Chiến lược dài hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam xuất khẩu hàng nông sản ra nước ngoài
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
: Lª ThÞ Giang : NhËt 2
: 44 E : ThS Vò HuyÒn Ph-¬ng
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ CÁC HÌNH
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 3
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU 3
1.1.1 KHÁI NIỆM XUẤT KHẨU 3
1.1.2 VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 4
1.1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU 8
1.2 CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU NÔNG THUỶ SẢN VIỆT NAM 12
1.2.1 KHÁI NIỆM CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU 13
1.2.2 NỘI DUNG CỦA CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN 14 1.3 CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM 22
1.3.1 KHÁI NIỆM VÀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNN&V ) 23
1.3.2 ĐẶC ĐIỂM 27
1.3.3 VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 29
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG NÔNG THỦY SẢN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU NHỎ VÀ VỪA 34
2.1 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU MỘT SỐ NÔNG SẢN CHỦ YẾU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 34
2.1.1 KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN CHỦ YẾU 34
2.1.2 CƠ CẤU HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU 37
2.1.3 THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 40
2.2 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU MỘT SỐ THUỶ SẢN CHỦ YẾU CỦA VIỆT NAM 46
2.2.1 KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG THỦY SẢN CHỦ YẾU 46
Trang 32.2.2 CƠ CẤU HÀNG THỦY SẢN XUẤT KHẨU 47
2.2.3 CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 50
2.3 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA NGÀNH XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN VIỆT NAM 55
2.3.1 THÀNH TỰU 55
2.3.2 HẠN CHẾ 56
2.4 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG THUỶ SẢN RA NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA MA TRẬN SWTO 58
2.4.1 ĐIỂM MẠNH 58
2.4.2 ĐIỂM YẾU 60
2.4.3 CƠ HỘI 62
2.4.4 THÁCH THỨC 66
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG THỦY SẢN RA NƯỚC NGOÀI 71
3.1 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC XUẤT KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG THỦY SẢN VIỆT NAM 71
3.1.1 XUẤT KHẨU NÔNG SẢN 71
3.1.2 XUẤT KHẨU THỦY SẢN 75
3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN 78
3.2.1 QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN 78
3.2.2 ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN 79
3.2.3 ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN 82
3.3 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ HÓA CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 86
3.3.1 CÁC GIẢI PHÁP VĨ MÔ THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG THỦY SẢN VIỆT NAM 86
3.3.2 CÁC GIẢI PHÁP HỖ TRỢ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DNN&V XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG THỦY SẢN 94
KẾT LUẬN 104
Trang 4DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACFTA ASEAN- China Free Trade
Area
Khu mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc CEPT Common Effective Preferential
Tariff
Hiệp định về ch-ơng trình thuế quan có hiệu lực chung
FAO Food and Agriculture
Organization
Tổ chức nông l-ơng thế giới
FDA Food and Drug Administrator Cục quản lý d-ợc phẩm và
thực phẩm (Hoa Kỳ) GAP Good Agriculture Practice Quy tắc thực hành nuôi tốt GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội GMP Good Manufacturing Practice Tiêu chuẩn thực hành tốt
sản xuất HACCP Hazard Analysis and Critical
Control Point
Hệ thống kiểm soát mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn
IQF Individually Quick Frozen Cấp đông nhanh
JBIC Japan Bank for International
Cooperation
Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản
NME Non-market Economy Nền kinh tế phi thị tr-ờng RCA Ratio Comparative Apparent Hệ số so sánh biểu hiện SPS Sanitary and Plung to Sanitary Hiệp định an toàn về an
toàn vệ sinh động thực vật
Trang 6SSOP Sanitation Standard Operating
Programme
Ch-¬ng tr×nh ph¸t triÓn cña Liªn hîp quèc
VASEP Viªt Nam Association of
Seafood Exporters and Producers
HiÖp héi ChÕ biÕn vµ XuÊt khÈu thñy s¶n
WTO World Trade Organization Tæ chøc Th-¬ng m¹i thÕ
giíi
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ CÁC HÌNH
Bảng 1 Tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp trong từng năm 16
Bảng 2 Tổng số lao động làm việc trong ngành thủy sản từ 2002- 2007 19
Bảng 3 Phân loại DNN&V của khu vực EU 24
Bảng 4 Số lượng DNN&V đăng kí kinh doanh mới từ năm 2000 28
Bảng 5 Kim ngạch xuất khẩu nông sản qua từng năm 34
Bảng 6 Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trong kim ngạch xuất khẩu 35
các nông sản chủ yếu từ năm 2001-2007 36
Bảng 7 Cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu từ năm 2001-2007 38
Bảng 8 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ năm 2001-2007 46
Bảng 9 Cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2007 48
Bảng 10 Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ 2001 đến 2007 50
Hình 1 So sánh tốc độ tăng trưởng trong kim ngạch xuất khẩu các loại nông sản trước khi Việt Nam gia nhập WTO và sau khi gia nhập WTO 37
(2001-2007) 37
Hình 2 Cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu năm 2001 và năm 2007 39
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
Ngành nông nghiệp nước ta chiếm tỷ trọng lớn và đóng vai trò hết sức quan trọng nền kinh tế Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi xu hướng toàn cầu hóa và thương mại quốc tế đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, xuất khẩu hàng nông thủy sản ra nước ngoài ngày càng được Chính phủ chú trọng
Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc tế cùng với những cơ hội và thách thức mà nó mang đến cũng tác động mạnh mẽ đến hoạt động xuất khẩu nông thủy sản của các doanh nghiệp Việt Nam, mà trong đó các doanh nghiệp nhỏ
và vừa chiếm tỷ lệ lớn Đặc biệt với một nền kinh tế đang phát triển như nước
ta, Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò rất quan trọng và hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định là vị trí trung tâm của nền kinh tế Vì thế, năng lực hội nhập và cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ảnh hưởng trực tiếp tới ngành hàng xuất khẩu nông thủy sản nước ta Tuy nhiên, hiện nay năng lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam vẫn còn rất hạn chế về nhiều mặt không chỉ về nguồn nhân lực, năng lực tài chính mà còn yếu kém về công nghệ, cũng như tên tuổi thương hiệu… Và trên thị trường quốc
tế tồn tại nhiều nguy cơ đe dọa sự phát triển của các doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ và vừa nước ta
Nhận thức được vấn đề phát triển xuất khẩu nông thủy sản theo chiến lược phát triển chung của quốc gia và tăng cường năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi họ tham gia vào thị trường quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang kéo dài hiện nay là rất cần thiết Em đã chọn đề tài “ Chiến lược dài hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam xuất khẩu hàng nông thủy sản ra nước ngoài.”
Trang 9Bài khóa luận có kết cấu như sau:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về chiến lược xuất khẩu nông thủy sản và vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2 Hoạt động xuất khẩu nông thủy sản và đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Chương 3 Một số giải pháp nhằm xây dựng chiến lược dài hạn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông thủy sản ra nước ngoài
Em xin chân thành cảm ơn Cô giáo, Thạc sĩ Vũ Huyền Phương, giảng viên Khoa Kinh Tế và Kinh Doanh Quốc Tế đã hướng dẫn tận tình và đưa ra những lời khuyên cho em để em có thể định hướng và hoàn thành khóa luận
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người thân đã giúp
đỡ và động viên để em có thể hoàn thành tốt bài viết này
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU NÔNG THỦY SẢN VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU
1.1.1 Khái niệm xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Nói một cách khác, xuât khẩu là những sản phẩm được sản xuất trong một nước này và được đem bán cho một nước khác [14]
Mục đích của hoạt động xuất nhập khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế để thu được nhiều lợi ích kinh tế nhất Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia có lợi, các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương, đã xuất hiện rất lâu đời và ngày càng phát triển Tuy hình thức đầu tiên chỉ là hàng đổi hàng, song ngày nay xuất khẩu đang tồn tại ở nhiều ở nhiều hình thức khác nhau như:
Xuất khẩu trực tiếp: đây là hình thức xuất khẩu các hàng hóa và dịch vụ
do chính doanh nghiệp sản xuất ra, hoặc đặt mua từ các doanh nghiệp trong nước, sau đó xuất khẩu các sản phẩm này ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng của mình [14]
Xuất khẩu ủy thác: trong hình thức này đơn vị ngoại thương đóng vai
trò trung gian xuất khẩu làm cho đơn vị sản xuất những thủ tục cần thiết để xuất hàng và hưởng phần trăm theo giá trị hàng xuất đã được thỏa thuận
Buôn bán đối lưu: đây là hoạt động giao dịch mà trong đó hoạt động
xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với hoạt động nhập khẩu Người bán đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi tương đương
Trang 11Xuất khẩu theo Nghị định thư: đây là hình thức xuất khẩu hàng hóa
(thường là để gán nợ) được ký theo nghị định thư giữa hai chính phủ Xuất khẩu theo hình thức này có nhiều ưu đãi như khả năng như khả năng thanh toán chắc chắn, do Nhà nước trả cho đơn vị xuất khẩu, giá cả hàng tương đối cao, việc thực hiện sản xuất thu mua có nhiều ưu tiên Song, hình thức này chỉ áp dụng ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, còn bây giờ rất ít được sử dụng
Xuất khẩu tại chỗ: hàng hóa xuất khẩu không bắt buộc phải vượt biên
giới quốc gia mới đến được tay khách hàng, do vậy mà giảm được chi phí và rủi ro trong quá trình vận chuyển và bảo quản hàng hóa Các thủ tục trong hình thức xuất khẩu này rất đơn giản
Gia công quốc tế: đây là hình thức xuất khẩu, trong đó một bên gọi là
bên nhận gia công nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác ( gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận chi phí gia công
Tạm nhập tái xuất: để tiến hành hoạt động này phải có ít nhất ba chủ thể
thuộc ba quốc gia khác nhau: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu
Như vậy, hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều
kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất máy móc thiết bị và công nghệ kỹ thuật cao Tất cả các hoạt động đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia
1.1.2 Vai trò của xuất khẩu với nền kinh tế Việt Nam
1.1.2.1 .Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất nước
Công nghiệp hóa đất nước là con đường tất yếu mà mọi quốc gia phải trải qua để khắc phục tình trạng nghèo nàn, chậm phát triển của đất nước Đặc biệt là với nước ta, chúng ta đã bỏ qua giai đoạn trung gian là tư bản chủ
Trang 12nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Do vậy, công nghiệp hóa càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc phát triển kinh tế đất nước
Có nhiều con đường để thực hiện công nghiệp hóa đất nước, tuy nhiên
có thể nói rằng con đường hướng về xuất khẩu là hiệu quả nhất Bởi vì để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, cần phải có một số vốn ngoại tệ lớn để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị hiện đại Nguồn ngoại tệ để nhập khẩu được hình thành từ các nguồn như: xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ… Tuy nhiên, trong số những nguồn thu này thì nguồn thu từ hoạt động xuất khẩu là ổn định và hiệu quả nhất Nó quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu Còn nguồn thu
từ các hình thức khác tuy rất cần thiết nhưng xét về lâu dài cũng phải trả bằng cách này hay cách khác [3]
Mặc dù khi quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra, xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng nhanh, thị trường trong nước sẽ mở rộng, thúc đẩy nhanh hơn quá trình tham gia vào tự do hóa thương mại Do vậy, cơ hội đầu tư; vay nợ; nhận viện trợ… từ nước ngoài sẽ tăng lên Tuy nhiên cơ hội đó chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư, các tổ chức cho vay thấy được khả năng xuất khẩu - nguồn vốn tự do duy nhất để trả nợ - trở thành hiện thực
1.1.2.2 Xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ Đó là thành quả của sự phát triển không ngừng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong những thập kỷ qua Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa để thích nghi phù hợp với thực trạng và xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Trang 13Thứ nhất, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn chưa linh động và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nếu chỉ thụ động chờ sự “thừa ra” của sản xuất thì quy mô của xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm Khi đó xuất khẩu sẽ không
có kế hoạch và phải phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng trong nước mà vốn không phải là thị trường của xuất khẩu Vì thế, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp [3]
Thứ hai là, coi thị trường và đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất Quan điểm thứ hai xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, thể hiện ở:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các nghành khác có cơ hội phát triển thuận lợi Trong điều kiện phát triển kinh tế, xuất khẩu tạo ra thị trường kích thích phát triển sản xuất trong nước đặc biệt là nông nghiệp và công nghiệp chế xuất Qua đó kích thích việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng
và cải tiến cơ cấu hàng hóa để có thể có đủ khả năng cạnh tranh trên thị thế giới Bên cạnh đó việc thúc đẩy xuất khẩu còn cho phép mở rộng quy mô sản xuất, kéo theo nhiều nghành nghề mới phát triển Chẳng hạn như khi phát triển hàng dệt may xuất khẩu sẽ tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội đầy đủ cho việc phát triển các nghành sản xuất nguyên liệu như bông, vải sợi, …Hay sự phát triển của nghành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu gạo, chè, cà phê, thủy hải sản … sẽ thúc đẩy sự phát triển của các nghành sản xuất nông nghiệp và các ngành công nghiệp chế biến có liên quan
- Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định Thị trường nội địa vốn rất nhỏ bé so với thị trường thế giới Để có thể tiếp cận với quy mô thị trường thế giới, cần phải tăng cường khả năng xuất khẩu Xuất khẩu không chỉ những sản phẩm mà trong
Trang 14nước sản xuất dễ dàng mà cả những sản phẩm thị trường có nhu cầu Thông qua đó, xuất khẩu làm tăng khả năng tiếp cận thị trường bên ngoài đồng thời với việc tăng hiệu quả quy mô sản xuất trong nước
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, tiến bộ khoa học công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới
- Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của nước ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về cả giá cả và chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi với nhu cầu thị trường
- Xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp trong nước có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận với thị trường thế giới Thông qua đó, không những các doanh nghiệp có khả năng mở rộng quan hệ hợp tác thương mại mà còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp luôn phải đổi mới hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh, sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, giá thành Tuy nhiên, thị trường thế giới luôn
là môi trường tốt để các doanh nghiệp học hỏi những kinh nghiệm kinh doanh, trình độ quản lý và khả năng tiếp cận bạn hàng của các doanh nghiệp, công ty nước ngoài
1.1.2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống nhân dân
Giải quyết công ăn việc làm cho người dân vốn là một trong những mối quan tâm lớn của mỗi quốc gia trong quá trình hoạch định chính sách kinh tế
xã hội Khi chủ trương thực hiện con đường công nghiệp hóa, chính phủ nhằm đạt tới việc thu hút một lực lượng lao động lớn, góp phần giải quyết công ăn việc làm Thông qua xuất khẩu, hàng triệu lao động phục vụ cho quá trình sản xuất hàng xuất khẩu sẽ có việc làm, thu nhập ổn định Đặc biệt là
Trang 15những nghành nghề đòi hỏi sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn chất lượng cao như: nghành nghề thủ công, mỹ nghệ truyền thống, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm,…Hơn thế nữa, việc xuất khẩu hàng hóa là hướng ra thị trường nước ngoài nơi luôn đòi hỏi sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn chất lượng cao Vì vậy, xuất khẩu không những tạo thêm công ăn việc làm mà còn nâng cao trình
độ hay tay nghề của công nhân
Bên cạnh đó, xuất khẩu tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày càng phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
1.1.2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta, nâng cao vị trí và vai trò của Quốc gia trên thị trường quốc tế
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại, khi xuất khẩu phát triển nó cũng là cơ sở để thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển theo như các quan hệ về chính trị và ngoại giao Mặt khác, các quan
hệ chính trị, kinh tế, ngoại giao phát triển mạnh lại tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển
Tóm lại, xuất khẩu có vai trò rất lớn đối với quá trình phát triển kinh tế
và việc thúc đẩy xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc hiện nay [3]
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
1.1.3.1 Yếu tố bên trong
Là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới xuất khẩu bao gồm yếu tố
về nguồn lực sản xuất; môi trường kinh doanh; môi trường chính trị, pháp luật; môi trường địa lý, tự nhiên; môi trường văn hóa, xã hội [15]
Trang 16 Nguồn lực sản xuất: là các yếu tố cốt lõi của một quá trình sản xuất bao gồm:
- Nguồn nhân lực: số lượng lao động, khả năng, kiến thức và kỹ thuật
- Tài nguyên thiên nhiên: đất đai, khoáng sản, nhiên liệu, môi trường
- Vốn: máy móc, thiết bị, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng…
- Công nghệ: kiến thức khoa học, bí quyết quản lý, bí quyết kỹ thuật, môi trường công nghệ,…
Trong thương mại quốc tế đây là bốn yếu tố mà sự khác biệt không chỉ thuần túy về mặt số lượng mà yếu tố quan trọng hơn đó là chất lượng của các nguồn lực này sẽ quyết định chi phí tương đối trong sản xuất Sự khác biệt của bốn yếu tố này sẽ tạo ra những lợi thế so sánh cho các quốc gia Các nước đang phát triển thường chỉ có lợi thế so sánh cấp thấp (lao động, tài nguyên)
Đó là những lợi thế trong việc các quốc gia đó có lực lượng lao động lớn hay
có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú… Việc tận dụng các lợi thế này
để sản xuất và xuất khẩu là con đường ngắn nhất để tăng tích lũy tạo vốn cho công nghiệp hóa Cùng với việc đẩy mạnh xuất khẩu các nước này có điều kiện tạo ra những lợi thế mới với trình độ nguồn nhân lực, công nghệ và vốn lớn hơn
Ngày nay, xét từ góc độ nguồn lực sản xuất thì lợi thế so sánh về trình
độ cũng như trình độ phát triển của một nước sẽ thay đổi Khi trình độ nguồn nhân lực và khả năng đổi mới công nghệ được nâng lên, các yếu tố vốn, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay từ nước ngoài nhưng chỉ
sử dụng hiệu quả và ổn định bởi những lao động có kỹ năng và được đào tạo cùng một môi trường kích thích sự đổi mới công nghệ liên tục
Môi trường kinh doanh: là các yếu tố xúc tác cho hoạt động xuất khẩu Lợi thế so sánh của một quốc gia sẽ không được khai thác có hiệu quả nếu như các lực lượng kinh doanh trong nước không có được một môi trường khuyến khích xuất khẩu Môi trường kinh doanh có tính chất phức tạp với
Trang 17nhiều yếu tố tác động nhiều chiều Một môi trường kinh doanh lành mạnh sẽ
có vai trò quyết định đối với hoạt động xuất khẩu Môi trường kinh doanh bao gồm các yếu tố:
- Tốc độ tăng trưởng GDP, quy mô GDP và GDP/ người, xuất khẩu/GDP, xuất khẩu/ người
- Sức cạnh tranh của lực lượng kinh doanh trên thị trường, họ có được
tự do kinh doanh xuất nhập khẩu hay không, được khuyến khích như thế nào
- Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô của chính phủ:
+ Các chính sách: các chính sách khuyến khích xuất khẩu như thuế quan, tỷ giá hối đoái, thị trường, tín dụng
+ Các thể chế: thể chế đầu tư, tài chính ngân hàng, doanh nghiệp, các luật về kinh tế khác, các tổ chức hỗ trợ…
- Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội:
+ Hạ tầng có tính chất kỹ thuật, hỗ trợ xuất khẩu: đường xá, cầu cảng, sân bay, vận tải, thông tin – viễn thông…
+ Hạ tầng mềm: luật pháp, dịch vụ vận tải, dịch vụ ngân hàng, chính sách về thuế xuất nhập khẩu, trình độ giáo dục, dịch vụ thông tin viễn thông
+ Môi trường kinh tế tác động tới khả năng cạnh tranh thông qua việc
ổn định kinh tế vĩ mô, giảm chi phí, tạo niềm tin trong kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh năng động
Môi trường chính trị, pháp luật:
Chính trị ảnh hưởng tới rủi ro trong kinh doanh, sự ổn định chính trị có
ý nghĩa quan trọng hơn cả thế chế Nếu một quốc gia không ổn định về chính trị, thường xuyên có những biến động sẽ tạo ra sự bất an và lo sợ rủi ro với các bạn hàng Một nước muốn phát triển kinh tế, đẩy mạnh hợp tác thương mại quốc tế trước hết phải có ổn định về chính trị
Chính sách pháp luật đòi hỏi phải hợp lý, chặt chẽ và hiệu lực Hợp lý tức là phải đòi hỏi xuất phát thực tế, không mâu thuẫn với thông lệ quốc tế,
Trang 18thông thoáng vì mục tiêu phát triển Hiệu lực tức là các điều khoản của các nghành luật phải được thực thi bởi một bộ máy nhà nước đủ mạnh
Môi trường địa lý tự nhiên: ảnh hưởng tới đầu vào của sản xuất, chi phí vận chuyển, quy mô thị trường… và do vậy ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh Một nước nằm trong khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế cao, năng động, vị trí địa lý thuận lợi cho vận tải, rõ ràng sẽ có nhiều ưu thế để phát triển ngoại thương
Môi trường văn hóa - xã hội: tập quán kinh doanh, những giá trị xã hội,
sở thích, dân số, chất lượng lao động… tạo nên những đặc trưng văn hóa của từng nước Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn tới sự thành công trong kinh doanh nói chung và trên thương trường quốc tế nói riêng, ảnh hưởng tới sự hưng thịnh của một quốc gia, sự thành công hay thất bại của một đường lối phát triển
1.1.3.2 Yếu tố bên ngoài
Đây là yếu tố có tính biến động lớn mà nhiều khi vượt ra ngoài tầm kiểm soát của một nước Vì vậy khi tham gia thương mại quốc tế phải có những cơ chế chính sách để thích ứng linh hoạt Một số nhân tố khách quan bên ngoài có ảnh hưởng lớn tới xuất khẩu của một nước [15], đó là:
Xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa ngày càng phát triển lớn mạnh là một tất yếu phát triển như: sự phát triển của lực lượng sản xuất do sự tiến bộ nhanh chóng của của cách mạng khoa học kỹ thuật Hầu hết các nước đều thừa nhận và phát triển nền kinh tế thị trường Sức hấp dẫn của thương mại quốc tế đều được nhiều nước nhận thức và thúc đẩy Các chính phủ ngày càng quan tâm nhiều tới cải cách cơ chế thị trường và các chính sách đẩy mạnh ngoại thương Không gian biên giới cho các quan hệ kinh thương mại quốc tế trước hết là thương mại đầu tư dịch vụ…đã và đang được xóa bỏ
Tất cả các yếu tố này là tiền đề quan trọng thúc đẩy phân công lao động quốc tế bằng việc tạo ra môi trường hợp tác, hòa bình ổn định cùng phát triển
Trang 19trong một nền thương mại quốc tế toàn cầu Một nước có chính sách hợp lý để tham gia thương mại quốc tế càng sâu rộng thì cơ hội cho phát triển xuất khẩu
là rất lớn
Tình hình kinh tế thế giới: muốn nói đến tốc độ tăng trưởng là yếu tố có ảnh hưởng lớn tới xuất khẩu của một nước Khi kinh tế của các bạn hàng chủ lực tăng trưởng tốt khiến cho cầu tiêu dùng tăng lên và do đó cầu nhập khẩu cũng tăng lên, điều này làm tăng xuất khẩu của nước đó Ngược lại sẽ làm giảm xuất khẩu
Các đối thủ cạnh tranh: các quốc gia có lợi thế so sánh tương tự nhau sẽ
là các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trên thị trường quốc tế Quốc gia nào có chính sách khuyến khích thương mại quốc tế phát triển như: hội nhập, hợp tác, thuế quan, tỷ giá, … hợp lý nhất sẽ là những nước có lợi thế cạnh tranh nhất và do đó có khả năng tăng quy mô xuất khẩu Mặt khác chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Chính phủ hay những quy định của nước bạn hàng sẽ có tác động trực tiếp tới cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Do đó để khuyến khích xuất khẩu thì mỗi nước phải có chính sách linh hoạt với điều kiện của từng quốc gia bạn hàng cũng như điều kiện quốc tế
1.2 CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU NÔNG THUỶ SẢN VIỆT NAM
Qua phần lý luận chung về xuất khẩu, có thể thấy tầm quan trọng rất lớn của xuất khẩu với nền kinh tế Việt Nam, nền kinh tế nông nghiệp mà trong đó hàng xuất khẩu chủ yếu là ngành hàng nông thủy sản Hàng năm, kim ngạch xuất khẩu nông thủy sản chiếm tỷ trọng khá lớn trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước và xuất khẩu hàng nông thủy sản đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia Vì thế xây dựng chiến lược xuất khẩu hàng nông thủy sản Việt Nam ra nước ngoài là hết sức cần thiết Tuy nhiên, để xây dựng được chiến lược phù hợp với thực trạng của toàn ngành nông thủy sản thì cần phải có hiểu biết đúng đắn về chiến lược
Trang 20trên phương diện toàn nghành và quốc gia Phần tiếp sau sẽ giải thích rõ về chiến lược và chiến lược xuất khẩu nông thủy sản
1.2.1 Khái niệm chiến lược và chiến lược xuất khẩu
1.2.1.1 Khái niệm chiến lược:
Từ xa xưa, theo quan niệm của người Hy Lạp cổ đại, thuật ngữ chiến lược bắt nguồn với hai từ “Stratos” ( quân đội, bầy đoàn) và “agos” (lãnh đạo, điều khiển) Thông thường người ta hiểu chiến lược là khoa học và nghệ thuật chỉ huy quân sự, được ứng dụng để lập kế hoạch tổng thể và tiến hành những chiến dịch có quy mô lớn [1]
Từ thập kỷ 60 (thế kỷ 20), quan niệm về chiến lược đã phát triển dần theo nhận thức khác và được hiểu là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của nghành và thực hiện chương trình phân hành động cùng với việc phân
bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu đã xác định Theo một cách nói khác thì chiến lược là phương thức mà các nghành sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được và duy trì sự phát triển bên trong và bên ngoài của mình
Theo quan điểm hiện đại, chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động nhằm mục tiêu phối hợp các năng lực và nguồn lực của ngành đáp ứng được những cơ hội, thách thức từ bên ngoài Chiến lược còn đưa ra những hành động định hướng mục tiêu và những hoạt động để thực hiện chiến lược [1]
Tóm lại, chiến lược của một ngành bao gồm không chỉ những gì ngành
đó muốn thực hiện, mà còn là cách thức thực hiện những công việc đó Một hành động riêng lẻ, đơn giản không phải là chiến lược Chiến lược của ngành cần được xây dựng sao cho nó phải tính đến những điểm mạnh cơ bản của một loạt các hành động có tính quyết định (các nguồn lực và năng lực) và những cơ hội, thách thức của môi trường [10]
Trang 211.2.1.2 Khái niệm chiến lược xuất khẩu
Theo cách tiếp cận về chiến lược đã được trình bày ở trên, chúng ta hiểu chiến lược không chỉ được sử dụng ở phạm vi một quốc gia mà còn có thể là chiến lược ở một ngành hoặc thậm chí một doanh nghiệp Chiến lược của một ngành được xác định ở một tầm nhìn chiều sâu, có tính định hướng, bao quát và làm cơ sở cho những hoạch định phát triển trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Mỗi một quốc gia, mỗi một ngành hay một doanh nghiệp muốn hòa nhập với xu hướng phát triển chung của thế giới đều phải có tầm nhìn chiến lược xuất khẩu trọng điểm Theo diễn đàn thương mại quốc tế, chiến lược xuất khẩu của quốc gia nói chung và của ngành nói riêng là những hướng dẫn cần thiết về việc phát triển nguồn lực nào cần thiết, vì mục tiêu gì, được sử dụng bởi ai và như thế nào
Như vậy, chiến lược xuất khẩu là định hướng tổng thể nhằm khai thác
tối đa và có hiệu quả các nguồn lực, phát huy lợi thế so sánh quốc gia nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, nhằm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội Chiến lược xuất khẩu chính là sự cụ thể hóa của chiến lược phát triển kinh tế trong lĩnh vực xuất khẩu và phải phù hợp với phương hướng, mục tiêu, chương trình hành động trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội [16]
1.2.2 Nội dung của chiến lược xuất khẩu nông thủy sản
1.2.2.1 Phân tích các nguồn lực nông thủy sản xuất khẩu
Khái niệm chiến lược và chiến lược xuất khẩu ở phần trên đều đề cập tới việc làm thế nào để huy động, khai thác tối đa và phân bố hiệu quả các nguồn lực Tuy nhiên, các nguồn lực đơn giản chỉ là những điều kiện phù hợp
mà ngành có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Các nguồn lực cũng có thể hiểu là: nhân lực; vật chất; tài chính; các nguồn lực vô hình khác Các nguồn lực kể trên đều có thể trở thành yếu tố để tiến hành sản xuất xuất khẩu [1]
Trang 22 Phân tích các nguồn lực nông sản xuất khẩu:
Nước ta có nguồn tài nguyên rất dồi dào, phong phú tạo điều kiện cho việc phát triển nông nghiệp Các mặt hàng nông sản của Việt Nam theo cách nhìn nhận chung của thế giới đều là những mặt hàng chủ lực để Việt Nam xuất khẩu Thế nhưng những nguồn lực nào cấu thành nên ngành nông sản xuất khẩu? Đó là:
- Thứ nhất, điều kiện tự nhiên là yếu tố khách quan không thể thiếu được trong việc sản xuất và xuất khẩu nông sản Đó là điều kiện đầu tiên quyết định việc sản xuất nông nghiệp Nó bao gồm các đặc điểm của đất đai; địa chất; khí hậu Đất nông nghiệp nước ta đa dạng và phong phú, có thể trồng chuyên canh theo từng vùng và theo từng thời kỳ nhiều loại cây nông nghiệp ngắn ngày và dài ngày cho năng suất cao Mặt khác, nước ta có dải phù sa rộng lớn do hai con sông lớn bồi đắp là sông Hồng và sông Cửu Long Điều này tạo điều kiện rất thuận lợi cho nước ta phát triển cây lúa nước Hàng năm kim nghạch xuất khẩu gạo của nước ta tăng liên tục Hiện nay, nước ta xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới chỉ sau Thái Lan Rõ ràng rằng cây lúa nước là loại cây nông nghiệp ưu thế và chủ lực của nước ta
Địa hình nước ta phân bố không đồng đều, 20% là đồng bằng, còn lại 80% là núi và cao nguyên Do đặc điểm của địa hình như vậy nên thuận lợi cho việc phát triển trồng nhiều loại cây nông nghiệp khác nhau có giá trị xuất khẩu cao như: cao su, cà phê, chè, hạt điều,… Các loại cây này phù hợp với địa hình và khí hậu của từng vùng và cho năng suất cao [22]
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên khí hậu phân bổ thành hai mùa mưa và khô rõ rệt Vì thế, nước ta có điều kiện phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới đa dạng về cây trồng và vật nuôi Hơn nữa, khí hậu phân hóa đa dạng, phức tạp là điều kiện phát triển các vùng chuyên canh sản xuất nông sản với quy mô lớn, với đa dạng các sản phẩm nông nghiệp độc đáo như các cây ăn quả có nguồn gốc nhiệt đới, ôn đới Điều này tạo điều kiện để sản xuất và xuất khẩu các giống cây ăn trái đặc sản nổi tiếng ra thị
Trang 23trường nước ngoài để các loại đặc sản này không chỉ có giá trị ở trong nước
mà còn có uy tín cao trên thị trường thế giới
- Thứ hai, nguồn nhân lực là yếu tố chủ quan có vai trò quyết định, mang tính chiến lược trong xuất khẩu nông sản Do đặc điểm của nước ta là nền kinh tế vẫn mang tính chất nông nghiệp, nên phần lớn lao động tập trung trong ngành sản xuất này
Bảng 1 Tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp trong từng năm Đvt:%
về việc làm dựa trên nghề chính của đối tượng
Số liệu thống kê cho thấy, hàng năm từ 2000 đến cuối năm 2006, tỷ lệ lao động tập trung trong ngành nông nghiệp vẫn rất cao Điều đó chứng tỏ nguồn lao động này rất đông đảo và có tác động lớn tới ngành sản xuất nông nghiệp
Hơn nữa, phần lớn dân số chủ yếu tập trung ở các vùng đồng bằng, ven biển và một số ít bộ phận dân số còn lại thì sống ở miền núi và trung du Đây
là các nhân tố tích cực tham gia vào hoạt động sản xuất và chế biến các sản phẩm nông sản và họ ý thức được rằng sản xuất phục vụ cho xuất khẩu nông sản mới là chỗ dựa vững chắc đảm bảo đời sống kinh tế của chính họ và của cộng đồng Thế nhưng, phần lớn lao động tập trung trong ngành nông nghiệp
là lao động thủ công, trình độ thấp, và do chưa có quy hoạch tập trung đầy đủ
Trang 24phương nên hầu như người nông dân sản xuất hàng ra mà không biết đến đầu
ra của sản phẩm và nơi tiêu thụ sản phẩm cũng như sản xuất nhiều khi quá thừa hoặc không đủ so với cầu thị trường Do vậy, yêu cầu đặt ra là bên cạnh chính sách khuyến nông giúp người dân mở rộng và nâng cao năng suất thì cần phải có những chính sách hỗ trợ nông dân nhằm nâng cao hiểu biết về nhu cầu của thị trường Đặc biệt là tầm quan trọng của thị trường nguồn cung cho xuất khẩu nông sản Một hướng đi đầy hứa hẹn cho cuộc sống của họ
- Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế nông nghiệp Những nước nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn như nước ta là những nước công nghiệp đang phát triển, nên việc chế biến các sản phẩm nông nghiệp hoàn toàn đạt chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế là chưa đảm bảo Các nước đang phát triển cần nhiều ngoại tệ mạnh để nhập khẩu vật tư, máy móc, thiết bị Vì vậy, phải chấp nhận xuất khẩu nông sản thô Bên cạnh đó, các nước kinh tế phát triển muốn nhập nông sản thô về chế biến nhằm nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm và hiệu quả kinh doanh Vì vậy, để mở rộng quy mô sản xuất, nhất là thị trường nông sản đòi hỏi phải có một số vốn tích lũy, kinh nghiệm trong ngành nghề nông sản về trồng lúa, chè, cao su, cà phê,…Muốn vậy, chúng ta phải nâng cao trình độ phát triển kinh tế nông nghiệp bằng việc tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm của một số nước có hiệu quả trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản
- Thứ tư là môi trường công nghệ Thực tế cho thấy công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất nuôi trồng và chất lượng của sản phẩm chế biến Vì thế, công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất và chế biến xuất khẩu của ngành nông sản Vì vậy, soạn thảo chiến lược xuất khẩu phải tính đến công nghệ Sự tiến bộ của kỹ thuật có thể tác động sâu sắc đến chất lượng của những sản phẩm nông sản Vì vậy mà công nghệ là một yếu tố tác động tới thị trường của các nhà cung cấp; nhà phân phối; người cạnh tranh; khách hàng; quá trình sản xuất và chế biến; và vị thế cạnh tranh của ngành
Trang 25 Phân tích các nguồn lực thủy sản xuất khẩu:
Bên cạnh việc tập trung phát triển nghành nông nghiệp phục vụ xuất khẩu, xuất khẩu thủy sản cũng được coi là một nghành thế mạnh và nhiều thuận lợi mà nước ta đang đầu tư và khai thác Tương tự như nghành sản xuất xuất khẩu nông sản, có nhiều nguồn lực tác động đến nghành thủy sản Trong
đó bao gồm nhiều nguồn lực ưu đãi cho nghành Tuy nhiên cũng có một số nguồn lực gây khó khăn cho việc phát triển nghành xuất khẩu thủy sản Đó là:
- Thứ nhất, nước ta có điều kiện tự nhiên đặc biệt ưu đãi cho việc phát triển ngành thủy hải sản Nằm ở vị trí tiếp xúc giữa nhiều hệ thống tự nhiên và
là nước tiếp xúc với biển nhiều nhất lớn trong các nước Đông Nam Á lục địa Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km với 112 cửa sông, lạch, với độ nông sâu khác nhau Diện tích vùng biển Việt Nam gồm nội thủy, lãnh hải 226.000km2
và vùng đặc quyền kinh tế khoảng trên 1 triệu km2, có nhiều ngư trường lớn cho khai thác hải sản và các vũng, vịnh kín là nơi có thể phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn [6] Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi để Việt Nam phát triển nền kinh tế biển, trong đó việc phát triển nghành thủy sản là điểm khởi đầu quan trọng
Tiềm năng nguồn lợi thủy sản ở các vùng nước mặn kể cả gần bờ và
xa bờ là rất phong phú, trữ lượng lớn là điều kiện rất thuận lợi để phát triển xuất khẩu thủy sản Theo số liệu thống kê biển Việt nam có trên 2000 loài
cá, trong đó khoảng trên 100 loài có ý nghĩa kinh tế với trữ lượng khoảng trên 4 triệu tấn, khả năng khai thác 1,6 -1,7 triệu tấn/năm [6]
Bên cạnh cá biển, còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1.600 loài giác, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm, tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa kinh tế cao nhất là mực
và bạch tuộc (cho phép khai thác khoảng 60-70 nghìn tấn/năm) Bên cạnh
đó còn có rất nhiều loài đặc sản quý khác Điều này cho phép nước ta có
Trang 26điều kiện duy trì hợp lý mức độ đánh bắt để tạo nguồn nguyên liệu cho hoạt động xuất khẩu
Mạng lưới sông ngòi rộng khắp tạo cho nước ta một tiềm năng dồi dào để phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt Đặc biệt, vùng Nam Trung bộ và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long do có địa hình chủ yếu là đầm nước và kênh rạch Đó là điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để nuôi trồng và phát triển các loài thủy sản có giá trị xuất khẩu cao như tôm càng xanh, cá tra, cá basa…Đây là những loại thủy sản mà trên thế giới có nhu cầu rất cao
Như vậy, nước ta không chỉ có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, mà chúng ta còn sở hữu nguồn lực tự nhiên rất thuận lợi cho việc sản xuất xuất khẩu thủy hải sản
- Thứ hai, nguồn nhân lực Cùng với sự phát triển liên tục trong thời gian qua, ngành thủy sản đã thu hút được một số lượng lao động khá lớn, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động nói chung và trong các khâu sản xuất sản phẩm thủy sản xuất khẩu nói riêng
Bảng 2 Tổng số lao động làm việc trong ngành thủy sản từ 2002- 2007 Đvt: ngìn người
Năm Tổng số lao động Lao động trong ngành thủy sản Tỷ trọng (%)
Trang 27Tỷ trọng lao động trong ngành thủy sản liên tục tăng từ năm 2002 đến nay, số lao động trong ngành thủy sản năm 2007 đã tăng lên đến 1.634,4 nghìn người từ 1.282,1 nghìn người vào năm 2002, chiếm 3,7% số lao động của cả nước Tỷ lệ tăng bình quân số lao động thường xuyên của ngành thủy sản là 2,8%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của cả nước (2%) Điều đó cho thấy khả năng giải quyết công ăn việc làm của ngành thủy sản so với các ngành kinh tế khác trong phạm vi cả nước là rất lớn
Tuy nhiên, lao động trong ngành thủy sản tập trung trong nhiều lĩnh vực và chủ yếu là lao động phổ thông Trình độ tay nghề của lao động chế biến thủy sản còn thấp, chưa được huấn luyện kỹ thuật chế biến một cách hệ thống Công việc có tính thời vụ và bấp bênh Lao động không tập trung, nên nơi nào trả lương cao hơn, nhân lực sẽ di chuyển sang đó nhiều hơn Hiện nay, các nhà máy chế biến trong khu vực đồng bằng Sông Cửu Long gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất vì thiếu lao động do nhiều nhà máy xây dựng ở các khu vực miền Bắc và miền Trung đã thu hút một lượng lớn lao động làm việc tại các khu vực này Nguyên nhân là do chưa có quy hoạch đồng bộ và phát triển bền vững trong ngành thủy sản, dẫn đến tình trạng mất cân bằng lao động như vậy
Bộ Thủy sản trước kia và nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã tổ chức nhiều chương trình đào tạo cho cán bộ quản lý các doanh nghiệp, giúp các nhà quản lý nắm rõ hơn các vấn đề liên quan đến quản trị doanh nghiệp, quản lý chất lượng, marketing, luật pháp thương mại quốc tế, các rào cản, biện pháp chống bán phá giá Để hỗ trợ các nhà sản xuất kinh doanh thủy sản cập nhập kiến thức cơ bản về an toàn vệ sinh thực phẩm, về yêu cầu của Nhà nước và thị trường, Cục quản lý chất lượng an toàn vệ sinh
và thú y thủy sản; VASEP đã tiến hành các khóa đào tạo về GMP, SSOP, HACCP cho các đối tượng trên Tuy nhiên, nhìn chung công tác đào tạo vẫn
Trang 28chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao phục vụ cho nâng cao năng
lực hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng xuất khẩu thủy sản
- Thứ ba, môi trường công nghệ Với những thành tích đạt được trong nhiều năm qua nhằm góp phần nâng cao giá trị chất lượng các mặt hàng thủy sản, ngành thủy sản đã áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất chế biến và vận dụng trong thực tiễn như nghiên cứu tái tạo nguồn lợi, phát triển công nghệ sản xuất giống những đối tượng có giá trị như các loại giống tôm sú, tôm rảo, tôm càng xanh, cua, nghêu, cá rô phi, cá tra, các basa, cá giò, cá song, ốc hương, cua biển , một số loài đã được sản xuất đại trà trong các trại sản xuất giống; nhập khẩu công nghệ sản xuất giống và nuôi một số đối tượng có giá trị xuất khẩu như bào ngư, điệp, tôm thẻ chân trắng; chuyển giao công nghệ sản xuất thức ăn, chế phẩm sinh học, công nghệ chế biến thủy sản xuất khẩu, công nghệ xử lý nước thải
Nhờ việc phát triển và mở rộng thị trường mà các doanh nghiệp đã đổi mới trang bị nhiều hệ thống máy móc, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động sản xuất chế biến từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến, bao gói, và bảo quản sản phẩm, đảm bảo chất lượng và độ an toàn của sản phẩm Điều này giải quyết đáng kể những khó khăn của mặt hàng thủy hải sản của Việt Nam vẫn thường gặp phải khi xuất khẩu ra các thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật cao
1.2.2.2 Các yếu tố tạo thành tiềm lực của ngành xuất khẩu nông thủy sản
Các nguồn lực nông, thủy sản xuất khẩu chỉ là đầu vào cần thiết để thực hiện công việc của ngành xuất khẩu nông, thủy sản Song các nguồn lực đó không tự chúng phát huy tác dụng, các nguồn lực đó phải được xử lý và sử dụng theo một cách nào đó để tạo nên giá trị Do vậy, chính tiềm lực của ngành là yếu
tố tác động lên đầu ra của sản phẩm
Tiềm lực được xác định là các công việc thường nhật và quy trình thực hiện của ngành quyết định mức độ hiệu quả và hiệu suất làm việc của ngành
Trang 29đó trong việc chuyển hóa đầu vào (các nguồn lực) thành đầu ra (sản phẩm bao gồm các hàng hóa vật chất và hàng hóa dịch vụ) Tiềm lực của ngành được tạo ra bởi các yếu tố như: mô hình phối hợp sản xuất của con người với con người, giữa con người với các nguồn lực của ngành khác, phương pháp kết hợp giữa trình độ phát triển kinh tế với tiến bộ khoa học kỹ thuật và các quy trình tiếp nhận các nguồn nguyên liệu cần thiết để sản xuất và chế biến [1]
Như vậy, nếu chúng ta biết kết hợp và phát huy lợi thế về các tiềm lực
và các nguồn lực nông thủy sản xuất khẩu thì sẽ tăng được tính cạnh tranh cho hàng nông thủy sản Việt Nam Để làm được điều đó, chúng ta cần tích lũy, học hỏi những kinh nghiệm và kiến thức để tìm cách tối ưu hóa các nguồn lực sao cho chúng đem lại giá trị cao Và biến những kiến thức đó thành các năng lực cơ bản có thể có được và trở thành tiềm lực riêng của ngành
Trên thực tế, một số ngành chưa nắm được cách thức hoạt động này,
họ chưa bao giờ có thể phát triển các nguồn lực một cách có hiệu quả, hiệu suất mà phải vật lộn để tồn tại trong thị trường mang tính cạnh tranh và năng động ngày càng cao Tuy nhiên, ngành xuất khẩu nông thủy sản có thể được hưởng những kết quả tốt đẹp trước mắt mà không cần có lợi thế cạnh tranh lớn nhưng về lâu dài rất khó giữ được những kết quả đó Bởi vì trong nhiều năm nữa, các nguồn tài nguyên thủy hải sản trên biển sẽ cạn kiệt Hơn nữa, sự biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng sản xuất và nuôi trồng của ngành nông thủy sản Vì vậy, điều quan trọng là các nhà hoạch định chiến lược của ngành phải biết đâu là điểm mạnh, điểm yếu của các nguồn lực, tiềm lực, năng lực của ngành Để từ đó có thể giúp định ra hướng đi lâu dài cho toàn nghành
1.3 CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM
Số liệu thống kê cho thấy, có tới gần 97% các doanh nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) Vì thế DNN&V đóng vai trò rất quan trọng không chỉ trong ngành nông thủy sản nói riêng mà cả trong nền kinh tế nói chung [23]
Trang 301.3.1 Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V )
1.3.1.1 Tiêu chí xác định DNN&V ở một số nước trên thế giới
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tuy có mặt ở nhiều nền kinh tế trên thế giới, nhưng lại không có một điểm chung thống nhất giữa các quốc gia về khái niệm cũng như tiêu thức xác định DNN&V Điều này thể hiện sự khác nhau
về hoàn cảnh lịch sử, điều kiện chính trị, kinh tế xã hội giữa các quốc gia, đồng thời thể hiện sự khác nhau trong các chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các DNN&V
Qua thực tế nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có điều kiện kinh tế
và trình độ phát triển gần tương tự Việt Nam, có thể thấy rằng các nước này
sử dụng hai nhóm tiêu chí phổ biến để xác định các DNN&V là: tiêu chí định
Khu vực EU
Liên minh châu âu EU là khu vực có các DNN&V phát triển rất mạnh (80% số doanh nghiệp EU có số lượng dưới 100 người)
Trang 31Tiêu chí xác định DNN&V ở EU căn cứ vào 3 yếu tố chính là:
Số lao động được sử dụng thường xuyên
Doanh số bán hàng năm
Vốn đầu tư cho sản xuất
Bảng 3 Phân loại DNN&V của khu vực EU
Tiêu thức phân loại Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Doanh thu/ năm tối đa 7 triệu EURO 40 triệu EURO Tổng tài sản/ năm tối đa 5 triệu EURO 27 triệu EURO
Nguồn: DNN&V definition, www.modcontractsuk.com
Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng chưa thật xác đáng vì không phân biệt được các doanh nghiệp giữa các nghành trong khi có một thực tế là đặc điểm kinh tế giữa các nghành nhiều khi quyết định quy mô doanh nghiệp [17]
Khu vực ASEAN
Tại các nước ASEAN, khái niệm về DNN&V cũng có sự khác nhau Song nhìn chung các nước Singapore, Malaysia, Indonesia, Thailand, Philippins đều dựa vào hai tiêu chí cơ bản để phân định một doanh nghiệp thuộc quy mô lớn, nhỏ hay vừa Đó là: số lượng lao động được sử dụng và tổng vốn đầu tư
Singapore quan niệm DNN&V là những doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 100 người và vốn đầu tư dưới 1,2 triệu đô la Singapore [17]
Với Malaysia, DNN&V là những doanh nghiệp có số lao động dưới
200 người và vốn đầu tư dưới 2,5 triệu riggit [17]
Trang 32Nhưng ở Thailand, Indonesia và Philippins có sự phân loại chi tiết hơn thành các doanh nghiệp vừa; doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ Trong đó doanh nghiệp siêu nhỏ thường là những hộ kinh doanh gia đình
Qua tìm hiểu về tiêu chí xác định DNN&V ở một số nước ASEAN cho thấy có sự khác nhau trong quan niệm thế nào là DNN&V Đồng thời sự phân định này chỉ mang ý nghĩa tương đối và chủ yếu căn cứ vào quy mô vốn và số lao động Do đó các cách xác định DNN&V cũng tồn tại một số nhược điểm giống như cách phân loại doanh nghiệp của một số nước trong khu vực EU, tức là chưa xét đến yếu tố đặc điểm kinh tế ngành
Mỹ
Mỹ, một cường quốc kinh tế với những tập đoàn khổng lồ hùng mạnh Mặc dù vậy, vai trò của các DNN&V ở đó cũng rất được đề cao Việc phân loại các DNN&V cũng đã tính đến sự khác biệt giữa các ngành Bên cạnh những tiêu chí định lượng như: mức tăng trưởng lợi nhuận hàng năm dưới 150.000 USD trong tất cả các lĩnh vực sản xuất; dịch vụ và thương mại hay các tiêu chuẩn về lao động DNN&V còn được phân loại theo từng nghành riêng biệt như sau:
- Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp: tổ chức có từ 250 lao động trở xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ
- Trong ngành công nghiệp, dịch vụ và thương mại bán lẻ: doanh nghiệp có từ dưới 100 lao động thì được coi là nhỏ; từ 100 – 1.000 lao động được coi là vừa và từ 1.000 lao động trở lên được coi là lớn và rất lớn [17]
Luật DNN&V của Mỹ còn có thêm một số tiêu chuẩn định tính như: DNN&V là một xí nghiệp độc lập, không ở vào địa vị chi phối trong ngành của mình liên quan Theo khái niệm này, các DNN&V không phải là công ty con hoặc xí nghiệp vệ tinh của những công ty lớn Điều này khác hẳn với các DNN&V ở Nhật, các công ty con hoặc xí nghiệp vệ tinh thuộc công ty lớn vẫn được hưởng đặc quyền như các DNN&V
1.3.1.2 Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Trang 33Nghị định 90/2001/CP-NĐ ngày 23/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ
về trợ giúp và phát triển DNN&V quy định: DNN&V là “Những đơn vị sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có mức vốn đăng ký không quá 10 tỷ VNĐ và/ hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”
So với định nghĩa về DNN&V của các nước trong khu vực và trên thế giới, định nghĩa DNN&V của Việt Nam có tính tổng quát, không đi sâu vào chi tiết loại hình, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và chưa phản ánh được thực chất về quy mô doanh nghiệp với các ngành và lĩnh vực khác nhau
Chính vì thế, các chính sách và chương trình hỗ trợ của Chính phủ đối với các DNN&V vẫn gặp khó khăn vì đây vẫn chưa phải là một khái niệm toàn diện về DNN&V Mặc dù khái niệm được đề cập trong Nghị định 90 tuy
đã đưa ra hai tiêu chí quan trọng nhất là bình quân lao động và vốn đăng kí để xác định DNN&V Nhưng việc xác định một doanh nghiệp có phải là DNN&V hay không gặp khó khăn, đôi khi bỏ sót đối tượng của các chương trình trợ giúp, đôi khi có doanh nghiệp không thuộc diện đối tượng trợ giúp của chương trình lại vẫn được tham gia Hơn nữa, tiêu chí về số lượng lao động bình quân trong năm là một tiêu chí có tính “động’’ rất lớn do hiện tượng lao động theo mùa vụ ở Việt Nam rất phổ biến và số lao động này thay đổi công việc thường xuyên nên càng gây khó khăn hơn trong việc xác định một doanh nghiệp có phải là DNN&V hay không [12]
Theo quy định của pháp luật hiện hành, vốn đăng ký của doanh nghiệp
là do người thành lập doanh nghiệp tự kê khai và chịu trách nhiệm về sự kê khai của mình, trừ các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực đòi hỏi có mức vốn pháp định như kinh doanh vàng, du lịch lữ hành, bảo hiểm, kinh doanh địa ốc Mức vốn này chỉ phản ánh trách nhiệm pháp lý của các thành viên công ty, của doanh nghiệp với khoản nợ, lãi phát sinh trong quá trình hoạt động Trên thực tế, vốn đăng ký có sự chênh lệch so với vốn hoạt động của doanh nghiệp
Trang 34Bên cạnh đó, chỉ tiêu về số lao động bình quân trong năm của doanh nghiệp cũng chỉ là con số dự kiến và pháp luật hiện hành cũng không bắt buộc người thành lập doanh nghiệp phải kê khai nên cũng không có căn cứ
để phân loại doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh Hơn nữa, các doanh nghiệp trong các ngành nghề khác nhau sử dụng số lượng lao động rất khác nhau
Một trở ngại khác liên quan đến khái niệm hiện tại của nước ta về DNN&V đó là trong định nghĩa hiện nay không quy định các tiêu chí để phân chia các DNN&V thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ Điều này gây khó khăn cho Chính phủ trong việc xác định trọng tâm hỗ trợ dựa trên quy mô doanh nghiệp trong nội bộ khu vực DNN&V
1.3.2 Đặc điểm
Qua việc phân tích khái niệm DNN&V ở trên chúng ta thấy DNN&V
là một loại hình doanh nghiệp không được phân biệt theo hình thức sở hữu
mà được phân biệt trên khía cạnh quy mô nhiều hơn Các DNN&V là các doanh nghiệp có quy mô về vốn hoạt động nhỏ Do đó, doanh thu và lợi nhuận không lớn và hầu hết là hoạt động trong các nghành sử dụng nhiều lao động Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, DNN&V có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và phát triển
Phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thuộc khu vực kinh tế
tư nhân Loại hình doanh nghiệp này đã đóng góp tới 42% vào GDP (trong khi mức đóng góp của khu vực doanh nghiệp nhà nước là 39%) và tạo nhiều việc làm, làm năng động nền kinh tế
Trang 35Bảng 4 Số lượng DNN&V đăng kí kinh doanh mới từ năm 2000
Nguồn: Trung tâm Thông tin Doanh nghiệp (Cục Phát triển
DNNVV-Bộ Kế hoạch và Đầu tư), 2009
Qua số liệu về các DNN&V đƣợc thành lập mới từ năm 2000 đến 2008,
số lƣợng các DNN&V đƣợc thành lập mới tăng lên rất nhanh trong 2 năm 2007
và 2008 Nhìn chung, hầu hết các doanh nghiệp này là các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên( TNHH 1 thành viên) và doanh nghiệp dân doanh( DNDD) và có những đặc điểm chung sau:
- Kinh tế tƣ nhân tuy rộng lớn nhƣng về cơ bản là kinh tế hộ quy mô nhỏ và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức;
- Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại quá chậm Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất - kinh doanh;
Trang 36- Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế Tuy Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, trình độ học vấn tương đối cao so với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu là lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề thấp, sức khỏe hạn chế, năng suất lao động không cao… Đặc biệt là chất lượng lao động trong các ngành sản xuất nông thủy sản;
- Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ thấp:
+ Sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: Yếu tố tư bản cấu thành trong sản phẩm thấp, hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản phẩm không cao, tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm nói chung thấp;
+ Khả năng hạn chế về vốn, khả năng tiếp nhận nguồn thông tin… của các DNN&V, sự bảo hộ của Nhà nước với khu vực doanh nghiệp nhà nước…
đã hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNN&V
Quản trị nội bộ của DNN&V còn yếu, nhất là quản lý tài chính; ý thức chấp hành các chế độ chính sách chưa cao; còn lúng túng trong việc liên kết; nhất
là liên kết trong cùng một ngành nghề
1.3.3 Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vai trò của các DNN&V không chỉ được thừa nhận ở nhiều nước phát triển trên thế giới Những ý nghĩa kinh tế, xã hội to lớn mà các DNN&V mang lại còn được những nước đang phát triển thừa nhận
1.3.3.1 Đóng góp một phần đáng kể vào GDP và tăng trưởng kinh tế
Theo báo cáo về tình hình triển khai Nghị định 90/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNN&V của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, DNN&V ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp trên toàn quốc, trong đó phần lớn là doanh nghiệp tư nhân DNN&V đóng góp khoảng: 26% tổng sản phẩm xã hội(GDP), 31% tổng giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 78% mức bán lẻ, 68% tổng lượng vận chuyển hàng hóa Đóng góp thông qua nộp thuế của DNN&V năm 2006 chiếm 7,1% tổng nhân sách
Trang 37Quốc gia, tỷ lệ này tăng lên hơn 8% trong năm 2007 Như vậy, các DNN&V đóng góp một phần rất lớn trong tăng trưởng kinh tế và vì thế DNN&V đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế nước ta
1.3.3.2 Góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, tạo sự ổn định kinh tế và xã hội
Tại hầu hết các quốc gia, mặc dù quy mô nhỏ nhưng theo quy luật số lớn, DNN&V được biết đến như một khu vực thu hút nhiều lao động, góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, chính khu vực kinh tế này đã tạo ra khoảng 70% việc làm trong xã hội
Trong năm năm từ 2002-2007, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương cho thấy mỗi năm có khoảng 1,6 triệu đến 2 triệu chỗ làm việc mới đã được tạo ra nhờ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể mới thành lập và mở rộng quy mô kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; đưa tổng số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp dân doanh xấp xỉ bằng tổng
số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước( DNNN) và tổng số lao động làm việc trong doanh nghiệp của tư nhân và hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng hơn 6 triệu người [12] Có không ít doanh nghiệp đã tạo công ăn việc làm trực tiếp và gián tiếp cho hàng nghìn lao động
DNN&V đóng vai trò là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNN&V lại có mặt ở khắp các địa phương và tạo ra phần lớn công ăn việc làm cho lao động ở địa phương Các số liệu thống kê cũng cho thấy rằng các DNN&V đã thu hút một tỷ lệ lao động chủ yếu trên phạm vi toàn quốc; ở duyên hải miền trung số lao động làm việc tại các DNN&V so với tổng số lao động ở tất cả các doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất là 69%; Đông Nam Bộ có
tỷ lệ thấp nhất là 45%; và tỷ lệ này trên toàn quốc là 52% [12]
Trang 38Tóm lại, do DNN&V đóng vai trò rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, mà đặc biệt là lao động tại các địa phương nên tạo ra sự ổn định xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia: xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và mức sống của người dân
1.3.3.3 Tận dụng các nguồn vốn, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn xã hội
Theo đánh giá của các chuyên gia, một nguồn vốn nhàn rỗi lớn tiềm ẩn trong nền kinh tế Việt Nam chưa được huy động và khai thác một cách hiệu quả Việc khởi sự doanh nghiệp với lợi thế vốn nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh, tính chất phân tán rải rác đi sâu vào nhiều vùng, nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế như DNN&V là cơ hội để huy động được các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư vào sản xuất kinh doanh Chẳng hạn như hình thức doanh nghiệp tư nhân, các hộ gia đình, hợp tác xã vừa huy động nguồn vốn tự có của cá nhân vừa tận dụng được các nguồn đầu tư đa dạng trong nền kinh tế Từ đó dần dần tạo ra tập quán dùng tiền vào đầu tư cho sản xuất kinh doanh thay vì chỉ để tiền nhàn rỗi trong phần lớn bộ phận dân cư hiện nay
Hơn nữa, với quy mô nhỏ gọn, các DNN&V thường sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương để tiến hành sản xuất kinh doanh, điều này rất thiết thực đối với các ngành thủ công truyền thống, tiểu thủ công nghiệp và đặc biệt là ngành thu mua và chế biến các nông thủy sản DNN&V
vì thế có thể góp phần huy động nguồn lực toàn xã hội
1.3.3.4 Tạo lập sự phát triển cân đối, từng bước chuyển dịch và hoàn thiện
cơ cấu, tăng tính năng động, linh hoạt của nền kinh tế
Ở Việt Nam cũng như các nước khác, các doanh nghiệp có quy mô lớn thường tập trung ở các thành phố; các khu công nghiệp Xu hướng này đã gây mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền trong cùng một quốc gia, từ đó
Trang 39gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển kinh tế Phát triển các DNN&V
là phương tiện quan trọng trong việc tạo lập sự cân đối giữa các vùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các thành phần kinh tế, giữa các ngành
và các vùng lãnh thổ Hơn nữa, việc phát triển các DNN&V cũng có ý nghĩa
to lớn đặc biệt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy các ngành thương mại dịch vụ phát triển
Các DNN&V có khả năng thay đổi mặt hàng, công nghệ và chuyển hướng kinh doanh nhanh giúp cho nền kinh tế năng động hơn Sự có mặt của các DNN&V trong nền kinh tế một mặt có tác dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn kinh doanh có hiệu quả hơn thông qua các hợp đồng phụ làm đại
lý, vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, giúp sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, cung cấp nguyên liệu, thâm nhập vào các ngách nhỏ của thị trường mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được Mặt khác, với số lượng đông đảo DNN&V tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nền kinh tế, giảm bớt khả năng độc quyền của các doanh nghiệp lớn DNN&V với mạng lưới rộng khắp đảm bảo phân
bố doanh nghiệp hợp lý hơn, giảm bớt sức ép dân số tại các thành phố lớn
1.3.3.5 Các DNN&V góp phần đào tạo và nuôi dưỡng cho các tài năng kinh doanh-nguồn nhân lực quan trọng cho phát triển kinh tế, xã hội
DNN&V chính là môi trường rất thực tế để đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nghiệp và bản thân những người lao động Kinh doanh với quy mô nhỏ
là môi trường đào tạo tốt nhất cho các nhà doanh nghiệp để từng bước tiếp cận với kinh doanh có quy mô lớn hơn Bắt đầu bằng việc kinh doanh với quy
mô nhỏ và thông qua quá trình điều hành quản lý kinh doanh với doanh nghiệp có quy mô này, các nhà doanh nghiệp sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường mà nếu làm việc trong các doanh nghiệp lớn các doanh nhân sẽ không có điều kiện phát huy Qua quá trình điều hành DNN&V, các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ trở thành những tài
Trang 40năng kinh doanh, bởi vì họ phải có trách nhiệm cao hơn với chính doanh nghiệp của mình và họ phải biết cách làm thế nào phát triển doanh nghiệp Đây là vấn đề có thực tiễn khá cao đối với Việt Nam, trong nhiều năm hoạt động trong cơ chế quan liêu bao cấp với hàng loạt các nhà doanh nghiệp chưa
có kinh nghiệm với cơ chế thị trường Sự phát triển của các DNN&V có tác dụng đào tạo, chọn lọc, thử thách qua thực tế những con người có năng lực thực sự để trở thành những nhà lãnh đạo tài năng cho sự phát triển kinh tế cho
cả quốc gia nói chung cũng như cho mục tiêu riêng của từng doanh nghiệp nói riêng