Việc sử dụng vốn lưu động hợp lý hay không hợp lý của doanh nghiệp sẽ đem lại hiệu quả tốt hay xấu cho quá trình sản xuất kinh doanh.. Trong điều kiện hiện nay, khi mà khoa học công nghệ
Trang 1Lời mở đầu
1.Lý do nghiên cứu đề tài :
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải có trong tay một lượng vốn nhất định Việc tổ chức quản lý, sử dụng vốn
có hiệu quả hay không mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai
Trong nền kinh tế thị trường, quản lý và sử dụng vốn lưu động là một trong những nội dung quản lý rất quan trọng đối với các doanh nghiệp Muốn cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục và thường xuyên thì doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động cần thiết để đầu tư Ngoài ra, vốn lưu động còn là yếu tố góp phần mang lại lợi nhuận trong kinh doanh Việc sử dụng vốn lưu động hợp lý hay không hợp lý của doanh nghiệp
sẽ đem lại hiệu quả tốt hay xấu cho quá trình sản xuất kinh doanh Vấn đề đặt
ra cho doanh nghiệp là phải sử dụng vốn lưu động như thế nào để đảm bảo cho quá trình tuần hoàn vốn và tạo hiệu quả kinh tế cao
Với nhận thức như vậy, bằng những kiến thức quý báu về tài chínhdoanh nghiệp, vốn lưu động tích luỹ được trong thời gian học tập, nghiên cứu
tại trường Đại học Hải Phòng, em đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình sử
dụng vốn lưu động và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần Én Vàng Quốc Tế” làm đề tài viết chuyên đề thực tập
Trang 2Đề tài sử dụng các phương pháp cơ bản như so sánh, tổng hợp, thốngkê… Các chỉ tiêu Báo cáo Tài chính kết hợp với việc tham khảo sách báo, tàiliệu liên quan để làm sáng tỏ lý luận thực tiễn
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1 VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
Trang 3Với sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thị trường, các ngành nghề mớiliên tục ra đời, quan niệm về vốn cũng ngày càng được mở rộng Bên cạnhvốn hữu hình, dễ dàng được nhận biết, còn tồn tại và được thừa nhận là vốn
vô hình như: các sáng chế phát minh, nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng côngnghiệp, vị trí đặt trụ sở của doanh nghiệp…Theo cách hiểu rộng hơn, ngườilao động cũng được rất nhiều doanh nghiệp coi là một trong những nguồn vốnquan trọng
Có thể thấy, vốn tồn tại trong mọi giai đoạn sản xuất kinh doanh, từ dựtrữ; sản xuất đến lưu thông; doanh nghiệp cần vốn để đầu tư xây dựng cơ bản;cần vốn để duy trì sản xuất và để đầu tư nâng cao năng lực sản xuất… Quyếtđịnh tài trợ, do đó, là một trong 3 nhóm quyết định quan trọng của tài chínhdoanh nghiệp và có ảnh hưởng sâu sắc tời mục tiêu cuối cùng của doanhnghiệp – tối đa hoá giá trị doanh nghiệp
1.1.1.2 Đặc điểm và phân loại vốn
* Đặc điểm của vốn
Vốn là giá trị toàn bộ tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc thiết bị…),tài sản vô hình (sáng chế, phát minh, nhãn hiệu thương mại…) mà doanhnghiệp đầu tư và tích luỹ được trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo
ra giá trị thặng dư
Vốn tồn tại trong mọi quá trình sản xuất và được chuyển hoá từ dạng nàysang dạng kia: từ nguyên, nhiên vật liệu đầu vào đến các chi phí sản xuất dởdang, bán thành phẩm và cuối cùng chuyển hoá thành thành phẩm rổi chuyển
về hình thái tiền tệ
Vốn luôn gắn liền với quyền sở hữu, việc nhận định rõ và hoạch định cơcấu nợ – vốn chủ sở hữu luôn là một nội dung quan trọng và phức tạp trongquản lý tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vốn còn được coi là một hàng hoá đặc biệt
do có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng Do đó, việc huyđộng vốn bằng nhiều con đường: phát hành cổ phiếu, trái phiếu; tín dụngthương mại; vay ngân hàng…đang được các doanh nghiệp rất quan tâm vàđược vận dụng linh hoạt
Trang 4Do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, sự luân chuyểnphức tạp của vốn nên yêu cầu quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả tránh lãngphí thất thoát được đặt lên cao.
bộ giá trị của tài sản cố định
- Theo nguồn hình thành, vốn của doanh nghiệp được hình thành từhai nguồn chính: Vốn chủ sở hữu và Nợ
1.1.2 Khái niệm về vốn lưu động
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài sức lao động, tưliệu lao động, doanh nghiệp phải có đối tượng lao động Trong quá trình kinhdoanh, đối tượng lao động thay đổi hình thái biểu hiện ban đầu, toàn bộ giá trịcủa nó dịch chuyển một lần vào giá trị hàng hoá sản phẩm
Đối tượng lao động của doanh nghiệp kinh doanh lưu chuyển hàng hoáđược chia thành hai bộ phận: Một bộ phận là những hàng hoá doanh nghiệpmua về dự trữ để sản xuất và các sản phẩm làm ra để tiêu thụ, một bộ phậnkhác bao gồm bao bì vật liệu, các công cụ nhỏ khác Hai bộ phận này biểuhiện dưới hình thức hiện vật, gọi là tài sản lưu động của doanh nghiệp Tàisản lưu động của doanh nghiệp dịch vụ nói chung bao gồm: tài sản lưu độngsản xuất và tài sản lưu thông Tài sản lưu động sản xuất là mặt hiện vật củanhững đối tượng lao động nằm trong khâu dự trữ để đảm bảo cho quá trìnhkinh doanh sản xuất (như: nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng thay thế, nhiênliệu), và những đối tượng lao động đang nằm trong khâu sản xuất của doanhnghiệp (như: bán thành phẩm tự chế, chi phí sản xuất chính chưa hoàn thành
và chi phí sản xuất phụ dở dang ) Quá trình lưu thông sản phẩm là tiếp tụccủa quá trình sản xuất Để đảm bảo cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm, doanhnghiệp cần thiết phải hình thành một số khoản vật tư tiền tệ (như: thành phẩm,vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán ) Những sản phẩm và tiền tệ phát sinhtrong quá trình này gọi là tài sản lưu thông của doanh nghiệp
Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành được thườngxuyên, liên tục, cần thiết phải có đủ và đảm bảo đồng bộ, hợp lý các yếu tốnói trên mà biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng hiện vật gọi là tài sản lưuđộng.Trong điều kiện quan hệ hàng hoá - tiền tệ đòi hỏi doanh nghiệp phảiứng trước một số tiền tương ứng để đầu tư mua sắm các tài sản đó
Trang 5Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại là số tiền ứng trước về tài sản lưu động để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục.Đặc điểm của nó là vận động không ngừng và chuyển
dịch qua nhiều hình thái khác nhau Giá trị của nóđược chuyển dịch toàn bộmột lần vào giá trị hàng hoá và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu
kỳ sản xuất kinh doanh
1.1.3 Đặc điểm và phân biệt vốn lưu động với vốn cố định
* Đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động luân chuyển với tốc độ nhanh Vốn lưu động hoàn thànhmột vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh
Vốn lưu động trong doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện trongquá trình tuần hoàn luân chuyển Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳsản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó đượcchuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm
Vốn lưu động vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sanghình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị banđầu Chu kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
* Phân biệt vốn lưu động và vốn cố định
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định Đặc điểm khácbiệt lớn nhất giữa vốn lưu động và vốn cố định là vốn cố định chỉ chuyển dầngiá trị của nó vào giá trị sản phẩm theo mức khấu hao trong khi giá trị vốn lưuđộng được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm
Do đặc điểm vận động, số vòng quay của vốn lưu động lớn hơn rất nhiều
so với vốn cố định
1.1.4 Phân loại vốn lưu động
1.1.4.1 Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn lưu động có thể chia vốn
lưu động thành:
* Vốn bằng tiền và các khoản phải thu bao gồm các khoản vốn:
+ Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn,…
+ Các khoản phải thu: các khoản nợ phải thu của khách hàng, các khoản tạm ứng, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng,
…
Trang 6* Vốn vật tư, hàng hoá: Là các khoản VLĐ có hình thái vật chất biểu hiện
bằng hiện vật Đối với doanh nghiệp sản xuất thì vốn vật tư hàng hoá là hàng tồn kho như nguyên liệu, nhiên liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm sản xuất dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm Đối với doanh nghiệp thương mại thì vốnvật tư hàng hoá chủ yếu là hàng hoá dự trữ phục vụ cho việc bán ra
* Vốn trả trước ngắn hạn: như chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, chi phí
nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật, chi phí về công cụ dụng cụ
Cách phân loại này giúp người quản lý xem xét, đánh giá được cơ cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện, xem xét đánh giá được cơ cấu vốn lưu động của doanh nghiệp đã hợp lý hay chưa, xem tỷ trọng vốn vật tư hàng hoá
và vốn bằng tiền lớn hay nhỏ áp dụng vào doanh nghiệp mình Đối với doanh nghiệp sản xuất thì thường tỷ trọng vốn vật tư hàng hoá lớn, còn đối với doanh nghiệp thương mại thì tỷ trọng vốn vật tư hàng hoá nhỏ Mặt khác, cách phân loại này còn giúp nhà quản lý biết được tác dụng của từng bộ phận vốn Giúp đảm bảo vật tư cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nhghiệp tiến hành liên tục, góp phần sản xuất tiết kiệm đảm bảo hiệu quả kinhdoanh
1.1.4.2 Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh có thể chia vốn lưu động thành các loại sau:
*.Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: vốn để dự trữ vật liệu,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp tiến hành được thường xuyên, liên tục
*.Vốn lưu động trong khâu sản xuất bao gồm các khoản:
- Vốn sản phẩm dở dang: là biểu hiện các chi phí sản xuất kinhdoanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm sản xuất dở dang trong quá trình sảnxuất kinh doanh
- Vốn về chi phí trả trước: là các khoản chi phí đã thực tế phát sinh cótác dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh chưa thể tính hết vào giáthành sản phẩm kỳ này; mà để tính dần vào giá thành sản phẩm của một số kỳtiếp theo như: chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phíxây dựng lắp đặt
*.Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm các khoản:
- Vốn thành phẩm: là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất, đạt tiêuchuẩn kỹ thuật và được nhập kho
- Vốn bằng tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng và tiềnđang chuyển Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ dàngchuyển đổi thành các loại tài sản khác Do vậy, trong hoạt động kinh doanhđòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định
Trang 7- Vốn trong thanh toán: bao gồm những khoản phải thu và tạm ứng Cách phân loại này giúp cho nhà quản lý thấy được số lượng, chủng loại vật tư, hàng hoá cần dự trữ trong các khâu ở mức độ hợp lý, xác định tỷ trọng
và thành phần vốn lưu động ở các khâu nhằm đảm bảo cho sự cân đối giữa các khâu để hoạt động sản xuất nhịp nhàng, ăn khớp
1.1.4.3 Căn cứ vào nguồn hình thành : theo cách phân loại này, vốn
lưu động được chia làm 2 loại:
*.Nguồn vốn chủ sở hữu
Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp cóđầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt.Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau màvốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng: Số vốn lưu động được ngân sáchnhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (đối với các doanhnghiệp nhà nước); số vốn do các thành viên (đối với loại hình doanh nghiệpcông ty) hoặc do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; số vốn lưu động tăng thêm
từ lợi nhận bổ sung; số vốn góp từ liên doanh liên kết; số vốn lưu động huyđộng được qua phát hành cổ phiếu
*.Nợ phải trả
- Nguồn vốn đi vay: Là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốnvay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốnthông qua phát hành trái phiếu
- Nguồn vốn trong thanh toán: Đó là các khoản nợ khách hàng, doanhnghiệp khác trong quá trình thanh toán
Việc phân loại này giúp cho ta có thể thấy được kết cấu các nguồn hìnhthành nên vốn lưu động của doanh nghiệp Từ đó, doanh nghiệp có thể chủđộng và đưa ra các biện pháp huy động, quản lý và sử dụng vốn lưu động hiệuquả hơn
1.1.5 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
Kết cấu vốn lưu động là tỷ trọng giữa từng bộ phận vốn lưu động trêntổng số vốn lưu động của doanh nghiệp Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưuđộng giúp ta thấy được tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng của mỗiloại vốn chiếm trong các giai đoạn luân chuyển, từ đó xác định trọng điểmquản lý vốn lưu động, đồng thời tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụngvốn lưu động
* Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
Trang 8- Nhân tố về mặt sản xuất bao gồm: các nhân tố qui mô sản xuất, tính
chất sản xuất, trình độ sản xuất, qui trình công nghệ, độ phức tạp của sảnphẩm khác nhau thì tỷ trọng vốn lưu động ở các khâu dự trữ - sản xuất - lưuthông cũng khác nhau Trong điều kiện hiện nay, khi mà khoa học công nghệphát triển không ngừng thì việc doanh nghiệp đổi mới quy trình công nghệ,ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thì sẽ nâng cao đượcchất lượng sản phẩm, mẫu mã phong phú hay tiết kiệm được nguyên vật liệu,
…trên khía cạnh nào đó doanh nghiệp chỉ cần một lượng vốn lưu động ít hơnnhưng hiệu quả đem lại cao hơn Mặt khác chu kỳ sản xuất kéo dài sẽ làm chovòng quay vốn lưu động chậm, khả năng thu hồi vốn lâu cũng ảnh hưởngkhông tốt tới hiệu quả sử dụng vốn Do đó nếu biết kết hợp một cách tối ưu vàhài hoà các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm giảm những chiphí không cần thiết, đồng thời nắm bắt những cơ hội kinh doanh sẽ đem lạicho doanh nghiệp sự tăng trưởng và phát triển bền vững
- Nhân tố về cung ứng tiêu thụ bao gồm : khoảng cách của doanh
nghiệp tới nơi cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng
và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ củachủng loại vật tư được cung cấp Trong sản xuất kinh doanh, các doanhnghiệp thường cần rất nhiều vật tư, hàng hoá và do nhiều đơn vị cung cấpkhác nhau Nếu khoảng cách giữa doanh nghiệp với nơi cung cấp ngắn thìdoanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho Khinguồn nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất bị giảm cũng ảnh hưởng khôngnhỏ tới quá trình sản xuất của doanh nghiệp Bởi vì khi nguồn nguyên liệukhông được cung cấp đầy đủ sẽ làm gián đoạn quá trình sản xuất, doanhnghiệp sẽ không hoàn thành kế hoạch theo dự kiến, không đảm bảo hoànthành các hợp đồng đã ký kết Còn nếu nguồn nguyên liệu được cung cấpthường xuyên, ổn định thì doanh nghiệp sẽ không phải dự trữ với số lượnglớn, tránh được tình trạng ứ đọng vốn lưu động mà có thể đầu tư vào lĩnh vựckinh doanh khác Khi kỳ hạn giao hàng của người cung cấp dài và số lượngvật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng thấp thì doanh nghiệp luôn phải đầu
tư một lượng vốn lưu động để dự trữ vật tư hàng hoá thì mới có thể đảm bảocho quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên, liên tục Như vậy, lượngvốn lưu động bị ứ đọng đó sẽ không đem lại hiệu quả, ngoài ra doanh nghiệpcũng phải chịu thêm phần chi phí lưu kho tăng,…tuỳ từng đặc điểm kinhdoanh của từng doanh nghiệp mà cần chủ động trong thời gian giao hàng vàkhối lượng vật tư hàng hoá được cung cấp cho mỗi lần giao hàng đó cho phùhợp với đặc thù kinh doanh của mình để đạt hiệu quả kinh doanh cho mỗiđồng vốn lưu động được cao nhất
Trang 9- Nhân tố về mặt thanh toán gồm : Phương thức thanh toán được lựa
chọn theo các hợp đồng bán hàng, thủ tục thanh toán, việc chấp hành kỷ luật thanh toán giữa các doanh nghiệp Khi doanh nghiệp mua vật tư hàng hoá nếuđược bên cung cấp cho phép sau khi thu tiền bán hàng mới phải thanh toán thìdoanh nghiệp có thể sử dụng một khoản vốn mà không phải trả lãi Đây là việc mua chịu mà khi doanh nghiệp luôn muốn thanh toán theo phương thức này Nhưng thường chỉ áp dụng được với một số ít những khách hàng thường xuyên và mua với khối lượng lớn Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể mua hàng trả chậm hay trả góp Như vậy đồng nghĩa với việc doanh nghiệp cần phải quản lý tốt các khoản phải thu, tình trạng bị chiếm dụng vốn Bởi vì nếu không quản lý tốt khi phát sinh nhu cầu về vốn doanh nghiệp phải đi vay ngoài kế hoạch, làm tăng chi phí sử dụng vốn mà lẽ ra không có Đồng thời vốn lưu động bị chiếm dụng cũng là một rủi ro khi trở thành nợ khó đòi, gây thất thoát, khó khăn cho doanh nghiệp Thủ tục thanh toán nhanh gọn cũng giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh Vì nếu thu được tiền ngay thì doanh nghiệp có thể đẩy nhanh vòng quay vốn, hoặc đầu tư vào lĩnh vực khácđem lại lợi nhuận Đối với việc chấp hành kỷ luật thanh toán khi đã quy định phương thức thanh toán trong từng hợp đồng đã được các bên tham gia chấp nhận và ký kết thì việc chấp hành hay không chấp hành các điều khoản đó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động Nếu bên mua không có khả năng thanh toán hoặc không muốn thanh toán theo cam kết thì ảnh hưởngtới hiệu quả vốn lưu động của người cung cấp
Trên đây là một số nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động, nắm bắt được các nhân tố này sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của chúng tới hoạt động của doanh nghiệp Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp mà những nhân tố này tác động với mức độ khác nhau, vì thế mỗi doanh nghiệp khi xây dựng kết cấu vốn lưu động cần nên xem xét những nhân tố chủ yếu để có cơ cấu vốn lưu động hợp lý
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệuquả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Tốc độ luân chuyển vốn lưuđộng nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt: mua sắm, dự trữ sản
Trang 10xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lý hay không, các khoản vật tư dự trữ
sử dụng tốt hay không, các khoản phí tổn trong quá trình sản xuất – kinhdoanh cao hay thấp…Thông qua phân tích chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốnlưu động có thể giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển,nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là vòngquay vốn lưu động và kỳ luân chuyển vốn lưu động
- Vòng quay vốn lưu động là chỉ tiêu phản ánh số vòng mà vốn lưu độngquay được trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Công thức tínhtoán như sau:
L = M
VLD
Trong đó: L: Vòng quay của vốn lưu động
M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
Trong đó: K: kỳ luân chuyển vốn lưu động
L: Vòng quay của vốn lưu động
Kỳ luân chuyển càng ngắn thì trình độ sử dụng vốn lưu động càng tốt
và ngược lại Giữa kỳ luân chuyển và vòng quay của vốn lưu động có quan hệmật thiết với nhau và thực chất là một bởi vì vòng quay càng lớn thì kỳ luânchuyển càng ngắn và ngược lại
1.2.2 Mức tiết kiệm vốn do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được trong kỳ kinh doanh Nó được biểu hiện bằng chỉ tiêu:
Mức tiết kiệm là số vốn lưu động tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh nghiệp tăng tổng mức luân chuyển mà không cần tăng thêm vốn lưu động hoặc tăng với quy mô không đáng kể Công thức tính toánnhư sau:
Trang 11K0: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo
K1: Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch
M1: Tổng mức luân chuyển kỳ kế hoạch
1.2.3 Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Hệ số đảm nhiệm VLĐ = VLĐ bình quân
Doanh thu thuần
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh số vốn lưu động cần có để đạtđược một đồng doanh thu thuần Hệ số này càng nhỏ phản ánh hiệu quả sửdụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao
1.2.4 Hệ số sinh lợi của vốn lưu động
Hệ số sinh lợi VLĐ = Lợi nhuận trước thuế ( hoặc sau thuế thu nhập)
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.3.1 Các nhân tố lượng hóa
Các nhân tố lượng hoá là các nhân tố mà khi chúng thay đổi sẽ làm thayđổi các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động về mặt số lượng Cóthể dễ thấy đó là các chỉ tiêu như: Doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế(hoặc sau thuế thu nhập doanh nghiệp), vốn lưu động bình quân trong kỳ, các
bộ phận vốn lưu động…
Ta biết, vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặcđiểm vận động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểmcủa tài sản lưu động Để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, doanh nghiệp cần
có các biện pháp quản lý tài sản lưu động một cách khoa học Quản lý tài sảnlưu động được chia thành 3 nội dung quản lý chính: Quản lý dự trữ, tồn kho;quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao; quản lý các khoản phảithu
*.Quản lý dự trữ, tồn kho
Dự trữ, tồn kho là một bộ phận quan trọng của vốn lưu động, là những
Trang 12Hàng tồn kho gồm 3 loại: Nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất,kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không thể tiếnhành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dựtrữ Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vaitrò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường.Quản lý vật liệu dự trữ hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốnlưu động Do vậy, doanh nghiệp tính toán dự trữ một lượng hợp lý vật liệu,nếu dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽlàm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn gây ra hàng loạt các hậuquả tiếp theo như mất thị trường, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các nguyên vật liệu nằm ở các côngđoạn của dây chuyển sản xuất Nếu dây chuyền sản xuất càng dài và càng cónhiều công đoạn sản xuất thì tồn kho trong quá trình sản xuất sẽ càng lớn.Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục
Khi tiến hành sản xuất xong, do có độ trễ nhất định giữa sản xuất và tiêuthụ, do những chính sách thị trường của doanh nghiêp…đã hình thành nên bộphận thành phẩm tồn kho
Hàng hoá dự trữ đối với các doanh nghiệp gồm 3 bộ phận như trên,nhưng thông thường trong quản lý chúng ta tập chung vào bộ phận thứ nhất,tức là nguyên vật liệu dự trữ cho sản xuất kinh doanh
*.Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán củadoanh nghiệp ở ngân hàng Tiền mặt bản thân nó là tài sản không sinh lãi, tuynhiên việc giữ tiền mặt trong kinh doanh rất quan trọng, xuất phát từ những lý
do sau: Đảm bảo giao dịch hàng ngày; bù đắp cho ngân hàng về việc ngânhàng cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu dự phòngtrong trường hợp biến động không lường trước được của các luồng tiền vào
và ra; hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng
Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng
Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liềnvới tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao
Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt cần thiết cho cáchoá đơn thanh toán, khi tiền mặt xuống thấp doanh nghiệp sẽ phải bổ sungtiền mặt bằng cách bán các chứng khoán thanh khoản cao Chi phí cho việc
Trang 13lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh nghiệp bịmất đi.
Trong các doanh nghiệp lớn, luồng tiền vào ra của doanh nghiệp hàngngày là rất lớn, nên chi phí cho việc mua bán chứng khoán sẽ trở nên quá nhỏ
so với cơ hội phí mất đi do lưu giữ một lượng tiền mặt nhàn rỗi do vậy hoạtđộng mua bán chứng khoán nên diễn ra hàng ngày ở các doanh nghiệp này.Mặt khác, chúng ta cũng thấy tại sao các doanh nghiệp vừa và nhỏ lưu giữmột số dư tiền mặt đáng kể
*.Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường, để thắng lợi trong cạnh tranh các doanhnghiệp có thể áp dụng các chiến lược về sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả…Trong đó chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và khôngthể thiếu đối với các doanh nghiệp Tín dụng thương mại có thể làm chodoanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có nhưng cũng có thểđem đến những rủi ro cho hoạt động của doanh nghiệp Do đó, các doanhnghiệp cần phải đưa ra những phân tích, những nghiên cứu và quyết định cónên cấp tín dụng thương mại cho đối tượng khách hàng đó hay không Đây lànội dung chính của quản lý các khoản phải thu
+ Phân tích năng lực tín dụng của khách hàng
Để thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng thì điều đầu tiên doanh
nghiệp phải phân tích được năng lực tín dụng của khách hàng Công việc
này gồm: Thứ nhất, doanh nghiệp phải xây dựng một tiêu chuẩn tín dụng hợplý; Thứ hai, xác minh phẩm chất tín dụng của khách hàng tiềm năng Nếu khảnăng tín dụng của khách hàng phù hợp với những tiêu chuẩn tín dụng tối thiểu
mà doanh nghiệp đưa ra thì tín dụng thương mại có thể được cấp
Việc thiết lập các tiêu chuẩn tín dụng của các nhà quản trị tài chính phảiđạt tới sự cân bằng thích hợp Nếu tiêu chuẩn tín dụng đặt quá cao sẽ loại bỏnhiều khách hàng tiềm năng và sẽ giảm lợi nhuận, còn nếu tiêu chuẩn đượcđặt ra quá thấp có thể làm tăng doanh thu, nhưng sẽ có nhiều khoản tín dụng
có rủi ro cao và chi phí thu tiền cũng cao
Khi phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, ta thường dùng cáctiêu chuẩn sau để phán đoán:
- Phẩm chất, tư cách tín dụng: Tiêu chuẩn này nói lên tinh thần tráchnhiệm của khách hàng trong việc trả nợ Điều này được phán đoán trên
cơ sở việc thanh toán các khoản nợ trước đây đối với doanh nghiệphoặc đối với các doanh nghiệp khác
Trang 14- Năng lực trả nợ: Dựa vào các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh, dựtrữ ngân quỹ của doanh nghiệp…
- Vốn của khách hàng: Đánh giá sức mạnh tài chính dài hạn của kháchhàng
- Thế chấp: Xem xét khả năng tín dụng của khách hàng trên cơ sở các tàisản riêng mà họ sử dụng để đảm bảo các khoản nợ
- Điều kiện kinh tế: Tiêu chuẩn này đánh giá đến khả năng phát triển củakhách hàng trong hiện tại và tương lại
Các tài liệu được sử dụng để phân tích khách hàng có thể là kiểm trabảng cân đối tài sản, bảng kế hoạch ngân quỹ, phỏng vấn trực tiếp, xuống tậnnơi để kiểm tra hay tìm hiểu qua các khách hàng khác
+ Phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị
Sau khi phân tích năng lực tín dụng khách hàng, doanh nghiệp tiến hànhviệc phân tích đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị Việc đánhgiá khoản tín dụng thương mại được đề nghị để quyết định có nên cấp haykhông được dựa vào việc xem xét việc bán chịu có mang lại hiệu quả cao hơnviệc thanh toán ngay, có lợi cho doanh nghiệp hay không, do đó khoản tíndụng có được chấp nhận hay không
+ Theo dõi các khoản phải thu
Theo dõi các khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản lýcác khoản phải thu Thực hiện tốt công việc này sẽ giúp cho doanh nghiệp cóthể kịp thời thay đổi các chính sách tín dụng thương mại phù hợp với tìnhhình thực tế Thông thường, để theo dõi các khoản phải thu ta dùng các chỉtiêu, phương pháp và mô hình sau:
- Kỳ thu tiền bình quân (The average collection period – ACP):
Kỳ thu tiền bình quân phản ánh thời gian bình quân mà công ty thu hồiđược nợ Do vậy, khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên mà doanh số bán và lợinhuận không tăng thì cũng có nghĩa là vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng ởkhâu thanh toán Khi đó nhà quản lý phải có biện pháp can thiệp kịp thời
- Sắp xếp ‘tuổi’ của các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình
quân =
Các khoản phải thu Doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày
Trang 15Thông qua phương pháp sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thờigian, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể theo dõi và có biện pháp thu hồi nợkhi đến hạn.
- Xác định số dư khoản phải thu
Sử dụng phương pháp này doanh nghiệp hoàn toàn có thể thấy được nợ tồnđọng của khách hàng nợ doanh nghiệp Cùng với các biện pháp theo dõi vàquản lý khác, doanh nghiệp có thể thấy được ảnh hưởng của chính sách tíndụng thương mại và có những điều chỉnh kịp thời, hợp lý phù hợp với từngđối tượng khách hàng, từng khoản tín dụng cụ thể
1.3.2 Các nhân tố phi lượng hóa
Các nhân tố phi lượng hoá cũng có tác động quan trọng tới hiệu quả sửdụng vốn lưu động của doanh nghiệp Đó là những nhân tố định tính mà mức
độ tác động của chúng đối với hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp làkhông thể tính toán được Doanh nghiệp chỉ có thể dự đoán và ước lượng tầmảnh hưởng của các nhân tố đó từ đó có những chính sách, biện pháp nhằmđịnh hướng các nhân tố này góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng nói riêng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung
Các nhân tố này bao gồm: Các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan gồm các yếu tố xuất phát từ bên ngoài doanh
nghiệp như: Môi trường kinh tế chính trị; Các chính sách về kinh tế của Nhànước; Đặc điểm, tình hình và triển vọng phát triển của ngành, lĩnh vực màdoanh nghiệp hoạt động…Đây là những nhân tố có ảnh hưởng to lớn đến hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng của doanh nghiệp nói riêng Doanh nghiệp cần sự linh hoạt và nhanhnhạy để tiếp cận và thích ứng với các nhân tố đó
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nằm trong nội tại doanh nghiệp, có
tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và hiệu quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung Đó là các nhân tố như:Trình độ quản lý vốn của ban lãnh đạo doanh nghiệp, của cán bộ tài chính;Trình độ, năng lực của cán bộ tổ chức quản lý, sử dụng vốn lưu động trongdoanh nghiệp; Tính kinh tế và khoa học của các phương pháp mà doanhnghiệp áp dụng trong quản lý, sử dụng vốn lưu động…
Phần trên, qua việc nghiên cứu khái quát về vốn lưu động, nghiên cứuchi tiết về các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sửdụng vốn lưu động chúng ta đã có nền tảng hiểu biết nhất định về vốn lưuđộng và hiệu quả sử dụng vốn lưu động Từ đó, chúng ta có thể đưa ra những
Trang 16biện pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu độngtrong các doanh nghiệp.
1.4 Các biện pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.4.1 Kế hoạch hoá vốn lưu động
Trong mọi lĩnh vực, để đạt được hiệu quả trong hoạt động một yêu cầukhông thể thiếu đối với người thực hiện đó là làm việc có kế hoạch, khoa học.Cũng vậy, kế hoạch hoá vốn lưu động là một trong những nhiệm vụ quantrọng hàng đầu và rất cần thiết cho các doanh nghiệp Nội dung của kế hoạchhoá vốn lưu động trong các doanh nghiệp thường bao gồm các bộ phận: Kếhoạch nhu cầu vốn lưu động, kế hoạch nguồn vốn lưu động, kế hoạch sử dụngvốn lưu động theo thời gian
+ Kế hoạch nhu cầu vốn lưu động
Để xây dựng một kế hoạch vốn lưu động đầy đủ, chính xác thì khâu đầutiên doanh nghiệp phải xác định đúng nhu cầu vốn lưu động cho hoạt độngsản xuất kinh doanh Đây là bộ phận kế hoạch phản ánh kết quả tính toán tổngnhu cầu vốn lưu động cho năm kế hoạch, nhu cầu vốn cho từng khâu: dự trữsản xuất, sản suất và khâu lưu thông Xác định nhu cầu vốn lưu động cho sảnxuất kinh doanh chính xác, hợp lý một mặt bảo đảm cho quá trình sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, mặt khác sẽ tránhđược tình trạng ứ đọng vật tư, sử dụng lãng phí vốn, không gây nên tình trạngcăng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp
+ Kế hoạch nguồn vốn lưu động
Sau khi xác định được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết đểđảm bảo cho sản xuất được liên tục, đều đặn thì doanh nghiệp phải có kếhoạch đáp ứng nhu cầu vốn đó bằng các nguồn vốn ổn định, vững chắc Vìvậy một mặt doanh nghiệp phải có kế hoạch dài hạn để huy động các nguồnvốn một cách tích cực và chủ động Mặt khác hàng năm căn cứ vào nhu cầuvốn lưu động cho năm kế hoạch, doanh nghiệp phải xác định được quy môvốn lưu động thiếu hoặc thừa so với nhu cầu vốn lưu động cần phải có trongnăm
Trong trường hợp số vốn lưu động thừa so với nhu cầu, doanh nghiệpcần có biện pháp tích cực để tránh tình trạng vốn bị ứ đọng, chiếm dụng.Trường hợp vốn lưu động thiếu so với nhu cầu, doanh nghiệp cần phải
có biện pháp tìm những nguồn tài trợ như:
- Nguồn vốn lưu động từ nội bộ doanh nghiệp (bổ sung từ lợi nhuận đểlại)
Trang 17- Huy động từ nguồn bên ngoài: Nguồn vốn tín dụng, phát hành tráiphiếu, cổ phiếu, liên doanh liên kết.
Để đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhất, doanh nghiệp phải có sự xem xét
và lựa chọn kỹ các nguồn tài trợ sao cho phù hợp nhất trong từng hoàn cảnh
cụ thể
+ Kế hoạch sử dụng vốn lưu động theo thời gian
Trong thực tế sản xuất ở các doanh nghiệp nhu cầu vốn lưu động cho sảnxuất kinh doanh, việc sử dụng vốn giữa các thời kỳ trong năm thường khácnhau Vì trong từng thời kỳ ngắn như quý, tháng ngoài nhu cầu cụ thể về vốnlưu động cần thiết cón có những nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh donhiều nguyên nhân Do đó, việc đảm bảo đáp ứng nhu cầu vốn lưu động chosản xuất kinh doanh theo thời gian trong năm là vấn đề rất quan trọng
Thực hiện kế hoạch sử dụng vốn lưu động theo thời gian, doanh nghiệpcần xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động từng quý, tháng trên cơ sở cânđối với vốn lưu động hiện có và khả năng bổ sung trong quỹ, tháng từ đó cóbiện pháp xử lý hiệu quả, tạo sự liên tục, liền mạch trong sử dụng vốn lưuđộng cả năm Thêm vào đó, một nội dung quan trọng của kế hoạch sử dụngvốn lưu động theo thời gian là phải đảm bảo cân đối khả năng thanh toán củadoanh nghiệp với nhu cầu vốn bằng tiền trong từng thời gian ngắn tháng, quỹ.Bên cạnh việc thực hiện kế hoạch hoá vốn lưu động, doanh nghiệp cầnphải biết chú trọng và kết hợp giữa kế hoạch hoá vốn lưu động với quản lývốn lưu động
1.4.2 Tổ chức quản lý vốn lưu động có kế hoạch và khoa học
Như ta đã phân tích, quản lý vốn lưu động gắn liền với quản lý tài sản lưu động bao gồm: quản lý tiền mặt và các chứng khoản thanh khoản; quản lý
dự trữ, tồn kho; quản lý các khoản phải thu
Quản lý vốn lưu động được thực hiện theo các mô hình đã được trìnhbày trong phần “các nhân tố lượng hoá ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốnlưu động của doanh nghiệp” Vấn đề đặt ra là các nhà quản lý phải lựa chọn
mô hình nào để vận dụng vào doanh nghiệp cho phù hợp với điều kiện hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
Trong khi vận dụng các mộ hình quản lý vốn lưu động khoa học, doanhnghiệp cần phải biết kết hợp các mô hình tạo sự thống nhất trong quản lý tổngthể vốn lưu động của doanh nghiệp Quản lý tốt vốn lưu động sẽ tạo điều kiệncho doanh nghiệp chủ động, kịp thời đưa ra những biện pháp giải quyết các
Trang 18vấn đề phát sinh đảm bảo việc thực hiện kế hoạch vốn lưu động, tránh thấtthoát, lãng phí từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.4.3 Rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, giảm giá thành sản xuất thông qua việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Ta biết chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào độ dài thờigian của các khâu: dự trữ, sản xuất và lưu thông Khi doanh nghiệp áp dụngcác tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ đảm bảo sản xuất ra những sảnphẩm có chất lượng cao, năng suất cao, giá thành hạ Điều này đồng nghĩa vớiviệc thời gian của khâu sản xuất sẽ trực tiếp được rút ngắn Mặt khác, vớihiệu quả nâng cao trong sản xuất sẽ ảnh hưởng tích cực đến khâu dự trữ vàlưu thông: chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ sẽ góp phần đảm bảo chodoanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá nhanh hơn, giảm thời gian khâu lưuthông, từ đó doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong dự trữ, tạo sự luân chuyểnvốn lưu động nhanh hơn
1.4.4 Tổ chức tốt công tác quản lý tài chính trên cơ sở không ngừng nâng cao trình độ cán bộ quản lý tài chính
Nguồn nhân lực luôn được thừa nhận là yếu tố quan trọng quyết định sựthành bại của mỗi doanh doanh nghiệp Sử dụng vốn lưu động là một phầntrong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp, được thực hiện bởi các cán
bộ tài chính do đó năng lực, trình độ của những cán bộ này có ảnh hưởng trựctiếp đến công tác quản lý tài chính nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng nói riêng
Doanh nghiệp phải có chính sách tuyển lựa chặt chẽ, hàng năm tổ chứccác đợt học bổ sung và nâng cao kiến thức, nghiệp vụ tài chính cho các cán bộnhân viên nhằm đảm bảo và duy trì chất lượng cao của đội ngũ cán bộ nhânviên quản lý tài chính
Tổ chức quản lý tài chính khoa học, tuân thủ nghiêm pháp lệnh kế toán,thống kê, những thông tư hướng dẫn chế độ tài chính của Nhà nước Quản lýchặt chẽ, kết hợp với phân công nhiệm vụ cụ thể trong quản lý tài chính, cũngnhư trong từng khâu luân chuyển của vốn lưu động nhằm đảm bảo sự chủđộng và hiệu quả trong công việc cho mỗi nhân viên cũng như hiệu quả tổnghợp của toàn doanh nghiệp
Tóm lại, qua quá trình phân tích, chúng ta đã thấy được vai trò của vốnlưu động và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trongdoanh nghiệp Có nhiều giải pháp được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sửdụng vốn lưu động tuy nhiên phần lớn đều mang tính định hướng, việc áp
Trang 19dụng giải pháp nào, áp dụng giải pháp đó như thế nào còn tuỳ thuộc rất lớnvào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2 : Thực trạng sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần Én Vàng Quốc Tế
2.1 Những nét cơ bản về Công ty Cổ Phần Én Vàng Quốc Tế
2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển
Trang 20Tên tiếng anh: INTERNATIONNAL EN VANG JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: IEC JSC
Công ty cổ phần Én Vàng Quốc Tế( được chuyển từ công ty TNHHvân tải An Thái, giấy CNĐKKD số 0202000930 do phòng ĐKKD sởKH&ĐT Hải Phòng cấp ngày 24-9-2002)
2.1.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất
Kể từ khi được thành lập cho đến nay Công ty luôn lấy phương châm “
Én Vàng Quốc Tế sẽ dung nạp những ai có khát vọng làm việc, có tâm huyếtvới nghề vận tải, tất cả họ đều có cơ hội được tham gia cổ đông Nghĩa làđược tham gia làm chủ “ để làm mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh giảiquyết việc làm, ổn định và không ngừng cải thiện đời sống của cán bộ côngnhân viên là nhiệm vụ trọng tâm, đòi hỏi thực tiễn của thị trường để xây dựng
tổ chức thực hiện hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch, xây dựng Công
ty ngày càng vững mạnh
Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty gồm có:
*Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát
*Tổng giám đốc và các phòng ban
Hội đồng quản trị: có trách nhiệm xây dựng điều lệ tổ chức và hoạt động
của Tổng công ty Hội đồng quản trị có chức năng quản lý hoạt động củaTổng công ty, chịu trách nhiệm trước Bộ Công nghiệp và Chính phủ, về sựphát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ của Nhà nước giao
Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên:
1 Chủ tịch hội đồng quản trị
1 Thành viên kiêm Tổng Giám đốc
Trang 211 Thành viên kiêm trưởng ban kiểm soát
2 Chuyên viên giỏi về lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty
Ban kiểm soát: có nhiệm vụ thanh tra, kiểm soát việc tuân thủ chế độ
quản lý vốn, tài sản và giám sát việc ghi chép của phòng kế toán tài chính
Tổng Giám đốc: là người đại diện pháp nhân của Tổng công ty và chịu
trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, là người có quyền điều hành cao nhất
trong Tổng công ty Dưới quyền có Phó Tổng Giám đốc: là người giúp Tổng
Giám đốc điều hành một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty
theo phân công hoặc uỷ quyền của Tổng Giám đốc ; Kế toán trưởng: giúp
Tổng Giám đốc chỉ đạo, tổ chức và thực hiện công tác kế toán thống kê củaTổng công ty
Phòng Kế toán tài chính: Có chức năng tham mưu cho Giám đốc Công
ty tổ chức triển khai thực hiện toàn bộ công tác tài chính thống kê, thông tinkinh tế và hạch toán kế toán theo điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty.Đồng thời phòng có chức năng kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh tế tàichính của Công ty theo đúng pháp luật hoạt động cụ thể của phòng vụ đượcnêu ở phần sau
Phòng Hành chính Nhân sự : Thực hiện các chức năng hành chính,
quản trị, nhân sự
Phòng Kinh Doanh : Có chức năng lập kế hoạch kinh doanh,
marketing
Trung tâm điều hành : Có chức năng điều hành, giám sát kỹ thuật và
quản lý các hoạt động liên quan đến việc vận chuyển
- Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban được ban hànhtheo quyết định của Tổng giám đốc, các trưởng phó phòng là người chịu tráchnhiệm trước Tổng Giám đốc về kết quả thực hiện của phòng, ban mình
TỔNG GIÁM ĐỐC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Trang 22
2.1.3 Đặc điểm hoạt động kinh doanh
Công ty Cổ Phần Én Vàng Quốc Tế được thành lập dựa trên 3 thươnghiệu vận tải mạnh tại Hải Phòng là Hoàng Long – Hải Âu – Bình Dân Ngànhnghề kinh doanh chính : Kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng xe taxi tải và
xe taxi khách Hiện nay công ty có hơn 100 đầu xe tải cùng với hơn 200 đầu
xe taxi khách và vẫn tiếp tục đầu tư thêm nhằm đáp ứng nhu cầu của ngườidân
Công ty có hệ thống điều hành tổng đài hiện đại đáp ứng đầy đủ cácyêu cầu trong việc kinh doanh taxi, tạo ra lợi thế lớn trong quá trình kinhdoanh và phục vụ khách hàng
2.2 Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Én Vàng Quốc Tế
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm
NĂM 2010
Trang 23Kết quả hoạt động kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá hiệuquả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng của doanh nghiệp Vìvậy trước khi xem xét hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty, chúng taxem xét một cách khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3năm gần đây.
Mặc dù trong những năm gần đây công ty gặp không ít khó khăn domới chuyển đổi từ công ty TNHH sang công ty cổ phần nhưng với sự nỗ lựckhông ngừng, công ty đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ
Qua bảng 2.1 ta thấy, tổng doanh thu năm 2009 là 187.940 triệu đồngtăng 39,7% (tương ứng với 53.480 triệu đồng) so với năm 2008, doanh thunăm 2010 là 246.022 triệu đồng tăng 30,9% (+58.082 triệuđồng) so với năm
2009 Cho thấy kết quả kinh doanh của công ty khá khả quan
Giá vốn hàng bán năm 2009 là 145.576 triệu đồng ,tăng 50,7 % so vớinăm 2008, trong khi đó năm 2010 là 174.876 triệuđồng tăng 20,1% so vớinăm 2009 (+ 29.390 triệuđồng), như vậy so sánh năm 2010 với năm 2009 tốc
độ tăng của doanh thu thuần cao hơn tốc độ tăng của giá vốn là do những nămgần đây công ty đã chú trọng đến các điểm tiếp thị lớn, thường xuyên quảng
bá trên các phương tiện truyền thông để tăng khách hàng trong dân đồng thờiđầu tư thêm đầu xe, đây là một trong các nguyên nhân chủ yếu làm tăng lợinhuận của công ty
Lợi nhuận gộp năm 2009 so với năm 2008 tăng 11,8% (4.464 triệuđồng), trong khi đó năm 2010 so với năm 2009 tăng 67,9% (+28.773triệuđồng) Hoạt động tài chính của công ty đã có hiệu quả, doanh thu hoạt
Trang 24động tài chính lớn hơn so với chi phí hoạt động tài chính Lợi nhuận từ hoạtđộng kinh doanh năm 2009 là 17.955 tăng 4,7% so với năm 2008 nhưng đếnnăm 2010 là 47.596 triệuđồng tăng 165,7 % so với năm 2009 kéo theo lợinhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế tăng
Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng công ty đã mạnh dạn đầu tư thêm đầu
xe , đồng thời đẩy mạnh quảng bá truyền thông, cùng với chủ trương sử dụngchất lượng phục vụ tốt nhất để giữ chân khách hàng, đã và đang từng bướcxây dựng thương hiệu và vị thế vững chắc trên thị trường taxi tại Hải Phòng.Điều này có thể thấy thông qua doanh thu sản phẩm dịch vụ chính của công tynhư sau :
Tổng doanh thu thuần 134.532 100 187.940 100 246.022 100
Năm 2009, doanh thu thuần của tăng trưởng 32,5% so với so với năm
2008 Đến hết năm 2010, hoạt động kinh doanh vẫn tiếp tục khả quan vớidoanh thu thuần đạt được bằng 130,9% doanh thu thuần năm 2009 Xét riêngtừng mảng hoạt động của Công ty thì doanh thu thuần từ hoạt động dịch vụtaxi chiếm tỷ trọng rất lớn và gần như tuyệt đối trong tổng doanh thu thuầncủa Công ty Điều này cho thấy Công ty luôn theo đuổi chiến lược kinh doanhtập trung vào hoạt động cốt lõi taxi mà Công ty đã và đang xây dựng đượcthương hiệu và vị thế vững chắc trên thị trường Cho đến thời điểm hiện nay,Công ty là một trong những đơn vị hàng đầu về lĩnh vực vận tải taxi tại HảiPhòng Vì thế, mặc dù các doanh nghiệp khác cùng ngành gặp khó khăn doảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, Công ty vẫn đảm bảo được mục tiêu tăngtrưởng doanh thu
2.3 Tình hình sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ Phần Én Vàng Quốc Tế
Trang 252.3.1.Khái quát về tình hình tài chính của Công ty
Để có thể phân tích chi tiết về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công
ty Cổ phần Én Vàng Quốc Tế ta cần có cái nhìn khái quát về tình hình hoạt
động của Công ty trong những năm gần đây Nhìn tổng thể kết quả kinh
doanh của Công ty, ta có thể thấy phần nào hiệu quả hoạt động, xu hướng
phát triển theo các giai đoạn, tuy nhiên để có thể hiểu sâu về tình hình tài
chính không thể không xét đến tình hình vốn kinh doanh của công ty
trọng (%)
trọng (%)
Là một doanh nghiệp cổ phần, vốn của công ty là do các cổ đông đóng
góp, ngoài ra công ty còn huy động vốn từ nhiều nguồn khác
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường
xuyên liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn vốn nhất định Song việc
phân bổ vốn ấy thế nào cho hợp lý lại có tính chất quyết định đến hiệu quả sử
dụng vốn nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng của doanh
nghiệp Qua bảng trên ta thấy tổng số vốn kinh doanh của công ty trong 3
năm đã tăng lên đáng kể Năm 2009 là 345.247 triệu đồng tăng 7,4% (+
23.900 triệu đồng) so với năm 2008, năm 2010 là 477.245 triệuđồng, tăng
131.988 triệuđồng tương ứng với tỉ lệ tăng 38,2% Trong đó: