niềm tin, Nguyễn Quý Thành (1993) [16] nghiên cứunhững TNKK trong nghề đi biển vùng Nam Trung Bộ, và giải thích rằng nghề đibiển là nghề khắc nghiệt và nguy hiểm nên để tránh những rủi ro do thiên taimang lại, dân đi biển kiêng nói những từ ngữ gợi báo điềm gở, sự mất mát,
không vững chắc: như về (vì về gợi báo trước điều chẳng lành, không gặp may), mất (nếu đánh mất đồ - vì sợ mất mát, chết chóc); úp (vì sợ bị úp thuyền); v.v …
Nguyễn Thị Tâm Hạnh (2010) [7] cũng đã miêu tả các TNKK trong nghề làmgốm, ví dụ, kiêng kị nói đến những gì liên quan đến: sự thiếu lành nguyên, méo
mó, đổ vỡ như: rịn (rịn nước), nứt (nứt toác ra), tréo chân méo miệng, nát (vì
liên quan đến sự đổ nát), (kể cả trong giao tiếp thông thường bên ngoài lò nung),
vì những từ này vốn thường dùng để chỉ sản phẩm không đạt chất lượng hoặcquy trình sản xuất bị trục trặc
Nhìn chung, những nghiên cứu bàn về TNKK xuất phát từ khía cạnh tôngiáo đều có xu hướng khai thác các từ ngữ linh thiêng gắn với niềm tin tôn giáocủa những con người mà tiềm thức gắn với tư tưởng “có thờ có thiêng, có kiêng
có lành” Điều này đã chi phối các hoạt động của con người, lâu dần trở thànhphong tục, tập quán
Trang 13Từ khía cạnh văn hóa, có nhiều nghiên cứu quan tâm đến những từ ngữliên quan đến chủ đề tình dục: bộ phận sinh dục và hành động tình dục Đề cậpđến những điều cấm kị trong cuộc sống, Nguyễn Kim Phước (2006) [14] đã chỉ
ra điều kị nhất là khi nói đến hành vi tính dục một cách trực tiếp Do quan niệmchưa cởi mở về tình dục, coi những gì liên quan đến sinh hoạt tình dục là tà ác và
đáng xấu hổ nên kiêng kị nói những cụm từ ngữ quan hệ vợ chồng, vợ chồng gối chăn, mà nên nói làm việc, chuyện phòng the, cùng giường, cuộc sống vợ chồng,
v.v Tác giả nhận định rằng đối với người Việt, trong giao tiếp thông thường,
người ta tránh không nói từ “chim”, “bướm” mà dùng từ Hán Việt là “hạ bộ”,
“âm hộ” để nói tránh đi.
Một số từ ngữ liên quan đến chủ đề chết chóc được nhiều nghiên cứu đề
cập đến Nhiều dân tộc trên thế giới kiêng không nói đến từ chết, vì khi nói lên
từ chết, người nghe có cảm giác nặng nề và thường dễ bị tổn thương Chẳng hạn, người Anh kị không nói từ dying (đang sắp chết, hấp hối), mà nói passing away [2] Người Việt cũng không nói từ chết mà nói: ra đi, từ trần, đi xa, mất, trút hơi thở cuối cùng, về với Chúa (người theo đạo Thiên Chúa), lên thiên đàng (đạo Phật), sang thế giới bên kia, giấc ngàn thu, về nơi chín suối, về với tổ tiên, về với ông bà, quy tiên, hi sinh (người chết vì lợi ích cộng đồng), v.v…[19] Người Trung Quốc, gọi cái chết của vua là băng hà, của hoàng đế là yến giá (với ý
nghĩa không còn thiết triều nữa), còn cái chết của tăng ni nhà Phật thì gọi là
viên tịch (nghĩa là hoàn toàn chìm vào trong giây phút niệm kinh) [14]
Từ khía cạnh ngôn ngữ, có nhiều nghiên cứu tập trung vào những từ ngữ
mà khi nói đến, con người cảm thấy xấu hổ vì nó đề cập đến những chủ đềkhông lịch sự, không tế nhị Khảo sát các yếu tố tục trong tiếng Việt, Đỗ Anh Vũ
(2003) [20] đi tìm nghĩa biểu trưng của từ cứt qua thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt, kết quả là từ cứt có 16 nghĩa biểu trưng: chỉ thói kiêu căng, hợm hĩnh, chỉ
sự khinh bỉ coi thường, chỉ tính lười biếng vô tích sự, v.v Từ góc độ từ vựng,
Tạ Văn Thông (2003) [17] phát hiện ra trong tiếng Việt, khi cãi cọ nhau hoặc tứcgiận về một điều gì đó, người ta hay dùng những từ được xem là biểu tượng của
Trang 14sự tục tĩu mà bình thường phải giấu kín đi: cái con củ cặc để biểu thị sự ngạo
mạn, coi thường đối thủ của mình
Kị húy hay kiêng húy cũng là một vấn đề kiêng kị trong ngôn ngữ nhậnđược sự quan tâm lớn từ các nhà nghiên cứu Ở Việt Nam, thời phong kiến tụckiêng huý gần như là một quy tắc bắt buộc [11]
Trước tiên, ở phạm vi của một quốc gia, mọi thần dân phải kiêng kị tên
húy của vua Chẳng hạn, có một thời gian ánh trong ánh sáng là kiêng kị (vì tên thật của Vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh), nên phải nói là yến sáng; cảnh trong cây cảnh là kiêng kị (vì tên con trai vua Gia Long là Nguyễn Phúc Cảnh), nên phải nói là cây kiểng Ngoài việc kiêng nói tên vua, nhiều khi tên của những
người thân thuộc với vua cũng phải kiêng như: cha, mẹ, vợ, con, anh em,… và
có khi đến hàng ông nội, bà nội, tên giả, chữ đệm của vua cũng phải kiêng
Trong phạm vi làng xã, cũng có những kiêng huý nhất định Chẳng hạn ở
Làng Phước Tích (vùng biển Nam Trung Bộ), nồi là tên của ngài Khai canh
-Bổn nghệ (họ Hoàng) của làng: “ngài thỉ tổ họ Hoàng lúc bấy giờ là Hoàng MinhHùng, tục gọi là Nồi nguyên người làng Cảm Quyết, tỉnh Nghệ An đã thân chinh
đánh đuổi Chiêm Thành ” [7], do đó, nồi là một từ kiêng kị Hoặc ở làng Vịa (Thình Quang - Gia Lâm - Hà Nội) thờ ông Lí Bí và Lí Chiêu Hoàng, vì vậy bí trong quả bí là kiêng kị, và phải nói tránh là quả bầu
Trong phạm vi gia đình, do truyền thống văn hóa, con cái có thể kiêng gọitên thật ông bà tổ tiên, những người đã mất hoặc những người có vai trò trongdòng tộc nên nếu ai sử dụng những từ đó phải sẽ phạm tội hỗn láo [11] Do đó,trong cuộc sống hàng ngày gặp phải những tên giống với tên của ông bà tổ tiên,đặc biệt tên của những người đã khuất, thì phải tìm cách đọc tránh đi, nhằm
tránh phạm vào sự linh thiêng của các linh hồn, chẳng hạn: không được nói Hà Đông, mà nói Hà Đương, không nói thịt đông mà nói thịt đặc, hồng gọi tránh là hường, hoa gọi là huê, xuân gọi là xoan, bưởi gọi là bòng [15]
Ngoài ra, có khá nhiều công trình nghiên cứu về những từ ngữ chỉ điềukhông ai mong muốn, đó là những từ ngữ liên quan đến sự đau khổ, bệnh tật,
Trang 15thương vong, và về sự khiếm khuyết của cơ thể cũng như tinh thần Để tránh sự
gian nan, vất vả, người Trung Quốc kị nói từ khổ qua, để tránh bị bệnh tật, họ kị nói uống thuốc [14]
Nghiên cứu TNKK theo hướng miêu tả từ vựng truyền thống như vậy mớichỉ cung cấp cho người đọc một hệ thống các từ bị cấm/hạn chế sử dụng tronggiao tiếp của một cộng đồng nào đó chứ chưa làm rõ được lí do tồn tại cũng nhưvai trò, giá trị và tác động của nó trong mối liên hệ với các nhân tố xã hội trongcộng đồng Nghiên cứu TNKK nhìn từ góc độ ngôn ngữ học xã hội sẽ chỉ rađược những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của các TNKK, góp phần làm rõ giátrị văn hóa và xã hội của chúng, từ đó có thể tìm thấy những đường hướng ứng xửthỏa đáng đối với việc sử dụng lớp từ này trong một cộng đồng ngôn ngữ cụ thể
2.2 Nghiên cứu từ ngữ kiêng kị theo quan điểm ngôn ngữ học xã hội
Điểm khác biệt của xu hướng nghiên cứu TNKK theo quan điểm ngônngữ học xã hội là nghiên cứu TNKK trong “hành chức”, tức là trong mối liên hệvới các biến của ngôn ngữ học xã hội như tuổi, giới, nghề nghiệp, học vấn, giaitầng, và hoàn cảnh giao tiếp, v.v Do đó Labov (1972) [73] nhấn mạnh rằngngôn ngữ học xã hội là mang tính thực tế xã hội và ngữ liệu nghiên cứu phải làngôn ngữ trong đời sống thực tế giao tiếp Với các mục đích nghiên cứu khácnhau, và nhiều cách tiếp cận tư liệu khác nhau, nghiên cứu về TNKK theo quan
điểm ngôn ngữ học xã hội đã có thành tựu đáng kể.
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà các tác giả công trình sử dụng nhữngphương pháp nghiên cứu khác nhau Nhìn chung, bảng hỏi là một công cụ chính
và phương pháp điều tra bảng hỏi là một trong những phương pháp được nhiềunhà nghiên cứu sử dụng để thu thập tư liệu (Hughes 1992 [57]; Veronica 1997[115]; Tsang 2005 [112]; Bakhtiar 2011 [28])
Coi TNKK là một hiện tượng trong ngôn ngữ học xã hội, Hongxu và cáccộng sự (1990) [55] đã thâm nhập vào một cộng đồng nhỏ ở Trung Quốc, vàphát hiện ra rằng TNKK là một hiện tượng ngôn ngữ, văn hóa, xã hội có quan hệvới mê tín, tập tục, và quyền lực phân cấp Họ đã thảo luận những ảnh hưởng
Trang 16của các yếu tố văn hóa - xã hội đến sự hình thành và phát triển của TNKK.Hongxu và các cộng sự đề xuất cách phân loại, cho rằng kiêng kị rơi vào hainhóm: ngôn ngữ vĩ mô và ngôn ngữ vi mô Nhóm đầu tiên, tất cả các từ đượchầu hết mọi người hội thoại trong cộng đồng coi là đáng ghê tởm và tục tĩu nhưtình dục và chết chóc Với nhóm TNKK vi mô, những từ nhất định được cảmnhận là kiêng kị trong mối quan hệ với ngữ cảnh cụ thể Họ đề xuất một cáchphân loại cho TNKK, bao gồm "ngữ cảnh vĩ mô" (tức là các yếu tố xã hội) và
"ngữ cảnh vi mô", bao gồm các yếu tố mang tính tình huống như hình thức vàngười đối thoại
Jay (1992) nhận ra “ngôn ngữ bẩn” (dirty language) “đang dần dần đượcchấp nhận rộng rãi đối với công chúng Mĩ” [62] Đây là lí do khiến ông tiếnhành nghiên cứu “ngôn ngữ bẩn” ở tòa án, phim ảnh, sân trường và trên đườngphố ở Mĩ Cuốn sách của ông là công trình đầu tiền khảo sát lời chửi rủa củangười Mĩ một cách sâu rộng từ khía cạnh ngôn ngữ học tâm lí - ngữ cảnh(psycholinguistic - contextual) Rất nhiều những nghiên cứu thực địa và thínghiệm trong phòng thực nghiệm tập trung khảo sát mối liên hệ giữa lời chửi rủa
và sự thụ đắc ngôn ngữ, giới, sự thô lỗ, v.v Tất cả các từ ngữ khiêu dâm, quấyrối tình dục, nói điện thoại tục tĩu, và chửi rủa ở trường học đều được phân tích
và liên hệ với dữ liệu ngôn ngữ học xã hội và ngôn ngữ học tâm lí Tần số xuấthiện, mức độ thô lỗ của từ ngữ, giới, tuổi của người nói cũng được khảo sát.Nghiên cứu đã chỉ ra những lời chửi rủa được sử dụng trong những hoàn cảnhgiao tiếp đặc biệt trong cuộc sống, và cũng chỉ ra nó đã ảnh hưởng đến người nóicũng như người nghe
Tìm hiểu các biến giới, tuổi và giai tầng ảnh hưởng đến cách sử dụngTNKK, dựa vào ngôn ngữ học khối liệu để nghiên cứu TNKK của thanh thiếuniên Anh, Stenström (1995) [100] đã đưa ra kết luận: không có sự khác biệt giớitrong lựa chọn TNKK và tần số sử dụng TNKK của nhóm tuổi này, các bé gái sửdụng TNKK thường xuyên như các bé trai, các bé gái sử dụng những TNKKmạnh như các bé trai, các bé gái và các bé trai sử dụng TNKK đều cùng mục
Trang 17đích Tuy nhiên, khi đi vào khảo sát từng từ cụ thể thì tư liệu cho thấy từ fuck là
từ kiêng kị phổ biến nhất được các bé gái tuổi thanh thiếu niên lựa chọn sử dụng.Ngoài ra còn có sự khác biệt giữa các thế hệ sử dụng ngôn ngữ, chẳng hạn thanhthiếu niên sử dụng TNKK nhiều hơn người lớn và trẻ nhỏ, đặc điểm này là docách thanh thiếu niên thiết lập đặc điểm nhóm, kết quả này giống với nhận địnhcủa Holmes (2001) [54]
Điều tra thái độ của một nhóm người về việc sử dụng chửi thề và ngôn ngữkiêng kị, Veronica (1997) [115] đã phát hiện ra mối quan hệ chặt chẽ giữa giới vàtuổi của người sử dụng ngôn ngữ chửi thề và ngôn ngữ kiêng kị Tác giả nhận địnhkhông có mối tương quan nào giữa trình độ học vấn và việc sử dụng TNKK
Từ khía cạnh giới và nghề nghiệp, Tsang (2005) [112] tiến hành nghiêncứu, điều tra về thái độ sử dụng TNKK của những người nói tiếng Anh và tiếngQuảng Đông nhằm tìm ra sự khác biệt về văn hóa trong việc sử dụng ngôn ngữkiêng kị, v.v Phát hiện của tác giả cho thấy những người nói tiếng Anh thường
bị ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây, đó là niềm tin về tôn giáo nên họhạn chế sử dụng những từ kiêng kị về tôn giáo; trong khi đó những người nóitiếng Quảng Đông ở Hồng Kông do bị ảnh hưởng cả văn hóa và niềm tin tôngiáo phương Tây và phương Đông nên họ ít sử dụng những TNKK mang tính mê
tín như chết và quan tài Đối với những người nói tiếng Quảng Đông, nam giới
nói ngôn ngữ thô lỗ dễ dàng được chấp nhận hơn nữ giới, còn nữ giới – từ khi có
sự mở cửa của xã hội – đã sử dụng TNKK nhiều hơn so với trong quá khứ
Để tìm sự tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ kiêng kịcủa nam giới và nữ giới, Gao (2008) [50] dựa trên tư liệu hội thoại của nam giới
và nữ giới trong nhóm cùng giới và lẫn giới qua hàng loạt các tập phim Sex and the City, chiếu từ năm 1998 đến năm 2004, qua kênh HBO của Mĩ Phát hiện của
nghiên cứu này là cả nam giới và nữ giới đều sử dụng ngôn ngữ kiêng kị nhiềuhơn trong hoàn cảnh giao tiếp cùng giới; trong khi đó nam sử dụng nhiều TNKKhơn nữ trong nhóm hội thoại lẫn giới Kết quả này không đồng thuận với pháthiện của Coates (2004) [38] rằng cả nam và nữ đều điều chỉnh hành vi lời nói
Trang 18của mình để phù hợp với giới còn lại Sự khác biệt giới còn thể hiện ra trong việc
sử dụng những loại TNKK khác nhau, nữ giới sử dụng những từ ngữ lăng mạthường xuyên, trong khi đó thì nam giới lại sử dụng những từ ngữ khiêu dâm
Bằng phương pháp phân tích hội thoại, Teguh (2008) [105] đã khảo sátcách sử dụng TNKK và uyển ngữ sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau của bộphim Ali G Film (đạo diễn Mark Mlyod) Để có được tư liệu tin cậy, tác giả đãnghe lại lời thoại của tất cả những phát ngôn mà có sử dụng TNKK và uyển ngữ,sau đó nhận diện và phân loại Kết quả nghiên cứu là có 3 loại TNKK được sửdụng là kiêng kị thô tục, khiêu dâm và thông tục, có 4 loại uyển ngữ: uyển ngữ
về sự chết chóc, về sự xúc phạm, về tôn giáo và tình dục Đi tìm các biến thể
ngôn ngữ học xã hội của từ fuck trong tiếng Anh Ailen từ khía cạnh tuổi và giới,
dựa vào kho ngữ liệu, Murphy (2009) [86] nhận thấy trong hội thoại hàng ngày,
fuck là từ xuất hiện với tần số cao, và đặc biệt xuất hiện nhiều trong nhóm nam giới độ tuổi 20 Biến thể fucking, dạng thay đổi cảm xúc mạnh, là mục từ có tần
số cao trong giao tiếp nhóm nam giới lứa tuổi 20 và 40 Sự tăng mạnh về cảm
xúc khi sử dụng biến thể fucking là do đặc tính giao tiếp của đàn ông Trong một
nghiên cứu tương tự khác của Murphy (2010) [87] khi tác giả khảo sát cách sử
dụng TNKK tình dục ở nhóm phụ nữ tuổi 20, kết quả cũng cho thấy fuck là từ
kiêng kị tình dục phổ biến nhất và xuất hiện với tần số cao nhất
Với mục đích phân tích, tìm ra sự tương đồng và khác biệt khi sử dụngngôn ngữ kiêng kị trong hội thoại của nhóm nữ giới, nhóm nam giới và nhóm lẫngiới của những người nói tiếng Anh ở phòng “chat”, Ningjue (2010) [91] đã thuthập 3 cuộc hội thoại trong trang mạng Palace Đây là trang mạng của người Mĩbản ngữ, gồm nhiều phòng “chat” với những chủ đề chát khác nhau, nhữngngười tham gia “chat” là những người nói tiếng Anh từ khắp nơi trên thế giới, họ
có bí danh và ảnh để biết đó là nam hay nữ Kết quả nghiên cứu cho thấy cả namgiới và nữ giới đều sử dụng TNKK theo cách khác nhau Cụ thể, trong hội thoạilẫn giới nam sử dụng nhiều TNKK hơn nữ, nam có vốn từ vựng về TNKK nhiềuhơn nữ; nam thích sử dụng những TNKK đại diện cho nam giới; cả nam và nữ
Trang 19đều sử dụng những loại TNKK khác nhau; nữ thường sử dụng những từ ngữ thôtục và không sử dụng những từ quấy rối tình dục; trong khi đó nam lại sử dụng tất
cả những TNKK, trong đó sử dụng từ ngữ khiêu dâm là chủ yếu; nam ít sử dụngTNKK trong hội thoại cùng giới; trong khi đó cả nam và nữ đều sử dụng TNKKgiống nhau trong hội thoại cùng giới
Từ góc độ tuổi, giới, và mức độ trang trọng của tình huống giao tiếp,Bakhtiar (2011) [28] cũng sử dụng bảng hỏi để điều tra mức độ kiêng kị của
những từ ngữ thuộc chủ đề đĩ điếm trong ngôn ngữ Ba Tư Hai nhân tố xã hội là
tình huống giao tiếp và giới được đưa vào khảo sát Cuộc điều tra được tiến hành
ở 30 sinh viên đại học Iran (15 nữ và 15 nam) có tuổi từ 20 đến 30 tuổi, kết quả
là cả sinh viên nam và sinh viên nữ đều cho rằng trong tình huống giao tiếp trangtrọng thì TNKK có mức độ thô lỗ cao hơn tình huống giao tiếp phi trang trọng.Trong tình huống giao tiếp trang trọng cả sinh viên nam và sinh viên nữ đều chorằng không được phép nói ra TNKK; và lối nói vòng vo là phương tiện hữu íchnhất đề nói về chủ đề kiêng kị trong ngữ cảnh trang trọng Đồng tình với quanđiểm của sinh viên nam, sinh viên nữ khẳng định trong tình huống giao tiếp phitrang trọng, TNKK là những từ thô lỗ hơn
Sử dụng cách tiếp cận “lịch sự” của Brown và Levinson (1978, 1987) làm
cơ sở cho việc phân tích những kiêng kị ngôn ngữ trong xã hội Yemen, Qanbar(2011) [93] đã khảo sát các nhóm TNKK trong các nhóm xã hội khác nhau, vàthảo luận những yếu tố tác động đến việc biểu đạt những từ ngữ gọi là kiêng kị ởcác nhóm xã hội đó, trên cơ sở đó đưa ra các nhóm từ thay thế dễ chấp nhận hơnnhóm kiêng kị ngôn ngữ như: uyển ngữ, từ trái nghĩa, ẩn dụ, v.v Tác giả chorằng, trong xã hội Yemen mức độ kiêng kị của những TNKK bị ảnh hưởng bởinhiều yếu tố khác nhau, một từ gọi là kiêng kị có ảnh hưởng khác nhau đếnnhững nhóm người hội thoại khác nhau Những từ này có thể gây sửng sốt chomột cá nhân hay một nhóm người hội thoại này, nhưng lại không gây sửng sốtđối với một nhóm khác Thời gian tồn tại cũng có vai trò nhất định, chẳng hạn
Trang 20một số từ là húy kị trong quá khứ, nhưng trải qua một giai đoạn thì tính kiêng kị
đã bị loại bỏ, ví dụ, vợ nói đến tên chồng không còn là kiêng kị như trước đây.Bản chất của từ được sử dụng cũng xác định mức độ kiêng kị, ví dụ như bộ phậnsinh dục của nữ giới thường bị coi là kiêng kị hơn so với của nam giới; các yếu
tố giáo dục, giới, bối cảnh nhân khẩu học cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc
sử dụng TNKK; tuy nhiên những vấn đề này mới chỉ được tác giả đặt ra như làgiả thuyết cho những nghiên cứu trong tương lai Chẳng hạn: những người cóhọc có vẻ sử dụng TNKK ít hơn những người không có học, đàn ông sử dụngTNKK sẽ được xã hội dễ chấp nhận hơn phụ nữ, người nông thôn dường như sửdụng TNKK liên quan tới tình dục và chức năng cơ thể nơi công cộng thườngxuyên hơn người thành phố vì họ được nuôi lớn trong cộng đồng nông nghiệpnơi có nhiều cơ hội để quan sát hành vi tình dục của động vật
Tuy nhiên, kho dữ liệu dựa trên cách tiếp cận vào các dạng thức ngôn ngữkiêng kị xuất hiện trong các hoàn cảnh giao tiếp phổ biến đã cung cấp một bứctranh về các dạng thức và các chức năng xã hội của TNKK (Stenström 1991,
2006 [99] [101]; McEnery và Xiao 2004 [80]; Murphy 2009, 2010 [86] [87]), vì
nó cho phép nhìn vào ngữ cảnh của cộng đồng giao tiếp, và ảnh hưởng của ngữcảnh vào thái độ của người nói (Jay 2000) [64] Xuất phát từ giao tiếp hội thoại quaphim ảnh (Teguh 2008 [105]; Ningjue 2010 [91]) cho thấy những đặc trưng củagiới, của tuổi; tuy nhiên những đoạn hội thoại trong phim lại là những đoạn hộithoại đã qua biên soạn nên lời nói không tự nhiên như ghi âm giao tiếp hàng ngày
Có thể nói rằng, thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu đã cung cấp mộtkhối lượng lớn công trình nghiên cứu về TNKK ở người lớn, nhưng đúng nhưJay (2009) [69] nhận định: rất ít công trình về TNKK ở trẻ em đang sinh sống tạicác cộng đồng ngôn ngữ văn hóa khác nhau trên thế giới LA này là một ví dụđặc thù nông thôn miền Bắc Việt Nam cho hiểu biết chung về sự sử dụng TNKKcủa trẻ dưới góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội
Trang 213 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của LA là đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của từngữ kiêng kị trong tiếng Việt, trên cứ liệu giao tiếp ngôn ngữ tự nhiên của trẻ em
ở làng Hoài Thị, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Đây là tư liệu ghi
âm thuộc Dự án “Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội
ở Hoài Thị năm 2001 - 2002” Dự án này là một công trình hợp tác giữa Trường
Đại học Toronto - Canada (thông qua GS Lương Văn Hy) và Viện Ngôn ngữhọc - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Với tư cách là một thành viên chính thứccủa Dự án nói trên, tôi được phép sử dụng tư liệu của Dự án cho các nghiên cứucủa mình Cho đến nay, ngoài tác giả của LA, chưa có ai khai thác mảng tư liệu
về sự sử dụng từ ngữ kiêng kị của Dự án này
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của TNKK trong tiếng Việt làmột vấn đề lớn, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và tài lực, do đó trong khuônkhổ của một LA, chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu sự sử dụng TNKK củamột nhóm trẻ em ở một cộng đồng nông thôn miền Bắc Việt Nam1 Việc khảosát sự sử dụng TNKK ở người lớn xung quanh nhóm trẻ chỉ là hỗ trợ cho việc lígiải quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em ở cộng đồng Hoài Thị Với thực tếnày, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu là những TNKK xuất hiện tronggiao tiếp tự nhiên của trẻ em (phần chọn mẫu sẽ được đề cập ở mục 5.1 dưới
1 Chúng tôi không thể nghiên cứu những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội về TNKK ở một diện rộng vì chi phí cho điều tra xã hội học rất tốn kém Ví dụ, chỉ tính riêng kinh phí chi
cho việc ghi âm ngôn ngữ tự nhiên của trẻ em ở Hoài Thị, thuộc dự án “Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị năm 2001-2002” cũng đã tốn tiền tỉ.
Trang 22đây) ở cộng đồng Hoài Thị, trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2001 đếntháng 6 năm 2002, với thời lượng ghi âm là 39 giờ, tương đương với 3600 trangA4 ghỡ băng.
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Xem xét đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của TNKK trong tiếng Việt,trường hợp giao tiếp ngôn ngữ trẻ em ở Hoài Thị, một mặt LA muốn làm rõ sựảnh hưởng của các biến xã hội như: tuổi, giới, và tình huống giao tiếp đến việc
sử dụng TNKK, góp phần làm sáng tỏ lí thuyết của ngôn ngữ học xã hội về sựảnh hưởng của các yếu tố xã hội đến ngôn ngữ ở Việt Nam; mặt khác là để tìmhiểu quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ em (thông qua khảo sát sự sử dụngTNKK cũng như thái độ, phản ứng của người lớn xung quanh nhóm trẻ), từ đókhẳng định vai trò của người lớn đối với việc xã hội hóa ngôn ngữ trẻ em ởcộng đồng Hoài Thị
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu của LA, chúng tôi đưa ra một số nhiệm vụ cơbản sau:
(i) Hệ thống hóa những nghiên cứu về TNKK từ quan điểm nghiên cứu từvựng truyền thống và quan điểm ngôn ngữ học xã hội
(ii) Hệ thống hóa lí thuyết về ngôn ngữ học xã hội: biến ngôn ngữ, biến xã hội
và mối quan hệ giữa biến ngôn ngữ và biến xã hội
(iii) Nghiên cứu trường hợp về sự sử dụng TNKK của trẻ em thuộc một cộngđồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam:
+ Miêu tả tình hình sử dụng TNKK của người dân ở Hoài Thị nóichung giai đoạn 2001-2002
Trang 23+ Miêu tả và lí giải những yếu tố xã hội như: tuổi, giới và tình huốnggiao tiếp ảnh hưởng đến sự sử dụng TNKK của trẻ em ở Hoài Thị + So sánh sự sử dụng TNKK của trẻ em với sự sử dụng TNKK củangười lớn.
+ Khảo sát phản ứng/thái độ của người lớn trước việc sử dụng TNKKcủa trẻ em để từ đó thấy được cách ứng xử và giáo dục ngôn ngữ củangười lớn đối với trẻ em ở cộng đồng Hoài Thị
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Do tính chất đặc thù của nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, nên việc thuthập và xử lí số liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng
5.1 Phương pháp thu thập tư liệu
Chọn mẫu là một trong những khâu đầu tiên trong quá trình thu thập tư
liệu được chủ nhiệm của Dự án2 thực hiện trước khi những người đi thực địa3
tiến hành ghi âm Các hộ gia đình trong diện điều tra cũng đã được cân nhắc
kĩ nhằm đảm bảo tính đại diện về giới, tuổi, giai tầng, v.v Số lượng mẫunhư sau:
2 “Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị năm
2001-2002”, của Trường Đại học Toronto - Canada, thông qua GS Lương Văn Hy, hợp tác với Viện Ngôn ngữ học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
3 Tôi là một trong những người đi thực địa để ghi âm ngôn ngữ giao tiếp tự nhiên của trẻ
thuộc Dự án “Tiến trình phát triển ngôn ngữ trong bối cảnh văn hóa - xã hội ở Hoài Thị
năm 2001-2002”.
Trang 24Ghi âm được chúng tôi thực hiện theo cách mà những người tham gia giao
tiếp không còn cảm thấy như mình đang bị quan sát để quá trình giao tiếp diễn ramột cách tự nhiên Nghĩa là chúng tôi đã phải cố gắng thâm nhập thực sự vàocuộc sống của các bé như đến lớp học cùng các bé, hay đi chơi, ăn cơm, thậm chíngủ cùng các bé để các bé cảm thấy an toàn và coi chúng tôi là những người thânthiết, từ đó các bé không còn cảm thấy ngại ngùng, e dè khi giao tiếp
Quan sát là kĩ năng được chúng tôi sử dụng trong suốt quá trình ghi âm tại
địa bàn nghiên cứu Việc tiến hành quan sát giúp chúng tôi nắm được các cáchgiao tiếp cũng như ứng xử ngôn từ của những người dân trong cộng đồng, giữacác thành viên trong gia đình, quan sát cách sinh hoạt của cộng đồng, v.v… từ
đó có thể hiểu thêm phần nào về ngôn ngữ - văn hóa của người dân nơi đây
Quan sát tham dự được chúng tôi thực hiện khi tham dự các lễ hội làng,
đám cưới, đám tang và một số hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân.Tham dự vào sự kiện văn hóa của địa phương và của các gia đình tại địa bànnghiên cứu đã giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về cách ứng xử ngôn ngữ của cộngđồng Hoài Thị
5.2 Phương pháp xử lí tư liệu
Tư liệu ghi âm ngôn ngữ tự nhiên được chúng tôi ghi âm trong vòng 2năm, từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 6 năm 2002 Cứ 4 tháng, những người đighi âm lại có nhiệm vụ quay trở lại hộ gia đình để ghi âm một lần, trong 2 nămmỗi hộ có trung bình 4 lần thu âm, mỗi lần 45 phút (4 lần x 45 phút = 180 phút),tương đương với 3 giờ thu âm Như vậy, tổng thời lượng ghi âm 13 hộ gia đình
là 2.340 phút (13hộ x 180phút/hộ), tương đương với 39 giờ ghi âm
Với thời lượng 39 giờ ghi âm giao tiếp tự nhiên của các bé trong diện điềutra được những người tham gia ghi âm giải băng thành 3.600 trang khổ A4 Dựatrên bản giải băng của Dự án, LA đã chọn ra các TNKK theo tiêu chí đưa ra ởphần quan niệm TNKK (chương 1, mục 1.2.3.)
Trang 25Để có được số liệu định lượng, LA đã sử dụng chương trình phần mềmthống kê các số liệu định lượng SPSS 11.5 để nhập các TNKK và các yếu tốtuổi, giới, nguyên nhân, mục đích của người nói, thái độ của người nghe, mốiquan hệ giữa người nói và người nghe, tình huống giao tiếp, v.v…, theo một hệthống mã nhất định [4] (xem Phụ lục Bảng mã tư liệu) Những khác biệt về tuổi,
giới, thái độ của những người giao tiếp với trẻ, nguyên nhân, mục đích của việc
sử dụng TNKK và tình huống giao tiếp sẽ được chạy trên chương trình phầnmềm SPSS này, các bảng chéo chỉ có giá trị thống kê khi chúng được kiểm địnhqua chỉ số Chi-square5
Để hậu thuẫn cho những số liệu định lượng, LA đã sử dụng thêm cácphương pháp khác như: phân tích định tính (điền dã dân tộc học), phân tích hộithoại, so sánh và miêu tả
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
6.1 Về lí thuyết
- LA góp phần minh định khái niệm TNKK trong Việt ngữ học
- Đóng góp cho ngôn ngữ học xã hội một ví dụ đặc thù của nông thônmiền Bắc Việt Nam về đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của TNKK trong giaotiếp hàng ngày
6.2 Về thực tiễn
- LA cung cấp một bức tranh sinh động, rõ nét và đáng tin cậy về sự sửdụng TNKK của trẻ em ở một cộng đồng nông thôn miền Bắc Việt Nam giaiđoạn 2001-2002 thông qua việc liệt ra một danh sách TNKK, tần suất xuất hiện,mục đích sử dụng, các nhân tố ảnh hưởng, sự sử dụng TNKK và thái độ củangười lớn xung quanh trẻ trong cộng đồng
- Với việc góp phần nhận thức lại vai trò/vị trí của lớp TNKK trong hệthống từ vựng tiếng Việt, có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu thực hành biên
4 Bảng mã hóa chủ yếu dựa vào bảng mã của Nguyen, Thi Thanh Binh (2002) [90].
5 Chi-square là thuật ngữ trong thống kê học, các kết quả chỉ có giá trị thống kê khi p > 0.5
Trang 26soạn từ điển ngôn ngữ nói chung, và từ điển TNKK nói riêng, từ đó giúp cho việctra cứu dịch thuật và học tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ hay ngoại ngữ
- Kết quả của LA còn có một ý nghĩa thực tiễn quan trọng là hướng tớiviệc khuyến cáo giáo dục ngôn ngữ, văn hóa giao tiếp về lời ăn tiếng nói cho trẻ
em nói chung và trẻ em cộng đồng Hoài Thị nói riêng
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
LA, ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm 4 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận Chương này sẽ trình bày những quan niệm về
TNKK của các tác giả trong nước và ngoài nước, từ đó đưa ra quan niệm của LA
về TNKK Ngoài ra, trong chương này chúng tôi cũng trình bày một số kháiniệm có liên quan lí thuyết về ngôn ngữ học xã hội làm cơ sở triển khai nghiêncứu cho những chương sau
Chương 2: Khái quát tình hình sử dụng từ ngữ kiêng kị ở Hoài Thị.
Trên cơ sở khái niệm TNKK và hướng tiếp cận ngôn ngữ học xã hội về TNKK
đã được xác định ở chương 1, chương này xác lập danh sách TNKK, tiến hànhphân loại TNKK, thống kê tần suất xuất hiện,TNKK và các nhóm TNKK, phântích mục đích sử dụng các TNKK làm cơ sở cho việc xem xét các nhân tố tácđộng sự sử dụng TNKK của trẻ ở các chương sau
Chương 3: Ảnh hưởng của tuổi và giới đến sự sử dụng từ ngữ kiêng
kị Từ góc độ tuổi và giới, LA tiến hành khảo sát sự sử dụng TNKK của trẻ em ở
Hoài Thị nhằm đưa ra những khác biệt về giới và tuổi của các bé trong việc sửdụng TNKK; đồng thời khảo sát vai trò của môi trường ngôn ngữ xung quanh trẻ
và phản ứng/ thái độ của người lớn trước việc sử dụng TNKK của trẻ nhằm tìmhiểu cách người lớn ứng xử và giáo dục trẻ em ở cộng đồng Hoài Thị
Chương 4: Ảnh hưởng của tình huống giao tiếp đến sự sử dụng TNKK Chương này sẽ tìm hiểu việc sử dụng TNKK của trẻ em Hoài Thị trong
các tình huống giao tiếp trẻ chơi trong nhóm cùng giới và trẻ chơi trong nhómlẫn giới; với các mức độ trang trọng/phi trang trọng của tình huống giao tiếp; vàtrong mối quan hệ vị thế với những người tham gia giao tiếp
Trang 27xã hội có liên quan đến cách tiếp cận ngôn ngữ học xã hội về TNKK nói chung
và việc sử dụng TNKK của trẻ em nói riêng làm cơ sở triển khai nghiên cứu ởnhững chương sau của luận án
Về mặt từ nguyên, kiêng kị (taboo) [6] là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếngtiếng Tongan tabu (hoặc tapu) [105], có nghĩa là bị cấm Các từ điển giải thích
kiêng kị như sau:
kiêng [12] đg 1 Tự ngăn cấm mình, tránh không ăn, không dùng những
thức ăn nào đó, vì có hại hoặc cho là nó có hại cho sức khỏe Kiêng rượu.
Chế độ ăn kiêng Kiêng ra gió 2 Tránh điều gì, cái gì, vì sợ có điều không
hay, theo tôn giáo, tín ngưỡng Kiêng quét nhà sang mồng một Tết Kiêng con số 13 (tránh những gì có quan hệ với con số 13) Kiêng húy (tránh gọi
6 Trong tiếng Việt, tùy theo những quan điểm và phạm vi nghiên cứu mà thuật ngữ này còn được
gọi bằng các tên như cấm kị, kiêng kị hay kiêng tránh
Trang 28tên húy) 3 (thường dùng trong câu có ý phủ định) Tránh động chạm đến, vì nể
sợ Hắn có kiêng ai đâu? Đến thánh thần nó cũng chẳng kiêng.
kiêng kị cv kiêng kỵ [12] đg 1 Kiêng (nói khái quát; thường nói về
phong tục, tín ngưỡng hoặc điều mê tín) Từ kiêng kị* 2 (kng.; dùng trong
câu có ý phủ định) Nể sợ, giữ gìn Anh ấy nói bừa, chẳng kiêng kị điều gì.
cấm kị cv cấm kỵ [12] đg (thường dùng phụ sau danh từ.) Bắt phải
kiêng tránh (nói khái quát) Điều cấm kị.
Theo bách khoa thư [104]: Kiêng kị bao hàm nhiều cách hiểu, nhưng nhìnchung có nghĩa là điều gì đó bị cấm kị, chẳng hạn tên của Chúa, ma quỷ, cáichết, lời nguyền rủa, bệnh tật, sự lụn bại, các chất bài tiết, sự giao hợp, v.v…Teguh (2008) [105] cho rằng thuật ngữ kiêng kị có ý nghĩa rất rộng, nhưng nóichung dùng “để chỉ một thứ bị cấm, khi bất cứ thứ gì bị cấm ăn, cấm sử dụng,hoặc cấm làm họ gọi chúng là kiêng kị"
Về cơ bản thì việc dùng khái niệm kiêng kị, kiêng tránh hay cấm kị đều
hướng tới việc không nên dùng/nói/làm để tránh những hậu quả không hay cóthể xảy ra Từ những kiêng kị trong đời sống của con người nói chung, xuất hiệnnhững kiêng kị trong lời nói Phần dưới đây chúng tôi sẽ nêu lên những quanđiểm khác nhau về TNKK của các từ điển cũng như các tác giả nghiên cứu trênthế giới và trong nước
1.2 QUAN NIỆM VỀ TỪ NGỮ KIÊNG KỊ
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về TNKK Mỗi một xã hội khác nhauđều có những hệ thống TNKK riêng phụ thuộc vào niềm tin và giá trị văn hóacủa xã hội đó
1.2.1 Quan niệm của các tác giả ngoài nước về từ ngữ kiêng kị
Các từ điển giải thích tiếng Anh định nghĩa taboo words (từ ngữ kiêng kị)như sau:
Trang 29taboo words [92] những từ được xem là thô bỉ, xúc phạm, gây sửng sốt hoặc
không đứng đắn bởi một nhóm người hay một cộng đồng nào đó
taboo words [77] những từ mà mọi người tránh dùng vì chúng là những
từ thô bỉ hoặc gây bối rối cho người khác
Các tác giả nước ngoài cũng có ít nhất hai quan niệm rộng, hẹp khácnhau về TNKK
Hiểu theo quan niệm rộng: Theo quan niệm rộng, các tác giả đều nhận địnhrằng TNKK là những từ ngữ thô lỗ hoặc gây sửng sốt cho người nghe
Nhà nhân chủng học, Leach (1966) [dẫn theo 86: tr.15] đã cho rằng trongtiếng Anh, TNKK gồm 3 loại cơ bản: (i) Những từ bẩn (dirty words) liên quan
đến tình dục và chửi rủa, như bugger (giao hợp), shit (cứt), fuck (đéo, địt) (ii) Những từ thuộc về tôn giáo nhà thờ như Christ và Jesus (iii) Những từ sử dụng
tên động vật (animal abuse) (gọi tên người nào đó bằng tên động vật), ví dụ:
bitch (chó đẻ), cow (bò cái)
Andersson và Trudgill (1990) [25] sử dụng thuật ngữ “chửi thề”(swearwords) và TNKK để thay thế cho nhau Stenström (1991) [99] sử dụng
khái niệm “tục tĩu” (expletive) để nói về hàng loạt các TNKK như Jesus, bloody (đồ chết tiệt), bastard (đồ thối thây/đồ con hoang), shit (cứt).
Jay (1992) [62] cho rằng TNKK là những từ ngữ liên quan đến tình dục,chết chóc, các bộ phận nhạy cảm của cơ thể Để thay thế những TNKK, có thể
dùng uyển ngữ, chẳng hạn make love sẽ dùng thay cho từ kiêng kị have sex, passed away thay cho từ kiêng kị died Cũng khẳng định TNKK là những từ ngữ
thô lỗ, Apte (1994) [26: tr.4512] cho rằng TNKK là: (i) những từ chửi thề vànguyền rủa, chẳng hạn: những từ mà khi nói ra liên quan quan đến chửi rủa, đến
sự bất hạnh hoặc thiếu tôn trọng người nghe; (ii) những từ tục tĩu, ví dụ những từliên quan đến bộ phận sinh dục và hành động tình dục; (iii) những tiếng chửi tục
(four-letteres words): cunt (lồn), fuck (địt), shit (cứt), và cock (cặc); (iv) những từ
bẩn, chẳng hạn: những từ liên quan đến bộ phận sinh dục, hành động tạo chất thải
và chất thải (menstrual fluid (kinh nguyệt), faece (phân), v.v…)
Trang 30Trong một tác phẩm khác, Jay (2000) [64: tr.25] dùng thuật ngữ “chửirủa” (cursing) để nói về TNKK, và chia TNKK thành nhiều loại: chửi thề, tụctĩu, thô tục, báng bổ, gọi tên cá nhân, xúc phạm, gây hấn bằng lời, nói xấu dântộc - sắc tộc, tiếng lóng Vì cũng quan niệm TNKK là những lời tục tĩu, là lờichửi rủa, là lời lăng mạ, nên Trudgill (2000) [111: tr.18] cho rằng: TNKK “làđiều mà bạn không thể nói ra trước mặt ông bà” Tuy vậy, tác giả lại nhận địnhrằng trong thực tế giao tiếp, TNKK vẫn luôn luôn tồn tại, thậm chí phát triển vìnếu không cũng sẽ khó mà nói là ngôn ngữ đang được duy trì
Khi bàn về các biến thể ngôn ngữ, Akmajian và các cộng sự (2001) [23:tr.306], quan niệm TNKK là những từ nguyền rủa, báng bổ, chửi thề hay lànhững lời nói thô lỗ, tục tĩu Đó là những từ không nên thốt ra, hoặc không nêndùng trong ngữ cảnh giao tiếp lịch sự, chúng bị coi là những từ không thích hợp,
vô đạo đức, hoặc bị cấm do một thế lực siêu nhiên Ví dụ điển hình cho những
TNKK là những từ như Damn! (chết tiệt!) hoặc shit! (cứt!)
Gắn với ngôn ngữ lịch sự trong giao tiếp, Crystal (2003) [40: tr.172] chorằng TNKK bao gồm cả những đơn vị ngôn ngữ mà mọi người tránh sử dụngtrong xã hội lịch sự vì chúng là những từ thô thiển, xúc phạm Trong tiếng Anh,TNKK thường liên quan đến (i) tôn giáo, chết chóc và những vấn đề không maymắn, (ii) các bộ phận nhạy cảm, (iii) chức năng bài tiết và những chất uế tạp từ
cơ thể, (iv) hành vi tình dục, (v) lời nói xúc phạm và (vi) khái niệm chủng tộc
Đồng quan điểm với Trudgill (2000), Akmajian và các cộng sự (2001),Battistella (2005) [29: tr.38] thừa nhận TNKK là ngôn ngữ thô bỉ, tục tĩu, báng
bổ, thô tục và khiêu dâm Tuy nhiên, tác giả còn cho rằng khó có thể phân địnhTNKK thành các loại một cách rạch ròi, vì giữa chúng luôn có sự đan xen.Chẳng hạn, khi nguyền rủa một người, cũng có thể dùng những từ ngữ để lăng
Trang 31hành động tình dục: fuck (địt), blow job (bú buồi), bugger (quan hệ tình dục bằng hậu môn) và screw (giao hợp); các chức năng bài tiết và chất uế tạp từ cơ thể, ví dụ: shit (cứt), piss (nước đái), fart (đánh rắm) và crap (ỉa; các khái niệm chủng tộc: frog (người Pháp - miệt thị), nigger (mọi đen), wop (người Ý - miệt thị) và dago (người Ý, người Tây Ban Nha, người Bồ Đào Nha - miệt thị), những
từ ngữ xúc phạm trực tiếp đến con người: bitch (chó cái), bastard (đồ thối thây/đồ con hoang), cocksucker (đồng tính luyến ái), motherfucker (địt mẹ) và whore (con đĩ); và cuối cùng là những từ ngữ liên quan đến tôn giáo, chết chóc
và những điều không may mắn: Jesus, God, và goddamn (mẹ kiếp, chết tiệt).
Hiểu theo quan niệm hẹp: Theo quan niệm hẹp, hầu hết các nhà nghiêncứu đều cho rằng TNKK là những từ ngữ liên quan đến tôn giáo
Freud (1950) [49] và Steiner (1975) [98] có cùng quan điểm và cho rằngTNKK là những từ ngữ thuộc về tôn giáo Theo đó, kiêng kị lời nói (verbaltaboo) là những từ ngữ: (i) gọi tên cá nhân, (ii) tên chúa trời, (iii) tên của vua vànhững vị thần kinh thiêng, (iv) tên của người chết, (v) tên của các mối quan hệ,
và (vi) những từ thông thường, bao gồm những kiêng kị đặt tên của đối tượngliên quan đến nghề nghiệp khác nhau, tên của những động vật nguy hiểm, v.v…Còn Ullman (1962) [113: tr.30] cũng cho rằng những từ ngữ coi là kiêng kị lànhững từ ngữ liên quan đến hoạt động tình dục, những gì bẩn thỉu và tôn giáo, ví
dụ: fuck (đéo/địt), shit (cứt), Jesus
Với Swan (1995) [103: tr.535] thì TNKK là từ ngữ linh thiêng, ma lực,hoặc gây sốc do một nhóm người sử dụng trong những hoàn cảnh giao tiếp nhấtđịnh, thường trong hoàn cảnh giao tiếp phi trang trọng TNKK thường được chia
làm 4 nhóm chính: thuộc nhà vệ sinh (cứt, đái, ỉa, rắm, v.v…); bộ phận nhạy cảm của cơ thể (mông, đít, vú, v.v…), tôn giáo (Ghosh, Christ, Jesus Christ, v.v…); hành động và kết phẩm tình dục (địt, đéo, thủ dâm, con hoang, v.v…).
Mbaya (2002) [79] định nghĩa TNKK là những từ ngữ xúc phạm, báng bổcác đấng siêu nhiên, thần thánh TNKK này là kết quả của sự vô đạo đức, do đóchúng bị tránh sử dụng để không làm tổn thương người khác trong xã hội
Trang 32Còn Troike (2003) [107] đã chỉ trích mạnh mẽ TNKK, và nêu bật rằngnếu vi phạm những kiêng kị ngôn ngữ của cộng đồng có thể bị xử phạt bằng sự
ốm đau hoặc chết chóc Kemdirim (2009) [70] thì coi TNKK là thứ ngôn ngữ bịtránh sử dụng trong ngữ cảnh nghi lễ linh thiêng
Wardhaugh (2006) [116: tr.239] khi phân biệt khái niệm TNKK và uyểnngữ, đã nhận định TNKK là những từ ngữ liên quan đến tình dục, chết chóc, cácchất bài tiết của cơ thể, các vấn đề về tôn giáo và chính trị Trong quá trình sửdụng ngôn ngữ, con người không nên vi phạm các quy tắc ngôn ngữ, đặc biệt là
sử dụng những từ ngữ báng bổ tôn giáo sẽ bị các thế lực siêu nhiên trừng phạt
Quan niệm TNKK gắn với tôn giáo và đạo lí trong xã hội, Qanbar (2011)[93] khi nghiên cứu về những TNKK trong xã hội Hồi giáo, đã chia TNKKthành 2 nhóm: TNKK phổ thông và TNKK dựa vào ngữ cảnh TNKK phổ thông
là những từ ngữ chỉ bộ phận kín của cơ thể con người hoặc các chức năng và
chất thải của chúng (menstrual fluid (hành kinh), snot (nước mũi), faece (phân), v.v…); những từ ngữ báng bổ hoặc từ chống lại những nhân vật hoặc biểu tượng
tôn giáo TNKK dựa vào ngữ cảnh là những từ ngữ bình thường vốn không phải
là TNKK, nhưng trong những trường hợp nhất định, chúng lại là những TNKK,
ví dụ: dog (con chó), pig (con lợn), cow (con bò), v.v…; hoặc những từ ngữ liên quan đến những khiếm khuyết của con người về thể chất hoặc xã hội: blindness (mù) (nói trước một người mù), divorced (li dị) (nói trước một người đã li dị)
Từ những quan điểm rộng và hẹp khác nhau về TNKK có thể thấy ở trên,
có thể thấy TNKK có những đặc điểm sau:
Đặc điểm thứ nhất:
TNKK phải tránh sử dụng trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định Đâycũng là những quan điểm đáng lưu ý trong ý kiến của các tác giả Akmajian,Dermers, Farmers và Harnish (2001) [23: tr.306]
Đối với Trudgill (1974a) [108], TNKK là bất kì từ nào không được phépnói, đặc biệt là những từ ngữ tồn tại trong một xã hội nhất định và hoàn cảnhgiao tiếp nhất định Apte (1994) [26: tr.4512] là một trong những tác giả nhìn
Trang 33nhận TNKK là những từ ngữ bị tránh sử dụng vì chúng không thích hợp trongphong cách ngôn ngữ thông thường, là những từ ngữ thô bỉ bị cấm sử dụng trongngôn ngữ nơi công cộng Chia sẻ quan điểm với Apte (1994), Jay (1996) [dẫn theo120] cho rằng mỗi một xã hội đều có những phép tắc riêng nên mặc dù TNKK xuấthiện trong hầu hết các ngôn ngữ, nhưng thường không được dùng tự do Và nếu sửdụng những TNKK, có thể sẽ bị trừng phạt hay bẽ mặt nơi công cộng
Diez (2008) [41] cho rằng TNKK là những từ ngữ liên quan đến tình dục,tôn giáo, hành vi tiểu tiện và đại tiện Ông nhấn mạnh TNKK là những từ ngữ màmột số người cho là tồi tệ (bad taste) và tốt hơn cả là nên tránh sử dụng vì chúng
Khi nghiên cứu để định nghĩa các mục từ TNKK trong từ điển đơn ngữIsichazamazwi của Ndebele, Moyo (2005) [85: tr.4] cho rằng TNKK liên quanđến những hành vi bị cấm hoặc nên tránh Theo tác giả, có sự khác nhau về mặt
từ ngữ ở các nền văn hóa, và đối với văn hóa Ndebele thì TNKK là những từ ngữliên quan đến hành động/ hoạt động tình dục, bộ phận tình dục và chức năng tựnhiên của cơ thể Tác giả nhấn mạnh: "kiêng kị là một trong những cách thức xãhội thể hiện sự phản đối với một số hành vi nhất định…vì những hành vi đó làxâm phạm các nguyên tắc đạo lí", do đó những TNKK thường không được xãhội chấp nhận
Trang 34Wardhaugh (2006) [116: tr.238] cho rằng điều gì đó không được nói rakhông phải vì chúng không thể nói ra, mà vì con người không nói ra hoặc nếu cónói, họ cũng tìm cách để nói vòng vo Ông cũng khẳng định thêm rằng nhữnguyển ngữ cho phép con người nói về những điều khó chịu để che giấu hoặc vôhiệu hóa những sự không hài lòng/không đồng tình Do đó, thay vì sử dụngTNKK, con người có thể sử dụng uyển ngữ, thành ngữ, ẩn dụ, đồng nghĩa và tráinghĩa Tuy nhiên, trong phong trào đòi tự do ngôn luận, có những người sẵn sàngphá bỏ những kiêng kị, cho chúng là phi lí và không thích hợp Cùng thời gian đó,
Le and Le (2006) [75] cũng khẳng định mức độ kiêng tránh của những TNKK phụthuộc vào những giá trị và niềm tin văn hóa của cộng đồng ngôn ngữ đó
1.2.2 Quan niệm của các tác giả trong nước về từ ngữ kiêng kị
Ở Việt Nam tồn tại hai quan niệm khác nhau về TNKK
Quan niệm thứ nhất: TNKK là những từ ngữ không được sử dụng vì
chúng liên quan đến lí do tôn giáo và văn hóa Đây cũng là quan niệm của các từđiển tiếng Anh và Từ điển bách khoa toàn thư:
từ kiêng kỵ n taboo word: Các từ kiêng kỵ thường liên quan đến tình
dục, cơ thể hoặc chủng tộc Taboo words usually refer to sex, the body or
people’s race [21]
taboo words những từ có thể bị một số người (tuy không nhất thiết là tất
cả mọi người) coi là có tính chất xúc phạm hoặc khiếm nhã [18]
từ kiêng kị các từ không được sử dụng do những nguyên nhân tín
ngưỡng, mê tín hoặc được nói tránh đi vì lí do văn hoá lời nói Ví dụ, nằm bếp thay cho sinh đẻ; quy tiên hoặc đi xa thay cho chết, v.v… [22]
Có cùng quan niệm với các từ điển nói trên, Nguyễn Đức Dân (2005) [4:tr.43], ở một khía cạnh nào đó thì TNKK mang nghĩa tiêu cực, vì đó là: (i)
những điều không ai mong muốn, là những từ nói về bệnh tật và cái chết, khiếm
khuyết của cơ thể cũng như tinh thần; (ii) những từ nói về những cái mà người
ta cần che giấu đi: bộ phận sinh dục và hành động tình dục, ví dụ: vú (ngực của phụ nữ), mông, đít, âm hộ, thủ dâm, gái mại dâm, con hoang; (iii) những chất
Trang 35uế tạp và những hành động tạo ra những chất uế tạp, chẳng hạn như: cứt, đi ỉa,
đi đái, đánh rắm…; (iv) những từ liên quan đến văn hóa, phong tục, niềm tin
hàng ngày: ví dụ những từ cấm kị trong một số nghề nghiệp có rủi ro lớn như đi biển, săn bắn…, ví dụ người Việt gọi con hổ là ông ba mươi vì họ tin rằng
muông thú cũng có linh hồn, chúng có thể nghe và hiểu tiếng người nên trước
khi đi săn không được nhắc đến tên cũng như các đồ nghề săn bắn (v) những từ mang tính khuôn phép, không được phép nói ra, đó là những từ kị húy.
Còn Nguyễn Thiện Giáp (2010) [5: tr.232] cho rằng TNKK “là những từ
bị cấm do tín ngưỡng dân gian, mê tín dị đoan cũng như do nhu cầu diễn đạt taonhã, tránh diễn đạt thô lỗ, không lịch sự được gọi là từ kiêng kị”
Với quan niệm rộng về TNKK, Nguyễn Đức Dân (2005) [4] đã thay đổimột cách nhìn về TNKK trong giới Việt ngữ học, vốn trước kia chủ yếu chỉ đượchiểu là kị húy
Quan niệm thứ hai: Những tác giả theo quan niệm này cho rằng TNKK
là những từ ngữ dùng thay cho một từ ngữ khác do kiêng tránh, đây cũng là quanniệm của hầu hết các từ điển giải thích tiếng Việt
từ kiêng kị cv từ kiêng kỵ d Từ dùng thay cho một từ khác do kiêng tránh
[12: tr.1072]
từ kiêng kị từ dùng thay cho một từ khác do kiêng tránh [13]
Cả hai cách định nghĩa trên đều tương tự với quan niệm của các tác giả
Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến (1997) [2], cho rằng từ
kiêng kị là nói tránh tên vì một lí do nào đó về mặt xã hội Trong cuộc sống, conngười thường kiêng, tránh một từ nào đó và muốn thay thế bằng một từ khác, vì
“nó động chạm đến một niềm sùng tín, dị đoan; hoặc cũng có thể chỉ vì một sựxấu hổ, ngại ngùng nào đó mà từ có thể gây nên”
Tác giả Nguyễn Văn Khang (2012) [9: tr.318] cũng có cách nhìn nhậngiống với những quan niệm vừa đề cập khi nhận định “Với tư cách là một thuậtngữ chuyên dùng để chỉ những hiện tượng xã hội đặc thù (mang tính kiêng kị),
taboo bao gồm hai mặt: một mặt là các sự vật được tôn kính không cho phếp sử
Trang 36dụng và mặt khác là các sự vật “đáng khinh bỉ” không được tùy tiện tiếp xúc Vì
thế, cái gọi là taboo thực chất cũng bao gồm hai mặt: một mặt là bái vật giáo
(totem) ngôn ngữ và hai là các uyển ngữ hoặc các từ ngữ chỉ tên gọi các sự vật,hành động “đáng khinh bỉ ”
Với quan niệm thứ nhất (là cách hiểu về TNKK của các từ điển giải
thích tiếng Anh [21] [18], Từ điển bách khoa toàn thư [22], Nguyễn Đức Dân [4]
và Nguyễn Thiện Giáp [5]… thì TNKK chính là những từ ngữ không được nói
ra vì những lí do tôn giáo hay văn hóa, như những ví dụ ở cột (1), bảng 1.1
Với quan niệm thứ hai (là cách hiểu về TNKK của các từ điển giải thích
tiếng Việt [12], [13] và một số tác giả như Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu vàHoàng Trọng Phiến [2]; Nguyễn Văn Khang [9]…) thì TNKK là những từ ngữdùng để thay thế cho những từ ngữ khác do kiêng tránh, như những ví dụ ở cột(2), bảng 1.1
Bảng 1.1 Các ví dụ minh họa cho hai quan niệm TNKK ở Việt Nam
TNKK
Ngôn ngữ
(1)
Từ ngữ không nói
(2)
Từ ngữ thay thế
Tiếng Việt cá voi cá ông, cá ông voi
Tiếng Việt cá voi chết ông lụy
Tiếng Việt chết qua đời, quy tiên, đi xa
Tiếng Việt thì gian thời gian [5]
1.2.3 Quan niệm của luận án về từ ngữ kiêng kị
LA của chúng tôi kế thừa các thành quả nghiên cứu về TNKK của các tácgiả trong nước và ngoài nước, chấp nhận quan niệm về TNKK của Nguyễn Đức
Dân: “TNKK là những từ mà khi dùng sẽ bị coi là “xúc phạm”, “sỉ nhục”, hoặc
“vô lễ” vì chúng đã đề cập đến những vấn đề cấm kị” [4: tr.43], vì nó tương đối
gần với:
Trang 37(i) Quan niệm thứ 1 của các tác giả trong nước nghiên cứu về TNKK, coiTNKK là những từ không được nói ra vì những lí do nhất định
(ii) Định nghĩa của các từ điển giải thích tiếng Anh [18], [21] và [22]
(iii) Các quan niệm về TNKK của các tác giả nước ngoài, cho rằng TNKK
là những từ ngữ bị cấm hoặc hạn chế sử dụng do phong tục hay vănhóa của xã hội (Wardhaugh 2006 [99]; Moyo 2006 [72], v.v );TNKK là những từ ngữ bị coi là thô bỉ và không lịch sự (Jay 2009[60]; Akmajian và các cộng sự 2001 [23]; Qanbar 2011 [78]; Crystal
2003 [39]; Tsang 2005 [95]; v.v…)
Trên cơ sở quan niệm của Nguyễn Đức Dân về TNKK, chúng tôi xác địnhcoi TNKK là: (i) những từ ngữ kị húy; (ii) những từ ngữ bị cho là cần phải kiêngtránh, bao gồm trong đó những từ tục, từ bậy, chửi thề); (iii) những từ ngữ khôngthích hợp nếu sử dụng trong một số hoàn cảnh giao tiếp nhất định vì chúng có khảnăng gây ra phản cảm
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC XÃ HỘI LIÊN QUANCÁCH TIẾP CẬN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.3.1 Vài nét thông tin chung về ngôn ngữ học xã hội
Vào thập kỉ 70 của thế kỉ trước, ngôn ngữ học xã hội chính thức trở thànhmột chuyên ngành của ngôn ngữ học Có thể nói, công trình nghiên cứu các cáchphát âm âm vị /r/ của người New York mà Labov trình bày tại hội nghị thườngniên của Hội ngôn ngữ học Hoa Kì tháng 12 năm 1962 (và xuất bản năm 1963)[71] là công trình chính thức khai sinh ra chuyên ngành non trẻ đó của ngôn ngữhọc Từ đó đến nay ngôn ngữ học xã hội phát triển rộng khắp - vượt ra khỏi biêngiới Hoa Kì để có mặt ở tất cả các châu lục khác - và gặt hái được nhiều thànhquả đáng kể (tham khảo Mesthrie 2011 [83] và Wodak, Johnstone & Kerswill
2011 [121])
Chambers (2013) [36] nhận định rằng, thành công và ảnh hưởng của ngônngữ học xã hội có được là do mô hình nghiên cứu của Labov đã đưa vào ngônngữ học thời đó 3 điểm rất mới Một là, chú trọng sự tương liên của các biến
Trang 38ngôn ngữ với giai tầng, tuổi, giới và những yếu tố xã hội khác Hai là, nhìn nhậnyếu tố “phong cách” (style) như một biến độc lập Ba là, dự đoán tiến trình biến đổingôn ngữ theo thời gian trung bình (apparent time) [7] Chambers cho rằng, cả bađiểm này, cho đến hiện nay, vẫn là dấu ấn chất lượng của ngôn ngữ học xã hội.
Ngôn ngữ học xã hội thu hút sự quan tâm của giới ngôn ngữ học còn vì:khi đó, người ta đã cảm thấy sự hạn chế của ngôn ngữ học cấu trúc, trường phái
đã coi đời sống ngôn ngữ sinh động là một mớ hỗn tạp, đa diện, không thể phânloại được và do đó không thể nghiên cứu được Khu vực cấm kị đó đã được cácnhà ngôn ngữ học xã hội gỡ bỏ khi họ cho rằng, sự hỗn tạp của lời nói là một sự
“hỗn tạp có trật tự” (orderly heterogeinity) và “điểm mấu chốt của một quanđiểm có lí về biến đổi ngôn ngữ - thực ra cũng là quan điểm về bản thân ngônngữ - là khả năng mô tả những khác biệt có trật tự trong một ngôn ngữ đangphụng sự cho một cộng đồng” (Weinreich, Labov, Herzog 1968) [117: tr.100]
Ví dụ, ngôn ngữ học cấu trúc sẽ lúng túng khi giải thích tại sao từ “chó đẻ” trong câu “Bố anh là đồ chó đẻ” lại là từ cần kiêng tránh còn trong câu “Nhà này có chó đẻ” lại là từ hoàn toàn trung tính Trong khi đó, bằng cách đặt từ “chó đẻ”
vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, ngôn ngữ học xã hội hoàn toàn có thể lí giải điềunày một cách dễ dàng
Như vậy, trong khi ngôn ngữ học cấu trúc chủ trương nghiên cứu ngônngữ tách rời với hoàn cảnh giao tiếp thì ngôn ngữ học xã hội coi đối tượngnghiên cứu của mình là ngôn ngữ trong sử dụng, tức là trong hoàn cảnh giao tiếp
cụ thể Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội có thể là một hoặc nhiềuđơn vị của các bình diện ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp hoặc mộthiện tượng ngôn ngữ khác Các đơn vị ngôn ngữ được coi là những biến phụthuộc vào những biến độc lập như giai tầng, tuổi, giới, phong cách… Bởi vìngôn ngữ học xã hội nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội nên nócũng khảo cứu hành vi ngôn ngữ như một chức năng của các biến xã hội TNKK
7 Trước đó, tiến trình biến đổi ngôn ngữ chỉ lộ diện trong các nghiên cứu lịch đại Ngôn ngữ học xã hội cho phép dự đoán tiến trình biến đổi ngôn ngữ trong các nghiên cứu đồng đại thông qua khảo sát ngôn từ của những người ở các nhóm tuổi khác nhau.
Trang 39là một là một trường hợp thú vị của ngôn ngữ học xã hội bởi vì nghĩa TNKKkhông dễ hoặc không thể xác định được nếu tách chúng ra khỏi ngữ cảnh giaotiếp Điều này hoàn toàn thay đổi nếu ta nghiên cứu chúng trong mối quan hệ vớicác yếu tố xã hội tạo nên hoàn cảnh giao tiếp Vì vậy, tiếp cận TNKK từ góc độngôn ngữ học xã hội là một hướng nghiên cứu nhiều hứa hẹn.
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội
Coi ứng xử ngôn ngữ trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể là đối tượng củamình nên nhà ngôn ngữ học xã hội không có cách nào thu thập tư liệu khác hơn
là đi tới cộng đồng ngôn ngữ mà mình dự định khảo cứu, tức là đi điền dã Mụcđích của việc đi điền dã là để tìm hiểu đặc điểm văn hóa xã hội cũng như cáchứng xử ngôn từ của cộng đồng đó
Ngôn ngữ học xã hội dùng các thủ pháp khác nhau để thu thập tư liệu, ví
dụ như phỏng vấn, dùng bảng hỏi, ghi âm các cuộc giao tiếp cũng như ghi chép
về hoàn cảnh giao tiếp thường ngày của các thành viên cộng đồng… Nhằm bảođảm tính khách quan và tính đại diện cho cộng đồng của tư liệu thu thập, ngườinghiên cứu phải chọn mẫu sao cho đại diện mọi tấng lớp lứa tuổi, giới, thu thập
tư liệu trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp khác nhau Nguyên tắc thu thập tư liệungôn ngữ học xã hội được Labov diễn tả như sau: “Mục đích của chúng tôi làquan sát cách thức con người sử dụng ngôn ngữ trong hoàn cảnh họ không bịquan sát” (Labov 1972) [74: tr.61] Công việc hậu điền dã cũng rất nặng nề:người nghiên cứu phải giải băng, mã hóa, nhập dữ liệu v.v…
Tư liệu ngôn từ lại cần được bổ sung bằng những tư liệu do người nghiêncứu quan sát ghi chép về những mối quan hệ phức tạp đan chéo nhau, các sựkiện xảy ra trong quá khứ cũng như tại thời điểm nghiên cứu ở cộng đồng để có
tư liệu về văn hóa xã hội của từng cá thể được nghiên cứu cũng như của cả cộngđồng Việc này rất tốn kém về tài lực Do đó, các nghiên cứu ngôn ngữ học xãhội thường giới hạn đối tượng nghiên cứu của mình ở một nhóm người nhất địnhtrong một cộng đồng tương đối thuần nhất
Trang 40Các nhà ngôn ngữ học xã hội thường đặt ra câu hỏi là cần bao nhiêu ngườimới đủ để cho một nghiên cứu có giá trị về mặt khoa học Theo Feagin (2013)[47], câu trả lời đơn giản là càng nhiều thì kết quả nghiên cứu càng thuyết phục.Nhưng, để đảm bảo yêu cầu về tư liệu theo hướng ngôn ngữ học xã hội, mỗingười có đến hàng trăm, thậm chí nhiều trăm yếu tố khác nhau nên tùy theo tàilực và mục đích của từng công trình nghiên cứu cụ thể, các nhà nghiên cứu cần
giới hạn một số lượng nhất định để công trình của mình mang tính khả thi.
Feagin cho rằng mỗi ô đại diện cho một yếu tố cần ít nhất là 5 người Ví dụ,muốn tìm hiểu ảnh hưởng của giới đến ứng xử ngôn từ thì cần thu thập tư liệungôn từ của ít nhất là 5 người nam và 5 người nữ
Đối tượng của LA này được giới hạn trong cách sử dụng TNKK của 26 bétrai và bé gái ở độ tuổi từ 3 tuổi đến 10 tuổi ở Hoài Thị (phần mở đầu, mục 5.1)
và cách sử dụng TNKK của người lớn nuôi dạy các bé để thấy được quá trìnhphát triển ngôn ngữ trẻ em qua việc sử dụng TNKK
Do sự tốn kém về tài lực nên nhiều nghiên cứu ngôn ngữ học xã hộikhông thu thập được ngôn ngữ giao tiếp tự nhiên mà thông qua phỏng vấn, đọcbảng từ, trả lời bảng hỏi v.v… Điều này ít nhiều không thỏa mãn nguyên tắc thuthập tư liệu nói năng ở những người không bị quan sát và vì thế mà hạn chế kếtquả phân tích Gần đây, nhiều công trình đã tìm cách khắc phục phần nào nghịch
lí trên Ví dụ Stenström (2006) [101] đưa máy ghi âm cho những người đượcnghiên cứu tự ghi âm các giao tiếp ngôn ngữ của họ trong các hoàn cảnh khác
nhau Ở Hoài Thị, các điều tra viên (ĐTV) chúng tôi đã phải đến thực địa nhiều
lần trong suốt 2 năm để người được nghiên cứu quen với sự có mặt của ngườinghiên cứu
Trên đây là những thủ pháp của trường phái định lượng trong ngôn ngữhọc xã hội (hay còn được gọi là trường phái ngôn ngữ học xã hội vĩ mô, trườngphái Labov, trường phái biến thể học) Ngày nay, nhiều nhà ngôn ngữ họcnghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội - ví dụ như Eckert (2008) [43],Bucholtz and Hall (2008) [34], Woolard (2008) [123], Gumperz andCook-Gumperz (2008) [52], Mesthrie (2011) [83] - đã ủng hộ sự kết hợp giữa